Những vấn đề pháp lý về đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện cải cách kinh tế ở nước ta hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vớiđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam phát triển một nền kinh tếđa thành phần, trong đó kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo, là công cụ để Nhànước định hướng và điều tiết nền kinh tế. Tuy nhiên, trong những nămqua, sốlượng doanh nghiệp nhà nước tương đối lớn, nhưng phần lớn hoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ kéo dài. Những thách thức này càng trở nên lớn hơn khi khả năng bao cấp của Nhà nước ngày càng giảm sút, đặc biệt là trongbốicảnhnướcta gia nhậpTổchức Thương mại Thế giới (WTO).
Vì vậy, cảicách doanh nghiệp nhà nước là mộtđòihỏikhách quan, mộtchủtrươngcấpthiếtđã và đangđược đặtra đốivớiNhànướcta. Quátrình này được khởi đầu từ gần ba thập kỷ nay, khi Chính phủ ban hành Quyếtđịnh 25/CP ngày 21-01-1981 và Quyết định 146/HĐBT ngày 25-8-1982 về đổi mớikế hoạch hóa đốivớixí nghiệp quốc doanh. Tuy nhiên, đổimớidoanh nghiệp nhà nước chỉ thực sự trở thành một trong những nhiệm vụ lớn từ sauĐạihội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, được thúc đẩy mạnh mẽ từ sau năm 1990. Nhờ đó, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã được giảm đáng kể, loạibỏnhiều doanh nghiệp hoạtđộngkém hiệu quả hoặc các doanh nghiệp thuộc các ngành, những lĩnh vực mà Nhà nước không cần thiết phải nắmgiữ100% vốn. Hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp được cải thiện, cơ chếquản lý và hoạtđộngkinh doanh của doanh nghiệpđược đổimới, doanh nghiệp nhà nước bước đầuthích nghivớimôi trường cạnh tranh, tuy nhiên vẫn còn nhiềuhạn chế. Sốlượng doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh, nhưng các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa chủ yếu vẫn có quy mô vừa và nhỏ. Tổng số vốn nhà nước theo sổ sách kế toán của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mới chỉ chiếm 18,25% toàn bộ vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước [6]. Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chưa được tiến hành
1
đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, như các tổng công ty nhà nước; việc sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm được tiến hành rất chậm. Việc thành lập các tổng công ty, tậpđoàn kinh tế được tiến hành theo cách thức cơ học, mệnh lệnh hành chính mà không dựa trên các quy luật kinh tế nên không có sự gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên. Hiệuquảhoạtđộngcủacác doanh nghiệp nhànướcchưa cao vàchưa bền vững; cơ chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và cơ chế quản lý kinh doanhcủadoanh nghiệp chưa phùhợpvớinềnkinhtếthịtrường; cơchế Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản can thiệp quá sâu vào hoạtđộngcủa doanh nghiệp nhà nướcvẫncòntồntại, trong nhiều lĩnh vực vẫn còn phổ biến.
Những hạn chế này thể hiện sự tiếpcậnchưa khoa học, chưa toàn diện về doanh nghiệp nhànước và các vấnđề pháp lývề đổimới, phát triển loại hình doanh nghiệp này, đặc biệt trongbốicảnh hội nhập WTO. Việc nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhànước trongđiều kiện cảicách kinh tế ở nước ta hiện nay” do đó, mang tính cấp thiết, góp phần giải quyết những vấn đề về lý luận, pháp lývà thực tiễnđể nâng cao chấtlượngvà hiệu quả của quá trình đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án
Luận án có mục đích xác địnhphươnghướngvà xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệuquảcủaviệcđổimớivà phát triển doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới ở Việt Nam.
Để đạtđược mục đích nói trên, luận ántậptrung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
– Nghiêncứuvà phân tích nhữngvấnđề lý luận cơ bảnvềdoanh nghiệp nhà nước, phân biệt doanh nghiệp nhà nướcvớicác loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinhtếkhác trongnềnkinh tế, đặc biệt trong
4
điều kiệnphát triểnnềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam để có cách hiểu đúng về loại hình doanh nghiệp này từ góc độ pháp lý;
– Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển quan niệm pháp lý vềdoanh nghiệp nhà nước cũng như sức ép phải thay đổi các quan niệm này;
– Nghiên cứu, đánh giá thực trạng những vấn đề pháp lý chủ yếu về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong gần hai thập kỷ qua;
– Đề ra những định hướng và giải pháp cụ thể nhằmđẩymạnh việc đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề pháp lý về việc cải cách, sắp xếp lại doanh nghiệp nhànước có nội dung rất rộng. Luận án này chỉ nghiên cứu những vấnđề pháplýcó liên quan tới việc đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước trong khoảng thời giantừnăm 1990đếnhếttháng 6 năm 2007, trên phạm vicả nước, màkhôngđềcậptớinhữngvấnđề khác có liên quantớiviệc sắpxếplạicác doanh nghiệp nhà nước, như: Thành lập mới, phá sản, giải thể, sáp nhập, giao, bán khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên phương pháp luận của triết học Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; trên cơsở đường lối và chủtrương của Đảng về đổi mớinềnkinh tế đất nước, về xây dựng nền kinh tế thịtrườngđịnhhướngxã hộichủnghĩa vàđặc biệt làchủtrươngđổimới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
Luậnán được thực hiệndựa trên sự kết hợp các phương pháp nghiên cứu, như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương
5
pháp so sánh, đặc biệt là so sánh luật học để giải quyếtcác vấn đề mà đề tàiđặt ra.
6. Những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của luận án Luận án có những điểm mới và những đóng góp sau đây:
– Luận án nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của quan niệm về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam qua các thời kỳ và đã chứng minh rằng, quá trình này là đúng hướng,vừaphùhợpvớitình hình kinhtế- xãhộicủa Việt Nam, vừa phù hợp với quan niệm chung của thế giới về doanh nghiệp nhànước;
– Luận ánđã khẳng địnhrằng, không phảiyếutốchính trị (ý chícủađảng cầmquyền) mà các nhân tố phát sinh từ chính bản thân nền kinh tế (sựcông nghiệp hóa đấtnước, yêucầukhôi phục nhanh chóngnềnkinhtế sau chiến tranh haysựthịnh hành của mộthọc thuyết kinh tế) mớilà yếutốtối thượng, có vai trò quyếtđịnhđốivớisựphát triển hay không của doanh nghiệp nhà nước trong các thời kỳ phát triển của các quốc gia;
– Luận án làm rõ yêucầu đổi mớivà phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện xây dựngnềnkinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay;
– Luận án phân tích và làm rõ các hình thức pháp lý của công tác đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước;
– Đánh giá thực trạng pháp luật cũng nhưkếtquả của quá trìnhđổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong thời gian qua;
– Luận án đưa ra một số giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm tiếptục đẩy mạnh việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước,đồng thời góp phần hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp nói chung để các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác được tồn tạivà hoạt động trong cùng một môi trường luật pháp thống nhất, bình đẳng.
6
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 3 chương, 9 tiết.
7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
1.1.1. Quan niệm về doanh nghiệp nhà nƣớc
1.1.1.1. Quan niệm chung của các quốc gia về doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước là một loại hình doanh nghiệp tồn tại phổ biến
ở hầu hết các nước trên thế giới, dù ở các nước đó có sự khác biệt về mô hình kinh tế. Tuy nhiên, vị trí, vai trò, phạm vi hoạtđộng, mức độ đầutư, sự định hướng và quản lý của mỗi nhà nước đối các doanh nghiệp nhà nước luôn cónhững nét đặc thù, riêng biệt.
Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước ở các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau và khái niệm này cũng có sự thay đổi theo thời gian. Cộng đồng châu Âu xác định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp màchính phủ trung ương hoặc địa phương có thể dựa vào quyền sở hữu, quyền khống chế cổ phần hoặc các điềulệ quảnlý đối với doanh nghiệp đã gây ảnh hưởngcó tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếpđốivớichúng” [99, tr. 8]. Theo định nghĩa này, doanh nghiệp nhà nước trước hết là doanh nghiệp màchínhphủtrung ương và chính quyềnđịaphương làngườisởhữucổphần trong doanh nghiệp, phầnsởhữucổphầncủachínhphủcóthểlà 100% hoặcmộttỷlệkhốngchếtùy theođiềulệcông ty và có thể, nhànướcchỉnắmcổphầnđếnmứcđủkhốngchếvà chi phối doanh nghiệp.Địnhnghĩa trên đây,vềcơbảndựatheo tiêu chísở hữuphầnvốngóp hoặc cổphần trong doanh nghiệp, mộtdoanh nghiệp mà nhànướcnắmtoànbộsởhữu hoặc nắm phần chi phối về vốn góp hoặc cổ phần, cóthể được hiểulà doanh nghiệp nhà nước.
8
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liênhợpquốc (UNIDO), doanh nghiệp nhànước được địnhnghĩa là cáctổchức kinhtế thuộc sởhữunhànước hoặc do nhà nước kiểm soát, có thu nhập chủ yếu từ sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ [79, tr. 69-70]. Khái niệm trên cũng dựa trên dấu hiệu sở hữucủa nhà nướcđốivớicổphầncủadoanh nghiệp, là tiêu chíđể phân biệt với các loại hình doanh nghiệp khác; xác định doanh nghiệp nhà nước làmột tổ chức kinh tế nên có thu nhập chủ yếu là từ các hoạt động kinh tế (sản xuất, tiêu thụ hàng hóa hay cung cấp dịch vụ trên thị trường), để phân biệt với các tổ chức sự nghiệp hoạt động bằng ngân sách nhà nước.
ỞPháp, doanh nghiệp nhà nước được pháp luật quyđịnhlà doanh nghiệpđáp ứng đủ các điềukiện: Quyền sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp mang tính công hữu,nhờ đóchínhphủxác lậpđược địa vị lãnh đạođối với doanh nghiệp; có tư cách pháp nhân độc lập; thực hiện các hoạt động thương mạiđộc lập[99, tr. 9]. Quyđịnhnày nhấn mạnhdấuhiệusở hữuvà nắm quyền chi phốicủanhà nướcđốivớidoanh nghiệp, nhờđócó thể phân biệtđược doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác; đồng thời, khẳng định doanh nghiệp nhà nước cũng là một pháp nhânđộc lập, mặc dù do nhà nước quản lý nhưngđộc lậptrong hoạtđộng;bên cạnhđócũng xác địnhdoanh nghiệp nhànước là tổchức kinhtế hoạtđộng kinh doanh, để phân biệtvớicác tổchức hành chínhsựnghiệp hoạtđộng bằng ngân sách nhà nước.
Ở Anh, vào năm 1956 khi Chính phủ Anh thành lập ủy ban đặc biệt vềquốc hữu hóa để thực hiện quốc hữu hóa về công nghiệp, đã quy định doanh nghiệp nhànước là doanh nghiệp cóhộiđồngquảntrịdo Chínhphủbổnhiệm; có tài khoản kinh doanh doủyban quốchữuhóa công nghiệp của Chính phủ kiểm tra; có thu nhập từ hoạt động kinh doanh mà không dựa vào sựcungcấpnhànước.Quan niệm này cho thấy, doanh nghiệp nhànướcphải làdoanh nghiệp mà nhànướcnắmquyền chi phối và kiểm soátđượcvềmặttổ
9
chức và tài chính; phải là một tổ chức kinh tế có thu nhập chủ yếu được hình thành từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cáchđộc lậpmà không phải do nhà nước cung cấp.
Một số tổ chức quốc tế như Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thếgiới (WB), hay Liênhợpquốc (UN) quan niệm doanh nghiệp nhà nước là”những doanh nghiệp do nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và nhànước kiểm soáttớimộtmức độnhấtđịnhquá trình ra quyếtđịnhcủa doanh nghiệp” [97]. Định nghĩa này tuy chưa đưa ra những định lượng cụ thể nhưngđã đưa ra những dấu hiệu có tính định tính nói trênđể xác định về mặtnguyên tắc, doanh nghiệp nhà nướclà doanh nghiệp mà nhà nước nắmgiữtoànbộhoặc chi phối đếnmột mức độ nhất định quyềnsở hữu cũng như quyền quản lý và hoạt động của doanh nghiệp. Các nước khác, như: Thụy Điển, Phần Lan,
Brazin, Mêhicô…cũng đều xácđịnhdoanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ trên 50% vốn của doanh nghiệp [97].
Các định nghĩa trên đây đều dựa trên tiêu chí quyền sở hữu và theo đó, quyền sở hữu là nguyên tắc chi phối tới loại hình doanh nghiệp. Khi nhà nước sở hữutrên 50%vốntrong tổngsố vốngóp hoặc cổphầncủadoanh nghiệp thì nhà nướcnắmquyền chi phối doanh nghiệp và doanh nghiệp trở thành doanh nghiệp nhà nước. Như vậy, về mặtbảnchất, quyền chi phối doanh nghiệplà hệ quả tấtyếucủa quyềnsở hữu cổphần trong công ty và khi xem xét doanh nghiệp nhà nước cũng cần xuất phát từ tiêu chí quyền sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần trong công ty để xác định những doanh nghiệp mà nhànước sở hữutrên 50%vốnlà doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, luật phápở nhiều nước chỉ định nghĩa rằng, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà nhà nướcnắmgiữ trên 50% phần vốn góp hoặc cổ phần của doanh nghiệp, đólà điều kiện cần và đủ. Việc xem xét thêm tiêu chí quyền quản lý hay chi phối thường là khôngcầnthiết vì nó làhệquảcủaquyềnsởhữuphầnvốndoanh nghiệp mà không phải là một tiêu chí mới.
10
1.1.1.2. Quan niệm của Việt Nam về doanh nghiệp nhà nước
Ở nước ta, sau ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, năm 1945, khi Nhà nước thực hiện việc quốc hữu hóa các cơ sởcông nghiệp của chế độ cũ, đã xuất hiện các doanh nghiệp quốc gia và được định nghĩa “là một doanh nghiệp thuộc sở hữu của quốc gia và do quốc gia điều khiển” [50, Điều 2]. Sau khi mô hình và cơ chế kinhtế kế hoạch hóa tậptrungbắtđầuđược du nhập từ Trung Quốc, Liên Xô vào miền Bắc, khu vực kinh tế nhà nước (kinh tế quốc doanh) đượcquan tâm phát triển trên cơ sở nềntảng của chế độsởhữuxã hộichủnghĩa là sở hữutoàn dânvề tư liệusảnxuất. Trong thờikỳnày, khu vực kinhtế quốc doanhđược tổchức thành các loại hình doanh nghiệp có têngọikhác nhau, như: Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp; nông trường quốc doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; lâm trường trong lĩnh vực lâm nghiệp; công ty trong lĩnh vực thương nghiệp…
Trong bản Điều lệ về xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (điềulệ đầu tiên) do Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 93/CP ngày 8-4-1977, thìkhái niệm xí nghiệp công nghiệp quốc doanh đã được hình thành, đó là “đơn vị cơsở sản xuấtvà kinh doanh của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thống nhất, là nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội và tạo nguồn tích lũy xãhội chủ nghĩa”. Bảnđiều lệ nàycũng xácđịnh cơ chế quản lý đối vớicác xínghiệp công nghiệp quốc doanh. “Xí nghiệpsảnxuất và kinh doanh theokế hoạch nhà nước được quyếtđịnhtừtrung ương trên nhữngchỉtiêuchủyếu nằmtrong cân đối chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dânvà được xâydựng
từ cơ sở” (Điều 1).
Đâylà mộtđịnh nghĩa mangdấuấnchính trị, chủyếunhấn mạnhvịtrí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế, trong việc thực hiện những nhiệm vụ kinh tế, xã hội của Nhà nước, là công cụ của chế độ kinh tếxã hội chủ nghĩa và cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung của thời kỳ này mà
11
không đề cập trực tiếp đến yếutố sở hữu. Việc xác định vấn đề sở hữu đối với doanh nghiệpđược coi là khôngcầnthiết vì trong thờikỳnày, Nhà nước tuyệt đối không chia sẻ về quyền sở hữu trong các tổ chức kinh tế cho các chủthể khác. Tấtnhiên, nếuxétvề bảnchất kinhtế thì các xí nghiệp đó, luônđược hiểurằng, thuộc sở hữu nhà nước và Nhà nước cũng không chia sẻ với bấtkỳ tổ chức, cá nhân nào về quyền sở hữu đối với chúng.
Do có sự thayđổi nhấtđịnh về điềukiện kinh tế – xã hội và nhận thức nêntớinăm 1988, Chínhphủđã ban hànhbảnĐiềulệ mớiđể thaythếbảnĐiềulệ năm 1977, trongđóđã địnhnghĩa: “Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (xí nghiệp độc lập, xí nghiệp liên hợp) là đơn vị kinh tế cơ sở, khâu cơbản của nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa; là đơn vị sản xuất hàng hóa cókế hoạch nhằmđápứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Có tư cách pháp nhân và hạch toán độc lập”. Định nghĩa này, ngoài việc khẳng định vị trí, vai trò của xí nghiệp quốc doanh trongnềnkinh tế, giống nhưbảnĐiềulệ năm 1977, đã nêu ra một số dấu hiệu có ý nghĩa quyếtđịnh đến địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước, thể hiện nó là một tổ chức kinh tế với những quyền nhất định trong kinh doanh, quan hệ dânsự và sự tự chủ về mặt tàichính. Đólà dấu hiệu về tư cách pháp nhân và về hạch toán kinh tế độc lập. Tuy nhiên, trên thực tế, tư cách pháp nhân của các doanh nghiệp nhà nước chỉ là vấnđềhình thức, vì các doanh nghiệp không có quyền sở hữu về tài sản mà quyềnsởhữu tài sản thuộc về Nhà nước, doanh nghiệp chỉ được giao quyền quản lý vàsửdụng tàisảntrong doanh nghiệp. Về vấnđề này, nhiềuhọcgiả đã khẳngđịnh: “Chính điểm này là căn nguyên của nhiều hạn chế mà doanh nghiệp nhànước mắc phải trong việc quản lý và sử dụng tài sản, từ đó dẫn đến những hạn chế trong sản xuất – kinh doanh của chúng” [79, tr. 72]. Các doanh nghiệp nhànước cũng không có quyền tự quyếtđịnh hoạtđộng của mình mà phải chịu sựchỉđạohành chính của các cấpchủquản. Mặtkhác, các doanh nghiệp nhànước ở thời kỳ nàyvẫnchưa thoát khỏi “bầu vú” bao cấp của Nhà nước nên

hạch toán cũng chỉ là hình thức, kết quả hạch toán chưa phản ánh đúng hiệu quả hoạt động thực tế của doanh nghiệp.
Trong Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng, lầnđầu tiên thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước đã được sử dụng chính thức vềmặtpháp lý. Theo đó, “doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh doanh do Nhànước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là chủ sở hữu” (Điều 1).
Đến năm1995, doanh nghiệp nhà nước được xác định “là tổ chức kinh tế do Nhànước đầutư vốn, thànhlậpvà tổchức quản lý, hoạtđộngkinh doanh hoặc hoạtđộngcông ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội
do Nhà nước giao” [110, Điều 1]. Trong nền kinh tế có sự tồn tại lâu dài của các loại hình doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác nhau, doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vai tròchủ đạotrong nền kinh tế quốc dân. Để thực hiện đượcvai trò đó, doanh nghiệp nhà nước được quy định “có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụdân sự, tựchịu trách nhiệmvề toànbộhoạtđộng kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý; “có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam” [110, Điều 1]. Quyđịnhnàyđã đưa ra nhữngdấuhiệu pháp lý cơbảncủa doanh nghiệp nhànước.
Thứ nhất,vấnđề quyềnsở hữucủa Nhànước đốivớitàisảncủa doanh nghiệp. Việc đưa ra dấu hiệu này có nguyên nhân xuất phát từ thực tiễn của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn này là nền kinh tế nhiều thành phần. Trong nền kinh tế đó, bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước còn cósự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinhtế khác;đồngthời cũng xuất hiện nhiều mô hình liên doanh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhauvớidoanh nghiệp nhà nước. Do đó, vấn đề sở hữu đã trở thành một dấu hiệu quan trọng trong việc nhận diện các doanh nghiệp nhànước, nhằm phân biệt nó với các doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh
tế khác.
13
Thứhai,vấnđềNhànướclà người thànhlập, tổchức quản lý doanh nghiệp.Điềunày là hệ quả tấtyếuphát sinhtừquyềnsởhữucủa Nhànướcđối với doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, Nhà nước không thành lập mà chỉ cho phép hoạt động, thông qua việc cấp giấy phép thành lập, giấy phép kinh doanh; không can thiệp vào vấn đề tổ chức quản lý doanh nghiệp mà chỉ đặt ra những quy định chung, tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp tự định đoạt.
Thứ ba, vấn đề tư cách pháp nhân của doanh nghiệp nhà nước.Đâylàdấu hiệu mang tính kế thừa của Bản điều lệ năm 1988. Bên cạnh đó, pháp luật cònbổsungmộtsốdấuhiệu mới, làm chonộidung của khái niệm tư cách pháp nhân được hoàn chỉnh hơn, như: Doanh nghiệp nhà nước có các quyền và nghĩa vụdânsự,tựchịu trách nhiệmvề toànbộhoạtđộngkinh doanh trong phạm visốvốndo doanh nghiệp quản lý. Tuy nhiên, trên thực tế tínhđộc lập, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước không được cải thiệnđángkể khichủsở hữudoanh nghiệp là Nhà nước vẫnduy trì cơ chế can thiệp thông qua cơ quan hành chính chủ quản.
Đếncuối những năm 90 của thế kỷ XX và những nămđầucủa thế kỷXXI, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương đẩy mạnh hơn nữa tiến trình cải cách doanh nghiệp nhànướcvớinhiều hình thức khác nhau, như: giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, đặc biệt là thực hiện cổ phần hóa và chuyển đổi hình thức pháp lýcủadoanh nghiệp nhànước.Dođó,nhiều quyđịnhcủaLuật Doanh nghiệp nhànước1995đãkhông còn phùhợpvớitình hìnhcảicách doanh nghiệp nhà nước trên thực tế, đặc biệt là quy định Nhà nước sở hữu tuyệtđối (100%) vốn của doanh nghiệp. Trên thực tế, đã xuất hiện nhiều mô hình doanh nghiệp mà trong đó, Nhà nước chỉ nắm giữ quyền chi phối (sở hữu phần vốn trên 50% vốn doanh nghiệp) thông qua hình thức góp vốn hoặc mua cổ phần. Cũngđãxuất hiệnsựchuyểnđổihình thức pháp lýcủadoanh nghiệp nhànước, như: Chuyển sang mô hình công ty trách nhiệmhữuhạnmộtthành
14
viên, công tycổphần. Do đó, vàođầunhững năm 2000đã xuất hiện quanđiểmlà trong doanh nghiệp nhà nước, không nhất thiết Nhà nước phải chiếm giữ quyền sở hữu tuyệt đối (100% vốn điều lệ) mà cóthể chỉ cần nắmgiữ trên 50%cổphần hoặc phầnvốngóp trong doanh nghiệp [82, tr. 16]. Để khắc phục tình trạng đó và một số vấn đề quan trọng khác có liên quanđếnđịa vịpháp lý của doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 đã rađời thay thế cho Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995.
Kể từ khi Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 có hiệu lực thì doanh nghiệp nhà nước được xác định “là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộvốnđiềulệhoặc cócổphần,vốngóp chi phối,đượctổchứcdướihình thức công ty nhànước,công tycổphần, công ty trách nhiệmhữuhạn” [112,Điều 1].
Định nghĩa này đã thể hiện sự thay đổi rất quan trọng trong quan niệm của các nhà làm luật Việt Namvề doanh nghiệp nhà nước. Trước hết, là vềvấn đề quyềnsở hữu của Nhà nước đối với vốn của doanh nghiệp. Nếu trướcđây, doanh nghiệp nhà nước phải do Nhà nướcthànhlậpvàsở hữu100% vốn, thì theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, dấuhiệuđặctrưng nàybịthay đổi, tương đồng với quan niệm của nhiều nước trên thế giới: trong doanh nghiệp nhà nước, Nhà nướccó thể chỉcầnnắmgiữcổphần hoặc phần vốn góp chi phối. Đồngthời, quyền quản lý của Nhà nước đối vớidoanh nghiệpđã bị loại bỏ ra khỏi định nghĩa về doanh nghiệp nhà nước vì khi sở hữu trên 50%vốngóp haycổphần trong doanh nghiệp, Nhà nước có quyền chi phốiđángkể đốivớidoanh nghiệp. Và, việc quyđịnh”doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệmhữuhạn” vừa xác địnhsựtồntạicủa các loại hình doanh nghiệp nhànước, vừa giải thích rõ hơn rằng, doanh nghiệp mà Nhà nước có vốn góp hoặc cổphần chi phối chính là loại hình doanh nghiệpđược tổ chức dướihình thức công ty trách nhiệmhữu hạnmà Nhà nước là thành viên góp vốn, hoặc công
15
ty cổ phần mà Nhà nước là cổ đông. Tất nhiên, ngoài hình thức góp vốn vào doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước cũng có thể nắmgiữ100%vốnđiềulệtrong các công ty trách nhiệmhữuhạnvà công tycổphần mà tấtcả các cổđông đều là ngườiđại diện phần vốn nhà nước.
Điềutiến bộ của định nghĩa doanh nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 là chỉ ra bản chất kinh tế – pháp lý có ý nghĩa đối với doanh nghiệp, đó là yếu tố sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần, bỏ qua các dấu hiệu không đặc trưng cho doanh nghiệp nói chung cũng như doanh nghiệp nhànướcnói riêng, như: Tư cách pháp nhân, có tên riêng, có tài khoản,có trụ sở
chính… hoặc các dấu hiệu chỉ có ý nghĩa khẳng định vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế như nhiều định nghĩa trước đây. Nhờ đó, định nghĩa về doanh nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003đã tiếpcận đượcquan niệm phổ biến hiện nay trên thế giớivề loạihình doanh nghiệp này.
1.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhà nƣớc trong các nền kinh tếDoanh nghiệp nhà nước ở mỗiquốc gia, thậm chíở trong từng giai
đoạnphát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đều có vị trí, vai trò nhất định và cónhững nét khác biệt. Ở đây, chỉ tập trung phân tích về vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong hai nền kinh tế nổi bậtkể từ đầuthế kỷ XX đếnnay:
Kinh tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế thị trường hiện đại.
1.1.2.1. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Doanh nghiệp nhà nước trongnềnkinhtế kế hoạch hóa tậptrung cóvai trò quyết định, là công cụ kinh tế hữu hiệu để những người cộng sản trong thế kỷ XX sử dụng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lựa chọn conđường chủ nghĩa xã hội, nhiều nước đã thực hiện việc quốc hữu hóa một cách
16
cơ bảnnềnkinhtế để hình thành các doanh nghiệp công, đồngthời cũng thành lập thêm nhiều doanh nghiệp công mới trên cơsở chế độ sở hữu xã hội chủnghĩa vớihai hình thức là sở hữutoàn dân và sở hữutậpthể. Doanh nghiệp nhà nước ở các nước theo mô hình kinhtế kế hoạch hóa tậptrungđược pháttriển không hạn chế về quy mô và số lượng, thậm chí ở nhiều nướcđã có quan niệm chính thống là càng có nhiều doanh nghiệp nhà nước, sở hữu công cànglớntức lànềnkinhtế càngtậptrung caođộthì càng tiếngầntới chủnghĩa xãhộivàchủnghĩa cộng sản. Do đó, hầuhếtcác nước theo môhình kinh tế nàyđã cốgắng đến mức tối đa để củng cố và phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước, không hạn chế về quy mô và số lượng. Chính vì vậy, doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng.
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước là công cụ thực hiện cơ chế kinh tếkế hoạch hóa tập trung.
Hoạtđộngcủacác doanh nghiệp nhànước-chủthểkinhtếchủyếu trong các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã góp phần xâydựng và củng cố được nềnkinhtế độc lậptựchủcủa các quốc gia xã hộichủnghĩa; giải quyết những vấn đề liên quan đến việc phát triển đồng đều giữa các khu vực, các địa phươngvề kinhtế và xã hội; giải quyết nhiềuvấnđề xã hộiquan trọng; tạo việc làm cho người lao động; góp phần làm cho công bằng xã hội được duy trìở mức độ cao [79, tr. 14]. Đó cũng chính là những mục tiêu rất cơ bản của chủnghĩa xã hội. Vớivai trò đó, doanh nghiệp nhà nước cóvịtrí là hạtnhân, trung tâm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, là công cụ thực hiện cơ chế kinh
tế kế hoạch hóa tậptrung, khôngchỉcóýnghĩa quyếtđịnhtrong việc thực hiện cơ chế kinh tế mà còn có vị trí chính trị to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa cũ, thậm chí doanh nghiệp nhà nước còn được coi như là “các cơ quan giúp việc của Chính phủ” [120, tr. 79]. Quan niệmđóvề doanh nghiệp nhà nước mang nặngmầusắc
17
chínhtrịhơn là màu sắc kinh tế. Tuy nhiên, dođượcnhà nước ưu tiên phát triển nên trong kinhtế kế hoạch hóa tậptrung, các doanh nghiệp nhà nước chiếm tuyệtđạiđa sốtrong tổngsốcác doanh nghiệp; chiếmgiữcác vịtríthen chốt của nền kinh tế; thu hút phần lớn các nguồn đầu tư từ ngân sách; tập trung phầnlớnnguồn laođộngcókỹthuật và tri thức cao;được baocấpởnhiều lĩnh vực [9, tr. 13].
Ở Trung Quốc, vào năm 1996, sau gần 20 năm thực hiện cải cách, mở cửa nhưngvẫncòntớihơn 100.000 doanh nghiệp nhà nước, thu hút trên 43 triệu lao động, tạo ra 70% thu nhập của đất nước [19, tr. 25-30]. Ở Việt Nam, khu vực kinhtế quốc doanh cũngđược chú trọng phát triểntừsauĐạihộiĐảng lần thứ III năm 1960. Với chủ trương xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật banđầucủa chủnghĩa xã hội, trong giaiđoạn1960-1975, mặc dù phải tập trung phần lớn sức người sức của cho công cuộc giải phóng và thống nhấtđất nước nhưng Nhà nước cũngđã dànhmộtphần đángkể ngân sáchđể đầutưphát triển khu vực kinhtế quốc doanh. Đếnnăm 1975, tàisảncốđịnhcủa kinh tế quốc doanh ở miền Bắc đã gấp 5 lần so với năm 1960. Thời kỳ sau 1975, hàng năm Nhà nước dành tới 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho phát triển kinh tế quốc doanh. Vàođầunăm 1990 Việt Nam có tới 12.084 doanh nghiệp nhà nước, tạo ra 32,5% GDP, đến đầu năm 1995 số lượng doanh nghiệp nhànước đã giảmkhoảng một nửa nhưng tỷ trọng trên GDP vẫn chiếmtới42,2%
(nguồn: Tổng cục thống kê). Tuy nhiên, dosựkhông phùhợpgiữa quanhệ sảnxuấtvớilực lượngsảnxuất, do hoạtđộngtrongmộtmôi trường thiếu cạnh tranh, không có động lực phát triển nênđã dẫn đếntình trạng các doanh nghiệp nhà nước bị tụt hậu, thua kém cả về năng suất, chấtlượng lẫnhiệu quảhoạtđộngkinh doanh sovớicác doanh nghiệp thuộc thành phần kinhtế tưbản tư nhân hoạt động theo các quy luật thị trường. Đó cũng chính là nguyên nhândẫnđếnsựđổvỡ của cả mộtmô hình kinh tế, mộthệ thống kinhtế – chính trị lớn của thế giới vào thập niên 90 củathế kỷ trước.
18
Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước có nhiệm vụ cungcấpphầnlớnsản phẩm, dịch vụ cho xã hội.
Cho dù lịch sử đã chứng kiến sự thất bại của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung và sự kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế nói chung (không chỉ ở mô hình kinh tế kế hoạch hóa) nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò to lớn của các doanh nghiệp nhà nước trong mô hình kinh tế này. Chính doanh nghiệp nhà nước cùng với thành phần kinhtế tậpthể đãđóng góp tolớnvàosựphát triển mạnhmẽ của phe xãhộichủnghĩa trong những thập niên 50 đến 80 của thế kỷ XX, biến Liên Xô trở thành một cường quốc hùng mạnh và cótầmảnhhưởngtolớnđốivớicác nước trong phe xãhội chủ nghĩa cũ cũng như các nước đang phát triển trên khắp hành tinh. Tuy nhiên, chínhsựkhô cứng kéo dàiđếnxơ cứng của cơ chếkinhtế kế hoạch hóa tập trung đã làm triệt tiêu động lực của sự phát triển, cùng với những sai lầmchínhtrịtrong chính sáchcảitổđãđemlạimộtkếtcục đauđớnkhông chỉtrênmặttrận kinhtế mà cả về phương diện chínhtrịcủa hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù vậy, những thành quả của chủ nghĩa xã hội hiện thực thế kỷ XX luôn thể hiệnđậmnét vai tròsốmộtcủa thực thể kinhtế doanh nghiệp nhànước. Chính doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế chủ yếu cung cấp các sảnphẩm, dịch vụ cho xã hội, bảođảmnhu cầu ngày càng tăng về sản xuất, tiêu dùng của nhân dân, thỏa mãn nhucầuvà nâng cao mức sống của nhân dân. Cho dù trong cơ chế kinh tế đó, nềnsảnxuất hàng hóa bị méo mó, quy luật giá trị không phát huy được bản chất của mình, sản phẩm được các doanh nghiệp nhà nước sản xuất ra không thể hiện được thuộc tính giá trị của hàng hóa, nhưng những sản phẩm, dịch vụ do các doanh nghiệp nhà nước sản xuất và cung cấp cho xã hội trong kinh tế kế hoạch hóa tập trung vẫn là những giá trịsáng tạo kinh tế đích thực, thỏa mãn yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong một thời gian dài.
19
Nói chung, ở các nước cónềnkinhtế tậptrung trước đây, việc phát triển các doanh nghiệp nhà nước mang tính ý thức hệ sâu sắc. Phát triển khu vực kinh tế công, đồng nghĩa với xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà nước cung cấphầu hết các hàng hóa, dịch vụ cho xã hội. Một số số liệu thống kê sau đây cho thấy vai trò của khu vực kinh tế quốc doanh trong việc sáng tạo và cung cấpsảnphẩm cho xãhộithờikỳkinhtế kế hoạch hóa. ỞTrung Quốc, năm 1978, kinh tế công cộng chiếm tới 99% tổng sản phẩm quốc nội [94], trong đósảnphẩmchủyếulà từ khu vực doanh nghiệp nhà nước (năm 1980 tỷ trọng của khu vực nhà nước trong tổng sản phẩm trong nước là 60% [148, tr. 109].Ở các nướcxã hội chủ nghĩa khác như Liên Xô vào cuối những năm 80 khu vực kinh tế quốc doanh tạo ra đến 98-99% thu nhập quốc dân. Ở cácnước cónền kinh tế kế hoạch hóa mềm dẻo hơn như Ba Lan và Rumani, khu vực kinh tế công cũng tạo ra tới 80% và 82% thu nhập quốc dân. Ở Việt Nam vào năm 1986 và 1990, các sảnphẩm do doanh nghiệp nhà nước tạora cũng cótỷtrọng rất cao, trong một số lĩnh vực tỷ trọng đó là đặc biệt cao. Ví dụ: Trong lĩnh vực điện năng, năm 1986 là 99,9% và năm 1990 là 99,8%; trong lĩnh vực nhiên liệu, năm 1986 là 98%, năm 1990 là 99,7% (phụ lục 1).
Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước có mục tiêu tìm kiếmlợinhuận và vai trò tạo giá trị thặng dư.
Phải thừa nhậnmộtđiềurằng, trong kinhtế kế hoạch hóa tậptrung, các doanh nghiệp nhà nước được giao các chỉ tiêu kế hoạch trên mọi phương diện, từ vật tư, tiềnvốn, đến số lượng sản phẩmsảnxuất, địa chỉ tiêu thụ vàđặc biệt là chỉ tiêu giá cả và lợi nhuận định mức. Các chỉ tiêu kế hoạch nàyđãxóa nhòa yếutố hạchtoán kinh doanh trong các doanh nghiệp, việc hạch toán chỉ dừng lại ở nghiệp vụ hạch toán kế toán mà chưa đạt được những tiêu chícủa hạch toán kinh doanh. Tuy nhiên, dù ở trong cơ chế kinh tế nào thì doanh nghiệp cũng phảilấymục tiêu tìm kiếmlợinhuậnđể tồntạivà phát triển. Chính vì vậy, nếu nói rằng, các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế kế
20
hoạch hóa không có mục tiêu tự thân là theo đuổi các mục tiêu lợi nhuận thìkhông đúng, nhưng nếu nói rằng, chúng không có điều kiện và cơ hội, không có động lực để theo đuổi mục tiêu tìm kiếmlợinhuận là hoàn toàn chính xác. Trong kinh tế kế hoạch hóa, sự hiệu quả hay không hiệu quả, sự thua lỗ trong hoạtđộngcủa doanh nghiệp nhà nước thường ít mangýnghĩa kinh tế, mà thường mang nặng ý nghĩa chính trị. Do đó, khi các doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ không những không bị phá sản mà còn được Nhà nước cấp bù, khoanh nợ, xóa nợ để tiếp tục hoạtđộng;các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, tức làhoàn thành hoặc hoàn thànhvượtmức các chỉtiêukế hoạchđược giao thìđược khen thưởngchủyếubằng các hình thức độngviên tinh thần. Điềuđódẫntớitình trạng các doanh nghiệp nhà nước hoạtđộngvà phấnđấukhông phải vì theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, vì hiệu quả của kinh doanh mà vì những thành tích mang tính chính trị và tinh thần của doanh nghiệp.
Mặc dù cơ chế kế hoạch hóa và baocấpđã làm triệt tiêu chế độ hạch toán kinh doanh và mục tiêu theođuổilợinhuận của các doanh nghiệp nhànước, nhưng không thể nói rằng hoạtđộngcủacác doanh nghiệp nhànước không đemlạigiá trịthặng dư cho toànbộnềnkinh tế. Đốivớitừng doanh nghiệp, mục tiêu này có thể bị triệt tiêu hoặc bị coi nhẹ nhưng đối với toàn bộnềnkinhtế thì không thể phủnhận vai tròtạogiá trịthặng dư của hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Chính các doanh nghiệp nhà nước là khu vực kinh tếchủ yếu tạo ra sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế.
Nhậnthức đượcđiều đó, trong những năm đầu của công cuộc “cải tổ” hay”đổi mới” ở nhiều nướcxã hội chủ nghĩa, chính sách chủ yếuđượcđặtra là loại bỏ bớt các chỉ tiêu kế hoạch mang tính hành chính cứng nhắc, xác lập cơ chế hạch toán kinh doanh (mà chúng ta thường nói là hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa), trao quyền tự chủ tài chính cho các doanh nghiệp nhà nước để chúng cóđộnglực theo đuổi mục tiêu lợi nhuậnmộtcách thiết thực hơn. NgoạitrừLiên Xô và các nước Đông Âubịsụpđổ, ở các nước xã hộichủ
21
nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt Nam trong giai đoạn sau của công cuộc “cải cách”, “mở cửa” hay”đổimới”, nềnkinhtế đã chuyểnhẳnsang cơ chếkinh tế thị trường. Sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính từ phía nhà nước dần dần được xóa bỏ, thay vào đó các doanh nghiệpnhà nước được tự chủ vềtài chính và độc lập trong việc quyếtđịnh hoạtđộng của mình vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận để tồn tạivà phát triển.
Thứ tư, doanh nghiệp nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chính trị – xã hội khác.
Trongnềnkinhtế kếhoạch hóa tậptrung,vớitư cách là côngcụđểthực hiện cơ chế kinh tế và xây dựng cả một chế độ xã hội, ngoài việc tạo ra sảnphẩm, dịch vụ cho xã hội, giá trị thặng dư cho nền kinh tế, doanh nghiệp nhà nước còn phải gánh vác những trọng trách xã hội to lớn, như: giải quyết việc làm, thực hiện các bảo đảm xã hội, là cơ sở và chỗ dựa cho an ninh, quốc phòng của đất nước. Đây có lẽ chính là sự khác biệt khá đặc trưng của doanh nghiệp nhà nước sovớicác loại hình doanh nghiệp khác ở mọinềnkinh tế. Vớitư cách là công cụ kinh tế của nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước phảiđảmđương thêm nhiều nhiệm vụ chính trị – xã hội mà nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước chính là công cụ, là chỗ dựa để thông qua đó nhà nước thực hiệnđược các chính sáchđiềutiết của mình. Điềunày cũng chính là một trong những cơ sở để lý giải vì sao các doanh nghiệp nhà nước thường khôngđạtđược hiệu quả về mặtkinh tế, chính vì do chúng còn phải gánh vác nhiều nhiệm vụ phi kinh tế khác.
Tómlại, doanh nghiệp nhà nước trongnềnkinhtế kế hoạch hóa tập trung có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, tạo ra phần lớn các sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, theo đuổi những mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và phải thực hiện nhiều nhiệmvụchínhtrị- xã hộiquan trọng khác, là côngcụđể nhà nước thực hiện cơ chế kinh tế và cao hơn nữa, là xây dựng cả một chế độ xã hội.
22
1.1.2.2. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong kinh tế thị trườngỞ các nước có nền kinh tế thị trường, vai trò và sự phát triển của các
doanh nghiệp nhà nước phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội của mỗi quốc gia và của thế giới. Có rất nhiều lý do để các nước đang phát triển tăngcườngsựlớnmạnh của hệ thống các doanh nghiệp nhà nước và trong từng thời kỳ, sứmệnh của doanh nghiệp nhànướclạiđượcnhấn mạnhởnhiệm vụ này hay nhiệm vụ khác. Điều đó cóthể xuất phát từ việc nhà nước theo đuổi một học thuyết kinh tế, sử dụng doanh nghiệp nhà nước phục vụ sựnghiệp công nghiệphóa đất nước;hoặc để khắc phục hậu quả của chiến tranh hay khủng hoảng kinhtế;vì những mục tiêu của kinhtếvĩ mô, nhằm khắc phục những nhược điểmcủa kinhtế thịtrường; do những tác độngcủa tình hình kinh tế, chính trị thế giới hoặc những lý do chính trị khác. Quá trình hình thành, phát triểncủadoanh nghiệp nhà nước ở các nước phát triển cóthểđược chia thành ba thời kỳ: Thời kỳ công nghiệp hóa, thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai và thời kỳ từ đầu thập niên 80 của thế kỷ trước trở lại đây.
Một là, thời kỳ công nghiệp hóa.
Thời kỳ công nghiệp hóa ở tất cả các nước là giai đoạn phát triển có tính nền tảng, tạo đà cho những bước phát triển của đất nước ở những giai đoạn tiếp theo. Đây là giai đoạn có đặc điểm cơ bản là hiện đại hóa nền kinh tế, phát triển từ một nền sản xuất lạc hậu, manh mún, thủ công, năng suất lao động thấp sang một nền kinh tế đại công nghiệp với công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, được cơ khíhóa và điện khí hóa. Trong khi đó, để hiện đại hóa nền kinh tế, thì nhiệmvụ cơbản là phải phát triển công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp nặng cótính nền tảng, như: Công nghiệp khai khoáng, cơ khí, luyện kim, chế tạo, xây
dựng kết cấu hạ tầng… Đâylà những lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn đầutư đặc biệt lớn thì mớiđápứng đượcyêu cầu của sự phát triển. Chính vì vậy, đây làthờikỳđấtnước đòi hỏisựtậptrung nhiều nguồnvốncho đầu tư phát triển công nghiệp. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, tích tụ và tập trung tư bản chưa
23
cao nên các nhà tưbảntư nhân chưa có những nguồn lực đủ mạnh cả về tài chính lẫn trình độ công nghệ để có thể tự mình đầu tư và gánh chịu những rủi ro cóthể xảyra. Do đó, nhà nước phải đầu tư nhiều hơn, mạnh mẽ hơn, nhằm tạora mộtbước chuyển biếnvượtbậc trong việc công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nềnkinhtế đấtnước. Và, kếtquả làmộtloạt các cơsởkinhtế củanhànước đã ra đờinhằmđảmđươngnhiệmvụtiên phong trong việc xây dựng các ngành công nghiệp có tínhnềntảng, mũi nhọn của nềnkinhtế hoặc những lĩnh vực công nghiệp mà ít tiềm năng, nhiều rủi ro nên tư nhân khôngđầu tư.
Thực tiễn nàyđã diễn ra tươngđốiphổbiếnở các nước tưbảnphát triển vào thế kỷXIX, khi nhà nước sửdụng nguồnvốnnhà nước để đầutưphục vụcông cuộc công nghiệp hóa đấtnước. Chẳng hạn, ở NhậtBảnvào những năm 60, 70 của thế kỷXIX, ChínhphủMinhTrịđã trực tiếp candựvào các hoạtđộngkinhtế để thúc đẩyquá trình công nghiệp hóa củanước này. Chính phủ Minh Trị, một mặt đã tiến hành đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội; mặt khác đã thành lập nhiều xí nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp mũi nhọn, nhằm mục đích tạo đà và gây dựng lòng tin đầu tư cho các nhàđầutư tư nhân. Tuy nhiên, sau khoảng vàithập kỉduy trìsựcan dự
tích cực vào các hoạtđộngkinhtế,đếncuối những năm 70củathế kỷXIX, các doanh nghiệp của Chính phủ đã bộc lộ rõ sự kém hiệu quả và thua lỗ hàng loạt dosựquan liêu, cứng nhắc và yếukém trong quản lý cũng nhưsựcan thiệp có tính hành chính, chínhtrịvào các hoạtđộngkinhtế.Chínhsựyếu kém trong hoạtđộngcủa các doanh nghiệp nàyđã làm cho NhậtBảnphải hứng chịu cuộc khủng hoảng tài chính và thâm hụt ngân sách nặng nề. Trong các năm từ 1877 đến 1880, đồng tiền bị mất giá hơn một nửa, lạm phát tăng nhanh tới hai lần. Đến đầu những năm 1880, Chính phủ Minh Trị đã phải bán nhiều cơ sở công nghiệp của Nhà nước cho tư nhân và rờibỏquyền candựtrực tiếp vào các hoạt động kinh doanh [99, tr. 17].
24
Đến cuối thế kỷ XIX, sự thịnh hành của chủ nghĩa tự do kinh tế và học thuyết “Bàn tay vô hình” đã hạn chế rất nhiều sự can dự của chính phủ ở các nước tư bảnphát triển vào các hoạt động kinh tế. Do vậy, vào thời kỳ cuối thếkỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các doanh nghiệp công đã không cóđấtđể phát triển. Chođếnđầunhững năm 30 của thế kỷXX, những khiếm khuyết của học thuyết “Bàn tay vô hình” cùng với mặt trái của kinh tế thị trường đã được bộc lộ ngày càng rõ nét và đã tạo ra nhận thức về sự cần thiết của việc nhà nước can thiệp vào các hoạtđộngkinh tế. Từđó, các doanh nghiệp nhà nước bắtđầu cóxu hướng phát triển trở lại nhưng nó chỉ thực sự bùng nổ từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Hai là, thời kỳ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Sau Chiến tranh thế giớilầnthứhai, doanh nghiệp nhà nước ở các nước tư bản phát triển đã có bước tiến mạnh và có vị trí, vai tròrấtquan trọng trong phát triển kinh tế. Có nhiều lý do tạo ra sự phát triển đó, nhưng chủ yếu là: Nhu cầu khôi phục kinh tế nhanh chóng sau chiến tranh; sự thịnh hành của học thuyết Keynes (thuyết “Bàn tayhữuhình”) về sựcandựcủa nhà nước vào các hoạt động kinh tế; sự tác động mạnh mẽ của công cuộc quốc hữu hóa toàn diện diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa; sự phát triển của khoa học và công nghệ, đòi hỏi những nguồn vốn đầu tư lớn để ứng dụng và sản xuất mà chỉ có các doanh nghiệp nhà nước mới có khả năng đáp ứng được.
Trong thời kỳ này, nhiều cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, như: đường sá, cầucống, sân bay, bến cảng cũng như nhiều ngành công nghiệp cơ sở có vị tríthen chốt của nền kinh tế bị tàn phá nặng nề. Vì vậy, việc khôi phục kinh tế ởcác nước, kể cả thắng trận và bạitrận, đòihỏiphải cósựđầutưlớncả trên phương diện tài lực và vật lực. Và, ở thời điểm đó, kinh tế tư nhân không cókhả năng đáp ứng nhu cầuđầutư để nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh
tế. Lúc này doanh nghiệp nhà nước đã được sử dụng như một công cụ đắc lực của chínhphủcác nước trong việc khôi phục và phát triển nhanh chóngnền
25
kinh tế đất nước sau chiến tranh. Sự candự của nhà nướcvào kinh tế không chỉ là những điều chỉnh chính sách mang tính vĩ mô mà các nhà nước tư bản còn thực hiện nhiều cao trào quốc hữu hóa và thực hiệnđầutư của nhà nước, thành lập nhiều doanh nghiệp nhà nước nắm giữ nhiều ngành và lĩnh vực kinh tế quan trọng, đặc biệt là các ngành cung cấp sản phẩm và dịch vụ công cộng.
Ở giai đoạn này, hệ thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng cả về không gian địa lý lẫn địa vị chính trị và kinh tế. Các nước xã hội chủ nghĩa xây dựng hàng loạt các doanh nghiệp nhà nước và sử dụng chúng như là một công cụ đểxây dựng ý thức hệ. Phong trào quốc hữu hóa toàn diện và sâu rộng diễn ra ởLiên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã đưa các nước xã hội chủnghĩa trở thành một hệ thống thế giới hùng mạnh, đứng đầu là Liên Xô vớivịtrí của một siêucường về tiềmlực kinh tế và quân sự.Kếtquả đó đã cónhững tác động không nhỏ đến phong trào quốc hữu hóa và phát triển doanh nghiệp nhà nước ở các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển. Đồng thời, kếtquả đócũng tác độngmạnhđếnnhiềunước châu Á, châu Phi và Mỹ- Latin mới giành được độc lập, rất nhiều nước đã tiến hành quốc hữu hóa các cơ sở công nghiệp của các ông chủ tư bản, nhất là của tư bản nước ngoài, hình thành nên các doanh nghiệp công, phát triển khu vực kinh tế nhà nước.
Bên cạnh đó, trong thờikỳnày, cuộc cách mạng khoa học -kỹthuật lầnthứ ba phát triểnrấtmạnh, nhiều thành tựu quan trọng của khoa học, công nghệ mớinhưkỹthuậttựđộnghóa, công nghệ điệntử, hóa sinh, vậtliệu mới… đã ra đời. Và điềuđó đòi hỏi cầnphải có một nguồn vốn khổng lồ cho việc ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ mới vào các lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất công nghiệp, nhằmtạora một năng suất lao động vượt trội và nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế. Tuy nhiên, lực lượng kinh tế tư bản tư nhân không phải lúc nào cũng sẵn tiền và sẵn sàng chịumạohiểm trongứngdụng các thànhtựucủa khoa học, công nghệ mới. Chính điều đó đã thúc đẩy chính phủ ở các nước phát triển tích cực hơn trong
26
việc đầu tưphát triển kinh tế, nhiều doanh nghiệp công đã ra đờihoặc được nhà nước đầu tư mạnh mẽ hơn để ứng dụng khoa học, công nghệ mới.
Kếtquả là, sau hơn 30 năm phát triển, kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, doanh nghiệp nhà nước ở các nước tư bản phương Tâyđã cónhững bước phát triển vượt bậc và hoạt động của chúng đã chiếm một tỷ trọng tươngđối lớn trong nền kinh tế (khoảng 10% GDP và khoảng 20% giá trị tổng sản lượng công nghiệp). Nhiều lĩnh vực kinh tế và dịch vụ công cộng quan trọng, nhiều ngành công nghiệp then chốt của nền kinh tế đều do các doanh nghiệp công nắm giữ (phụ lục 2). Ở Pháp, vào năm 1982, sau làn sóng quốc hữu hóa lầnthứ ba, hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế chiếm 40% tổng ngạch sản xuất công nghiệp, 34% tổng ngạch xuất khẩu công nghiệp,
30% tổng ngạch đầu tư công nghiệp, 23% tổng số công nhân công nghiệp; về cơ cấumộtsốngành, doanh nghiệp nhànước chiếmtới35% công nghiệp thủy tinh, 49% công nghiệpđiệntử, 52% công nghiệp hóa học, 74% công nghiệp vũ khí, 75% công nghiệp tơ hóa học, 80% công nghiệp gang thép, 80% công nghiệp chế tạomáy bay; tronghệ thống tiềntệ,tín dụng, tổng ngạch tín dụng thuộchệ thống ngân hàng nhà nước chiếmtới83,9% [99, tr. 19]. ỞAnh, trong thờikỳCôngđảngnắmchính quyền cũngdấylên ba cao trào quốc hữu hóa: lần đầu là vào năm 1945, thực hiện quốc hữu hóa đối với các phương tiện thiếtbịcơ sở;lầnthứhai vào năm 1964, thâu tómmộtsốngành công nghiệp cơsởnhưsắtthép… vào tay Nhànước;lầnthứba là vào những năm 70, tiếp tục đưa ngành công nghiệp dầu mỏ thành sở hữu nhà nước, thậm chí còn mua một phần hoặc toàn bộ một số xí nghiệp lớn trong lĩnh vực chế tạo[99, tr. 20]. Doanh nghiệp nhà nước cũngđược hình thành và lớn mạnh ở nhiều nước tư bản phát triển khác, như: Nhật Bản, Đức, Italia, ThụyĐiển, Đan Mạch, Niu Dilân, Ôxtrâylia, Mỹ [79, tr. 18].
Như vậy là sau hơn 30 năm, kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ haiđến cuối thập kỉ 70, do có nhiều yếu tố tác động có tính thời đại cả trên phương diện kinh tế lẫnchính trị, cả trêngóc độ lýthuyếtlẫnthực tiễn, đã thúc đẩy
27
chính phủ của các nước can dự rất sâu vào các hoạt động kinh tế không chỉ ởnhững chính sáchđiều tiếtvĩ mô mà cả các hoạt động đầu tư trực tiếp từ nhànước. Và đó chính làmảnh đấtthuận lợi cho sự phát triển khá mạnh mẽ của các doanh nghiệp công ở các nước này. Đây là thời kỳ được coi là phát triển thịnh vượng nhất của doanh nghiệp nhà nước ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Ba là, thờikỳ từ đầunhững năm 80 của thế kỷ XX đến nay.
Mặc dù đã có những bước phát triển mạnh mẽ và có vị trí, vai trò kháquan trọng nhưng doanh nghiệp nhà nước ở các nước phương tây cũng đã ngày càngtỏra trì trệ và hoạtđộngkém hiệu quả hơn khu vực kinhtế tư nhân. Pháp lànướcđạttrìnhđộquốchữuhóa cao nhất, khuvựcdoanh nghiệp nhànước có tỷ trọng 30,5% của tổng vốn đầu tư trong nước nhưng cũng chỉ tạo ra 13% GNP;ở Anhquốc tỷlệ này là 20% và 11,1%, ở Nhật là 11% và 1,3%. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, năm 1984,tỷlệ lợinhuận bình quân của 500 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất thế giới là 1,7%; ba Tập đoàn kinh tế nhà nước lớnnhất ở Italia là IRI, ENI, EFIM trong thời gian 10 năm từ 1974- 1984 về cơ bản là bị thua lỗ triền miên; năm 1981 trong 244 doanh nghiệp nhànước ở Tây Ban Nha thì gần 200 doanh nghiệp bị thua lỗ; năm 1984hầunhưmọi doanh nghiệp nhà nước của Bồ Đào Nha đều thu không đủ chi, trong đócó 60 doanh nghiệpgần kề vớiphá sản. Một số nước đang phát triển do kinh nghiệm và khả năng quản lý kém thì tình trạng doanh nghiệp nhà nước còn tồi
tệ hơn. Sự phát triển với tốc độ nhanh các doanh nghiệp nhà nước ở các nền kinh tế thị trường sau chiến tranh cơ bản là tăng thêm số lượng còn hiệu quả kinhtế của từng doanh nghiệp thìrấtkém, không như mong muốn của nhà nước [99, tr. 22-23].
Doanh nghiệp nhà nước ở các nước tưbảnphương Tây, cũng giống như mọi doanh nghiệp nhà nước khác, đều đã mắc phải một căn bệnh chung là làm ăn thua lỗvà hiệu quả kinhtế kém hơnrấtnhiều sovớicác doanh nghiệp tư nhân. Và hậuquảlà, nhà nước luôn phải thường xuyên phải bùlỗ
28
cho các doanh nghiệp nhà nước, dẫnđếnthâmhụtngày càng tăng của ngân sách nhà nước. Có nhiều nguyên nhândẫn tớitình trạng thua lỗ và kém hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước nhưng điển hình là:Sựcan thiệp quá sâu của nhà nước vào các hoạtđộngsảnxuất, kinh doanh của doanh nghiệp;sựxung đột giữa các mục tiêuđặtra cho kinhtế nhà nước; thiếusựđầu tư cho việc tăng năng suất lao động; thiếu cơ chế kích thích phù hợp đối vớikhôngchỉngườilaođộngmà cả đốivớinhữngngườiquản lý doanh nghiệp; thiếu khả năng cạnh tranh [79, tr. 36-38].
Chính vì những lý do đó, ở hầu hết các nước, doanh nghiệp nhà nước đã không còn được coi là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, không còn cóchức năng tìm kiếmlợinhuận cho nhà nước. Các doanh nhgiệp nhà nước chỉcòn được sử dụng để thực hiện một số nhiệm vụ của nhà nước trong việc tiến hành hoạt động công ích, thực hiện các chính sách xã hội.
1.1.3. Đặc điểm và phân loại doanh nghiệp nhà nƣớc 1.1.3.1. Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp nhà nước
Hiện nay, hệ thống doanh nghiệp nhà nước của các quốc gia trênthếgiới được phát triển theo hai hướng khác nhau.
Ở các nước kém phát triển và đang phát triển (trong đó có Việt Nam), doanh nghiệp nhà nước được coi là tổ chức kinh tế có các chức năng cơ bản:
– Tìm kiếm lợi nhuận;
– Điềutiết ở tầm vĩmô đối với nền kinh tế quốc dân;
– Thực hiện các nhiệm vụ chính trị – xã hội của nhà nước.
Đó chính là lý do để nhà nước ở những nước này tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào việc duy trì, phát triển hệ thống các doanh nghiệp nhà nước mà khôngđặtmục tiêu hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp lên hàng đầu; tiếp tục “ưu tiên” các doanh nghiệp nhà nước, thông qua việc tiếp tục duy trì nhiều lĩnh vực độc quyềnnhà nước, không cho phép doanh nghiệp thuộc các thành phần
29
kinh tế phi nhà nước đầu tư vào những lĩnh vực dễ tìm kiếmlợinhuận. Chính những quan niệm không phùhợpvớiđiềukiện kinhtế – xã hộiđó, đã kéo theo sự ra đời của hàng loại quy định pháp luật, hàng loạt biện pháp quản lýnhằm duy trì, phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước, vốn đã không còn có đủ năng lực tự thân để tạo ra năng suất, chất lượng, hiệu quả cao trong hoạtđộng. Điềuđócũngcắtnghĩa việc chậm trễ, kém hiệuquảtrong hoạtđộngđổi mới doanh nghiệp nhà nước ở những nước này.
Ngược lại, ở các nước phát triển, doanh nghiệp nhà nước chỉ được coi là tổ chức kinh tế có các chức năng thực hiện các nhiệm vụ chính trị – xã hội của nhà nước, như: hoạtđộngdịchvụcông ích, xoá đói, giảm nghèo, thực
hiện chính sách xã hội… Nhà nước không giao nhiệm vụ tìm kiếmlợinhuận cho doanh nghiệp nhà nước, tức là nhà nước hoàn toàn từ bỏ việc đầu tư ngân sách nhà nước vào hoạtđộng sảnxuất kinh doanh. Nhà nước cũng không sửdụng doanh nghiệp nhà nước là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Việcđiều tiếtnền kinh tế được thực hiện thông qua các chính sách thuế, kiểm tra, thanh tra và các cơ chế quản lý khácđốivớidoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phi nhà nước nói riêng, đối với mọi chủ thể kinh tế nói chung.
Đứng trướcthực trạng đó, một số vấn đề cótính thời sự đã phát sinh và đang đặt ra nhiệm vụ nặng nề đối với khoa học pháp lý nước ta. Điển hình là: nên xác định vai trò của doanh nghiệp nhà nước như thế nào cho phù hợp với điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay? Cónên tiếptụcgiao chức năng tìm kiếmlợinhuận cho các doanh nghiệp nhà nước (khi đã có cơ sở chắc chắn để khẳng định tính kém hiệu quả trong hoạtđộngcủa doanh nghiệp nhà nước, khi so sánhvớidoanh nghiệp thuộc các thành phần kinhtế phi nhà nước hoạtđộngcùng ngành nghề,địa bàn, lĩnh vực và cùng quy mô vốn)? Có nên tiếp tục giao trọng trách điều tiếtvĩ mô nền kinh tế cho các doanh nghiệp nhà nước khi có thể sử dụng cơ chế quản lý nhànước để điều chỉnh hoạtđộng của các tập đoàn kinh tế phi nhà nước?
30
Những vấn đề đó cầnđược nghiên cứu, đánh giá một cách nghiêm túc từ nhiều khía cạnh khác nhau nhằm giải quyếttriệt để về mặtnhận thức, tạo cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện các quyđịnhpháp luật về doanh nghiệp nhà nước.
Tuy nhiên, do đã có sự thayđổi bước đầutrong các quy định pháp luật về doanh nghiệp nhà nước nên hệ thống các doanh nghiệp nhà nước cũng đãcó một số thay đổi căn bản, dần dần mang những sắc thái mới, thể hiệnở một số đặc điểm sauđây.
Thứnhất, doanh nghiệp nhà nước có chức năng thực hiện các nhiệm vụ chính trị – xã hội mà Nhà nước giao phó.
Trên thực tế, có nhiều lĩnh vực, ngành nghề rất kémhấpdẫn các nhàđầutư vì những lý do khác nhau, như: khó sinhlợinhuận, thời gian thu hồi vốn kéo dài; việc sản xuất, kinh doanh lệ thuộc rất lớn vào điều kiện khí hậu, thời tiết; cơ sở hạtầng kém phát triển, không thuận cho hoạtđộngsảnxuất, kinh doanh… Vì vậy, các nhà đầu tư thuộc những thành phần kinh tế phi nhà nước chỉđầutưcầmchừng, thậm chí khôngđầutư vào các lĩnh vực, ngành nghề đó. Trong khi đó, với bản chất là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì Nhà nước ta không thể khôngđầutư ngân sáchđể thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội nhằm giảmbớtsự chênh lệch về mọi mặt giữa các vùng, các miền, tạo điều kiện để thực hiện chính sách bình đẳng dân
tộc. Và, khi được Nhà nướcđầutư để hoạt động trong những lĩnh vực, ngành nghề này, các doanh nghiệp nhà nước không thể đạtđược mục tiêu kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận. Chính vì vậy, các doanh nghiệp nhà nước, trước hếtđược lập rađể tiến hành các hoạt động công ích, vì mục tiêu chính trị – xã hội của Nhà nước.
Xuất phát từ thực tiễn nói trên mà Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995đã phân chia doanh nghiệp nhà nước thành hai loại: doanh nghiệp nhànước hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích. Việc
31
phân chia doanh nghiệp nhà nước thành hai loại với tên gọi nói trên đã thể hiện rất rõ mục tiêu, nhiệm vụ của hai loại doanh nghiệp này, hoặc là theo đuổi mục tiêu kinh doanh, tìm kiếmlợinhuận hoặc là theo đuổi các mục tiêu công ích,đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chính trị – xã hội của Nhà nước. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 đã không đưa ra được tiêuchí đểphân biệt rõ về hai loại hình doanh nghiệp này, và trên thực tế có những trường hợp khó có thể xác định chính xác đó là doanh nghiệp nhà nước có mục đích kinh doanh hay công ích, vì đôi khi chúng vừa thực hiện những hoạt động kinh doanh kiếm lời, lại vừa có những hoạt động công ích vì những mục tiêu phi kinh doanh. Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã bỏ cách phân loại nói trên.
Trên thực tế, có khá nhiều doanh nghiệp nhà nước được xác địnhlàkinh doanh, theo đuổi mục tiêu lợi nhuận nhưng lại được giao thực hiệnđồng thời những nhiệmvụchínhtrị- xã hộikhác và ngược lại, có nhiều doanh nghiệp nhà nước tưởng chừng là doanh nghiệp công ích nhưng tính chất hoạtđộng lại cónhiềuyếutố của kinh doanh. Ví dụ: Các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngànhđiệnlực, cungcấpnước sạch,vệ sinh môi trườngở Việt Nam hiện nay, xét về bản chất kinh tế khó có thể xácđịnh rạchròi là doanh nghiệp kinh doanh hay công ích, vì chúng vừa phải hạch toán, tìm kiếmlợinhuận nhưng lại không có quyền quyết định giá cả hàng hóa và dịchvụ mà vẫnphải chịu sự chỉ đạocủa Nhà nước. Sự đan xen trong việc thực hiện những nhiệm vụvớinhiều mục tiêu và lợiích nhưvậychính là mộttrong nhữngđặc thùthường gặp ở các doanh nghiệp nhà nước.Đâylà một đặcđiểm tấtyếukể cảtrong những điều kiện của kinh tế thị trường phát triển, khi Nhà nước sử dụng doanh nghiệp nhà nước làmcông cụ để điềuhòa, phát triển nền kinh tế trong các lĩnh vực ít đemlạilợi nhuận hoặc không có khả năng đemlạilợinhuận nên khu vực kinhtế tư nhân khôngđầutư, đặc biệt là những ngành, những lĩnh vực cung cấp những hàng hóa hoặc dịch vụ thiết yếu cho nhân dân hoặc phục vụ lợi ích công cộng.
32
Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước có nhiệm vụ sử dụng có hiệu quả nguồn vốnthuộcsởhữunhànướcđểntrởthành côngcụhữuhiệuđiềutiết vĩ mô nền kinh tế, để tạo ra lợi nhuận bổ sung cho ngân sách nhà nước.
Trong quá trình thực hiện chức năng chính trị, xã hội, các doanh nghiệp nhà nước đồng thời cũng phải quan tâm sử dụng nguồn vốn thuộc ngân sách nhànướcđểphát triểnsảnxuất, kinh doanh. Cho dùmụctiêu tìm kiếmlợinhuận không phải là mục tiêu hàng đầu nhưng các doanh nghiệp nhà nước phải triệt đểkhai thác nguồn vốn nhà nước, một mặt làm cho chúng không ngừng sinh sôi, nảy nở, bổ sung cho ngân sách nhà nước; mặt khác tạo thêm nguồn việc làm, đáp ứng nhu cầu có việc làm của nhân dân, tạo ra thu nhập hợp pháp, nâng cao đời sống vềmọi mặt của nhân dân. Đồng thời, bằng việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhànước, các doanh nghiệp nhà nước cũng có thể giữ vững được vai trò quan trọng củamình trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, cũng không nên đặt quá nhiều tham vọng vào việc thực hiện mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và điều tiết nền kinh tếcủacác doanh nghiệp nhànướcvìvấnđềnàyđãđượckiểm nghiệm trong một thời gian dài ở tất cả các nước phát triển, ở nước ta và đã có lời giải đáp thuyết phục. Trong giai đoạn giao thời, chuyển tiếp giữa cơ chế bao cấp sang cơ chế thịtrường, một mặt các doanh nghiệp phi nhà nước chưa có điều kiện để lớn mạnh, mặt khác Nhà nước cũng chưa hoàn thiện được cơ chế quản lý, điều tiết nền kinh tế thì các doanh nghiệp nhà nước vẫn có cơ hội để phát huy vai trò then chốt của mình. Nhưng khi hệ thống doanh nghiệp phi nhà nước đủ mạnh để chi phối nền kinh tế quốc dân và Nhà nước cũng đã hoàn thiện được cơ chế điều chỉnh đối với chúng thì cần thay đổi căn bản quan niệm về vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Khiđó,nhiệmvụtìm kiếmlợinhuận vàđiềutiếtnềnkinhtếcủacác doanh nghiệp nhà nước sẽ giảm dần và tới một thời điểm nhất định sẽ bị xoá bỏ.
Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước có tính đặc biệt trong tư cách pháp nhân. Theo quyđịnhcủa pháp luật thì doanh nghiệp nhà nước có tư cách
pháp nhân nhưng trên thực tế, do doanh nghiệp nhà nước không có quyềnsở
33
hữu đối vớitài sản của doanh nghiệp, nên tính chủ động trong hoạtđộng của doanh nghiệp nhà nước là khá hạnchếvì cósựcan thiệpcủacơ quanchủquản, đại diện chủ sở hữu nhà nước. Trong nhiều quan hệ (liên doanh, liên kết kinh tế, cầm cố, thế chấp tài sản…) doanh nghiệp nhà nước không thể tự quyếtđịnh mà phải có sự cho phép, phê chuẩn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan chủ quản, hoặc cơ quan, người ra quyết định thành lập doanh nghiệp), do đó doanh nghiệp nhà nước cũng không độc lập chịu trách nhiệm như một doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn thực thụ.
Căncứvào các dấu hiệu của một pháp nhân theo quy định tạiĐiều84 Bộluật Dân sự 2005, có thể thấy doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế có”tư cách pháp nhân không đầy đủ” hoặc tư cách pháp nhân của doanh nghiệp nhà nước có tính “đặc biệt”. Xét trên khía cạnh thành lập và cơ cấu tổ chức thìdoanh nghiệp nhà nước có đủ các yếu tố của một pháp nhân như được thành lập một cách hợp pháp, tuân theo các quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước;đồng thờidoanh nghiệp nhà nước là tổ chức có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, được quản trị, điều hành theo những nguyên tắc luật định. Ngoài ra, doanh nghiệp nhànướccũngđượcnhànướcgiao quyền quản lý,sửdụng vốn, tài sản,đượctựquyết trong quản trị điều hành hoạt động của mình. Tuy nhiên, cơ quan đại diện sở hữu nhà nước có những quyền năng nhất định chi phối hoặc quyết định việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp trong một số trường hợp nhất định. Trên thực tế hiện nay, vẫn còn tình trạng Nhà nước khoanh nợ, xóa nợ cho doanh nghiệp nhà nước; quyết định việc định đoạt vốn và tài sản của doanh nghiệp; thậm chítrong trường hợp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản nhưng nếu cơ quan chủquản doanh nghiệp không cho phép thì doanh nghiệp nhà nước đócũng
không thể nộpđơnyêucầumở thủtục phá sảntheo quyđịnhcủa Luật Phá sản. Đặc biệt, vẫntồntạinhững trườnghợptàisảncủa Nhànước ở nước ngoài bị phong tỏa để bảođảmtrả nợ khi bên nước ngoài tiến hành việc xử lýnhững vi phạm và áp dụng các chế tàivề tàisảnđốivớidoanh nghiệp nhà
34
nước củaViệt Nam khi có vi phạm kinh doanhởnước ngoài. Các bênnước ngoàivẫnquan niệm rằng, đâylà các doanh nghiệp của Nhà nước và Nhànước Việt Nam phải chịu trách nhiệmvề tàisảncủa doanh nghiệp, làm cho nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn của doanh nghiệp nhà nước đối với vốn, tài sảncủa mình bị phá vỡ, tính độc lập, tự chịu trách nhiệm của một pháp nhân bị biếndạng.
Thực tiễn trên cho thấy, tư cách pháp nhân độc lập của doanh nghiệp nhà nước dường như còn lệ thuộc vào thái độ can thiệp của cơ quan chủ quản, can thiệp càng lớn thì “tư cách pháp nhân của doanh nghiệp nhà nước” càng không đầyđủ. Đâylà điểmriêng biệt của doanh nghiệp nhà nước so với các công ty tư nhân khác.
1.1.3.2. Phân loại doanh nghiệp nhà nước
Khi nghiêncứuvề doanh nghiệp nhà nước, nhằmchỉra nhữngđiểm khác biệt trong từng loại hình doanh nghiệp, trên cơ sở đó có những giải pháp thích ứng để thúc đấy sự phát triển của chúng, các nhà khoa học ở hầu hết các nước trên thế giới đã phân loại các doanh nghiệp nhà nước thành nhiều nhóm khác nhau, dựa trên những tiêu chí nhất định.
Nếucăncứ vàođịavịpháp lý, doanh nghiệp nhà nước được chia thành doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập và doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, không có tư cách pháp nhân độc lập.
Nếucăn cứ vào mối quan hệ hành chính giữa doanh nghiệp nhà nước với cơ quan chủ quản, doanh nghiệp nhà nước được chia thành doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệp địa phương.
Nếucăn cứ vào mức độ cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước được chia thành loại mang tính độc quyền, loại mang tính độc quyền cạnh tranh và loại mang tính cạnh tranh.
35
Nếucăn cứ vào mục tiêu hoạt động, doanh nghiệp nhà nước được chia thành doanh nghiệp kinh doanh và doanh nghiệp công ích.
Nếucăncứ vào tiêu chísởhữu, doanh nghiệp nhà nước được chia thành doanh nghiệp có 100% vốn do Nhà nước nắm giữ và doanh nghiệp hỗn hợp, do Nhà nước có cổ phần hoặc vốn góp chi phối.
Ngoài ra, còn có một số tiêu chí khácđể phânchia doanh nghiệp nhà nước, như: Hình thức tổ chức pháp lý; hình thức tổ chức hoạt động; cơ cấutổchức, quản trị doanh nghiệp…
Trong những tiêu chí nói trên thì tiêu chí về quyền sở hữu mang tính phổ biến, hiện naythường được sử dụng ở nhiềunước trên thế giới. Dựa vàođó, Nhà nước xác định những doanh nghiệp nhà nước 100% vốn do mình nắm giữlà những doanh nghiệp mà Nhà nướckhông muốn chia sẻsở hữucũng như quyền quản lý, chi phối hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực độc quyềncủa Nhà nước hoặc các lĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư vì sự khó khăn trong việc tìm kiếmlợinhuận hoặc có tính rủi ro cao nhưng lại rất cần thiết cho xã hội.
Ở nước ta, ngoài việc phân chia theo những tiêu chí khoa học đã nêu trên, trong pháp luật thực định (Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003), các doanh nghiệp nhànướccònđượcphân chia theo hình thứctổchức pháp lý của doanh nghiệp.
Thứ nhất, công ty nhà nước, là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộvốn điềulệ,thànhlập, tổchức quản lý, đăng ký hoạt động theo quyđịnh của Luật Doanh nghiệp nhà nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập hoặc tổng công ty nhà nước. Trong đó, công ty nhà nước độc lập là công ty không thuộc cơ cấu tổ chức của tổng công ty nhànước. Tổng công ty nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trêncơ sở sựđầu tư, góp vốn giữa các công ty nhà nước, giữa công ty nhà nước với các doanh
36
nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổchức và liênkếtcác đơnvịthành viên có mối quanhệ gắnbó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thịtrường và các dịchvụkinh doanh khác, hoạtđộngtrongmộthoặcmộtsốchuyên ngành kinh tế – kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị thành viên và toàn tổng công ty.
Thứ hai, công tycổphần nhà nước, là doanh nghiệp mà toànbộcổđông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn,được tổ chức vàhoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Thứ ba, công ty cổ phần có từ hai thành viên trở lên, là doanh nghiệp mà cổphần, vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ,đượctổ chức và hoạt động theo các quy định của Luật Doanh nghiệp.
Thứ tư, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toànbộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lývà đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Thứ năm, công ty trách nhiệmhữu hạnnhà nước có hai thành viêntrởlên, là doanh nghiệp trongđótấtcảcác thành viênđềulà công ty nhànước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được Nhà nướcủyquyền góp vốn,đượctổchức và hoạtđộngtheo quyđịnhcủaLuật Doanh nghiệp.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢNVỀ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
1.2.1. Vấn đề đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhànƣớcở một số
nƣớc trên thế giới
1.2.1.1. Đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước là nhu cầu tất yếu, diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới
37
Chính sự thua lỗ triền miên của các doanh nghiệp nhà nước trở thành căn bệnh trầm kha khó chữa, đã thúc đẩycác nước tưbảnphương Tây xem xétlạimộtcách nghiêm túcvề sựcan dự quá sâu vào các hoạt động kinh tếcủa mình, đặc biệt là chính sách phát triển và duy trì doanh nghiệp nhà nước. Và nhờ đó, các chính sáchcảicách doanh nghiệp nhà nước đã xuất hiện gần như đồng loạt ở các nước này từ những năm đầu của thập kỉ 80 thế kỷ trước. Bắt đầu làcao trào phi quốc hữu hóa và sau đó chuyển biến thành các cao trào tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước ở hầu hết các nước phát triển. Cũng vào thờikỳnày, cảicách doanh nghiệp nhà nước cũng bắtđầuđược thực hiệnởcả các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cũ và các nước đang phát triển.
NhậtBảnlà nước cónềnkinhtế công khá phát triển và có hiệuquảhơn so với nhiều nước phương tây nhưng các doanh nghiệp nhà nướcở Nhật Bảncũng không tránh khỏi tình trạng thua lỗ chung, mặc dù tình trạng này cóđếnmuộn hơn so với các nước khác. Các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực cầuđườngcủa NhậtBảnhiện đangnợ Chínhphủmộtsốtiền khổnglồlên đến 40.000 tỉ yên từ các khoản đầu tư của Chính phủ Nhật dưới hình thức cho vay với lãi suất thấp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này không có khả năng trả nợ Chính phủ vì các khoản thu phí cầu đường chỉ đủ trang trải các chi phívà vận hành doanh nghiệp; hoặc ngành bưu điện Nhật Bản từ năm 1998 đến nay liên tục rơi vào tình trạng thua lỗ (năm 1998 lỗ 62 tỉ yên, năm 1999 là 74 tỉ yên và 6 tháng đầu năm 2000 là 59 tỉ yên) [79, tr. 32-33].
Ở Anh, bắt đầu vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi Đảng Bảo thủquay trở lạinắmquyền thì làn sóng tư nhân hóa các doanh nghiệp nhànước đã trở thành một trong những chính sách kinh tế nổi bật nhấtcủa Đảng này. Tiến trình tư nhân hóa ở Anhđếnnay có thể nói là đã trải qua ba giaiđoạn [122, tr. 35-36].
38
– Giaiđoạn1979-1984: tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước quy mô vừa và nhỏ trong các công ty nhà nước lớn ở các lĩnh vực có sự cạnh tranh trênthịtrường nhằmtạonguồn thuđể bùđắpnhững khoảnnợ của khu vực kinh tế nhà nước. Bắt đầu của chính sách tư nhân hóa này là vào tháng 10-1979, ChínhphủThátchơ đã quyếtđịnhbán 5% quyềncổphần của Nhà nướcở Công ty dầu mỏ Anh quốc.
– Giai đoạn 1985-1987: Bán cổ phần của các công ty công cộng kinh doanh có tính chất độc quyền, nhằm xóa bỏ độc quyền nhà nước ở một số lĩnh vực và hiệu quả hóa kinhtế đốivớicác lĩnh vực này. Đếnnăm 1988 Chính phủ Anh đã bán ra 22,25 tỷ USDcổphần nhà nước ở các công ty hàng không, công ty gang thép, công ty khí than Anh, xưởng đóng tàu hải quân, xưởng sản xuất hàng quân sự Hoàng Gia v.v…
– Giai đoạn 1998 đến nay: Bán đấu giá rộng rãi các doanh nghiệp công cộng để chuyển các doanh nghiệp này sang hoạt động theo cơ chế thị trường. Sau 20 năm thực hiện các chương trình tư nhân hóa, tỷtrọng doanh nghiệp nhà nước trong tổng giá trị sản xuất quốc dân từ 11,1% năm 1979 giảm xuống còn 6,5% vào năm 1998.
Ở Pháp, năm 1981 bắt đầu nhen nhóm tư tưởng tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Đến năm1986, khi Chính phủ phái hữu lên nắm quyềnđãtiến hành tích cực phong trào tư nhân hóa sâu rộng. Kết quả là trong 5 nămtừ1986đến1991, ChínhphủPhápđã bán 66 doanh nghiệp và ngân hàng nhànước cho tư nhân, với tổng tàisảntrị giá 275 tỉ France [99, tr. 23-24].
Italia là nước có tỷ trọng khu vực nhà nước lớn, chiếmtới40% kinh tếquốc dân. Các doanh nghiệp nhà nước ở Italia được tổ chức thành những tậpđoàn với quy mô lớn trong cùng một ngành hoặc giữa các ngành có quan hệ vớinhauvề công nghệ và sảnphẩm. Do vậy, quá trìnhcổphần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Italia diễn ra chậm và tương đối thận trọng theo hai hướng:
39
Một là, chuyển các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành các công ty cổ phần hỗn hợp nhà nước và tư nhân. Để tiến hành cổ phần hóa, các doanh nghiệp phải đánh giá lại tài sản, phân chia cổ phần và phát hành cổ phiếu. Cổphiếuđược bán trước hếtcho các công ty tài chính quốc doanh, nếucòn lại mới bán ra thị trường chứng khoán.
Hai là, Nhà nước tàitrợ dướidạngvốncổ phầncho các công ty hỗn hợp nhà nước và tư nhân thông qua các công ty tài chính quốc doanh. Phương thức này đã tạo ra các công ty ngành và liên ngành hoạt động như các công ty tư nhân mà khôngcầnNhà nước cấpvốn;đồngthời, phương thức này cũng giảm tỷ lệ sở hữu của Nhà nước, cho phép các doanh nghiệp phát hành rộng rãi cổ phiếu để tăng tỷ lệ vốn góp của tư nhân [122, tr. 37-38].
Ở Mỹ, từ 1986 đến 1991, Chính phủ đã bán khoảng 52 tỷ USD tài sản nhà nước thuộc chính phủ liên bang cho tư nhân, bao gồm 5 cơ sở điện lực, 2 đơn vị làmthiết bị dầu mỏ hảiquân, 5 trạm thám không và một số bất động sản, cơ sở dịch vụ thuộc chính phủ liên bang [99, tr. 23-24].
1.2.1.2. Tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước – xu hướngphổbiến trong đổi mới doanh nghiệp nhà nước
Bắtđầutừ thậpniên 80 của thế kỷ XX, phong trào tư nhân hóa ở các nước phát triển diễn ra rấtmạnh và đã làm giảm đángkểtỷtrọng của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế.
Thực trạng đó đã được phản ánh qua nhận xét của một chuyên gia kinh tế:
Điềunày phản ánh quá trình tư nhân hóa và quá trình quốc hữu hóa luôn đan xen, chuyển hóa cho nhau theo yêucầuphát triển của nền kinh tế. Nó cũng là hình thức biểu hiện mâu thuẫncủa chủnghĩa tư bản hiện đại nhằm duy trì sự thống trị của tư bản độc quyền và thu được lợi nhuận độc quyền cao. Tùy theo tình hình cụ thể, nếu quốc hữu hóa có lợi cho tư bảnđộc quyềnthì họ sẽ tiến hành quốc
40
hữuhóa xí nghiệp tư nhân, khi tình hình ngược lạithìhọsẽ tiến hành tư nhân hóa [99, tr. 24].
Nhận xét trên không phải là không có căn cứ khi các đảng phái khác nhau lên cầm quyềnở các nướctư bản phát triển thường có những chính sách khác nhau đối với vấn đề tư nhân hóa hay quốc hữu hóa. Tuy nhiên, thực tiễn ba giaiđoạnphát triển của doanh nghiệp nhà nước ở các nước tưbảnphát triển cho thấy, không phải các yếutốchínhtrịlà tốithượng và cóýnghĩa quyết định đối với sự phát triển hay không của doanh nghiệp nhà nước mà làcác nhân tố phát sinh từ chính bản thân nền kinh tế. Chẳng hạn như: sự nghiệp công nghiệp hóa đấtnước, hay yêucầukhôi phục nhanh chóngnềnkinhtếsau chiến tranh, hoặc yêucầucủa mộttư duy kinh tế hay cao hơn nữa là sựthịnh hành của một học thuyết kinh tế… là những nhân tố quyếtđịnhtớicác chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước ở các nước tư bản phát triển trong gần hai thế kỷ đã qua.
Vàođầuthập niên 80 của thế kỷ trước, các nước tư bản chủ nghĩa vàxã hội chủ nghĩa đều bắt đầu thực hiện các chính sách cải cách đối với khu vực doanh nghiệp nhànước.Các chính sáchcảicách kinhtếcủacácnướcnhư:
“Cải tổ” ở Liên Xô đầu thập kỉ 80, chính sách “mở cửa” nền kinh tế của Trung Quốcbắtđầutừnăm 1978 hay công cuộc”đổimới”củaViệt Namtừnăm 1986 v.v… đều bao gồm những chính sách chủ yếu liên quan đến cải cách khu vựcdoanh nghiệp nhànước.Cho dùkếtquảcủacác chính sách nàyở mỗi nước là khác nhau nhưng đều đã phản ánh một tất yếu là sự cần thiết của việc cảicách doanh nghiệp nhà nước, khi nhữngnhượcđiểmvàyếukémcủakhu vựckinh tế côngở cả các nướcxãhộichủnghĩa cũ và các nước tưbảnchủnghĩa đều đã được bộc lộ một cách đầy đủ.
Sau khi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở Liên Xô và các nướcĐông Âu, các nước này đã chuyểnhẳnsang nền kinh tế thị trường, thực hiện chương trình tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước. Trung Quốc và Việt Nam
41
cũng cải cách doanh nghiệp nhà nước theo nhiều cách thức như: công ty hóa; cổphần hóa; bán doanh nghiệp nhà nước; giao, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước hoặc thuê tư nhân quản lý.
Xuhướngcảicách doanh nghiệp nhà nước trên thế giới trong thời gian tới ở cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, trong đócó các nước có “nền kinh tế đang chuyển đổi” vẫn là sự tiếp tục của các cao trào tư nhân hóa, cổ phần hóa, chuyển đổi hình thức sở hữu, điều chỉnh cơ chếquản lý và sựcan thiệp của nhà nước vào hoạtđộngcủadoanh nghiệp, tạo môi trường pháp lý bình đẳng, bảođảmcạnh tranh trong hoạtđộngcủa các doanh nghiệp nhằmsắpxếplạikhu vực kinh tế này theohướnggiảmbớttỷtrọng doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh tếtrong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Tóm lại, doanh nghiệp nhà nước không phải là sản phẩm riêng có của chủnghĩa xãhộimà cóởhầuhếtcácnềnkinh tế. Ởcácnước tưbảnphát triển, doanh nghiệp nhà nước tồntạiở những mức độkhác nhau, và ở mỗi thời kỳ, vị trí, vai tròcủadoanh nghiệp nhà nước cũng có những ảnh hưởng khác nhauđốivớitoànbộnềnkinhtế đấtnước nói chung cũng nhưđốivới từng chính phủ nói riêng. Xét trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp nhà nước có các vai trò như là công cụ của Chính phủ để thực
hiện những mục tiêu kinh tế vĩ mô, nhằm khắc phục những nhược điểmcủa kinhtế thịtrường, điềuhòa và cânđốinềnkinhtế;tạoviệc làm, giải quyết các vấnđề chínhtrị- xã hội; chốngsựđộc quyền của tư nhân trong những ngành, lĩnh vực kinhtế có thể gâyảnhhưởngđếnlợiích công cộng;đầutưvào những lĩnh vực mà tư nhân không thể hoặc không muốn thực hiện; cungứng những sản phẩm và dịch vụ công cho xã hội; tập trung phát triển những ngành kinhtếmũi nhọn, kiểm soát những khuvựckinhtếcótầmquan trọng chiếnlượcv.v… Vai tròđócủa doanh nghiệp nhànước sẽngày càng cóýnghĩa hơn trong nhữngđiềukiện của kinhtế thịtrường hiện nay. Cho dùdoanh nghiệp nhà nước có xuhướngngày càng giảmvề tỷtrọng nhưng vẫn
42
giữvai trò quan trọng trong việc phục vụmục tiêuđiềuchỉnh và quản lý vĩmô nền kinh tế của nhà nước. Đó là một xu hướng đang ngày càng trở nên rõnét ở hầu hết các nước trong thế giới hiện đại.
1.2.2. Vấn đề đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nƣớc ở Việt Nam Trong luận án, những vấn đề pháp lý về đổi mới, phát triển doanh nghiệp
nhà nước đượchiểu là toànbộhệthống lý luận khoa học pháp lý và những quy định pháp luật về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước.
Vớicách hiểu đó, có nhiều nội dung phải luận bàn, tuy nhiên luận án chỉ giới hạn việc nghiên cứu về một số vấn đề cơ bản liên quan tới việc đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước, như: Cơ sở kinhtế – xã hộicủa việc đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước;các quyđịnhpháp luật và việc thực
hiện các quy định pháp luật về đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước…
1.2.2.1. Cơ sở kinh tế – xãhộicủaviệcđổimới, phát triển doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIÊṆ NAY
Những vấn đề pháp lý về đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện cải cách kinh tế ở nước ta hiện nay Những vấn đề pháp lý về đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện cải cách kinh tế ở nước ta hiện nay Những vấn đề pháp lý về đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện cải cách kinh tế ở nước ta hiện nay Những vấn đề pháp lý về đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện cải cách kinh tế ở nước ta hiện nay Những vấn đề pháp lý về đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện cải cách kinh tế ở nước ta hiện nay Những vấn đề pháp lý về đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện cải cách kinh tế ở nước ta hiện nay

