PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Chiếm hơn 71% bềmặt trái đất, từbao đờinay, biển và đạidƣơng đã trởthành cái nôi cho sự sống của nhân loại. Bƣớc sang thế kỷ 21, ―Thế kỷ của biển và đại dương‖, khai thác biển ngày càng trở thành vấn đề quan trọng mang tính chiến
lƣợc của hầu hết các quốc gia trên thế giới, dù quốc gia có biển hay không có biển. Sự cạn kiệt của những tài nguyên trên đất liền, sự chật chội của không gian kinh tếtruyền thống do sựbùng nổdân sốkhông ngừng gia tăng đã khiến các quốc gia ngày càng quan tâm và hƣớng ra biển.
Cùng với những nguồn tài nguyên phong phú khác, khoáng sản biển từ lâu đãmang lại những giá trịkinh tếlớn cho nhiều quốc gia trên thếgiới. Với sựhỗtrợđắc lực của những tiến bộ khoa học kỹ thuật, con ngƣời ngày càng thành công trong việc chinh phục đại dƣơng, làm chủ nguồn tài nguyên biển. Bên cạnh những ý nghĩa kinh tế to lớn mà biển đem lại, quá trình khai thác tài nguyên của các quốc gia cũngđặt ra không ít vấn đề. Đó là nguy cơ cạn kiệt tài nguyên do khai thác quá mức; những tác động xấu tới môi trƣờng phát sinh từ hoạt động khai thác và đặc biệt lànhững tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia có thể đe dọa đến hòa bình, an ninh
thếgiới… Vì vậy, cầnthiết phải có những quy tắc pháp lý quốc tếthích hợp đểquản lý nguồn tài nguyên có giá trị này.
NằmbênbờTâycủabiển Đông, biển lớn nhất trong sáu biểnlớncủathếgiới, biển Việt Nam khá giàu tài nguyên khoáng sản. Ngoài dầukhí,đến nay, các nhàkhoa học đã phát hiện các tích tụ công nghiệp một loạt các khoáng vật quặng và phi
quặng (sa khoáng) và các biểu hiện của glauconit, pirit, thạch cao, kết hạch sắt –mangan, cát vôi san hô, trong đó, có một số mỏ sa khoáng có ý nghĩa kinh tế nhƣcác mỏ có chứa Inmenit, Rutin, Monazit, Ziacon và các biểu hiện Manhêtit, Caxiterit, Vàng, Crôm, Corindon, Topa, Spiner [21, tr.416]. Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác nguồn khoáng sản này với tổng tiềm năng dầu khí đƣợc dự báo, đánh giá khoảng 3,8 ÷ 4,2 tỷ tấn dầu qui đổi và khoảng 150 tỷ m3 khí [68]. Ngành dầu khí đã phát hiện và đƣa vào khai thác nhiều mỏdầu khí, đƣa Việt Nam vào hàng ngũ các nƣớc xuất khẩu dầu thô, góp phần rất quan trọng cho sựổn định, phát triển nền kinh tếquốc dân, bảo đảman ninh năng lƣợng quốc gia. Trong giai đoạn vừa qua, Tập đoàn DầukhíQuốc gia Việt Nam (PVN) cũngđã cung cấpgần 35 tỷm3 khí khô cho sản xuất, 40% sản lƣợng điện của toàn quốc, 35% – 40% nhu cầu u-rê và cung cấp 70% nhu cầu khí hóa lỏng cho phát triển công nghiệp và tiêu dùng dân sinh [69]. Bên cạnh những ý nghĩa to lớn vềkinhtếcũng nhƣ xã hội mà dầu khí mang lại, Việt Nam
cũng đang phải đối mặt với một sốnhững thách thức lớn: Một là, nguy cơ gâyônhiễm môi trƣờng có thể phát sinh trong quá trình thăm dò, khai thác dầu khí nhƣ rò rỉhay tràn dầu có thểxảyra do hỏng hóc máy móc, thiếtbịtrên giàn khoa hoặc trong quá trình chuyển tải dầu của tàu cung ứng, hay do sựhƣ hỏng của các bồn chứa dầu trên giàn khoan cũng nhƣ tàu dịch vụ; sự biến đổi của môi trƣờng sinh thái biển do các hóa chất đƣợc sửdụng, chất thải thải ra trong quá trình thăm dò, khai
thác…; hai là, nguy cơ cạn kiệt tài nguyên trong tƣơng lai khi hầu hết cácmỏ dầu ởViệt Nam đều đã khai thác trong thời gian dài và hiện đang trong giai đoạn cuối dẫn tới suy giảm sản lƣợng tự nhiên,mỏ BạchHổ cungcấp sản lƣợnglớn nhất, chiếm hơn 60%sảnlƣợngcủaTổng công tydầukhí Việt Namtừtrƣớcđếnnay,đãvào
giaiđoạnsuy kiệt [18]; ba là,sựphức tạp trong các tranh chấptạibiển Đông với những hành vi xâm phạm quyền chủquyền của Việt Nam trên thềm lục địa ngày càng gia tăng cả về số lƣợng và mức độ nghiêm trọng, đe dọa nghiêm trọng an ninh,
lợi ích quốc gia trên biển.
Xuất phát từ những lý do trên nên việc nghiên cứu các quy định của luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và đánh giá toàn diện hoạt động quản lýtài nguyên khoáng sản biển của Việt Nam, cụ thể là dầu khí có những ý nghĩa hết sức quan trọng. Kết quả của những nghiên cứu này sẽ giúp ích cần thiết cho các cơquan lậppháp, các nhà quản lý trong hoạt động xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật vừa nhằm thực hiện mục tiêu ―từng bƣớc đƣa nƣớc ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, dựa vào biển và hƣớng ra biển‖nhƣ Chiến lƣợc biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã khẳng định vừa đáp ứng yêu cầu hộinhập, hợp tác quốc tếvềmọi mặt cũng nhƣ bảo vệchủquyền, quyền chủquyền của Việt Nam. Ngoài ra, nắm vững các quy định của luật quốc tế về quản lýtài nguyên khoáng sản biển cũng có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cƣờng nhận thức cho mỗi ngƣời dân, đặc biệt là các tổchức đang trực tiếp tiến hành các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên về cơ sở pháp lý, tính hợp pháp của những hoạt động thực thi quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trên biển, qua đó, góp phần nâng cao ý thức trong việc bảo vệtài nguyên cũng nhƣ bảo vệchủquyền, quyền chủ quyền thiêng liêng của đất nƣớc.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tƣợng nghiên cứucủa luận án trƣớc tiên là các điều ƣớc quốc tếđiều chỉnh vấn đề quản lý tài nguyên khoáng sản biển, bao gồm các điều ƣớc quốc tế đa
phƣơng toàn cầu trong lĩnh vực luật biển và bảo vệmôi trƣờng biển có liên quanđến hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản; các điều ƣớc, thỏa thuận quốc tế song
phƣơng hoặc khuvực về bảo vệ môitrƣờng biển từ các nguồn gây ô nhiễm do hoạt
động tại thềm lục địa, các điều ƣớc thiết lập các khu vực khai thác chung. Bên cạnhđó, luận án cũng nghiên cứu các văn bản do Cơ quan quyền lực Vùng ban hành và phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế trong giải quyết tranh chấp hoặc đƣa ra kết luận tƣ vấn vềcác vấn đềliên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa các chủthểtrong quá trình thực hiện các hoạt động tại thềm lục địa và Vùng. Cuối cùng, luận án nghiên cứu hệthống các quyđịnh của pháp luật Việt Namvềquản lý tài nguyên dầu khí và các điều ƣớcquốc tế, thỏa thuận quốc tếmà Việt Nam đã ký kết trong lĩnh vực này.
Trên cơ sở đối tƣợng nghiên cứu nhƣ trên, phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm:
– Những vấn đềlý luận cơ bản vềquản lý tài nguyên khoáng sản biển và pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển
– Thực trạng pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển.
– Thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật của Việt Namvềquản lý tài nguyên dầu khí. Pháp luật Việt Nam vềquản lý tài nguyên khoáng sản biển Việt Nam hiện nay bao gồmhai nhóm, thứnhất là các quyđịnh điều chỉnh các hoạt động liên quan đến dầukhí và thứhai là các quyđịnh điều chỉnh các hoạt động liên quan đến những khoáng sản còn lại (bao gồmcảkhoáng sản biển). Mặc dù biển Việt Nam khá phong phú về khoáng sản biển nhƣng trừ dầu khí, hoạt động khai thác những khoáng sản còn lại chủyếu vẫn mang tínhđịa
phƣơng, nhỏ lẻ ở một số mỏ nhƣ Quảng Xƣơng, Thanh Hóa, mỏ Cẩm Hoà, mỏ KẻNinh, mỏKẻSung, mỏĐềGi, mỏHàm Tân [19], thậm chí có những khoáng sản
chƣa có khả năng khai thác. Do đó, trong số các nguồn tài nguyên khoáng sản biển Việt Nam, dầu khí vẫnlà tài nguyên đƣợc khai thác phổbiến nhất hiện nay, đồng thời, cũng là tài nguyên đem lại giá trịkinh tếcao với đóng góp của ngành công nghiệp dầu khí cho ngân sách Nhà nƣớc mỗi năm chiếm đến 20% [69] cùng các sản phẩm phục vụ nền kinh tế là điện khí, xăng dầu, khí nén cao áp và năng lƣợng sạch. Xuất phát từ những lý do trên nên đối với Việt Nam, phạm vi nghiên cứu của luận án chỉtập trung phân tích các quyđịnh pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật của Việt Nam trong quản lý tài nguyên dầu khí.
3. Mục đíc v n iệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và pháp lý về quản lý tài nguyên khoáng sản biển trong pháp luật quốc tế; những vấn đề pháp lý và thực tiễn quản lý tài nguyên khoáng sản biển, cụ thể là dầu khí của Việt Nam, từđó, đềxuất một sốgiải pháp nâng cao hiệu quảtrong hoạt động quản lý nguồn tài nguyên này của Việt Nam.
Phù hợp với mục đích nghiên cứu trên, nhiệmvụnghiên cứu của luận án gồm:
– Phân tích khái niệm khoáng sản biển và khái niệm quản lý nói chung, qua
đó, đƣa ra khái niệm quản lý tài nguyên khoáng sản biển;
– Làm rõ một số vấn đề lý luận của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển, cụthể: Nguồn luật điều chỉnh; các nguyên tắc, nội dung, vai tròcủa pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và lịch sử hình thành phát triển của các quy định này trong luật biển quốc tế.
– Phân tích một cách hệthống nội dung pháp luật quốc tếvềquản lý tài nguyên khoáng sản biển, bao gồm: (i) Quản lý hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản biển; (ii) bảo vệ môi trƣờng biển trong quá trình tiến hành các hoạt động đối với khoáng sản biển và (iii) giải quyết tranh chấp phát sinh từ những hoạt động này.
– Phân tích, đánh giá toàn diện pháp luật Việt Namvềquản lý tài nguyên dầu khí theo các nội dung (i) quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí; (ii) bảo vệmôi trƣờng trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí và (iii) giải quyết tranh chấp quốc tế phát sinh trong hoạt động dầu khí; phân tích và đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật theo ba nội dung trên, từ đó, đề xuất một số giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý dầu khí của Việt Nam.
4. P ƣơn p áp luận v p ƣơn p áp n i n cứu của luận án
Luận án đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng triệt để các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận án cũng đƣợc tiến hành trên cơ sở quán triệt sâu sắc các quan điểm về đƣờng lối đối ngoại của Đảng và Nhà nƣớc ta, đặc biệt liên quanđến vấn đề biển Đông và bảo vệ chủquyền, quyền chủ quyền củaViệt Nam trên biển.
Đối với từng nội dung cụ thể, Luận án sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khoa học khác nhau nhƣ phƣơng pháp tiếp cận hệ thống, phƣơng pháp lịch sử,
phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp so sánh luật, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đƣa ra các giải pháp cụ thể. Theo đó:
– Phƣơng pháp tổng hợp và phƣơng pháp phân tíchđƣợc sửdụngđểđánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án;
– Phƣơng pháp lịch sử đƣợc sử dụng để làm rõ quá trình phát triển của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển;
– Phƣơng pháp tiếp cậnhệthống và phƣơng pháp phân tích đƣợc sửdụng trong toàn bộluận án, đặc biệt tại các chƣơng 2, chƣơng 3 và chƣơng 4.
Phƣơng pháp tiếp cậnhệthốngđƣợcsửdụng đểlàm rõ những vấn đềlý luận và
pháp lý vềquản lý tài nguyên khoáng sản biển trong pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam một cách tổng thể thay vì tiếp cận dƣới góc độ chỉ là một nội dung trong quychếpháp lý của các vùng biển hoặc chỉtiếp cận dƣới một phƣơng diện nhất định của quản lý khoáng sản biển. Phƣơng pháp phân tíchđƣợc sử dụng để làm rõnội dung của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam về quản lý tài nguyên khoáng sản biển cũng nhƣ thực tiễn thực thi pháp luật.
– Phƣơng pháp kết hợp lý luận và thực tiễn đƣợc sử dụng để đối chiếu, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam,
từ đó, kiến nghị những giải pháp cụ thể để nâng cao hiêu quả của hoạt động này.
– Phƣơng pháp so sánh luật cũng đƣợc sử dụng ở mức độ nhất định đểxây dựng khái niệm khoáng sản biển trên cơ sở cách tiếp cận khác nhau của pháp luật các nƣớc cũng nhƣ đề xuất một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí.
5. Ý n ĩa k oa ọc v tín mới của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận, pháp lý về quản lý tài nguyên khoáng sản biển trong pháp luật quốc tế cũng nhƣ các vấnđề pháp lý và thực tiễn quản lý tài nguyên khoáng sảnbiển, cụ thểlà dầu khí của Việt Nam. Luận án đã có những đóng góp mới về mặt khoa học nhƣ sau:
Thứ nhất, luận án đã xây dựng khái niệm khoáng sản biển và quản lý tài nguyên khoángsảnbiển, quađó,làm rõ những đặc điểmcủa quản lý tài nguyên khoáng sản biển.
Thứ hai, luận án đã phân tíchmộtcáchhệ thống một sốvấnđềlý luận cơbản của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển.
Thứ ba, luận án đã phân tích sâu sắc hơn và đánh giá một cách toàn diện, hệ thống những quy định của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển trên cơ sở phân tích các điều ƣớc quốc tế, các văn bản do Cơ quan quyền lực Vùng ban hành cũng nhƣ phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế có liên quan, quađó, chỉ ra một số ―khoảng trống‖ trong các quy định này.
Thứ tư, luận án đãphân tích một cách tổng thể vấn đề quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam trên cả phƣơng diện pháp lý và thực tiễn thực thi pháp luật theo các nội dung quản lý tài nguyên khoáng sản biển đƣợc pháp luật quốc tế ghi nhận, qua đó, kiến nghị một sốgiải pháp đềtăng cƣờng hiệu quảtrong hoạt động quản lý dầu khí của Việt Nam.
6. Ý n ĩa t ực tiễn của luận án
Kết quảnghiên cứu của luận án có thểđƣợc sửdụng làm tài liệu thao khảo cho các cơ quan lập pháp, các nhà quản lý trong hoạtđộngxây dựng, ban hành

chính sách, pháp luật biển nói chung và quản lý tài nguyên biển nói riêng. Luận án cũng đóng góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để phổ biến, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho mỗi ngƣời dân, đặc biệt là các tổchức đang trực tiếp tiến hành các hoạt độngthăm dò, khai thác tài nguyên trênbiển vềpháp luật quốc tế nói chung, luật biển quốc tế nói riêng, quađó,nhận thức đúng đắn về những hoạt động thực thi quyền chủquyền, quyền tài phán của Việt Nam trên biển. Ngoài ra, những phân tích, bình luận, đánh giá về nội dung các quy định trong luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển sẽ có giá trị tham khảo đối với những ngƣời làm công tác nghiên cứu, giảng dạy luật quốc tế, đặc biệt là luật biển cũng nhƣ những ngƣời quan tâm đến ngành luật này.
7. K t cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chƣơng 2: Lý luận về quản lý tài nguyên khoáng sản biển trong pháp luật quốc tế
Chƣơng 3: Thực trạng pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển
Chƣơng 4: Pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
IÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Là một trong những ngành luật ra đời sớm nhất, luật biển quốc tế từ lâu đã làđối tƣợng đƣợc sự quan tâm của rất nhiều học giả. Những công trình nghiên cứu vềluật biển rất nhiều và phong phú về thể loại, từ các đề tài khoa học, hội thảo cho đến
sách, bài viết tạp chí hay luận án, luận văn… Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi biển và đại dƣơng không chỉmang ý nghĩa kinh tếto lớn từviệc khai thác những nguồn tài nguyên mà còn có ý nghĩa chiến lƣợc trong chính sách an ninh, quốc phòng của nhiều quốc gia thì việc nghiên cứu các chế định của luật biển lại càng thu hút đƣợc các những nhà khoa học và cả những nhà hoạch định chính sách của quốc gia.
Trong số những nội dung của luật biển quốc tế, những vấn đề liên quan đến tài nguyên biển, cụthểlà tài nguyên khoáng sản đã trởthành đối tƣợng khảo cứu trong nhiều công trình. Về quy mô, những nghiên cứu này đƣợc thực hiện ở nhiều cấp độ: từ sách chuyên khảo, bài viết hội thảo, bài viết trên các tạp chí, đến đề tài
khoa học, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ… Nhìn chung, các công trình đó đã phân tích làm rõ một sốkhía cạnh lý luận và pháp lý trong luật quốc tếvềquản lý tài nguyên khoáng sản biển.
1.1. Các công trình nghiên cứu của nƣớc ngoài
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về quy ch p áp lý đối với thềm lục địa vàtài nguyên khoáng sản trên vùng biển thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về quy ch pháp lý của phần đá biển nằm ngoài thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển và vấn đề khai thác tài nguyên trên phần đá biển nằm ngoài thẩm quyền tài phán của quốc gia
1.1.3. Các công trình nghiên cứu vềvấn đềbảo vệmôi trƣờng biểntừhoạt độn t ăm dò, k ai t ác t i n u n k oán sản biển
1.2. Các công trình nghiên cứu của Việt Nam
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về quy ch p áp lý đối với thềm lục địa vàtài nguyên khoáng sản trên vùng biển thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia
1.2.2. Các công trình nghiên cứu về quy ch pháp lý của phần đá biển nằm ngoài thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển và vấn đề khai thác tài nguyên trên phần đá biển nằm ngoài thẩm quyền tài phán của quốc gia
1.2.3. Các công trình nghiên cứu vềvấn đềbảo vệmôi trƣờng biểntừhoạt độn t ăm dò, k ai t ác t i n u n k oán sản biển
1.3. Đán iá c un về những công trình nghiên cứu có li n quan đ n đềtài luận án
Có thểthấy, sốlƣợng các công trình nghiên cứu vấn đềquản lý tài nguyên khoáng sản biển rất phong phú.
Thứ nhất, những công trình này đã tái hiện lịch sử phát triển của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển trên thềm lục địa và Vùng qua từng giai đoạn khác nhau, từ thời kỳ luật biển truyền thống cho đến luật biển quốc tế hiện đại với những dấumốc quan trọng là các tuyênbốđơn phƣơng của các quốc gia, các hội nghị luật biển và đỉnh cao là sự ra đời của Công ƣớc luật biển 1982.
Thứhai, những công trình nàyđã bƣớc đầulàm rõ một sốvấn đềpháp lý trong pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển.
Một là, đối với vấn đề khai thác. Tại thềm lục địa, các công trình nghiên cứu
đã phân tích, đánh giá về các quyền, nghĩa vụ của quốc gia ven biển trong khai thác tài nguyên trên thềm lục địa, nghĩa vụ đóng góp khi khai thác tại phần thềm lục địa mở rộngngoài 200 hải lý tính từ đƣờng cơ sở. Tại Vùng, nội dung của những công trình nghiên cứu đã thực hiện đã giải quyết đƣợc một số vấn đề trong cơ chế quản lý khoáng sản tại Vùng, bao gồm: Quyền, nghĩa vụ của Cơ quan quyền lực Vùng trong quản lý tài nguyên khoáng sản; cơ chế cấp phép; quản lý đối với một số tài nguyên cụ thể theo các Quy định do Cơ quan quyền lực ban hành.
Hai là, đối với vấn đề bảo vệ môi trƣờng từ hoạt động khai thác. Những công trình nghiên cứu trên, chủyếu là các cuốn sách của Cơ quan quyền lực Vùng đãcung cấp những đánh giá về các tácđộng thực tế vàtácđộngtiềm ẩn của hoạt động khai thác tài nguyên trên đáybiển. Đồng thời, những công trình nàyđã bƣớc đầu khái quát những quy định của luật quốc tế điều chỉnh vấn đề bảo vệ môi trƣờng biển từ hoạt động khai thác nhƣ ngăn ngừa ô nhiễm, trách nhiệm khi ô nhiễm phát sinh,
áp dụng các nguyên tắc của luật môi trƣờng trong hoạt động khai thác… ghi nhận trong tập quán quốc tế, điều ƣớc quốc tế, ý kiến tƣ vấn của cơ quan tài phán quốc tếvà các quy định của Cơ quan quyền lực Vùng.
Thứ ba, một số công trình đã đƣa ra những đánh giá về hiệu quả hoạt động của Cơ quan quyền lực Vùng, hiệu quả trong cơ chế quản lý khoáng sản tại Vùng vàđánh giá về các quy định của luật quốc tế trong quản lý tài nguyên khoáng sản biển, từđó, chỉra những ―khoảng trống‖ cần tiếp tục hoàn thiện. Bên cạnh đó, một sốcông trình nghiên cứucủa Việt Nam đãđánh giá vềthực trạng ô nhiễm dầu nói
chung trên các vùng biển thuộc thẩm quyền tài phán của Việt Nam, bao gồm cả ô nhiễm dầu phát sinh do hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí cũng nhƣ thực trạng môi trƣờng biển tại một sốkhu vực tiến hành hoạt động dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đãthực hiện vẫn chƣa giải quyết
đƣợc triệt để tất cả những vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên khoáng sản biển. Hầu hết các công trình đều tiếp cận vềtài nguyên khoáng sản nhƣ một nội dung trong quy chế pháp lý của thềm lục địa và Vùng hoặc chỉ tiếp cận một nội dung nhất định trong quản lý khoáng sản. Việc nghiên cứu một cách riêng biệt và tổng thể
dƣới góc độ pháp lý về quản lý tài nguyên khoáng sản biển trong luật quốc tế khámờ nhạt, do đó, chƣa giải quyết đƣợc toàn bộ vấn đề này cả về lý luận và pháp lý.
i) Về lý luận
Thứnhất, mặc dù có không ít công trình nghiên cứu riêng vềkhoáng sản biển nhƣng nội dung của những công trình nàychủyếu là những phân tích tổng quan về nguồn tài nguyên khoáng sản của đáybiển, bao gồm hiện trạng, nơi phân
bổ, đặc tính kỹ thuật và giá trị kinh tế mà chƣa đƣa ra định nghĩa và các đặc điểm của khoáng sản biển. Nói cách khác, các công trình nghiên cứu về khoáng sản biển chủ yếu mới tiếp cận ở góc độ kinh tế mà chƣa tiếp cận ở góc độ pháp lý.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu phần lớn đều đề cập đến quá trình phát triển của thềm lục địa và Vùng một cách riêng rẽtrong mỗi công trình khác nhau mà chƣa tiếp cận tổng thể toàn bộ quá trình phát triển của luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản.
Thứ ba, các công trình đề cập đến những nguyên tắc điều chỉnh vấn đề quản lý tài nguyên khoáng sản biển chủ yếu tập trung phân tích nguyên tắc ―di sản chung của loài ngƣời‖ hay ―đất thống trị biển‖ hoặc chỉ tập trung phân tích riêng lẻ những nguyên tắc trong bảo vệ môi trƣờng.
ii) Về pháp lý
Trongsốnhững công trình nghiêncứumà tácgiảđãxem xét, phầnlớnđều
chƣa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và cập nhật toàn bộ những nội dung của pháp luật quốctế về quản lý tài nguyên khoángsảnbiểnđƣợcquyđịnhtrong UNCLOS, Thỏa thuận năm 1994 về việc thực hiện phần XI, các văn bản do Cơ quan quyền lực Vùng ban hành và các điều ƣớc quốc tế về bảo vệ môi trƣờng biển có liên quan đến hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản.
Thứ nhất, những công trình này hầu hết chỉ phân tích một nội dung trong quản lý tài nguyên khoáng sản biển. Nói cách khác, nội dung của những công trình đã thực hiện hoặc chỉ phân tích những vấn đề pháp lý điều chỉnh hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản tại thềm lục địa và/hoặc Vùng hoặc chỉ phân tích những vấn đề pháp lý vềbảo vệ môi trƣờng biển từ hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản biển.
Thứ hai, nhiều công trình chỉ đề cập đến một số phƣơng diện nhất định trong mỗi nộidungcủaquản lý khoáng sản biển. Cụthể,đốivớivấn đềthăm dò, khai thác, các tác giả hầu hết mới phân tích những quy định của Công ƣớc luật biển 1982 và Thỏa thuận năm 1994 mà không đề cập đến nội dung của những văn bản do Cơquan quyền lực Vùng ban hành, ngƣợc lại, những công trình do Cơ quan quyền lực Vùng xuất bản chủ yếu chỉ phân tích những vấn đề pháp lý trong các Quy định của cơ quan này. Tƣơng tự, đối với vấn đềbảo vệmôi trƣờng từhoạt động khai thác, nội dung của mỗi công trình chủ yếu chỉ đề cập đến một hoặc một số khía cạnh nhất định nhƣ xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trƣờng hay trách nhiệm phát sinh khi ô nhiễm hoặc chỉ phân tích về những nguyên tắc của luật môi trƣờng có thể áp
dụng trong khai thác tài nguyên…
Thứba, tại Việt Nam, những công trình nghiên cứu vềvấn đềnày khákhiêm tốn. Đến nay, mới có một số những công trình nghiên cứu một hoặc một số
nội dung nhất định có liên quan đến quản lý khoáng sản biển theo quy định của luật quốc tếnhƣng phần lớn trong sốđóđều không nghiên cứu mộtcách độc lập,hệthống và cập nhật những nội dung này. Chẳng hạn, vấn đề khai thác khoáng sản tại Vùng đƣợc đề cập dƣới góc độ một mô hình khai thác chung; tại các giáo trình Luật quốc tế hay Luật biển quốc tế, những vấn đề về quản lý tài nguyên khoáng sản biển chỉ đƣợc đề cập rất hạn chế dƣới góc độ quy chế pháp lý của các vùng biển.
iii) Các vấn đề pháp lý và thực tiễn của Việt Nam
Đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về các hoạt động dầu khí và bảo vệmôi trƣờng biển nói chung, trong đó, có vấn đềbảo vệmôi trƣờng biển từcác hoạt động liên quan đến dầu khí của Việt Nam. Tuy nhiên, cũng giống nhƣ hầu hết các công trình nghiên cứu khác về pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này, những công trình nghiên cứu về Việt Nam cũng chƣa tiếp cận một cách toàn diện và hệ thống tất cảnhững nội dung pháp lý vềquản lý dầu khí theo quyđịnh củapháp luật Việt Nam trên ba phƣơng diện là quản lý hoạtđộng thăm dò, khai thác; bảo vệmôi
trƣờng trong hoạt động thăm dò, khai thác và giải quyết tranh chấp quốc tếphát sinh trong quá trình tiến hành những hoạt động này. Nói cách khác, phần lớn các công trình đều nghiên cứu một cách riêng lẻ từng nội dung nói trên. Mặt khác, mặc dù có một số công trình nghiên cứu về vấn đề bảo vệ môi trƣờng hay quản lý hoạtđộng dầu khí nhƣng những công trình này hoặc chƣa cập nhật các quyđịnh pháp luật hiện hành hoặc chƣa đề cập đến toàn bộ các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề đó.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuy t nghiên cứu của luận án
Để làm rõ nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh đặt ra và sẽ giải quyết những câu hỏi nghiên cứu sau:
Một là, lý luận về quản lý tài nguyên khoáng sản biển bao gồm những vấn đềgì khi tiếp cận dƣới góc độ pháp lý?
Hai là, lý luận pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển bao gồm những vấn đề gì?
Ba là, pháp luật quốc tế về quản lý nguyên khoáng sản biển bao gồm những nội dung pháp lý cụ thể nào, những vấn đề gì còn chƣa đƣợc quy định rõ ràng cần tiếp tục đƣợc xây dựng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này?
Bốn là, pháp luật Việt Namvềquản lý tài nguyên dầu khí bao gồmnhững nội dung pháp lý cụ thể nào; thực tiễn quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam ra sao; những vấn đề gì cần hoàn thiện?
Năm là, cần áp dụng những giải pháp gì để nâng cao hoạt động quản lý tài
nguyên dầu khí của Việt Nam?
Trên cơ sở nền tảng nghiên cứu các vấn đề lý luận và pháp lý về luật quốc tếcũng nhƣ các vấn đề pháp lý và thực tiễn quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam, tác giả luận án đặt ra một số giả thuyết nghiên cứu và sẽ phân tích, luận giải tìm ra luận cứ chứng minh cho các giả thuyết này, cụ thể nhƣ sau:
Thứnhất, quản lý tài nguyên khoáng sản biển vừa mang những đặc điểm của hoạtđộngquản lý nói chung vừa mang những đặc điểm cụthểgắnvớitài nguyên khoáng sản biển.
Thứ hai, pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển là một bộphận của luật biển quốc tế điều chỉnh các vấn đề phát sinh liên quan đến tài nguyên khoáng sản biển. Do đó, nội dung này vừa bao gồm những quy định chung của luật biển quốc tế, vừa baogồmnhững quyđịnhriêng điều chỉnhvấnđềquản lý tài nguyên, cụ thể là tài nguyên khoáng sản.
Thứba, các quyđịnh hiện hành trong pháp luật quốc tếvềquản lý tài nguyên khoáng sản biển đã thiết lập nên một khuôn khổpháp lý khá đầyđủđiều chỉnh các hoạt động liên quan đến khoáng sản biển. Tuy nhiên, vẫn còn một số nội dung chƣa đƣợcquyđịnh cụthểvà quá trình xây dựng các quy tắc quản lý tài nguyên biển nói chung và khoáng sản nói riêng vẫn chƣa dừng lại nhằm phù hợp với nhu cầuphát triển kinhtếcủa mỗi quốc gia, các yêu cầutrong bảovệmôi
trƣờng và đảm bảo hòa bình, an ninh quốc tế.
Thứ tư, trên phƣơng diện pháp lý, xét một cách tổng thể, Việt Nam đã xây dựng đƣợc hệ thống pháp luật quốc gia khá đầy đủ làm cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý tài nguyên dầu khí cũng nhƣ tƣơng thích với cácđiều ƣớc quốc tế mà Việt Nam là thành viên trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn còn những điểm chƣa hoàn thiện nhƣ thiếu sự đồng bộ, chi tiết và một số nội dung
chƣa tƣơng thích với các điều ƣớc mà Việt Namđã gia nhâp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật này.
Thứnăm, trên thực tiễn, Việt Namđã thực hiện các hoạt động quản lý tài nguyên dầu khí một cách khá hiệu quảtheo những nội dung đƣợcghi nhận trong pháp luật quốc gia cũng nhƣ các điều ƣớc quốc tế và Việt Nam là thành viên. Mặc dù vậy, xuất phát từ những hạn chế vẫn còn tồn tại trong hoạt động này và ứng phóvới những diễn biến phức tạp trên thực tế, cần thiết phải tiếp tục nâng cao hiệu quảcủa hoạt động quản lý dầu khí nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tếgắnvới phát triểnbềnvững và bảo vệđộclập,chủquyền, quyền chủquyền trên biển của Việt Nam.
1.5. Những vấn đề ti p tục nghiên cứu trong luận án
Trên cơ sở xem xét nội dung của những công trình nghiên cứu đã thực hiện có liên quanđến đề tàiquản lý tài nguyên khoáng sản biển, trong phạm vi luận án, tác giả sẽ làm rõ những vấn đề sau:
i) Về lý luận
Thứ nhất, khái niệm quản lý tài nguyên khoáng sản biển. Cụ thể, luận án sẽlàm rõ những vấn đề: Một là, định nghĩa khoáng sản biển trên cơ sởphân tích những cách tiếp cận về khoáng sản biển trong pháp luật của các quốc gia cũng nhƣđiều ƣớc quốc tếvà đặc điểm của khoáng sản biển dƣới gócđộpháp luật; hai là, định nghĩa quản lý tài nguyên khoáng sản biển và những đặc điểm của quản lý tài nguyên khoáng sản biển.
Thứ hai, một số vấn đề lý luận về pháp luật quốc tế liên quan đến quản lý tài nguyên khoáng sản biển, bao gồm: Làm rõ quá trình phát triển của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển một cách tổng thể, thay vì chỉ tiếp cận vấn đề quản lýtrên từng vùng biển nhƣ những công trình nghiên cứu đã tiến hành; phân tích những nguyên tắc của pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển, qua đó, làm rõ những ảnh hƣởng của các nguyên tắc nàyđến các quyđịnh trong pháp luật quốc tếvềquản lý khoáng sảnbiển; nộidung của pháp luật quốctếvềquản lý tài nguyên khoáng sản biển.
ii) Về pháp lý
Là một công trình nghiên cứu tổng thể những vấn đề pháp lý về quản lý tài nguyên khoáng sản biển nên luận án sẽ tiếp tục hoàn thiện hai nội dung pháp lýđã
đƣợc đề cập trong những công trình nghiên cứu trƣớc, trên cơ sở xem xét toàn diện các quyđịnh đƣợc ghi nhận trong những điều ƣớc quốc tếvềluật biển và môi
trƣờng biển có liên quan, các Quyđịnhdo Cơ quan quyền lực Vùng ban hành và những phán quyết, ý kiến tƣvấncủa các cơ quan tài phán quốc tế, bao gồm (1) Thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản biển tại thềm lục địa và Vùng; (2)Bảo vệmôi trƣờng biển từ hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản tại thềm lục địa và Vùng. Đồng thời, luận án sẽ tập trung phân tích cơ chế giải quyết của Viện giải quyết những tranh chấp liên quan đến đáybiển theo quyđịnhcủa Công ƣớc luật biển 1982.
Trên cơ sở phân tích những nội dung pháp lý trên, luận án sẽ đƣa ra nhữngđánh giá về những hạn chế, những ―khoảng trống‖ trong các quy định của luật quốc tế hiện hành điều chỉnh vấn đề quản lý tài nguyên khoáng sản biển.
iii) Các vấn đề pháp lý và thực tiễn thực thi pháp luật của Việt Nam
Luận ánsẽdành toànbộmột chƣơng đểnghiên cứuvấn đềquản lý tài
nguyên khoáng sản biển của Việt Nam.
Thứnhất, luận án sẽphân tích những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về quản lý tài nguyên dầu khí, bao gồm: (1) Quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí; (2) Bảo vệ môi trƣờng trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí và
(3) Giải quyết tranh chấp quốc tế trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, từ đó,đánh giá và chỉ ra những hạn chế của pháp luật Việt Nam.
Thứhai, luận án sẽphân tích và đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật vềquản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam trên ba nội dung tƣơng ứng với quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam là (1) Quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí; (2) Bảo vệ môi trƣờng trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí và
(3) Giải quyết tranh chấp quốc tế trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí.
Thứba, trên cơ sởnhững phân tích, đánh giá những hạn chếcủahệthống pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật trong quản lý dầu khí, luận án sẽ kiến nghịmột số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Chƣơng 1 của luận án đã phân tích tổng quan về các công trình nghiên cứu của nƣớc ngoài và Việt Nam có liên quan đến đề tài luận án. Có thể thấy, số lƣợng những công trình nghiên cứu về vấn đề này khá phong phú, từ sách, bài viết tạp chí,
đến luận văn, luận án,đềtài nghiên cứu khoa học…Những công trình nàyđã tái hiện mộtphần lịchsửhình thành, phát triển của pháp luật quốc tếvềquản lý tài nguyên khoáng sản biển trong mối quan hệ với sự ra đời của thềm lục địa và Vùng trong luật biển quốc tế, đồng thời, bƣớc đầu làm rõ một số vấn đề pháp lý về quản lý tài nguyên khoáng sản biển theo quy định của luật quốc tế cũng nhƣmột số vấnđềthực tiễn phát sinh. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đã thực hiện vẫn
chƣa giải quyết đƣợc triệt để tất cả nhữngvấn đề liênquan đến quản lý tài nguyên khoáng sản biển. Hầu hết các công trình đều tiếp cận về tài nguyên khoáng sản nhƣmột nội dung trong quy chế pháp lý của thềm lục địa và Vùng hoặc chỉ tiếp cận một nội dung nhất định trong quản lý khoáng sản. Việc nghiên cứu một cách riêng biệt và tổng thểdƣới góc độpháp lý vềquản lý tài nguyên khoáng sản biển trong luật quốc tế khá mờ nhạt, do đó, chƣa giải quyết đƣợc toàn bộ vấn đề này cả về lý luận và pháp lý.
Trên cơ sởđối chiếu với mục đích, nhiệmvụnghiên cứu của luận án vànhững hạn chế của các công trình đã thực hiện, luận án sẽ làm rõ những vấn đề sau đểlàm sáng tỏdƣới các góc độlý luận, pháp lý và thực tiễn vấnđềquản lý tài nguyên khoáng sản biển trong pháp luật quốc tế và Việt Nam bao gồm:
Thứ nhất, về lýluận, luận án sẽ làm rõ khái niệm khoáng sản biển, quản lýtài nguyên khoáng sản biển và những vấn đề lý luận cơ bản trong pháp luật quốc tếvề quản lý tài nguyên khoáng biển.
Thứ hai, về pháp lý, luận án sẽ tiếp tục hoàn thiện hai nội dung pháp lý đã
đƣợc đề cập trong những công trình nghiên cứu trƣớc, trên cơ sở xem xét toàn diện các quyđịnh đƣợc ghi nhận trong những điều ƣớc quốc tếvềluật biển và môi
trƣờng biển có liên quan, các Quyđịnhdo Cơ quan quyền lực Vùng ban hành và những phán quyết, ý kiến tƣvấncủa các cơ quan tài phán quốc tế, bao gồm (1) Thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản biển tại thềm lục địa và Vùng; (2)Bảo vệmôi trƣờng biển từ hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản tại thềm lục địa và Vùng. Đồng thời, luận án sẽ tập trung phân tích cơ chế giải quyết của Viện giải quyết những tranh chấp liên quan đến đáybiển theo quyđịnhcủa Công ƣớc luật biển 1982. Trên cơ sở phân tích những nội dung pháp lý trên, luận án sẽ đƣa ra những đánh giá vềnhững hạn chế, những ―khoảng trống‖ trong các quyđịnh của luật quốc tế hiện hành điều chỉnh vấn đề quản lý tài nguyên khoáng sản biển.
Thứba, vềcác vấnđềpháp lý và thực tiễn của Việt Nam, luận án sẽphân tích những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về quản lý tài nguyên dầu khívà thực tiễn thực thi pháp luật của Việt Nam trên các phƣơng diện (1) Quản lý hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí; (2) Bảo vệ môi trƣờng trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí và (3) Giải quyết tranh chấp quốc tếtrong hoạtđộng thăm dò, khai thác dầu khí, từ đó, đánh giá và chỉ ra những hạn chế của pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá pháp luật và thực tiễn thực thi, tác giả sẽ kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam.
CHƢƠNG 2
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN
TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
Quá trình phát triển của các quy định trong pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển gắn liền với quá trình ra đời và hoàn thiện quy chế pháp lý
của các vùng biển trong luật biển quốc tế, nhất là thềm lục địa và Vùng –di sản chung của loài ngƣời. Sựphát triển của khoa học kỹthuật, những thayđổi trong nhận thức của các quốc gia về tài nguyên thiên nhiên cũng nhƣ vấn đề khai thác, sửdụng tài nguyên thiên nhiên cùng với những thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế đã
tạo ra một chế độ pháp lý hoàn toàn mới trong thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản biển.
2.1. Khái niệm tài nguyên khoáng sản biển và quản lý tài nguyên khoáng sản biển
2.1.1. Khái niệm tài nguyên khoáng sản biển
Tài nguyên thiên nhiên đƣợc định nghĩa theo Từ điển Bách khoa Việt Nam là ―toàn bộ giá trị vật chất sẵn có trong tự nhiên (nguyên liệu, vật liệu do tự nhiên tạo ra mà loài người có thể khai thác vàsử dụngtrong sản xuất và đời sống) là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người‖ [88]. Định nghĩa này đã chỉrõ bản chất tài nguyên thiên nhiên là những nguyên liệu, vật liệu không do con
ngƣời tạo ra, con ngƣời chỉ có thể sử dụng và thay đổi chúng theo cách có lợi cho mình, để phục vụ cho những mục đích của mình.
Căn cứ vào bản chất tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đƣợc chia thành hai loại là tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật. Tài nguyên sinh vật đƣợc định nghĩa trong Công ƣớcvềđa dạng sinh học là ―nguồn gen, sinh vật hoặc các bộphận của nó, quần thể, hoặc bất kỳ thành phần sinh học nào khác của hệ sinh thái
mà có tiềm năng hoặc thực tế sử dụng hoặc giá trị đối với con người‖(Điều 2).1Định nghĩa nàyđã chỉrõ tài nguyên sinh vật bao gồm gen, sinh vật hoặc các bộphận của nó, quần thể, hoặc bất kỳ thành phần sinh học nào khác của hệ sinh thái vàthỏa mãn điều kiện là có giá trị đối với con ngƣời, ví dụcác loàiđộng vật, thực vật… Nhƣ vậy, tài nguyên phi sinh vật là những tài nguyên thiên nhiên không thuộc một trong những loại trên. Nói cách khác, có thể hiểu tài nguyên phi sinh vật lànhững giá trị vật chất do tự nhiên tạo ra, có giá trị đối với con ngƣời nhƣng không bao gồm gen, sinh vật hoặc các bộ phận của nó, quần thể, hoặc bất kỳthành phần sinh học nào khác của hệ sinh thái. Tài nguyên phi sinh vật bao gồm nhiều loại khác
1 Công ƣớc đa dạng sinh học sử dụng thuật ngữ ―tài nguyên sinh học‖. Tuy nhiên, trên thực tế, thuật ngữ ―tài nguyên sinh học‖ và tài nguyên sinh vật‖ có ý nghĩa tƣơng tự nhƣ nhau.
nhau nhƣ gió biển, nƣớc biển, thủy triều…, trong đó, khoáng sản đƣợc coi là một loại tài nguyên phi sinh vật.
Hiệp ƣớc Nam Cực năm 1959 là điều ƣớc quốc tế đầu tiên đƣa ra định nghĩa về tài nguyên khoáng sản. Theo đó, tài nguyên khoáng sản là ―tất cả các tài nguyên thiên nhiên không sinh vật, không tái tạo được bao gồm các nhiên liệu hóa thạch, các khoáng sảnkim loại, không kim loại nhưng không bao gồm băng, nước hay tuyết‖.
Dƣới góc độ địa chất, tài nguyên khoáng sản đƣợc định nghĩa là ―là một chất vô cơ tự nhiên hoặc hợp chất có cấu trúc nội tại có trật tự và thành phần hóa họcđặc trưng, dạng tinh thể và các tính chất vật lý‖[158, tr.788].
Pháp luật của các quốc gia cũng có cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa vềtài nguyên khoáng sản. Cách tiếp cận thứnhất là mô tảđặc tính. Ví dụ, Mục 3 Đạo luật khai thác mỏ khoáng sản của Đức quy định rằng khoáng sản là những lớp khoáng sản thuộc thể rắn hoặc thể lỏng và khí xảy ra trong trầm tích hoặc các lớp chất tựnhiên trong lòng đất hoặc trên bềmặttrái đất,trên đáybiển hoặc lòng đất
dƣới đáybiển [247]; hoặc theo quyđịnhtạiĐạo luật thiết lập mộthệthống mới trong khai thác, phát triển, sửdụng và bảo tồn nguồn tài nguyên khoáng sản của Philippines, khoáng sản bao gồm tất cả các chất vô cơ tự nhiên dƣới dạng chất rắn, khí, lỏng, hoặc bất kỳtrạng thái trung gian nào, không bao gồmcác nguyên liệu năng lƣợng nhƣ than đá, xăng dầu, khí đốt tự nhiên, chất phóng xạvà nănglƣợngđịa nhiệt (Mục 3) [195]. Cách tiếp cận thứ hai là mô tả đặc tính kèm theo liệt kê nhƣĐiều 2 Đạo luật khoáng sản New Zealand quy định khoáng sản có nghĩa là chất vôcơ tự nhiên xuất hiện dƣới bề mặt trái đất, có hoặc không dƣới nƣớc; và bao gồm tất cảcác khoáng chất kim loại, khoáng sản phi kim loại, nhiên liệu, đá quý, đá công nghiệp và đáxây dựng, và một chất đƣợcquyđịnhtrong Đạo luật năng lƣợng nguyên tử năm 1945 [228].
Trên cơ sở định nghĩa trong Hiệp ƣớc Nam Cực cũng nhƣ những cách tiếp cận trong luật khoáng sản một số nƣớc, có thể rút ra kết luận chung, tài nguyên khoáng sản là chất vô cơ tựnhiên, có thành phần hóa học và tính chất vật lý xácđịnh, có thể tồn tại ở trạng thái rắn, lỏng, hoặc khí trong lòng đất hoặc trên bề mặt trái đất, trên đáybiển hoặc lòng đất dƣới đáybiển nhƣng không bao gồmbăng,
nƣớc hay tuyết.
Với cách tiếp cận nhƣ vậy, có thể định nghĩa tài nguyên khoáng sản biển là―chất vô cơtự nhiên, không tái tạo, có ý nghĩa kinh tế, gồm tài nguyên kim loại vàkhông kim loại (tài nguyên xây dựng), tài nguyên dầu khí, ở thể rắn, lỏng, khí trênđáy biển và lòng đất dưới đấy biển nhưng không bao gồm băng, nước hay tuyết‖.
Định nghĩa này đã thể hiện những đặc điểm sau của tài nguyên khoáng sản biển:
Thứnhất, bản chất của tài nguyên khoáng sản biển là các chất vô cơ tự
nhiên, không tái tạo, sẽ mất đi hoặc hoàn toàn bị biến đổi không còn giữ đƣợc tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng. Điều này có nghĩa là những chất vô cơ nhân tạo là sản phẩm của quá trính sản xuất có sự tham gia của con ngƣời sẽ không phải làtài nguyên khoáng sản.2
Thứ hai, tài nguyên khoáng sản biển gồm tài nguyên kim loại và không kim loại (tài nguyên xây dựng), tài nguyên dầu khí, có thể tồn tại dƣới bất kì trạng thái nào, ví dụtrạng thái rắn, trạng thái lỏng hay trạng thái khí, trong đó, chủyếu làtrạng thái rắn và trong một sốtrƣờng hợp bao gồmcảnƣớc nhƣng nhìn chung không có nƣớc, tức là không có các thành phần hóa học của nƣớc, hay các kim loại hòa trong nƣớc..
Khi xem xét luật khoáng sản của các quốc gia, sở dĩ luật khoáng sản một số
nƣớc khi định nghĩa vềkhoáng sản đã loạitrừkhoáng sản ởtrạng thái lỏng lànguyên liệu năng lƣợng, nhƣ trƣờng hợp củaPhilippines hoặc một sốnƣớc không quyđịnh khoáng sản là nguyên liệu năng lƣợng thuộc phạm vi áp dụng của luật khoáng sản ví dụ nhƣ trƣờng hợp của Việt Nam.3 Điều này xuất phát từ lý do mặc dù những nguyên liệu năng lƣợng nhƣ dầu mỏ, khí gas cũng là tài nguyên khoáng sản nhƣng do đặc thù trong hoạt động thăm dò khai thác và vị trí của những khoáng sản nàychủyếu nằmbên ngoài lãnh thổquốc gia nên những hoạtđộng liên quanđến chúng sẽ đƣợc điều chỉnh bằng một luật riêng.4 Dƣới góc độ tiếp cận của luận án, tài nguyên khoáng sản biển thuộc phạm vi điềuchỉnh của luật quốc tếsẽbao gồm tất cả những loại khoáng sản tồn tại ở đáy biển và lòng đất dƣới đáy biển bên ngoài lãnh thổ quốc gia, gồm cả những nguyên liệu năng lƣợng nhƣ dầu mỏ hay khígas. Trên thực tế, tầm quan trọng của TLĐ chủ yếu do trữ lƣợng dầu khí và khí đốt của vùng biển này. Với 90% trữ lƣợng dầu khí ngoài khơi theo ƣớc tính của các nhàkhoa học, TLĐ đến nay vẫn là vùng biển quan trọng nhất trong việc cung cấp nguồn
2 Ví dụ, xi măng là một chất vô cơ nhân tạo. Quá trình sản xuất xi măng bao gồm nhiều bƣớc khác nhau nhƣtách chiết các nguyên liệu thô là canxi, silic, sắt, và nhôm; phân chia tỷ lên, trộn lẫn, nghiền các nguyên liệu thô kể trên rồi đƣa chúng vào lò nung, sau đó nghiền sản phẩm sau khi nung thành bột mịn, gọi là xi măng.
3Điều1 Luật Khoáng sản Việt Nam quy định rằng:
―Luậtnày quy định việc điều tra cơ bảnđịa chấtvề khoáng sản; bảo vệ khoáng sản chƣa khai thác; thăm dò, khai thác khoáng sản; quản lý nhà nƣớc về khoáng sản trong phạm vi đất liền, lãnh hải, nội thủy lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùngđặcquyền kinhtế và TLĐ của nƣớcCộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam. Khoáng sản làdầukhí; khoáng sản là nƣớc thiên nhiên không phải là nƣớc khoáng, nƣớc nóng thiên nhiên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này‖.
4 Ví dụ hiện nay, các hoạt động liên quan đến dầu mỏ và khí đốt của Australia sẽ đƣợc điều chỉnh bằng Đạo luật dầu mỏ ngoài khơi và khí đốt nhà kính năm 2006 trong khi những hoạt động liên quan đến khoáng sản khác sẽ đƣợc điều chỉnh bằng Đạo luật khoáng sản ngoài khơi năm 1994.
năng lƣợng chủyếu, phục vụtrên 65% nhu cầu sửnăng lƣợng trên trái đất là dầu mỏ [36, tr.25].
Thứ ba, khoáng sản biển là loại tài nguyên có ý nghĩa kinh tế đặc biệt. Một trong những loại khoáng sản biểndƣới dạng rắn đƣợc biết đến và cũng đƣợc khai thác chủyếulà các khối đa kim, vỏsắt mangan giàu coban và lƣu huỳnh chứa đa kim loại. Các khối đa kim là sự kết tủa từ nƣớc biển trên hàng triệu năm, đƣợc hình thành từ bề mặt của các đồng bằng rộng lớn dƣới đáy đại dƣơng (độ sâu từ 4-5 km), thành phần có chứa niken, coban, sắt và mangan với nồng độ khác nhau và có giá trịkinh tế từ 308 – 926 USD/tấn. Vỏ sắt mangan giàu coban là những kết tủa từ nƣớc biển dƣới dạng các lớp mỏng (lên đến 25 cm) trên các khối đá của núi lửa ngầm vànúi lửa nằm ởđộsâu khoảng 400 đến 4.000 mét, tậptrung tại TLĐ và bên ngoài
TLĐ của các quốc gia nằm ở phía Tây Thái Bình Dƣơng với giá trị kinh tế từ 489 –1.360 USD/tấn. Lƣu huỳnh chứa đa kim loại là khoángsản đƣợc phát hiện ở các đại
dƣơng vào năm 1979 và đƣợc khai thác nhằm thu về đồng, sắt, kẽm, bạc và vàng.
Giá trịkinh tếcủa lƣu huỳnh đƣợc tính trên tấn là 337 –1.051 USD [186, tr.79]. Bên cạnh những khoáng sản tồn tại dƣới dạng chất rắt nhƣ trên, những nhiên liệu hóa thạch có nguồn gốc từ sự phân rã và sự nén chặt của thảm thực vật ở các khu vực dƣới mực nƣớc biển, gồm khí đốt và dầu mỏ đang đƣợc khai thác ở mực nƣớc nông và sâu tại các khu vực TLĐ ở châu Phi, Châu Mỹ, Châu Á và Châu Âu, với sản lƣợng có giá trị 100 tỷ đô la một năm [148]. Mặt khác, dầu đƣợc chế biến thành các dạng nănglƣợngkhác nhƣ xăng, điện… đƣợc sử dụng rộng rãi trong sản xuất và đời sống con ngƣời, là nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp hóa chất vàcông nghiệp hàng tiêu dùng. Dầu khí là ngành công nghiệp tiềnđềthúc đẩycác ngành công nghiệp khai khoáng, luyện kim, cơ khí, chếtạo phát triển và kéo theo hàng loạt các ngành công nghiệp khác phát triển.
Thứtư, khoáng sảnbiển tồn tại ởđáybiển và lòng đất dƣới đáybiển. Tuy nhiên, không phải khoáng sản tồn tại ở vị trí nào cũng thuộc đối tƣợng quản lý của luật quốc tế.Những khoáng sản tạiđáybiển và lòng đất dƣớiđáybiển phía trong
đƣờng biên giới quốc gia trên biển thuộc lãnh thổ của QGVB thuộc đối tƣợngđiều chỉnh củapháp luật quốc gia.Đốitƣợng quản lý của luật quốc tếsẽgồm toànbộnhững khoáng sản nằmtại đáybiển và lòngđất dƣới đáybiển bên ngoài lãnh thổquốc gia, bao gồm những khoáng sản tại TLĐ và khoáng sản tại Vùng.
2.1.2. Khái niệm quản lý
Theo định nghĩa của từ điển Cambridge, quản lý là ―chịu trách nhiệm kiểm soát hoặc tổchức nhân sựhoặc công việc, đặc biệt là đối vớimột doanh nghiệp hoặc nhânviên‖[232], theo định nghĩa của từ điển Oxford, quản lý là ―chịu trách
nhiệm( về một doanh nghiệp, một tổ chức hoặc một công việc gì đó), điều hành. Cụthể: 1.Có vai trò quản lý nhân viên làm việc tại một cơ quan; 2. Là người quản lý một đội bóng hoặc một nghệ sĩ biểu diễn; 3. Sử dụng tiền bạc, thời gian, các nguồn tài nguyên một cách hợp lý; 4. Kiểm soát ai hoặc điều khiển một con vật; 5. Điều hành việc sử dụng và khai thác (ví dụ: đất đai)‖ [233] còn theo định nghĩa của từđiển Tiếng Việt, quản lý có hai nghĩa ―1. Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; 2. Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định‖
[55, tr.800]. Có thể thấy, dù sử dụng câu từ khác nhau, nhƣng cách tiếp cận về quản lý của những từ điển trên khá tƣơng đồng. Theo đó, quản lý là tổ chức, điều hành nhân sự, công việc hoặc một đối tượng cụ thể.
Trong lĩnh vực khoa học quản lý, các nhà khoa học cũng đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý. Chẳng hạn, ―Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác‖ (Mary Parker Follet);―Quản lý là một quátrình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức‖ (Robert Albanese) [163, tr.15] hay ― Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và sửdụng tất cảcác nguồn lựckhác của tổchức đểđạtđược mục tiêu đã định trước‖ (Henry Fayol) [178, tr.15];―Quản lý là sựtác động chỉhuy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra‖(Nguyễn Minh Đạo) [28, tr.15] hoặc ―Quản lý là sự tác động có
tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu dự kiến‖ (Nguyễn Hữu Hải) [40, tr.9].
Mặc dù đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau nhƣng những quan điểm này đều có điểm chung đó là coi quản lý là quá trình tác động đến những chủ thể nhất định thông qua các hoạt động khác nhau nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đề ra.
Nhƣ vậy, có thểhiểu một cách chung nhất, quản lý là quá trình chủthểcóthẩm quyền tác động lên những đối tượng nhất định thông qua các hoạt động, hình thức khác nhau nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.
Quản lý có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quan hệ quản lý phát sinh giữa chủ thể quản lý vàđối tƣợng quản lý.
+ Chủthểquản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý trong mọi quátrình hoạt động. Chủ thể quản lý tác động lên đối tƣợng quản lý thông qua các công cụvới những phƣơng pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. Nói cách khác, chủ thể quản lý sẽ xây dựng các kế hoạch, tổ chức bộ máy nhân sự, thực hiện
hoạt động lãnh đạo, phối hợp và kiểm soát ngƣời thừa hành.
+ Đối tƣợngquản lý: Là thực thể tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thểquản lý. Đối tƣợng quản lý bao gồm tổ chức, cá nhân nhƣ Nhà nƣớc, tổ chức kinh
tế, tổchức đoàn thể…; giới vô sinh nhƣ máy móc, nhà xƣởng, tài nguyên thiên
nhiên…; giới sinh vật nhƣ vật nuôi, cây trồng… Tùy từng đối tƣợng quản lý khác nhau màchủthểquản lý sẽáp dụng những công cụ,biện pháp khác nhauđểtácđộng đến đối tƣợng này.
Trong mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý, chủ thể quản lý là ngƣời đƣa ra mệnh lệnh còn đối tƣợng quản lý là ngƣời thực thi các mệnh lệnhđó.
Thứ hai, quản lý luôn hƣớng đến những mục tiêu chung nhất định. Mục tiêu là cái đích cần phải đạt đƣợc do chủ thể quản lý đặt ra, bao gồm mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể. Mục tiêu quản lýđịnhhƣớng cho toàn bộ hoạt động quản lý trong quá trình kết hợp các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức cũng nhƣlà cơ sở để đánh giá mức độ tuân thủ của đối tƣợng quản lý [40, tr.11-13].
Thứ ba, trong quản lý luôn tồn tại yếu tố quyền lực quản lý. Quyền lực quản lý là phƣơng tiện để chủ thể quản lý tác động lên đối tƣợng quản lýnhằm đạt đƣợc mục tiêu quản lý, đồng thời cũng là căn cứ để phân biệt giữa chủ thể quản lý và đối
tƣợng quản lý. Theo đó, chủthểquản lý đƣợc trao quyền quản lý nhƣ quyền chỉhuy, điều hành, chi phối lên đối tƣợng quản lý còn đối tƣợng quản lý phải thừa nhận và tuân thủ những biện pháp, quyết định của chủ thể quản lý.
2.1.3. Khái niệm quản lý tài nguyên khoáng sản biển
Từ định nghĩa về quản lý nói chung, có thể hiểu quản lý tài nguyên khoáng sản biển là quá trình mà các chủthểcó thẩm quyền thông qua những hoạt động khác nhau để điều chỉnh, kiểm soát hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản biển và những vấn đềphát sinh từhoạt động này của các chủthểcó liên quan nhằmđảm bảo lợi ích, sự công bằng giữa các quốc gia trong khai thác, sử dụng biển.
Đâylà quá trình mà chủthểquản lý sẽsửdụng những biện pháp, công cụ, hình thức khác nhau nhƣ cấp phép, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm của đối tƣợng
quản lý… để điều chỉnh, kiểm soát những hành vi của đối tƣợng quản lý liên quanđến khoáng sản biển, bao gồm hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản biển; bảo vệmôi trƣờng biển trong quá trình thăm dò, khai thác và giải quyết những tranh chấp quốc tế phát sinh từ các hoạt động này. Mục tiêu của quá trình này nhằm đảm bảo lợi ích, sự công bằng giữa các quốc gia trong khai thác, sử dụng biển.
Quản lý tài nguyên khoáng sản biển bao gồm những đặc điểm sau:
– Thứ nhất, về chủ thể quản lý
+ Chủ thể quản lý tại thềm lục địa
Là vùng biển thuộc quyền chủquyền của quốc gia, Công ƣớc đã trao thẩm quyền cho QGVB trên hai phƣơng diện, (i) quyền chủquyềnđối với tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả tài nguyên khoáng sản và (ii) quyền tài phán trong các lĩnh vực xây dựng cácđảonhân tạo, các công trình thiết bị trên biển, nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trƣờng biển.
Khoản 1 Điều 77 Công ƣớc quyđịnh rằng:―QGVB thực hiện các quyền thuộc chủquyền đối với TLĐ vềmặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình.‖ Mặc dù không quy định một cách cụ thể, nhƣng có thể hiểu, quyền chủquyền của GQVB bao gồm ―tất cảnhững quyền cần thiết nhằm và gắn liền với hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiêncủaTLĐ. Những quyền này bao gồm cả quyền tài phán trong việc ngăn ngừa, trừng trị những hành vi vi phạm‖
[140; tr.296]. Cụ thể:
i) QGVB có quyền thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản trên TLĐ của mình cũng nhƣ thực hiện những hoạt động cần thiết khác nhằm phục vụcho hoạt động thăm dò, khai thác hoặc những hoạt động gắn liền với việc thăm dò, khai thác khoáng sản trên TLĐ.
ii) QGVB có quyền ban hành những quy định, luật lệđểquản lý hoạtđộng thăm dò, khai thác tài nguyên cũng nhƣ những hoạt động gắn liền với việc thăm dò, khai thác tài nguyên của mọi chủ thể trên TLĐ của mình, bao gồm những tổ chức, cá nhân của quốc gia đƣợc quốc gia ủyquyền hay cấp phép cũng nhƣ những tổchức, cá nhân nƣớc ngoài đƣợc khai thác trên cơ sở sự cho phép hay các thỏa thuận hợp tác của quốc gia.
iii) QGVB có quyền thực hiện những biện pháp cần thiết đểđảmbảocho các quy định, luật lệ đã ban hành đƣợc các chủ thể tôn trọng và thực thi đầy đủ trên thực tế. Khác với vùng đặc quyền kinh tế, tại TLĐ, không có điềukhoản nào của Công ƣớc ghi nhận cụ thể quyền này của QGVB5 mà quyền này đƣợc trực tiếp suy ra từ quyền chủ quyền của QGVB đối với những hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của TLĐ. Tuy nhiên, vì không có quy định cụ thể nhƣ vùng đặc quyền kinh tế nên giới hạn trong việc áp dụng những biện pháp của QGVB có thểthuộc một trong hai trƣờng hợp: Hoặc là áp dụng tƣơng tựKhoản 3 Điều 73 UNCLOS, tức là chế tài áp dụng không đƣợc bao gồm hình phạt tù giam hoặc hình
5 Khoản 1 Điều 73 Công ƣớc luật biển 1982 quy định rằng: ―Trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền kinh tế, QGVB cóthểthi hành mọi biện pháp cần thiết, kểcả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tƣ pháp để bảo đảm việc tôn trọng các luật và quy định mà mình đã ban hành theođúng Công ƣớc‖.
phạt thân thể nào nếu giữa các quốc gia không có thỏa thuận khác; hoặc là không cógiới hạn trong việc áp dụng chếtài, hay nói cách khác là quốc gia cóthểáp dụng mọi biện pháp đƣợc pháp luật trong nƣớc ghi nhận, bao gồmcảhình phạt tù hay hình phạt thân thể đối với chủ thể vi phạm.
Công ƣớc không yêu cầu QGVB phải thực hiện bất kì hành vi chiếm hữu hay tuyên bố nào để đƣợc hƣởng những quyền mà UNCLOS ghi nhận. Theo đó, những quyền Công ƣớc ghi nhận cho QGVB là quyền mang tính chất tựnhiên, vốn có ―không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứtuyên bố rõ ràng nào‖ (Khoản 3 Điều 77 UNCLOS).
Cùng với quyền đối với tài nguyên, quyền tài phán của QGVBđối với xây dựng đảo nhân tạo, các công trình thiết bị trên biển, hoạt động nghiên cứu khoa học biển và bảo vệmôi trƣờng biển (Điều 56 UNCLOS) là những quyền nhằmhỗtrợcho QGVB thực hiện quyền đối với tài nguyên của mình. Theođó,nếu nhƣ nghiên cứu khoa học biển là cơ sởkhoa học đểquốc gia xác định các loại tài nguyên khoáng sản có tại TLĐ của mình, từ đó, tiến hành những hoạt động thăm dò, khai thác phù hợp thì các đảo nhân tạo, thiết bị công trình là những phƣơng tiện, công cụvật chất để quốc gia tiến hành những hoạt động này. Đặc biệt quyền tài phán trong lĩnh vực bảo vệ, gìn giữ môi trƣờng biển là căn cứ để quốc gia ngăn ngừa, ứng phó đối với những nguy cơ hay những sự cố gây ô nhiễm môi trƣờng phát sinh từ hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản.
Có thểthấy, việc quản lý tài nguyên khoáng sản biểnđƣợc Côngƣớc dành gần nhƣ toàn bộcho QGVB với nội dung và phạm vi rất rộng, từquyền trực tiếp thăm dò, khai thác; quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp trong quản lý tài nguyên cho đến những quyền gắn liền với việc thăm dò, khai thác tài nguyên của TLĐ nhƣnghiên cứu khoa học để xác định nguồn khoáng sản, xử lý vi phạm đối với hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng biển trong quá trình thăm dò, khai thác hay đánh thuế đối với những khoản lợi nhuận thu đƣợc từcác doanh nghiệp nƣớc ngoài đƣợc phép khai thác trong TLĐ.6
6 Năm 1981, một công tycủaPanamađã kiện ChínhphủNhật sau khibịyêucầuphảinộpthuếđối với những khoản lợi nhuận thu đƣợc từ hoạt động khai thác khoáng sản trên TLĐ của Nhật theohợp đồng đƣợc ký kết giữa Chính phủ Nhật với các công ty của Mỹ với lý do, TLĐ nằm bên ngoài lãnh thổ của Nhật nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thuế doanh nghiệp do quốc gia này ban hành. Trong ý kiến tƣ vấn chính thức theo yêu cầu của tòa cũng nhƣ trong phán quyết, tòa đã khẳng định quyền thu thuế là một trong những nội dung cấu thành quyền quản lý của quốc gia. Quyền chủ quyền của quốc gia trong việc thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của TLĐ bao gồm tất cả những quyền quản lý của Nhà nƣớc, từ lập pháp, hành pháp cho tới tƣ pháp nhằm thực hiện quyền này. Do đó, quyền thu thuế đối với các hoạt động khai thác tài nguyên trên TLĐ cũng nằm trong nội dung của quyền chủ quyền đƣợc Công ƣớc ghi nhận [162].
+ Chủ thể quản lý tại Vùng – di sản chung của nhân loại
Theo quyđịnh tại Điều 137 UNCLOS, tất cảcác quyền đốivới tài nguyên của Vùng đƣợc trao cho nhân loại mà Cơ quan quyền lực (ISA)7 là chủ thể thay mặt đảm nhận những quyền này. Ngoài những thành viên chính thức là tất cả các QGTV của Công ƣớc luật biển 19828 hiện nay có 30 quốc gia đang là quan sát viên của ISA cùng với các tổchức quốc tếliên chínhphủvà phi chính phủkhác nhƣ Liên hợp quốc, Tổchức nông lƣơngthếgiới,Tổchức lao động quốc tế, Tổchức hòa
bình xanh, Quỹ bảo vệ động vật hoang dã…
Sựra đời của ISA nhằmđảm bảo sựcông bằng cho các chủthểtrong tiếp cận và thụhƣởng những lợiích kinh tếthuđƣợc từtài nguyên khoáng sảnbiển. Nguyên tắc tự do biển cả trong điều chỉnh hoạt động khai thác tài nguyên tại phần đáybiển dƣới biển cảthực chất chỉmang lạilợi ích kinh tếcho một sốquốc gia nhất định có tiềm năng về kinh tế và kỹ thuật. Do đó, thay vì để cho mọi chủ thể, mà thực chất, chỉmột sốít tựdo khai thác và hƣởng lợi từnguồn tài nguyên này, việc thiết lập một cơ chế quốc tế với vị trí trung tâm thuộc Cơ quan quyền lực, gồm đại diện của các quốc gia thành viên UNCLOS đểthay mặt cho nhân loại quản lýmọi hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản tại tại phần đáybiển, lòng đất dƣới đáy biển không thuộc thẩm quyền tài phán của bất kì quốc gia nào, đồng thời phân chia các lợi nhuận thu đƣợc từ quá trình khai thác sẽ đảm bảo cho tất cả các quốc gia đều có cơ hội đƣợc thụ hƣởng những lợi ích kinh tế to lớn mà nguồn tài nguyên
tại đây mang lại.
Thẩm quyền của cơ quan quyền lực Vùng đƣợc giới hạn trong phạm vi của Vùng (Điều 135 UNCLOS 1982) và những vấn đề đƣợc quy định trong UNCLOS
(Điều 157 khoản 2) cùng Thỏa thuận thực thi năm 1994, bao gồm:
i) Ban hành những quy định, thủtục đểthực hiện chức năng quản lí tài nguyên khoáng sản tạiVùng (Điều 17 Phụlục 3 UNCLOS); xét duyệt lại các quyđịnh của Công ƣớc và các phụ lục có liên quan, điều chỉnh hệ thống thăm dò vàkhai thác tài nguyên của Vùng (khoản 1 Điều 155 UNCLOS); xem xét chung và cóhệ thống chế độ quốc tế của Vùng do Công ƣớc lập ra (Điều 154 UNCLOS).
ii) Thực hiện kiểm soát cần thiết đối với các hoạt động tiến hành trong Vùngđể bảo đảm tôn trọng các quy định tƣơng ứng của Công ƣớc và các phụ lục có liên
7 Cơ quan quyền lực gồm bốn cơ quan chính đƣợc quy định trong Công ƣớc là Đại hội đồng – cơ quan hoạch
định chính sách, Hội đồng – cơ quan chấp hành, Ban thƣ ký – cơ quan hành chính thƣờng trực, các Xí nghiệp
– cơ quan đƣợc trao quyền tiến hành các hoat động thăm dò, khai thác khoáng sản thay mặt cộng đồng quốc tế.Ngoài ra còn baogồmba cơ quanphụtrợđảmnhiệm các chức năng chuyên môn trong từng lĩnh vực
tƣơng ứng là Ủy ban pháp lý và kỹ thuật, Ủy ban tài chính và Ủy ban kế hoạch kinh tế, trong đó, Xí nghiệp và Ủy ban kế hoạch kinh tế chƣa đƣợc thành lập. Những vấn đề pháp lý cụ thể về từng cơ quan, xem thêm Mục 4, phần XI Công ƣớc luật biển 1982, các điều từ 156-170.
8 Cơ quan quyền lực Vùng hiện nay bao gồm 168 thành viên. Đây cũng là số lƣợng quốc gia đã trở thành thành viên của Công ƣớc luật biển 1982 tính đến thời điểm này [229].
quan, các quy tắc, quyđịnh và thủtục của ISA, cũng nhƣ các kếhoạch làm việc
đƣợc chuẩn y (khoản 4 Điều 153 UNCLOS) thông qua các hình thức: 1) Xem xét báo cáo của các chủ thể thực hiện những hoạt động tại Vùng; 2) Kiểm tra kế hoạch làm việc chi tiết của bên kí kết định kì 5 năm một lần; 3) Trực tiếp tiến hành giám sát thông qua hoạt động của đoàn thanh tra do Hội đồng cử đến để thanh tra các tàu
nƣớc ngoài, các công trình đƣợc bên kí kết sử dụng trong quá trình tiến hành những hoạt động tại khu vực thăm dò nhằm giám sát việc tuân thủ hợp đồng, các quy định của Công ƣớc và văn bản do ISA ban hành.
Đểđảm bảo việc thực hiện quyền nàycủaISA, Côngƣớc trao cho ISA quyền đƣợc thi hành mọi biện pháp đƣợc trù định, bấtkì lúc nào, đểbảo đảm tôn trọng các quyđịnh vàđểcó thểthi hành các chức năng của mình (khoản 5 Điều 153). Cụthể, ISA có quyền đình chỉhoặc chấm dứt các hợp đồng của bên kí kết; phạt tiền theotỉlệvềmứcđộnghiêm trọng của sựvi phạm (Điều 18 Phụlục3) hoặc đình chỉviệc hƣởng những ƣu đãi hayđặc quyền vốn có của các quốc gia thành viên (Điều 185).
– Thứ hai, về đối tượng quản lý
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN BIỂN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM

