Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chứng cứ là phương tiện để chứng minh tội phạm, người phạm tội vàdùng để xác định những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyếtđúng đắn vụ án hình sự, cho nên nó xuất hiện cùng với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ở các xã hội có chế độ chính trị và điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau, có những quan niệmvề chứng cứkhác nhau và những quy định của pháp luật về chứng cứ để sử dụng nó cũng khác nhau.

Chứng cứ không chỉ đóng vai trò xác định sự thật khách quancủa vụán, mà còn phản ánh bản thân quá trình xác định sự thật khách quan đó. Trong hoạt động tố tụng hình sự, các Cơ quan điều tra (CQĐT), truy tố, xét xử chỉcó thể xác định các tình tiếtcủa vụ án bằng chứng cứ, để từ đó cócơ sở nhậnđịnh tội phạmcóxảyra hay không và nếu tội phạm cóxảyra, thì quyếtđịnháp dụng các biện pháptốtụngcầnthiết. Điềuđócó nghĩa, chứngcứlàphương tiện khẳngđịnhcác sựkiện, hiệntượngnhấtđịnhnhằm giải quyếtđúngđắnvụán hình sự, đồngthời loại trừ, phủđịnhnhữngsựkiện, hiện tượng đã không xảy ra trong thực tế hoặc không liên quan.

Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam và nhiều nước trên thế giớiđều có quy định về chế định chứng cứ và quá trình chứng minh trong giải quyết các vụ án hình sự, trong đó chế định chứng cứ có vị trí, vai tròrấtquan trọng. Việc áp dụng và thực hiện đúng chế định nàysẽ bảođảmcho hoạtđộng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong các giaiđoạn điềutra, truy tố, xét xử được khách quan, chính xác, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

Trong những năm qua, các cơ quan tiến hànhtốtụngđã áp dụng những quyđịnhcủapháp luậttốtụng hìnhsựvề chứngcứtrong hoạtđộng

6

điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và đã góp phần tích cực trong cuộcđấutranh phòng, chốngtộiphạm, phục vụcó hiệu quả nhiệmvụphát triển kinh tế, xã hội và đối ngoại của đất nước,được dư luậnnhân dân đồng tình,ủng hộ. Song, bên cạnh những mặt tích cực, thực tiễn công tác điềutra, truy tố, xét xử cũng đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về chứng cứ đòi hỏi khoa

học luậttốtụng hìnhsựphải nghiên cứu, giải quyết như khái niệm chứng cứ, các thuộc tính của chứng cứ, cơ sở lý luận của chứng cứ, phân loại chứng cứ, khái niệm nguồn chứng cứ, các loại nguồn chứng cứ… và còn nhiềubấtcập trong việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứcủa các cơ quan tiến hành tố tụng, xâmphạm đếnquyền lợi của công dân, làm oan người vô tội dẫn đến lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân vào các cơ quanbảovệ pháp luật và Tòa án giảm sút. Tuy nhiên,vấnđề nghiên cứu, làm rõ cơsởlý luậnđể áp dụng những quyđịnhcủa pháp luậtvề chếđịnhchứngcứvào quá trình giải quyết các vụán hình sự, cũng như những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luậtvềchế định chứng cứtrong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơquan tiến hành tố tụng ít được quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2003 quy địnhvề vấnđề nàyở một chừng mực nào đó còn chưa cụ thểvà chặt chẽ, còn có nhữngnộidung chưa kịpthờibổsung cho phùhợpvới tình hình thực tế diễn biến tội phạm. Trong khi đó, trong khoa học luật tố tụng hình sự không ít vấn đề về chế định chứng cứ còn chưa có sự thống nhất vềcách hiểu, thậm chí có những quan điểm trái ngược nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài”Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” mang tính cấp thiết, không những về lý luận, mà còn là đòi hỏi thực tiễn hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Mục đích

Trên cơ sở làm sángtỏnhữngvấnđề lý luận và thực tiễn áp dụng những quyđịnhcủa pháp luậttố tụnghìnhsựvềchứngcứđể làm rõ những tồn tại, bất cập của luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng của các cơ quan bảo vệ phápluật, từ đó đề xuấthoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về chứng cứ và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định đó, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ

Để đạtđược mục đích trên, tác giả luậnán đã đặtra và giải quyết các vấn đề sau:

– Làm sáng tỏ những vấnđề lý luậnchung về chế định chứng cứ, xây dựng khái niệm khoa học về chứng cứ;

– Phân tíchsựhình thành và phát triển của chế địnhchứngcứtrong luật tố tụng hình sự Việt Nam để kế thừa những giá trị lập pháphợplý, phùhợp vào việc hoàn thiện chế định chứng cứ trong tình hình hiện nay;

10

– Nghiêncứucác quyđịnhvề chứngcứtrong pháp luậttốtụng hình sự một số nước trênthế giới để rút ra những kinh nghiệm tiên tiến có thể tiếp thu một cách có chọn lọc vào điều kiện cụ thể của Việt Nam;

– Phân tích, làm sáng tỏ những quy định của pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam hiện hành về chứng cứ;

– Làm rõ các ưu điểm, hạn chế thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luậttốtụng hìnhsựViệt Nam hiện hànhvề chứngcứ,qua đóchỉrađược các nguyên nhân cơ bản của những vướng mắc, hạn chế đó;

– Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Namvề chứng cứvà những giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định đó trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay.

3.3. Đối tượng nghiên cứu

Đốitượngnghiêncứucủa luận án đúng như têngọicủa nó – Những vấnđề lý luận và thực tiễnvềchếđịnhchứngcứtrong luậttốtụng hìnhsựViệt Nam.

3.4. Phạm vi nghiên cứu

Chế định chứng cứbao gồm nhiều vấn đề liên quan đến chứng cứ và quá trình chứng minh nên có phạm vi tương đối rộng. Do đó, phạm vi nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng trực tiếp những quy định về chứng cứ trong BLTTHS Việt Nam trong thời gian từ năm 2008đến năm 2013.

4. Cơ sở lý luận và các phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận án là quanđiểmcủa chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quanđiểmcủa Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như thành tựu của các ngành khoa học như triết học, xã

11

hộihọc, lịch sử, lý luậnvề nhà nước và pháp luật, luật hình sự, luậttốtụng hình sự, tội phạm học, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam và nước ngoài.

4.2. Các phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của khoa học luật tốtụng hình sự, như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê… Đồng thời,

việc nghiêncứuđề tài còn dựa vào các vănbảnpháp luậtcủaNhà nước và những giải thích thống nhất có tính chấtchỉđạocủathực tiễn xétxửthuộc lĩnh vực pháp luật tố tụng hình sự do TANDTC hoặc (và) của các cơ quan bảo vệ pháp luậtở Trung ương ban hành có liên quanđếnchế địnhchứng cứ; những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của ngành Tòaán nhân dân (TAND) và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)từ Trung ươngđến địa phương; các bản án hình sự, quyết định giámđốc thẩmvà tài liệuvụán hìnhsựtrong thực tiễn xét xử, cũng như những thông tin trên mạng internetđể phân tích, tổnghợpcác tri thức khoa học luậttốtụng hìnhsựvàluận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận án.

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Đâylà công trình chuyên khảoởcấpđộluận án tiến sĩ luật học, nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễncủa chế định chứng cứtrong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Có thể xem những nội dung sau đây là nhữngđóng góp mới về khoa học của luận án:

– Làm sáng tỏ những vấnđề lý luậnchung về chế định chứng cứ, xây dựng khái niệm khoa học về chứng cứ;

– Đánh giá lịchsửhình thành và phát triển chế địnhchứngcứtrong luậttốtụng hìnhsựViệt Namđể kế thừa có chọnlọccác giá trịlậppháp truyền thống;

12

– Làm rõ những quyđịnhcủa pháp luậttốtụng hìnhsựmộtsốnước trên thế giớivề chứngcứđể trên cơ sở đó, kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm lập pháp tố tụng hình sự;

– Phân tích những quyđịnhcủa pháp luậttốtụng hìnhsựViệt Nam hiện hànhvề chứng cứ, đồngthời đánh giá đúng thực trạng áp dụng những quy định về chứng cứ thông qua ba giai đoạn tương ứng – điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự ở nước ta hiện nay;

– Phân tích những quanđiểmvà các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật tốtụng hìnhsựViệt Namvềchứngcứtrong giaiđoạncảicách tư pháp hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kếtquả nghiên cứu và những kiến nghị của luận án cóýnghĩa quan trọng đối với việc nhận thức, áp dụng đúng đắn những quy định của pháp luật tốtụng hình sự về chứng cứ ở Việt Nam hiện nay. Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sựphát triển của kho tàng lý luận về chứng cứ trong khoa học luật tố tụng hình sự.

Ngoài ra, vớiviệcđềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quyđịnhcủa pháp luậttốtụng hình sự về chứng cứ, tác giả hy vọng sẽ góp phần vào công cuộc cải cách tưphápở nước ta hiện nay, cũng như phòng, chống oan, sai, khôngbỏlọttội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội.

Đặc biệt, luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảngdạyvề khoa học pháp lý nói chung, khoa học luậttốtụng hìnhsựnói riêng và cho các cánbộthực tiễn đang công tác ở cơ quan Công an, Viện kiểm sát (VKS), Tòa án và các cơ quan bổ trợ tư pháp khác.

13

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chứng cứ trong luật tố tụng hình sự. Chương 2: Những quyđịnhcủa pháp luậttốtụng hìnhsựViệt Nam

hiện hành về chứng cứ và thực tiễn áp dụng.

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Namvề chứng cứtrước yêucầucảicách tưpháp hiện nay.

14

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CỨ

TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CỨ

Chứng cứ (Evidence) đóng vai trò rất quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của bất kỳ sự việc, hiện tượng nào, nhưng đặc biệt hơn cả là trong hoạt động tố tụng hình sự. Bởi lẽ, chỉ có thông qua chứng cứ, các CQĐT, truy tố, xétxử mớicó thể xác định các tình tiết của vụ án, đồng thời làm rõ bức tranh, diễn biếncủasựviệc để từđócó cơsở ra các quyếtđịnh tương ứng, cũng như giải mã các bímậtcủa sựviệc, hiện tượng, không làm

oan người vô tội, làm rõ chân lý và sự thật. Nói một cách khác, chứng cứ là phương tiện khẳngđịnhcác sựkiện, hiệntượngnhấtđịnhnhằm giải quyếtđúngđắnvụán hình sự, đồngthời loại trừ, phủđịnhnhữngsựkiện, hiện tượng đã không xảy ra trong thực tế. Do đó, yêucầulàm sáng tỏ những vấnđề lý luận chungvề chứngcứnhư: khái niệm chứng cứ, các thuộc tính của chứng cứ, phân loại chứng cứ và nguồn chứng cứ là công việc cần thiết.

1.1.1. Khái niệm chứng cứ

Khái niệm chứngcứlà mộttrong những khái niệm cơ bảncủa khoa học luậttốtụng hìnhsựnói chung, lý luậnvề chứngcứnói riêng. Lịchsửpháp luậttốtụng hìnhsựcho thấy, trải qua các thờikỳphát triển của loài người, có nhiều quan điểm khác nhau về chứng cứ.

* Quan điểm thần học, tôn giáo về chứng cứ

Xuất phát từ phương pháp luận duy tâm, quan điểm thần học, tôn giáo về chứng cứcho rằng, “Đấng tối cao”, “Thần linh”, “Chúa trời” đã tạo ra thếgiới vật chất, tạo ra con người, tạo ra tội phạm thì cũng là người phán xét tội phạm.Đã từngtồntạinhững hình thức thửtháchđốivớingườibịtình nghi

15

phạmtộinhư: Nhúng tay của ngườibịtình nghi vàonước sôi trong khoảng thời gian nhất định, hoặc buộc họ phải nhảy từ trên cao xuống hoặc phải đậpđầu vào đá… Nếu tay không bị bỏng, nhảy từ trên cao xuống không chết hoặc không bị chảy máukhi đập đầuvào đá… thì người đó vô tội và ngược lại thìchứng tỏ người bị tình nghi chính là thủ phạm. Ngoài ra, theo quan điểm này,được coi là chứng cứ khi quan tòa tổ chức cho người tố cáo và bị tố cáo quyếtđấu, chiến thắng sẽ được coi là chứng cứ có giá trị nhất và người chiến thắngđược tòa án tuyên là tố cáo đúng hoặc vô tội. Theo một số tôn giáo, như Thiên chúa giáo thìlờisámhốicủa các con chiênvề các hành vitộilỗicủa mình trước bề trên được coi là chứng cứ buộc tội. Quanđiểmtrên rõ ràng thể hiện tư tưởng thần quyền của các nhà nước thời trung cổ, hoàn toàn sailầmvề mặt khoa học, trái với quy luật khách quan.

* Chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tố cáo

Trong trình tự tố tụng kiểu tố cáo, toàn bộ trình tự tố tụng được kiến lậptrên tính tíchcựccủa các đươngsựvà trước hếtcủa ngườitốcáo. Một công thức cổ La Mã đã nêu: “Không có người tố cáo thì không có quan tòa” (Nemo judex sine actore). Quan điểmvề chứng cứcủa trình tự tố tụng kiểu tốcáo coilờitốcáo của ngườitốcáo là chứngcứbuộctộiđốivớingườibịtốcáo. Hệ thống chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tố cáo rất đơn giản: quan tòa chođốichất trực tiếp giữa ngườitốcáo và ngườibịtốcáo. Nếungườibị tốcáo không có chứng cứ hoặc không có khả năng bác bỏ lời tố cáothì họ sẽ bịcoi là phạm tội.Lờiphản bác của ngườibịtốcáonếucólờithề của bạnbèhoặc láng giềng chứng thực lời phản bác của người bị tố cáo là đúng thì người bị tố cáođược coi là vô tội. Cũng theo quanđiểmnày thì Lời nhậntội của bịcáo được coi là chứng cứ tốt nhất, là “vua của các chứng cứ” (regina probationum, theo cách diễnđạtcủa pháp luật La Mã), vìvậyquan tòa thường áp dụng cực hình đối vớingười bị tố cáo để lấyđược lờinhận tội của người bị tố cáo. Quan điểm nàyvề chứng cứtạonên sự bất bình đẳng sâu sắc giữa giai cấp thống trị, tầng lớp trên của xã hội với nhân dân lao động, những

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

ngườicó chức, địavịcao trong xã hộithìlờitốcáocủahọcàng có giá trịchứng minh trong quá trình giải quyết vụ án.

* Chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu thẩm vấn

Theo sự phát triển của pháp luật, trình tự tố tụng kiểu thẩmvấnra đời, thay thế cho trình tự tố tụng kiểu tố cáo. Trong trình tự tố tụng kiểu thẩm vấn, việc điều tra, xử lý tội phạm do cơ quan xét xử thực hiện; các chức năng buộc tội, xét xử, bào chữa cũng tập trung vào cơ quan xét xử. Trình tự tố tụng kiểu thẩm vấn phục vụ đắc lực cho chế độ xét xử Trung ương tập quyền của Nhànước quân chủ chuyên chế. Nhà nước quân chủ chuyên chế đã sử dụng trình

tựtốtụng kiểu thẩmvấnđể thủtiêunềntư pháp của các lãnh chúa phong kiến, đập tan sự phản kháng của các lãnh chúa phong kiến. Lý luận chứng cứhình thức được sản sinh ra từ trình tự tố tụng kiểu thẩm vấn.

* Quan điểm hình thức về chứng cứ

Theo lý luận chứngcứhình thức, ýnghĩa và hiệu lực của chứngcứđược quy định trước trong luật, có tính chấtbắtbuộc đối với tòa án và CQĐT khi họ điều tra, xét xử vụ án. Theo quan điểm này, thì những gì là chứng cứđể chứng minhtộiphạm và đốivớimỗiloạitộiphạmcầnchứngcứgì, sốlượng bao nhiêu đã được quy định sẵn trong luật. Luật chẳng những quy định các loại chứngcứhình thức khác nhau, mà còn quyđịnhtrước chứngcứcóhiệu lực như thế nào và thẩm phán phải đánh giá nó ra sao. Thẩm phán khôngđược tự do đánh giá chứngcứtheo niềm tinnộitâm, nhiệmvụcủa họlà áp dụng một cách máy móc chứng cứđượcluật quy định đối vớimỗi sự việcmà họgặp và rút ra kết luận mà luật đã định. Trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự, lý luận chứng cứ hình thức đã hạnchế đượcsự tùy tiện của Tòa án trong giải quyết vụ án hình sự, buộc Tòa án phải phục tùng những yêucầucủa pháp luật, nhưng nó cũng bộc lộ nhiềutồn tạinhư hạn chế khả năng thu thập, phân tích, đánh giá chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc làm oanngườivô tội. Lý luận chứng cứ hình thức phát triển mạnh

17

và có ảnh hưởng lớn đến pháp luật tố tụng hình sự của các nước châuÂu từthế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII và ngày naynó vẫn được thể hiện ở các mức độkhác nhau trong pháp luậttốtụng hìnhsựcủa mộtsốnước tronghệ thống pháp luật Anglô – Sắcxông.

* Quan điểm nhân chủng học về chứng cứ

Quanđiểmnhân chủng học về chứng cứ cho rằng, quá trình thu thập chứngcứtrong việc giải quyếtvụán hìnhsựlà quá trình xácđịnhcấutrúc,đặc điểmcơ thể và tính cách con người. Quanđiểmnày dựa trên cơ sởphương pháp nhận dạng và giám định pháp y, cho nên về hình thức nó có căn cứ khoa học, nhưng nhược điểm của nó là cấu trúc cơ thể, tính cách con người không phải là nguyên nhân làm phát sinhtộiphạm và dovậykhông thể lấy cấu trúc cơ thể con người thông qua giám định pháp y làm chứng cứđể chứng minh tội phạm.

* Quan điểm niềm tin nội tâm tự do của Thẩm phán về chứng cứ

Đếngiữa thế kỷXVIII, lý luận chứngcứhình thức đã suy tàn trong thời đại thắng lợi của Cách mạng tư sản và xuất hiện quan điểm niềm tin nội tâmtựdo của Thẩm phánvề chứng cứ. Theo quanđiểmnày thì vai trò của thẩm phánđược đề cao trong hoạtđộngchứng minhtộiphạm, được toàn quyền quyếtđịnhvềtộiphạmmộtcách tùy thuộc vào niềm tin của mình, không phải đưa ra bấtkỳcăncứnào, miễn là khẳngđịnhđược sựtin tưởng vào sự đúng đắn của các quyết định. Lý luận pháp lý tư sản về tự do đánh giáchứng cứ dựa trên niềm tin nội tâm của thẩm phán, ra đời năm 1790 ở Pháp và có ảnh hưởng rất lớn ở châu Âu vào nửa cuối thế kỷ thứ XIX, là sự phản kháng của giai cấp tư sản, chống lại xiềng xích của nền tư pháp phong kiến. Từ góc độlịch sử cụthể, phải thừa nhận rằng, vào thời điểm đó, nó có ý nghĩa tiến bộ nhất định. Tuy nhiên, lý luận này cũng đã bộc lộ những hạn chế nhấtđịnhnhưmộtnhà luật học tư sảnđã phải thừa nhận: “quá trình phát sinh vàhình thành niềm tin ấy phần lớn xảy ra một cách tự phát, không phụ thuộc vào

18

ý chí con người, không cómột sự kiểmtra nào cả đối với sự tác động của quy luật tư duy, do kết quả của một trạng thái tâm hồn nhất định” [2, tr. 227].

* Quan điểm mác-xít về chứng cứ

Triết học Mác – Lênin đã khắcphục đượcnhững hạn chế trên, lý giải mộtcách khoa học bảnchất của nhận thức; bácbỏtriết học duy tâm nói chung, thuyết hoài nghi luận và thuyết bất khả tri luận nói riêng. Các nhà kinhđiển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh rằng, con người có thể nhận thức được thế giới khách quan và quy luật của nó; trên thế giới không cósựvật, hiện tượng nào là không thể nhận thức được, mà chỉ có sự vật, hiện tượng chưa nhận thức được, nhưng con người sẽ nhận thức được. Chủ nghĩa duy vật biện chứng coisựnhận thức của conngườilà mộtquá trình phức tạp, mâu thuẫn, luôn luôn phát triển trong lịchsử,đitừkhông biếtđếnbiết, từbiết không đầyđủ đến biết đầyđủ hơn, từ nhậnthức các hiện tượng đến nhận thức bản chất của thế giới khách quan, các quan hệ mang tính quy luật ở bên trong các sự vật, hiện tượng.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin còn là những ngườiđầu tiên trong lịch sử triết học đưa quanđiểmthực tiễn vào lý luận nhận thức, từđóthực hiệnbước chuyển biến cách mạng trong lý luận này. Theo triết học Mác – Lênin, thực tiễn là cơ sở và động lực của nhận thức, là tiêu chuẩn duy nhấtđể kiểmnghiệm chân lý. V.I. Lênin đã khẳng định vai trò của thực tiễn trong lý luận nhận thức: “Quanđiểmvề đờisống, về thực tiễn, phải là quanđiểmthứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức” [47, tr. 193]. Theo lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi tội phạm xảy ra trên thực tế, con người đều có thể phát hiện, chứng minh được. Cũng theo lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì mọi sự vật đều có thuộc tính phản ánh, vì vậy hoạt động của con người, trong đó các hành vi phạm tội đều để lại dấu vết trong thế giới khách quan. Những dấu vết của hành vi phạm tội cóthể đượcthể hiệndướidạng vật chất như: dấu vết tội phạm tồn tại trên công cụ, phương tiện phạm tội, dấu vân

19

tay của người phạmtội để lại trênhiện trường hoặc được phản ánh, ghi nhận trong trínhớcủa con người, có thể là nạnnhân hayngườikhác. Trên cơ sởviệc thu thập đầyđủ, cóhệ thống các dấuvếtnày, con người có thể nhận thứcđược diễn biến của hành vi phạmtộiđã xảyra. Ngoài ra, điều này còn phảnánh việc thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất nói chung, những dấuvếtmàtộiphạmđể lạitrong thế giới khách quan nói riêngđộc lậpvớiýthức chủquan của những người tiến hành tố tụng. Do đó, đến lượt mình, những người tiến hànhtốtụng chính là chủthể của nhận thức về các vấnđề phải chứng minh trong vụ án hình sự đó, phải tìm ra và làm rõdấuvết của tội phạmđể lại trong thế giới khách quan, qua đó làm sáng tỏ bản chất của vụ án.

* Các quanđiểmtrong khoa học luậttốtụng hình sự hiện nay vềchứng cứ

Hiện nay trong khoa học luậttốtụng hìnhsựvẫncòntồntạinhiều quan điểm khác nhau về chứng cứ:

Quanđiểmthứ nhất của nhà luật học ngườiNga M.A.Trenxôv cho rằng, “chứng cứ là nhữngsự kiện, tình tiết” [148, tr. 134]. Trong khái niệm này, M.A.Trenxôvđã đồngnhất chứngcứvớisựkiện của thực tiễn khách quan đã xảy ra trong quá khứ.

Quan điểm thứ hai của tác giả M.X.Xtrôgôvich về ý nghĩa kép của chứng cứkhi ông cho rằng: “bản thân thuậtngữ”chứng cứ”được sử dụngtrong tố

tụng hìnhsựvớihaiýnghĩa: chứngcứlà nguồn thu thập thông tinđiềutra, xét xử và chứng cứ là sự kiện, tình tiết mà trên cơ sở đó Tòa án rút ra kết luận về những sự kiện khác cần phải làm rõ trong vụ án hình sự” [149, tr. 126].

Quan điểm thứ ba của một số tác giả Giáo trình Luật tố tụng hình sựViệt Nam của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội cho rằng:

Chứng cứ là những sự việc, hiện tượng, những dấu vếtđược Cơ quanđiềutra, Viện kiểm sát, Tòa án thu thậpđược trong quá trìnhđiềutra, xétxửtheo đúng trình tự, thủtục do pháp luật quy

20

định, đểchứng minh có hay không có hành vi nguy hiểm cho xãhội, lỗi của người thực hiện hành vi ấy và những tình tiết khác cóýnghĩa giải quyết đúng đắn vụ án [95, tr. 56].

Quanđiểmthứ tư của các luật gia tưsảnnhấn mạnhsựgiống nhau giữa chứng cứ tố tụng và chứng cứ thông thường:

Chứng cứ tố tụng là những sự kiện thông thường, là những hiện tượng như thế xuất hiện trong đời sống, những sự vật như thế, những conngườinhư thế, những hành vi như thế của con người. Chỉ cầnchúng được đưa vào phạm vi của trình tự tố tụng, trở thành biện pháp để xác định những tình tiết mà cơ quan xét xử và điều tra quan tâm, thì chúng là những chứng cứ tố tụng [2, tr. 353-354].

Quanđiểmthứ năm của TS. ĐỗVănĐươngcho rằng: “Chứngcứlànhững thông tin xác thực về những gì có thật liên quan đến hành vi phạm tội,được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà những người vàcơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án” [35, tr. 30].

Chúng tôi khôngđồngtìnhvớiquanđiểmthứnhất, thứhai, thứba, thứ tư và đồng tình với quan điểm thứ năm, bởi lẽ, các tác giả của bốn quanđiểmđầutiên đã đồng nhất chứng cứvớisự kiện của thực tiễn khách quanđãxảyra trong quá khứ, nhầmlẫngiữa chứng cứ và nguồn chứng cứ. Theo đó, chứng cứ là những thông tin được rút ra từ những sự việc, hiện tượng, những dấu vết được CQĐT, VKS, Tòa án thu thập được trong quá trình điều tra, xét xử theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, để chứng minh có hay không có hành vi nguy hiểm cho xã hội, lỗi của người thực hiện hành vi ấy và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết khách quan và đúngđắnvụán hình sự. Nóimộtcách khác, chứngcứphảiđược rút ra từnguồn chứng cứ, chứbảnthân nguồn chứngcứkhông phải là chứngcứ.Hơn nữa, trước yêucầukhám phá tộiphạm và giải quyếtvụán hìnhsựcó công nghệ

21

cao hiện nayđặtra yêu cầu phải mở rộng nguồn chứng cứ theo hướng: ngoài vậtchứng, lời khai, biên bản các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và các đồvật, tài liệu do cơ quan, tổchức. cá nhân cung cấp, kếtluận giámđịnhthì băng ghi âm, ghi hình và những dấuvết điệntử được thu thập hợp pháp, công khai theo quy định của pháp luật cũng được coi là nguồn chứng cứ. Các băng,đĩa, thẻ điện tử… ghi nhận dấu vết của tội phạm, là công cụ hoặc đối tượng tácđộng của tội phạm được thu giữ có giá trị là vật chứng.

Từsựphân tíchở trên, có thể đưa ra khái niệm chứngcứnhư sau:

Chứngcứ trongtốtụng hìnhsựlà những thông tin có thật,được thu thập theo trình tự, thủtụcdo BLTTHS quy địnhmà CQĐT, VKS và Tòa án dùng làm căncứ để xácđịnhcó hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết khác cầnthiết cho việc giải quyếtđúng đắn và chính xác vụ án hình sự.

Như vậy, trong luật tố tụng hình sự, khái niệm chứng cứ là khái niệm cơbảnvà xuất phát điểm để từ đó xác định những quy phạm khác trong chế định chứngcứvà khái niệm chứngcứlà cơ sởpháp lý quan trọngđể phân biệt chứngcứtrongvụán hìnhsựvớicác tài liệu, đồvậtkhác không có giá trịchứng minh tội phạm và người phạmtội đối vớivụ án. Với bản chất là những thông tin có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, chứngcứđượcCQĐT, VKS và Tòa án, sửdụng làm căncứđể xác địnhcóhay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng nhưcác tình tiết khác cầnthiết cho việc giải quyết đúngđắnvà chính xác vụán hình sự.

1.1.2. Các thuộc tính của chứng cứ

Từ khái niệm chứng cứ đã nêu, căn cứ vào lý luận về chứng cứ, cóthểrút ra ba thuộc tính của chứngcứđã được thừa nhận chung trong khoa học luật tố tụng hình sự, đó là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp.

22

Tuy vậy, cũng trong khoa học pháp lý, còn có quanđiểmkhác của GS.TS. Nh.X. Alếchxâyev khi ông cho rằng: chứng cứ chỉ có hai thuộc tính:

tính liên quan và tính hợp pháp [150, tr. 123]. Chúng tôi không đồng tình với quanđiểmnày, bởi lẽ theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tế khách quan là cơ sở của nhận thức, nhận thức là sự phản ánh thực tế khách quan. Vì vậy, chứng cứđược sử dụng để xác định tội phạm, ngườiphạm tội và những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án, phải tồn tại trong thực tế khách quan, tức là chứngcứphải có tính khách quan. Hơn nữa, tộiphạm bao giờ cũngđể lạidấuvếttrong thực tếkhách quan, đòihỏinhững người tiến hành tố tụng phải tiến hành thu thập và làm rõ.

Thuộc tính thứ nhất: Tính khách quan của chứng cứ

TheoĐạiTừđiểntiếng Việt, khách quan là: “Cáitồntạibên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức của con người” [141, tr. 884]. Chứng cứ là những thông tin có thật, tức là phảitồn tạitrong thực tế khách quan. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, thực tế khách quan là cơ sở của nhận thức, nhận thức là sự phản ánh thực tế khách quan. Chứng cứđược sử dụng làmcăncứđể xác địnhtộiphạm, ngườiphạmtộivà những tình tiết khác cầnthiết cho việc giải quyết đúngđắnvụán hình sự, cho nênđểbảođảmxửlý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, chứngcứphải có tính khách quan. Nếu chứngcứkhôngbảođảmthuộc tính khách quan, việc giải quyếtvụán chắc chắnsẽ dẫntớioan, sai vàđâylà hệquả tấtyếu. Như vậy, tính khách quan của chứngcứchỉsựtồntạiđộc lậpcủa nó trong thực tế khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự.

Tính khách quancủachứngcứcó cơ sở lý luận là nguyên tắc khách quan của chủnghĩa duyvậtbiện chứng. Nguyên tắc khách quan của chủnghĩa duyvậtbiện chứngđòihỏiCQĐT, VKS, Tòa án khi giải quyếtvụán hình sự phải xuất phát từ những thông tin tồn tại trong thực tế khách quan, tôn

23

trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, nóng vội, phiến diện, định kiến, không trung thực, đồngthời phải phát huynỗlực chủquan của nhữngngườitiến hànhtốtụng. Thực tiễn hoạtđộngtốtụng cho thấy, còn nhiều vi phạm nghiêm trọng, xâm phạmđếnquyền và lợiíchhợppháp của công dân cónguyên nhân là do thiếu tôn trọng khách quan, dođịnhkiếnchủquan trong việc xác định tính khách quan của chứng cứ trong vụ án hình sự.

Thuộc tính thứ hai: Tính liên quan của chứng cứ

Những thông tin có thật, tồn tại khách quan, chỉ được coi là chứng cứkhi có liên quanđếnvụán hình sự, khi nó chứng minh cho nhữngvấnđềCQĐT, VKS, Tòa án cần biết, nhưng chưa biết. Chứng cứ dùng làm căncứ đểxácđịnh cóhay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyếtđúng đắnvụ án hình sự, cho nên chứng cứ phải có tính liên quan. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể thu thập được nhiều tài liệu khác nhau và không thể xác địnhđược ngay tính liên quan của tài liệu đó, vìthếcầnthu thập tài liệu một cách rộng rãi, tránh bỏ sót; trên cơ sở những tài liệu thu thập được, đánh giá một cách tổng hợp, tài liệu nào có liên quan đến vụ án và loại bỏ những tài liệu không có liên quan.

Tính liên quan của chứng cứ có cơ sở lý luận là nguyên tắc toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nguyêntắcnàyđòi hỏiCQĐT, VKS, Tòaán khi giải quyếtvụán hình sự, phải xem xét toàn diện các mốiquanhệ cóliên quan đến vụ án, rút ra được những mối quan hệ bản chất, chủ yếuđể làm sángtỏbảnchấtcủavụán. Việc xác địnhtính liên quan của chứngcứphụthuộc vào nhận thức đúng đắn, khách quan, toàn diệncủa ngườitiến hành tốtụngđốivớibảnchấtvụán hìnhsựđể tránh thu thập tài liệumộtcách tràn lan, đồng thời lại không bỏlọt, bỏsót những tài liệu có liên quanđến vụ án hình sự. Đặc biệt, không được áp đặt tính liên quan bằng sự suy luận, suy diễn chủ quan, thiếu căn cứ khoa học của người tiến hành tố tụng trong quá trìnhđánh giá các tài liệu, chứng cứ đã thu thậpđược.

24

Thuộc tính thứ ba: Tính hợp pháp của chứng cứ

Nếunhư tính khách quan và tính liên quan của chứng cứ thể hiện bình diện khách quan, thì tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện bình diện pháp lý.Đâylà thuộc tính pháp lý của chứng cứ, có cơ sở lý luận là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. Tính hợp pháp của chứng cứđược thể hiệnở việc chứngcứđược chứa đựngtrong những nguồn và được thu thập bằng những biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Nguồn chứng cứ được hiểu là nơi, mà từ đó, cơ quan tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng có thể tìm ra chứng cứ trong vụ án hình sự. Biện pháp thu thập chứng cứ là cách thức mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng sử dụng để thu thập chứng cứ. Những tài liệu khôngđược phản ánh từ những nguồn và thu thập bằng những biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định, thì không được coi là chứng cứ. Thuộc tính thứ ba này có ý nghĩa phân biệt chứng cứ với những tài liệu có chứa đựng thông tin vềtội phạm thu thập được bằng những biện pháp nghiệp vụ của cơ quan Công an.

Như vậy, ba thuộc tính của chứng cứ nói trên có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau. Tính khách quan là tiền đề của tính hợp pháp, tính liên quan; tính liên quan tại tiền đề bảo đảm tính hợp pháp, tính khách quan; tính hợp pháp là cơ sở pháp lý của tính khách quan và tính liên quan. Hay nói cách khác, nếu xét riêng trong quan hệ nội tại cụ thể thì hai thuộc tính khách quan và liên quan thuộc về nội dung của chứng cứ, còn thuộc tính hợp pháp lạithuộc về hình thức của chứng cứ. Cho nên, chứng cứ phải là sự thống nhất củaba thuộc tính, thỏa mãnđầyđủba thuộc tính, nếuthiếumộttrong ba thuộc tính, thì không được công nhận là chứng cứ.

1.1.3. Phân loại chứng cứ

Trong mối quan hệ với đối tượng chứng minh, các chứng cứ có vị tríkhông giống nhau, dođược phản ánhtừnhững nguồn khác nhau hoặc cóýnghĩa chứng minh khác nhau. Vì vậy, cần phân loại chứng cứ thành các nhóm

25

khác nhau theo một trật tự nhất định để nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau và giúp cơ quan tiến hànhtốtụng cóđịnhhướngđúng trong việc phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Ph.Ăngghen cho rằng, phân loại khoa học là sự sắp xếp các hiện tượng được nghiên cứu theo trật tự bên trong nhất định. Như vậy, dưới góc độ khoa học, phân loại chứng cứ là việc chia chứng cứ thành các nhóm khác nhau dựa trên cơ sở những căn cứ (tiêu chí) xác định nhằm thực hiện những mục đích nhất định.

Phân loại theo căn cứ nào cho hợp lý là phụ thuộc vào mục đích của sựphân loại, chứ không nhất thiết phải trên cơ sở mộtcăncứnhấtđịnh.Do đó, dướigócđộchung, có thể phân loại chứngcứtheomộtsốtiêu chí nhấtđịnh dưới đây.

Một là, trên cơ sở tiêu chí nội dung mối quan hệ vớisự kiệnchủ yếu của đối tượng chứng minh, chứng cứđượcphân loại thành chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp.

TheoĐạitừđiểnTiếng Việt, sựkiện là: “sự việc quan trọngđãxảy ra” [141, tr. 884], còn tình tiết là: “sự việcnhỏ có quan hệ chặt chẽ trong diễn biếncủacâu chuyện” [141, tr. 1649]. Trongvụán hình sự, sựkiệnchủyếu của đối tượng chứng minh là hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm -đâylà những vấn đề thuộc về bản chất vụ án [19, tr. 177] – vì nếu không có sựviệc phạmtộivà không cóngườithực hiệntộiphạm, thìđâylà mộttrong những căn cứ không được khởitố vụ ánhình sự; những sự việc khác có mối quanhệ chặtchẽ với sự kiện chủ yếucủa đối tượng chứng minh như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự… là những tình tiết của vụ án.

Chứng cứ trực tiếp là chứng cứ xác định sự kiện chủ yếu của đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự, đó là hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm, nói cách khác,chỉ ra đượcnhững dấu hiệu có ý nghĩa pháp lý hình sự. Chứngcứtrực tiếp có thể được thu thậptừbấtcứnguồn chứngcứnào do

26

pháp luậttốtụng hìnhsựquy định. Cũng như các chứngcứkhác, chứngcứtrực tiếp cũng cần được phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng theođúng quy định của pháp luật. Ví dụ từ thời La Mãcổđại:”Khi anh nhìn thấy một ngườicầmmột con dao dí sát ngực của người bị giết, đừng vội nói người cầmdao đó là kẻ giết người. Biết đâu, ngườiđó đếnđể rút con dao đâm vào ngực người bị giết thì sao” [150, tr. 135].

Chứng cứ trực tiếp có thể là chứng cứ buộc tội, cũng có thể là chứng cứ gỡ tội, chứng cứ gốc hoặc chứng cứ sao lại.

Chứng cứ gián tiếp là chứng cứ không trực tiếp xác định sự kiện chủ yếu của đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự, không chỉ ra được hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm, nói cách khác, không chỉ ra được những dấu hiệu có ý nghĩa pháp lý hình sự, mà chỉ có thể xác định được những tình tiết khác cầnthiết cho việc giải quyết vụ án hình sự. Mặc dù chứng cứ gián tiếp không là cơ sở làm sángtỏnhữngvấnđề thuộc về bảnchấtvụán [19, tr. 177], nhưng chứng cứ gián tiếp không phải là “chứng cứ loại hai“, mà được coi làphương tiện có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình chứng minh.

Đề cập ý nghĩa của chứng cứ gián tiếp, GS.TS. người Nga A.Ph. Konhi cho rằng:

Chứng cứ gián tiếp có ý nghĩa đặc biệt chính là do được củng cố, khẳng định, liênkếtvớinhau. Những thông tin mang tính chấtđơn lẻ, thứ yếuđược côđọng xung quanh các giả thuyết về việc cóhay không cótộiphạm cũng nhưlỗicủamộtngười,dầndầnbiến những nghi ngờ riêng biệt thành giả thuyết có tính chất khả năng vàsau đó cung cấp cho nó những dấu hiệu đáng tin cậy [150, tr. 136].

Chúng tôi đồng tình với quan điểm của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí vềvai trò, ý nghĩa của chứng cứ gián tiếp:

Chứng cứ gián tiếp không làm sáng tỏ được những nội dung về sựviệc phạmtộivà ngườithực hiệntộiphạm, nhưngnếukết

27

hợpcác chứngcứgián tiếpvớinhau hoặc kếthợpchứngcứgián tiếpvớichứngcứkhác, thì cơ quan tiến hànhtốtụng cóthểbiếtđược tình tiết diễn biến của vụ án [19, tr. 178].

Nóimộtcách khác, chứngcứgián tiếp phảiđượcxem xétmộtcách tổng thể với những chứng cứ khác trong vụ án, tổng hợp những chứng cứ gián tiếp có thể được sử dụng làm căncứ để xác định về những sự kiệncó ý nghĩa pháp lý hình sự. ýnghĩa của chứngcứgián tiếpphụthuộc vào vị trí, vai tròcủa nó trong hệ thống các chứng cứ và mối liên hệ với những chứng cứ khác. Vì vậy, phải có một hệ thống các chứng cứ gián tiếp, chứ không phải một vài chứngcứgián tiếprờirạc, không cómốiliênhệ vớinhau. Thực tiễn giải quyếtvụán hìnhsựcho thấy, chứngcứgián tiếp thườngdễ phát hiện hơn chứng cứ trực tiếp, từ chứng cứ gián tiếp có thể tìm ra chứng cứ trực tiếp.

Để xác định tính có liên quan của chứng cứ gián tiếp, phải làm rõ mối liên hệ của chứng cứ gián tiếp với những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự. Mốiliênhệ giữa các chứngcứgián tiếp phảiđược xâu chuỗi thành các mắt xích theo chiều ngang và theo chiều dọc với những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự.

Hai là, trên cơ sở tiêu chí ý nghĩa chứng minh của chứng cứ, chứng cứđược phân loại thành chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội.

Chứng cứ buộc tội là chứng cứ xác định một người thực hiện hành vi phạmtộivà những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hìnhsựcủa ngườiđó. Chứng cứ gỡtội là chứng cứ xác định không có sự kiện phạm tội hoặc hành vi của một người không cấu thành tội phạm, cũng như xác định những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hìnhsự của ngườiđó.

Để giải quyếtvụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện, đầyđủ, có căn cứ và đúng pháp luật, bên cạnh việc thu thập các chứng cứ buộc tội, cơquan tiến hành tố tụng còn phải thu thập các chứng cứgỡ tội.

28

Ba là, trên cơ sở tiêu chí về nguồn phản ánh của chứng cứ, chứng cứđược phân loại thành chứng cứ gốc và chứng cứ sao lại, thuật lại.

Chứng cứ gốc là chứng cứ được phản ánh từ nguồn đầu tiên, trực tiếp, không qua khâu trung gian, ở những nguồn đầu tiên này, chứng cứ phản ánh những tình tiết khách quancủavụán, được quan sát, ghi nhận trực tiếp. Chứng cứ gốc thường có độ tin cậy cao, vì được phản ánh từ nguồn trực tiếp, nên cần chú ý thu thập loại chứng cứ này.

Chứng cứ sao lại, thuật lại là chứng cứ không được phản ánh từ nguồnđầutiên, mà được phản ánh qua khâu trung gian. Đâylà những trường hợp, thông tin về những tình tiết khách quan của vụ án không phải được quan sát, ghi nhận trực tiếp, không phảiđược phảnánh từ nguồn đầu tiên, mà qua khâu trung gian. Nhìn chung, các nhà tố tụng hình sự học có quan điểm thống nhất về việc chứng cứ gốc có độ tin cậy cao hơn so với chứng cứ sao lại, thuật lại. Chúng tôi đồng tình với quan điểm của GS.TS người Nga A.I. Vưsinxki: “Mứcđộxác thực và đáng tincậycủa chứngcứsao lại, thuậtlạitỉlệ nghịch với khoảng cách xa gầngiữa chúngvớiđốitượngchứng minhchủyếu(factum probandum), khoảng cách ấy càng lớn, thì sự xác thực ấy càng nhỏ” [2. tr. 406]. Chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm tương tự của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí: “Chứng cứ gốc và chứng cứ sao lại, thuật lại đều có giá trị chứng minh, nhưng độ tin cậy của chứng cứ gốc cao hơn” [19, tr. 179]. Vì vậy, khi thu thập chứngcứsao lại, thuật lại, cầnkiểm tra,đốichiếuvớichứngcứgốc. Tuy nhiên, không nênđồngnhất chứngcứgốc vớichứngcứtrực tiếp,bởilẽ cónhững chứng cứ gốc là chứng cứ gián tiếp hoặc ngược lại chứng cứ saolạilàchứng cứ trực tiếp.

Trong pháp luật tố tụng hình sự của nước Anh, chứng cứ sao lại, thuật lạiđược gọi là chứng cứtừ bàn tay thứ hai hay chứng cứ nghe nói lại (second hand evidence hay hearsay evidence); loại chứngcứnàybịcho là không

chính xác [2, tr. 406]. Chúng tôi khôngđồngtìnhvớiquanđiểmnày, bởilẽ

29

chứng cứ saolạicó giá trị chứng minh nhất định trong vụ án hình sự, đặc biệt nhờ có chứng cứ sao lại, cơ quan tiến hành tố tụng có thể phát hiện hoặc kiểm tra chứng cứ gốc.

Trong lý luận chứngcứhình thức tư sản, trên cơ sở tiêu chí mức độhoàn thiện của chứng cứ, chứng cứ được phân loại thành: chứng cứ hoàn thiện và chứng cứ không hoàn thiện. Trêncơ sở tiêu chí mức độ đầyđủ của chứng cứ, chứngcứđược phân loại thành: chứngcứđầyđủ(plena probatio) vàchứng cứ kémđầyđủ (minus plena probatio), chứng cứđầyđủ trên một nửa (semi plena major) và chứngcứđầyđủdướimộtnửa (semi plena minor). Theo lý luận chứng cứ hình thức tư sản, nhiều chứng cứ không đầyđủ có thểtạothành một chứng cứ đầy đủ.

Đặc biệt, trước đây, nhà luật học tưsảnHêlie còn có cách phân loại chứng cứ khác như chia chúng thành: chứng cứ hoàn toàn và chứng cứ không hoàn toàn, chứng cứ hoàn toàn một nửa (semi plein), chứng cứ rõ rệt (manifestes), chứng cứ quan trọng (considérables), chứng cứ hiện thực (réelles), chứng cứsuy đoán (présomptions), chứngcứkhẳngđịnh(affirmatives) và chứngcứphủ định (négatives) [2, tr. 122]. Tuy vậy, là cách phân loại tương đối độc lập, song cách phân loại này còn mang nặng tính hình thức, chưa làm rõđược bản chất pháp lý và nội hàm của từng loại chứng cứ.

1.1.4. Nguồn chứng cứ

Như đã đề cập, nếu như tính khách quan và tính liên quan của chứng cứthể hiện bình diện khách quan, thì tínhhợpphápcủachứngcứthểhiện bình diện pháp lý. Thuộc tính này của chứngcứđượcthể hiệnở việc chứng cứđược chứađựngtrong những nguồn và được thu thập bằng những biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Hiện nay, trongmộtsốsách báo pháp lý của nướcta, do khái niệm “nguồn chứngcứ” chưa được làm sángtỏ,nên việc sửdụngcụmtừ”nguồn chứng cứ” chưa thống nhất.

30

Có quan điểm cho rằng: “Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng cứ, tức chứađựngcác thông tin, tư liệutồntạitrong thực tế khách quan, liên quan đến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quyđịnh“, đồng thời nêu trong khoa học luật tố tụng hình sự, nguồn chứng cứ thườngđược gọi bằng thuật ngữ khác là “phương tiện chứng minh” [72, tr. 166]. Chúng tôi cho rằng, khái niệm nguồn chứngcứnhư quanđiểmnày là hợplý, tuy nhiên, nếu coi việc sử dụng cụm từ “phương tiện chứng minh” thay cho cụm từ”nguồn chứngcứ” là chưa chính xác. Bởilẽ,khái niệm nguồn chứngcứkhôngđồngnhấtvớikhái niệm phương tiện chứng minh. Nếunhư nguồn chứngcứđược hiểu là nơi, mà từđó, cơ quan tiến hànhtốtụng cũng nhưngườitiến hànhtốtụng có thể tìm ra chứngcứtrongvụán hình sự, thìphương tiện chứng minh được hiểu là chứng cứ được chủ thể sử dụng để chứng minh. Do đó, lôgíc là, chứng cứmớiđược coi là phương tiện chứng minh, còn nguồn chứngcứkhông thể là phương tiện chứng minh, mà chỉlà nơi, mà từđó có thể tìm ra đối tượng được chủ thể sử dụngđể chứng minh mà thôi.

Có quan điểmlạicho rằng: “Nguồn chứng cứ là những hình thức biểu hiện sự tồn tạicủa chứng cứ, được quy định bởi các quy phạm pháp luật, màtừ đó có thể rút ra được chứng cứ” [74, tr. 59]. Quanđiểmnày cũng có nhân tố hợplý, xem xét nguồn chứng cứ dưới haigóc độ:Một là, nguồn chứng cứlà hình thức biểu hiện của chứng cứ; hai là, nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ, từ đó có thể rút ra được chứng cứ, để chứng minh làm rõbảnchất, sự thật khách quan của vụ án.

Gần đây, có quan điểm khác nêu: “Nguồn chứng cứ được hiểu là nơi, mà từđó, các cơ quan tiến hành tố tụng rút ra chứng cứ trong vụ án hình sự” [5, tr. 142]. Quanđiểmnày cũng tươngđốihợplý khiđã phân biệtđượcchứngcứvànguồn chứng cứ, chứng cứ được rút ra từ nguồn chứng cứ, song chưa thể hiện rõ, việc các cơ quan tiến hành tố tụng rút ra chứng cứphải bảo đảmtuânthủtheo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

31

Từsựphân tíchởtrên, có thể đưa ra khái niệm nguồn chứngcứnhưsau: Nguồn chứngcứlà nơi cungcấpnhững tài liệu quan trọng, màtừđó, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể rút ra chứng cứ có giá trị chứng minh sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, việc nhận thức đúngđắnkhái niệm nguồn chứngcứcóýnghĩa hết sức quan trọng, bởi lẽ ngoài các loại nguồn chứng cứ do pháp luật quy định, các cơ quan tiến hành tố tụng không thể thu thập chứng cứ từ bất cứnguồn nào khác để làm căncứxác địnhcó hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúngđắnvụán hình sự. Nóimộtcách khác, nếukhông tìmđược nguồn chứngcứsẽ không thể có chứngcứgiải thích, làm sángtỏcác tình tiết và diễn biến của vụ án, kéo theohậuquả là các cơ quan tiến hành tốtụng sẽ đưa ra những kết luận không đúng, không chính xác và không đầyđủđối vớivụ án hình sự.

Có những loại nguồn chứng cứ sau đây:

* Vật chứng

Trong Công vănsố98-NCPL ngày 02/3/1974 của TANDTCgửicho các Tòa án địa phương, đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm vật chứng:

Vậtchứng là nhữngvậtmà kẻphạmtộiđãdùngđể thực hiện tội phạm như: hung khí dùng để giết người, búa kìm dùng phá cửa, cạy tủ, điện đài, truyền đơn, con dấu giả hoặc những vật mà kẻ phạmtộilấyđược do việc phạm tội, hoặc nhữngvậtcủa kẻ phạm

tộiđánh rơi, bỏquêntạihiện trường. Nhữngvậtnày do Cơ quanđiềutrađã thu thậpđược và thườngđược bịcáo xác nhận là vật chứng trongvụán. Cầnphân biệtvậtchứngvớinhững tàisảnmàCơ quan điều tra kê biênvà giữ lại để bảođảmcho việc thi hành án vì những vật chứng mới là những tài liệu dùng làm căncứcho việc xét xử tội phạm của bị cáo [84, tr. 75].

32

Trong khái niệm này, những vật cụ thể được gọi là vật chứng được liệt kê, nhưng chưa đầy đủ, mức độ khái quát chưa cao. Vì vậy, có thể đưa ra khái niệmvậtchứng như sau:Vậtchứng là vậtđược dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vậtlà đối tượng của tội phạmcũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và ngườiphạm tội. Vật chứng có những đặc trưng cơ bản như sau:

Thứ nhất, vậtchứngtồntạidướidạngvậtthể, có thể ở thể rắn, thểlỏng hoặc thể khí. Do tồn tạidưới dạng vậtthể, vật chứng có thể bị các yếutốtựnhiên tác độnglàm thayđổi, biến dạng hoặc bịhủyhoại, cho nên các cơquan tiến hành tố tụng cần chú ý trong quá trình phát hiện, thu giữ, bảo quản và xử lý vật chứng;

Thứ hai, vật chứng chứa đựng thông tin về những vấn đề phải chứng minh trongvụán hình sự, cũng như những tình tiết khác cầnthiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án;

Thứ ba, vậtchứngđược các cơ quan tiến hànhtốtụng thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định [75, tr. 107].

Do vật chứng là một dạng vật chất, cho nênvậtchứng phải được thu thập, bảoquản, tránh hư hỏng, mấtmát. Biênbảnthu thậpvậtchứng phảiđược ghi nhận và mô tả tỉ mỉ đặc điểmvề màu sắc, khối lượng, trọng lượng, hình dáng, những dấu vết của tội phạmđể lại trênvật chứng, nơi tìm thấy vật chứng hoặc người cung cấp vật chứng.

*Lờikhaicủangườibịbắt, bịtạmgiữ, bịcan, bịcáo, ngườilàm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án

– Lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ. Lời khaicủa ngườibị bắt, bịtạm giữ là sự trình bày bằng miệng của ngườibị bắttrong trường hợp khẩn

cấphoặc phạm tội quả tang và của ngườibị bắttrong hai trường hợp này và đốivớihọđãcó quyếtđịnhtạmgiữ, nhưng chưa bịkhởi tố, vềnhững tình

33

tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm,đượcthực hiện trước các cơ quan tiến hành tố tụng, theo thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quyđịnh. Lờikhaicủa người bị bắt, bị tạm giữ đề cập việcngườiđó bị nghi thực hiện tội phạm hoặc về tội phạm do người đó thực hiện, cho nên đây là nguồn chứng cứ quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng bướcđầuxác định tính chất hành vi phạm tội, để có căn cứ ra các quyết định tố tụng khác nhưkhởitốbịcan, áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tựdo cho người bị tạm giữ.

-Lờikhaicủabịcan, bịcáo. Lờikhai của bịcan, bịcáo là sựtrình bày bằng miệng của bị can, bị cáo về những vấn đề phải chứng minh trong vụán hình sự, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyếtđúng đắn vụán, được thực hiện trước cơ quan tiến hành tố tụng, theothủtục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Lời khai của bị can, bị cáo là nguồn chứng cứ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúp cơ quan tiến hànhtốtụng trong việc làm sángtỏvụán, bởilẽ bịcan, bị cáo là người biết rõ hơn aihếtmình có thực hiện tội phạm hay không và nếucó thực hiệntộiphạm, biết rõvề các tình tiếtcầnthiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bị can, bị cáo có thể khaivềtấtcảcác tình tiết của vụ án. Bị can, bị cáo có thể nhận tội hoặc kêu oan và cảhai nội dung nàyđềucó ý nghĩa chứng minh. Nếu bị can, bị cáo kêu oan, thìcầnphải kiểm tra, đối chiếu để xác định sự thật, không được bỏ qua hoặc xem nhẹ. Nếu bị can, bị cáo nhận tội, thì họ phải trình bàycụthể về diễn biến của tội phạm, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội, mục đích, động cơ phạm tội và về những người khác cùng với họ thực hiện tội phạm. Khi xem xét lời khai của bịcan, bịcáo, cầnthận trọng, khách quan trong việc kiểm tra, đối chiếu với những chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo là chứng cứ duy nhấtđể kếttội.

34

– Lời khai của người làm chứng. Lờikhaicủa ngườilàm chứng là sựtrình bày bằng miệng của người làm chứng về những gì họ biết về vụ án, nhân thân của bị can, bị cáo, người bị hại, quan hệ của người làm chứng với bị can, bị cáo, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi do người tiến hành tốtụngđặtra đốivớingườilàm chứng, được thực hiện trước các cơ quan tiến hành tố tụng, theo thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Ngườilàm chứng là người chứng kiến diễn biến của vụ án, những sựkiện khách quancủa vụ ánđược ghi nhận, phản ánh trong trí nhớ của họ. Cơquan tiến hành tố tụng thông qua lời khai của người làmchứng để biết về sựthật khách quancủavụán, cho nênlờikhaicủangườilàm chứng là nguồn chứng cứ quan trọng. Người làm chứng thông thường không có quyền và lợiích liên quan đến vụ án, nhưng họ không thể thờ ơ, không cung cấp thông tin về vụ án cho cơ quan tiến hành tố tụng, mà họ phải có nghĩa vụ khai báo đúng sự thật, nếu từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối, thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Nộidunglờikhaicủangườilàm chứng cóthểphản ánhvề sựviệc phạm tội, người thực hiện tội phạm, những diễn biến thực tế của vụ án như thời gian, phương pháp, thủđoạn, phương tiện thực hiệntộiphạm… Ngườilàm chứng còn có thể cung cấp thông tin về nhân thân của bị can, bị cáo, người bịhại. Khi lấylờikhai người làm chứng, người tiến hành tố tụng phải hỏi rõ các tình tiết của nội dung mà người làm chứng biết, họ biết trực tiếp sự việc hay do người khác nói lại. Không được dùng làm chứng cứ những thông tin do người làm chứng trình bày,nếuhọkhôngthểnói rõ vì saohọbiết tình tiếtđó.Do nhữngsựkiện khách quan của vụánđược ghi nhận trong trí nhớ của người làm chứng, cho nên quá trình lấylờikhai người làm chứng, cần xác định tình trạng thể chất và tinh thần, xem họ có đủ khả năng nhận thức, ghi nhớ những tình tiết liên quanđến vụ ánhay không. Lời khai của người làm chứng trong nhiều trường hợp có mâu thuẫn do việc lĩnh hội của người làm chứng đối với sựviệc phạm tội và các tình tiết khác của vụ ánrấtkhác nhau. Cho dù người làm chứng thành thật, nhưng do óc quan sát và trí nhớ kém vẫn có thể phản ánh sai

35

với sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, chứng cứ rút ra từ lời khai của người làm chứng chỉ có giá trị chứng minh nếu bảo đảm các thuộc tính của chứng cứ. Trườnghợpchứngcứtừlờikhai của ngườilàm chứng không phùhợpvới những chứng cứ khác mà cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được, thì phải làm rõ nguyên nhân của sự mâu thuẫn, để xác định sự thật khách quan của vụ án.

– Lời khai của người bị hại. Lờikhaicủa người bị hạilà sự trình bày bằng miệng của người bị hại về những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án hình sự, về quan hệ giữa họ với người bị bắt, ngườibị tạmgiữ, bị can, bị cáo, được thực hiện trước cơ quan tiến hànhtốtụng, theothủtục do pháp luậttốtụng hình sự quy định. Lời khai của người bị hại được quy định là nguồn chứng cứđộc lập, bởi lẽ nó có đặcđiểm riêng, khác với các nguồn chứng cứ khác.

Ngườibị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sảndo tội phạm gây ra, cho nên thông thường họ nắmđược những đặc điểm về ngườiphạm tội, phương tiện, công cụ phạm tội, tài sản bị xâm hại…, vì vậy lờikhai của người bị hại có ý nghĩa quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Bản thân người bị hại là người bị thiệt hại, cho nên họmong muốn nhanh chóng làm rõ vụ án. Tuy nhiên, về mặt tâm lý, ngườibị hại thường khai tăng thiệt hại so với thực tế hoặc do căm tức người phạmtội, bịkíchđộngthần kinh, cho nên cungcấpthông tin không chính xác về người phạm tội. Vì vậy, chứng cứ rút ra từ lời khaicủa người bị hạicũng cần phảiđược kiểm tra, đối chiếu với các chứng cứ khác trong vụ án.

– Lời khai của nguyên đơn dân sự. Lờikhai của nguyênđơndân sự làsự trình bày bằng miệng về những tình tiết có liên quan đến vụ án hình sự của cá nhân, đại diện hợp pháp của cơ quan hoặc tổ chức bị thiệt hại về vật chất dotộiphạm gây ra và cóđơnyêucầubồithường thiệt hại, được thực hiện trước các cơ quan tiến hành tố tụng, theo thủ tục do pháp luật tố tụng hình sựquy định. Lời khai của nguyênđơndân sự đề cập những tình tiết có liên quanđến yêucầu bồi thường thiệthạivề vậtchất, cho nên đây là nguồn chứng cứ

36

quan trọng, giúp các cơ quan tiến hànhtốtụng làm sángtỏhậuquảcủa tội phạm. Việc pháp luậttố tụnghìnhsựquyđịnhlờikhai của nguyênđơndân sự là một nguồn chứng cứ độc lập, thể hiện sự tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyênđơndân sự trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, khi lấylờikhai của nguyên đơn dânsự, cầnchú ý tính có căncứvà tính hợp lý trong đề nghịcủa họ về việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra để bảođảmđúng pháp luật.

-Lờikhaicủabịđơndân sự. Lờikhai của bịđơndânsựlà sựtrình bày bằng miệng về những tình tiết có liên quan đến vụ án, mối quan hệ giữa họ với bị can, bị cáo của cá nhân, đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức màpháp luật quyđịnhphải chịu trách nhiệmvậtchấtđốivớithiệthạido tội phạm gây ra, được thực hiện trước các cơ quan tiến hành tố tụng, theo thủ tục do pháp luậttốtụng hìnhsựquy định. Lờikhai của bịđơndânsựđề cập những tình tiết có liên quan việc bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra, cho nên đây cũng là nguồn chứng cứ quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ hậu quả của tội phạm. Việc pháp luật tố tụng hình sự quy định lời khai của bị đơn dân sự là một nguồn chứng cứ độc lập, thể hiện sự tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn dân sự trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, xétvề mặttâm lý, bị đơn dân sự thông thường muốn mức bồi thường thiệt hại thấp hơn sovớithực tế, cho nênlờikhai của bịđơndânsựphảiđược kiểm tra, xác minh và những tình tiết do bị đơn dân sự trình bày sẽ không được coi là chứng cứ, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.

– Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanđếnvụ án là người không tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc có tham gia vào việc thực hiện tội phạm mà chưa tới mức bịtruycứutrách nhiệm hìnhsựhoặc được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tội phạm. Lời khai của của người có quyền lợi, nghĩa vụliên quanđếnvụán là sựtrình bày bằng miệngvề

37

những tình tiết trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong vụán hình sự, mối quan hệ giữa họ với bị can, bị cáo, được thực hiện trước các cơ quan tiến hành tố tụng, theo thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Lờikhai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanđến vụ ánđề cập những tình tiếtvề việc tài sản, quyềnlợicủa họcó liên quanđếntộiphạm, cho nên đây là nguồn chứng cứ quan trọng, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ những tình tiết cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.

Dongườicó quyền lợi, nghĩa vụliên quanđếnvụán có quyền lợi, nghĩa vụ phải được Tòa án xử lý, nênvềmặttâm lý, họ thường tìm cáchđổtrách nhiệm cho bị can, bị cáo hoặc đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan, cho nên các cơ quan tiến hành tố tụng phải kiểm tra, so sánh đối chiếu lời khai của họ với những chứng cứ khác trong vụ án hình sự.

* Kết luận giám định

Kếtluận giámđịnhlà kếtquả nghiêncứucủa giámđịnhviên hoặc người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực chuyên môn cần giámđịnh, được thểhiện bằng vănbảnvề nhữngvấnđề do cơ quan tiến hànhtốtụng trưng cầu theo thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Trong nhiềuvụán phức tạp, để góp phần làm sángtỏsựthật khách quancủavụán, việc giámđịnhcủa giám định viên hoặc người có kiến thức cầnthiết về lĩnh vực chuyên môn cần giám định, được các cơ quan tiến hành tốtụng trưngcầuđốivớicác vấnđề phát sinh trongvụán, là điềurấtcần thiết. Thực tiễnđiềutra, truy tố, xétxửcho thấy, không ít trường hợp, nếu không có kết luận giám định, thì không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự như giámđịnh tỷ lệ thương tật ngườibị hại, giám định pháp y tâmthần đối tượng mắc bệnh tâm thần gây chết người…

Ngườigiám định cần đem kiến thức khoa học của mình để tìm hiểu vàxác định những vấn đề do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu nêu ra. Người giám

38

định chỉ kết luận về mặt khoa học hay là về mặt chuyên môn của vấn đề được nêu ra mà không tham gia phát biểu ý kiến về việc bị can, bị cáo có tội hay không.

* Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án

Biênbảnvềhoạtđộngđiềutra, xétxửlà vănbảnpháp lý ghi nhận hoạt động điều tra, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng được theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Đối với mỗi hoạtđộng tố tụng cụ thể, pháp luậttốtụng hìnhsựđềucó quyđịnhphảilậpbiên bản: biênbảnbắt người, giao, nhận người bị bắt; biênbảnhỏi cung bị can, biênbảnghi lời khai người làm chứng, người bị hại; biênbảnđối chất, nhận dạng; biên bản khám nghiệm hiện trường, khám xét, thu giữ, kê biên tài sản; biên bản phiên tòa… Nhữngnộidungbắtbuộc củamộtbiênbảnghi nhận các hoạtđộngtốtụng,đó là: địa điểm, ngày, giờ, tháng, năm, tiến hành tố tụng, thời gianbắt đầu vàthời giankếtthúc, nộidung các hoạtđộngtốtụng, nhữngngườitiến hành, tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động tố tụng, những khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ. Biên bản ghi nhận hoạt động tố tụng hình sự phải có chữký của những người mà pháp luật quy định mới có giá trị pháp lý, mớiđược coi là nguồn chứng cứ; những chỗ sửa chữa, bổ sung, xóa bỏ trong biên bản phải được xác nhận bằng chữ ký của những người phải ký vào biên bản.

Các tài liệu, đồvậtkhác trongvụán là những vănbảnpháp lý, vật chứa đựng những thông tin về những tình tiết có liên quanđếnvụ án hình sựdo cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng. Các tài liệu có thể là sổ sách, hóa đơn, chứng từ, những số liệu, báo cáo có liên quanđến vụ án hình sự… Các đồ vật khác có thể là cácmẫuvật cùng loại với công cụ, phương tiện phạm tội, đối tượng tác động của tội phạm, những đồ vật màngười phạm tội sử dụng trong công tác có liên quan đến vụ án… Những tình tiết có liên quanđến vụ ánđược ghi nhận trong các tài liệu, cũng như các đồvậtnày có thể được coi là chứng cứ.

39

1.2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CHỨNG CỨ

Chứng cứ là phương tiện để chứng minh tội phạm, cho nên nó xuất hiện cùng với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong những giai đoạn của lịch sử nước ta, quan niệm về chứng cứ đã từng bước được hình thành và phát triển.

1.2.1. Chứng cứ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

* Trong lịchsử lậppháptố tụnghình sự nước taBộluật HồngĐức- Bộluật chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê (1428-1788), đãđề cậpđến chứngcứtạicác điều 664, 665, 666, 667, 668, 669, 670. Bộ luậtđã chỉ ra được nguồn của chứng cứ baogồm lờikhai của người làm chứng, bịcan, bịcáo và phương pháp thu thập chứngcứlà lấylờikhaingườilàm chứng, hỏi cung bị can, đối chất…

Điều666 Bộ luật Hồng Đức quy định:

Khilấykhẩu cung phải xétkỹtheolờicung xưngđầutiên của ngườitù khai về kẻ đồng bọn, nếu cần bắt những người bị xưng ra thì phải làm tờ tâu lên xin bắt mớiđược bắt. Nếudùng lời phản cung của tù nhân khai thêm người khác, mà quan tra án, cũng nghe theo, thìsẽ bịphạt. Nếuchưa cho phép mà quan tra ánđã sai bắt nhữngkẻ bịcung xưng thìxửtộinhư luậtđã định. Nếungườitùxưng bậy chongườivô tội, thì bị xử thêm tội là vu cáo [70, tr. 226].

Quy định này tiến bộ ở chỗ nó quy định trách nhiệm hình sự về tội vu cáođối vớibị cáo, có lời khai cố ý sai sự thậtđối với ngườivô tội.

Điều668 Bộ luật Hồng Đức còn quy định:

Các hình quan tra hỏitù phạm, trước hếttheosựtình màthẩm xétlờilẽ củatù khai;nếuxét đi xét lại, còn chưa quyếtđịnhđược tội, cần phải tra hỏi nữa, thì lập hội đồng các quan án, rồi mới tra khảo, trái luật này thì xử phạt 60 trượng. Nếu tang chứng đã rõ

40

ràng, tình lý không còn đáng ngờ nữa, thì dù kẻ phạm không nhận tội, cũng cứ chiếu tình trạng mà định ấn [70, tr. 227].

Như vậy, trong Bộ luậtHồng Đức chứng cứđể giải quyếtvụ án hình sự không phải chỉ dựa trên nguồn duy nhất là lời khai của bị can, bị cáo, màcòndựatrên các nguồn chứngcứkhác là vậtchứng, lờikhai của ngườilàm chứng, ngườibịhại… Điềunàythểhiệnkỹthuậtlậppháp caovề chứngcứcủa Bộ luật Hồng Đức.

Điều 714 Bộ luật Hồng Đức đã lần đầu tiên quy định về người làm chứng:

Nhữngngườilàm chứng trong việc kiện tụngnếuxét ra ngày thường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay có thù oán, thìkhông cho phép ra làm chứng. Nếunhữngngườiấygiấu giếm ra làm chứng, thì khép vàotộikhông nói đúngsựthực. Hình quan, ngục quan biết mà dung túng việc đó đều bị tội [70, tr. 242].

* Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) mặc dù chịu ảnh hưởng của Luật Thanh Triều khá nặng nề, nhưng nhiềuđiềuluật, trongđócó các điềuluật quy định về chứng cứvẫntiếp thu, kế thừa những giá trịđặc sắc của Bộluật HồngĐức nhưĐiều369 -Ngườigià, trẻem khôngđược tra tấn- quyđịnh:

“Phàmngườiđược bátnghị (được ưu tiên vì Lễ) và trên 70 tuổi (xót thương ngườigià), 15 tuổi trở xuống (vì lòng yêumếntrẻ), nếutàn phế (thươngkẻtàn phế) nhưng có phạm tội thì quan ti không được dùng hình phạt tra khảo, chỉ căn cứ vào các bằng cớ mà định tội” [42, tr. 981].

Đáng chú ý, thủ tục khám nghiệm tử thi được quy định tại Điều 377 – Xét nghiệm xác chết bị thương không đúng sự thật:

Phàm quan tigiữviệc xét nghiệm thây chết (vìbịthương) được giấygởimờiđi mà thối thác, dây dưa không đi xét nghiệm ngayđểđếnnỗithây biến dạng. Và cóđếnxét nghiệm nhưng không đích thânđếnngay chỗ thây chết để xét xem, lại ủy cho lại

41

tốtlàm (rồiứcđoán thêmbớtvếtthương kia). Nếulầnđầuxét qua, rồi đến phúc nghiệm, quan lại cùng thấy mà thông đồng nhau vềtrạng tháicủathây chết. Và tuy đích thân cóđếnxem xét, nhưnglạikhông dụng tâm xét nghiệm, lạiđổi dời(như nãosọ mànói là đầu) nặng nhẹ, (nhưvốnnhẹ bảolà nặng, vốnnặngbảolà nhẹ) thêmbớt(như ít mà thêm nhiều, có giảm mà nói không).Sựxét thây chếtbịthương này không đúngsựthật là dođịnhchấp nhằmhạingười, đến nỗi căn do đưa đến chết cũng mập mờ. Trường hợp này, chính quan bị phạt 60 trượng, quan thủ lãnh 70 trượng, lạiđiển 80 trượng [42, tr. 1009-1010].

Quốc triều khám tụng điều lệ được ban hành năm 1777, dưới thời Vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786), đã đề cậpviệc thu thập chứngcứthông qua khám xét, khám nghiệm:

Việc nhân mạngđã qua lâu ngày mà không có án nghiệm xét, cũng không có chứng tá gì làm bằng cứ, mà bên khổ chủ làm tờcáo xằng hoặc người khác tố xằng và đã mai táng lại yêucầukhai quật lập biên bản thì tổng, xã không được tự tiện lập biên bản. Quan khám xét cũng khôngđược nhận việc khám. Gián hoặc bị kẻ khác mưu giết chôn giấu thây xác và vộilàm việc chônlấpđể mấtdấu vếtmà rõ ràng có chứng cớ, cóngườithấy biết, thì chokhổchủtrong 1, 2 tháng phân trình với tổng xã làm bằng cứ và cho kêu tại quan ngự sử trách lệnh lời cung đoán của khổ chủ xét trọng hình bắt giam tra thực, đưa khám nghiệm. Việc trabắtxét chỉ căn cứ vào kẻ chủ mưu hành hung và những người theo giết [53, tr. 307].

* Từ năm 1858 đến trước Cách mạng Tháng tám thành công, thực dân Pháp xâmlược nướcta, cho nênhệ thống pháp luật nói chung, pháp luậttốtụng hìnhsựnói riêng, chịuảnhhưởngcủa hệ thống pháp luật châu Âulụcđịa.BLTTHS áp dụng tạiBắcKỳ đã quy định chứng cứđược xác định bằng:

42

thư chứng, vật chứng, lời khai của người làm chứng, người bị hại, bị can, bịcáo. Thư chứng và vật chứng được quy định tại Điều 39, 40 Bộ luật này. Điều 39 quy định cụ thể về thư chứng: “Người khống tố hoặc người cáo giác, nếu códẫngiấy má gì làm tang chứng, thì phải đembảnchánhđồngthời cùngvớiđơn khống trình nộp lên quan thẩm phán. Những giấy má trình nộp về sau, thìquan thẩm phán có thể bác khước mà không nhận” [14, tr. 477].

Bộluật tố tụng hình sự áp dụng tại Bắc kỳ thời kỳ Pháp thuộc, đã đềcậpvật chứng tại Điều 40:

Những tangvậtdongườiđươngsựtrìnhnộphoặc do viên chức khám nghiệm khinh tội, trọngtộiáp thu, thì quan thẩm phán phải lưu giữ, để về sau phòng khi Tòa án kháng cáo có tùyđụngđến. Phàm những vật không thể để lâu và những súc vật không thểnuôi được đến ngày cóđịnh lệnhTòa án thượng cấp, thì có thể do lệnh quan thẩm phán giaongườikhánthủhoặc phát mại; nhưng phải tường kê trong biên bản rồi đính vào bút lục [14, tr. 479].

Bộluật hìnhsự(BLHS)tốtụng áp dụngtạiBắc kỳthờikỳPháp thuộc, đã đề cập lờikhai của bị can tại Điều 17:

Ngườibịnã, sau khi nã được trong 24 giờ đồnghồsẽ do quan thẩm phán sơ cấp hoặc đệ nhị cấp, quan nào đã tiếp nhận được thì phải dương đường củ vấn và hiểu thị cho bị can biết về tội gì. Sựcủvấn ấyvà tấtcả sựcủvấn về sau, phải làm biên bản. Biên bản ấy phải lại phải tuyên đọc cho người bị can biết, người ấy sẽ cùng quan thẩm phán đều ký tên. Nếungười ấykhông biết ký tên hoặc không muốn ký tên, trong biên bản cũng phải nói đến [14, tr. 467].

Trong BLTTHS ápdụng tại Bắc Kỳ dưới thờiPháp thuộc, người làm chứngđược quyđịnhtạicác điều20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30.Điều20 Bộ luật quy định: “Phàmngườichứng đã liệt danh trong đơn khống và các người mà quan thẩm phán liệu nghĩ đến chất vấn trong khi thẩm cứu,

43

thìđềuphảibịđòigọiđếnTòa ánđể chất vấn” [14, tr.461]. Nghĩa vụcủa người làm chứng được quy định tại Điều 22:

Phàm người chứng đã bị chiếu lệ đòi gọi, không có cớ gì hợp

lẽ mà tựýkhôngđếnhầutrước Tòa sơ cấpnghĩxửviệc vi cảnh, hoặc trước Tòa án tỉnh, hoặc trước Tòa đệ tamcấphoặc trước quan thẩm cứu, thì có thể bị ép bắt phải đến hầu, và vì cớ không đến hầu phảibị xửphạt bạc từ1đồngđến5 đồng, và phạt giamtừ1 ngàyđến 5 ngày, hoặc hai thứ chỉ phải chịu một [14, tr. 469].

1.2.2. Chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chođến khi ban hành Bộluật tố tụng hình sự năm 1988

Sau Cách mạng Tháng tám, chế định chứng cứ tiếp tục hình thành vàphát triểngắnliềnvớisựphát triển của hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật tố tụng hình sự nói riêng. Chế định chứng cứ được ghi nhận ở nhiều văn bảnquy phạm pháp luậttốtụng hình sự, nhưngmớichỉđược xem xétởnhững khía cạnh nhất định, chưa có quy định về khái niệm chứng cứ. Điều 9 Nghịđịnhsố82-NĐ ngày 25/02/1946 của BộTư phápấnđịnhchi tiết áp dụngSắclệnhsố21-SL ngày 14/02/1946về tổchức lạicác Tòa án quânsựchỉ đề cập việc thu thập chứng cứ:

Mỗikhixảyra việc gì có phươnghạiđếnnềnđộc lậpcủa nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì bất cứ ai cũng phải báo ngay cho Ty Liêm phóng hoặc nhà chức trách địa phương biết.

Ty liêm phóng khi mở cuộc điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ, hỏi các người làm chứng. Ông giám đốc Liêm phóng có thể ký

lệnh tạm giam bị cáo. Tấtcả mọi hành động cứphải vào biên bản, lậphồ sơ gửi lên công cáo ủy viên [11, tr. 193].

Trong Thông tư số 2795-HCTP ngày 12/12/1956 của Liên Bộ Tư pháp- Y tế được ban hành sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, quy

44

định một số điểm cụ thể trong công tác giám định pháp y, đã đề cập những trường hợpcầntrưngcầugiámđịnhpháp y: “a) Cóngườichết mà nguyên nhân không rõ ràng, tình nghi có án mạng; b) Phụnữtình nghibịhiếp dâm hoặc phá thai; c) Người phạm pháp tình nghi có bệnh điên; đ) Người bị tai nạn laođộng thành tật; e) Người bị đánh thành thương tích…” [84, tr. 196-197].

Vào những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi, cùng với sự phát triển của khoa học luậttốtụng hình sự, khái niệm chứngcứđã bắtđầuxuất hiện trong các sách báo pháp lý. Giáo trình Luậttốtụng hìnhsựViệt Nam của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội đã đưa ra khái niệm chứng cứ như sau:

Chứng cứ là những sự việc, hiện tượng, những dấu vếtđược Cơ quanđiềutra, Viện Kiểm sát, Tòa án thu thậpđược trong quátrìnhđiềutra, xétxửtheo đúng trình tự, thủtục do pháp luật quyđịnh, đểchứng minh có hay không có hành vi nguy hiểm cho xãhội, lỗi của người thực hiện hành vi ấy và những tình tiết khác cóýnghĩa giải quyết đúng đắnvụ án[95, tr. 56].

Nói cách khác, chỉ những sự việc, hiện tượng, dấu vết có liên quan tới vụ án, do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, mới được coi chứng cứ của vụ án.

Trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, nguồn chứng cứlầnđầutiênđượcđềcậptrongBảnhướngdẫnvềtrìnhtựtốtụng sơ thẩm vềhìnhsựđượcban hành kèm theo Thông tưsố16/TATC ngày 27/09/1974 của TANDTC:

Nguồn chứng cứ bao gồm: dấu vết, đồ vật, tài liệu có thể chứng minh việc phạm pháp; lời khai của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, ngườicó trách nhiệmbồithường, ngườicó tài sản, quyền

lợicó liên quan đến việc phạm pháp, nhân chứng;lời kếtluận của giámđịnhviên, những tài liệu của cơ quan, đoàn thể cungcấpvề nhân thân bị cáo [84, tr. 70].

45

Trong Công vănsố98-NCPL ngày 02/3/1974củaTANDTCgửicho các Tòa án địa phương, đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm vật chứng:

Vậtchứng là nhữngvậtmà kẻphạmtộiđãdùngđể thực hiện tội phạm như: hung khí dùng để giết người, búa kìm dùng phá cửa, cạy tủ, điện đài, truyền đơn, con dấu giả hoặc những vật mà kẻ phạmtộilấyđược do việc phạm tội, hoặc nhữngvậtcủa kẻphạm tộiđánh rơi, bỏquêntạihiện trường… Nhữngvậtnày do Cơ quanđiềutrađã thu thậpđược và thườngđược bịcáo xác nhận là vật chứng trongvụán. Cầnphân biệtvậtchứngvớinhững tàisảnmàCơ quan điều tra kê biênvà giữ lại để bảođảmcho việc thi hành án vì những vật chứng mới là những tài liệu dùng làm căncứcho việc xét xử tội phạm của bị cáo [84, tr. 75].

Trong khái niệm này, những vật cụ thể được gọi là vật chứng được liệt kê, nhưng chưa đầy đủ, mức độ khái quát chưa cao.

Ngoài ra, Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩmvề hình sự được ban hành kèm theo Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của TANDTC đãđề cậpviệc triệutậpnhững ai là ngườilàm chứng: “Tòa án nhân dân không nhất thiết phải triệutậpmọingườiđã được hỏivớitư cách là nhân chứng trong quá trình điều tra, mà chỉcầntriệu tập nhữngngườicần thiết cho việc xéthỏi tạiphiên tòa” [84, tr. 130].

Trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam, Công văn số 98-NCPL ngày 02/3/1974 của TANDTC gửi cho các Tòa án địa phương, đã lần đầu tiênđề cập kếtluận giámđịnh:

Nếutrong một vụ án có vấn đề liên quan đến khoa học, kỹthuật, liên quanđếnhoạtđộngcủa ngành chuyên môn mà Tòa án khôngnắmđược, thìcầntrưngcầugiámđịnhnhằmbảođảmviệc xét xử được chính xác và có căn cứ. Kết luận của giám định viên rất quan trọng, vì nó giúp cho Tòa án xem xét vật chứng dựa vào khoa

46

học, kỹthuật. Kếthợpvớicác chứngcứkhác, kếtluận của giámđịnhviên giúp Tòa án nhậnđịnhđược chính xác nộidungcủavụviệc. Tuy nhiên, Tòa án khôngbắtbuộc phảikếtluận theo giámđịnhviên, vì cóthểcó trườnghợpkếtluậncủagiámđịnhviên không chính xác hoặc không phù hợpvớicác chứngcứkhác. Nếu thấycầngiámđịnhlại, thì Tòa áncầntrưngcầugiámđịnhviên khác để việc giám định được chắc chắn hơn [84, tr.76].

Trước khi BLTTHS năm 1988 ra đời, trong pháp luật tố tụng hình sựViệt Namđã có những vănbảnquy phạm pháp luậttốtụng hìnhsựđề cập việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứngcứtừlờikhai của bịcan, bịcáo. Thông tưsố2225-HCTP ngày 24/10/1956 của BộTư pháp chấn chỉnh việc thực hiện quyền bào chữa của bị can đã quy định:

Trong quá trìnhđiềutra cũng như xét xử, tuyệtđốikhôngđược mớm cung, bức cung hay trấn áp bị canbất cứbằng hình thức nào, hoặc dùng lờilẽ dụ dỗ, hứa hẹn để bị cannhận tội. Lời thú tội của bị can không kết thúc cuộc thẩm cứu mà còn phải có bằng chứng xác minh mới được dùng làmcơ sở để kếttội. Tòa án chỉ dựa trên những sự việc đã xác minh rõ rệt ở phiên tòa mà kết luận.

Không nên có định kiến rằng hễ người bị truy tố là nhất định có tội mà đối xử như với người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội để Tòa án có thái độ hoàn toàn khách quan [11, tr. 39].

Từ quy định trên có thể rút ra các nhận xét sau:

Thứ nhất, ngay từ năm 1956, tức là chỉ sau hai năm sau khi miềnBắcđược hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta đã quan tâmđếnvấnđề thu thập, kiểm tra, đánh giá chứngcứtừlờikhai của bịcan, bịcáo; pháp luật tố tụng hình sự đã nghiêm cấm sử dụng các biện phápbất hợppháp như mớm cung, bức cung hay trấn áp bị can, bị cáodướibấtkỳ hình thức nào trong việc thu thập lời khai của bị can, bị cáo.

47

Thứ hai, phải kiểm tra, xác minh lời thú tội của bị can, bị cáo, so sánh, đối chiếuvớinhững chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời khai của bị can, bị cáo là chứng cứ duy nhấtđể kếttội.

Thứ ba, nguyên tắc suy đoán vô tội đã được pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam chính thức thừa nhận. Đây có thể nói là bước tiến bộ về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự của nước ta.

Trong Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự kèm theo Thông tưsố16/TATC ngày 27/9/1974 của TANDTC, đã đưa ra nguyên tắc về việc xét hỏi bị can, bị cáo tại phiên tòa:

Việc xét hỏi tại phiên tòa nhằm trực tiếp và công khai thẩm tra lại các chứng cứ của vụ án. Do đó, Hội đồng xử án phải xét hỏi mộtcáchđầyđủkhách quan. Cầnphải tránh tưtưởngquá tin vào hồsơ mà coi nhẹ tác dụng của việc xéthỏiở phiên tòa, hoặc cho rằng việc xét hỏi chỉ nhằm buộc bị cáo phải xác nhận những lời màhọ đã khai ở Cơ quan điều tra [84, 139-140].

Bảnhướng dẫn cũng đã đưa ra trình tự thu thập, đánh giá chứng cứtừlờikhai của bị cáo:

Trước tiên, chủtọa phiên tòa để chobịcáođược trình bày về toànbộhành vi mà họbịtruy tố, nếucóđiểmnào màhọkhai không rõ ràng, đầyđủ, thìchủtọaphiên tòa sẽđặtcâuhỏithêm. Nếuvụ án có tính chất phức tạp, hoặc bị cáo phạm nhiều tội, thì cóthể tách ra để hỏi riêng về từng vấnđề hoặc về từng tội.

Hộiđồngxửán phải lắng nghe nhữnglờikhaicủabịcáo, chủ tọa phiên tòa phải kịp thời căn cứ vào những chứng cứ và lý lẽvững chắc, vạch ra những điều mà bịcáo khai không đúng, nhưng cầntránh việc tranh cãi tayđôivớibịcáo. Do đó, nếubịcáo vẫn chối cãi thì nên yêucầuđại diệnViện kiểm sát nhân dân phát biểu thêm về vấn đề mà bị cáo còn chối cãi, hoặc hỏi sang vấn đề khác.

48

Tòa án nhân dân vẫn cứ tiếp tục phiên tòa nếu cóbị cáo từchối không chịu khai. Trong trườnghợpđó, chủtọa phiên tòa sẽ công bố những lời khai của bị cáo ở Cơ quan điều tra và sẽ tiếp tục xéthỏinhữngngườikhác. Tòa án nhân dânsẽ căncứvàokếtquảcủa cuộc xét hỏi mà quyết định bản án [84, tr. 140-141].

Trong trườnghợpbịcáo làngườichưa thành niên, Bảnhướngdẫn cũng đã quy định những điểm cần lưu ý khi thu thập, đánh giá lời khai của họ:

Nếubị cáo là vị thành niên, Tòa án nhân dân có thể yêu cầu cha mẹ, ngườigiámhộhoặc giáo viên giúpđỡ đặtcâuhỏichobịcáo, nhưng cũng có thể yêucầunhững người nàytạmrờiphòng xửán, nếu sự cómặtcủa họ làm cho bị cáo không dám khai. Sau khi bịcáođãkhai, chủtọa phiên tòa phải nhắc lại nhữnglờikhai đó cho người đã phải tạm thời rời phòng xử án được biết [84, tr. 141].

Nhằmđảm bảođánh giá chứng cứ được khách quan, toàn diện, đầyđủvà chính xác, Bản hướng dẫn đã đề cậpđến mục đíchcủa việc tranh luận tại phiên tòa:

Việc tranh luậntạiphiên tòabảođảmchođạidiện Viện kiểm sát nhân dân, ngườibào chữa, ngườibịhại, nguyênđơndân sự, ngườicó trách nhiệm bồi thường và người có tài sản, quyền lợi có liên quan đến việc phạm pháp phát biểu những ý kiến của mình vềviệc phân tích, đánh giá các chứngcứcủavụánmộtcách toàn diện, xác định tội danh, táchạicủa việc phạm pháp, tính chất nguy hiểm của bịcáo và những biện phápxửlývề mặthình sự, dânsựcầnđược áp dụng căncứvào pháp luật, đườnglối, chính sáchvề hình sự [84, tr. 143].

Vàođầunhững năm tám mươi của thế kỷhai mươi, trong các sách báo pháp lý của nước ta đã bắt đầu đề cập việc thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can, bị cáo. Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Cao

49

đẳngkiểm sát Hà Nộiđã phân tích những công việc cầnlàm khi tiến hành việc hỏi cung bị can như sau:

Sau khi báo việc quyếtđịnh khởitố, cánbộ điềutra cần hỏi cung bị can ngay. Việc hỏi cung bị can lần đầu tiên sau khi quy tội có ý nghĩa đặc biệt. Bởi vì, bị can lần đầu tiênbiết được cụ thể việc buộc tội, cánbộđiềutra phải cósựchuẩnbịkỹtrước khibắttay vào việc hỏicung. Khihỏicung, tùy theo mức độcầnthiết và tùy thuộc vào chiến thuật hỏi cung, cán bộ điều tra có thể đưa ra những

chứngcứquytộibịcan… Trườnghợpbịcantừchối không chịu khai báo, cần tạo điều kiện để bị can trình bày nguyên nhân từ chối và việc nàyđượcghi vào trong biênbảnhỏicung, cánbộđiềutra ký tên xác nhận [95, tr. 105].

Giáo trìnhđã đề cậpvấnđề kiểm tra, đánh giá chứngcứtừlờikhai của bị can, bị cáo:

Những chứng cứnhận được từ lờikhai của bị can phải được kiểm tra giống như các chứng cứ khác và phải được đánh giá tổng hợp. Lờithú nhận của bị can chỉ có thể được dùng làmcơ sở để buộc tội khi lời nhận tội đó đã được xác minh bằng toàn bộ chứng cứ trong vụán. Trong những trườnghợpcósựmâu thuẫn giữalờikhaicủabịcan khi tiến hànhđiềutravớilờikhaicủabịcáotrướctòa, Tòa cóquyền côngbốnhữnglờikhai banđầucủahọ.Tòa cóthểcông nhận một số lời khai là đúng, còn số khác thì bác bỏ. Song, Tòa phải chỉ rõnguyên nhân của việc giải quyết như vậy trong bản án [84, tr. 71].

Vào thờiđiểmđó, khi chúng ta còn thiếu những vănbảnquy phạm pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể về việc thu thập, kiểm tra, đánh giáchứng cứ từ lời khai của bị can, bị cáo, thì Giáo trình trên đã có tác dụng giúp cho những người tiến hành tố tụng có định hướng đúng trong quá trình chứng minh đối với vụ án hình sự.

50

Trước khi BLTTHS năm 1988 ra đời, trong pháp luật tố tụng hình sựViệt Namđã có những vănbảnhướngdẫncủa TANDTCvề việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứngcứtừlờikhai của ngườilàm chứng, ngườibịhại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụán. Trong Công vănsố98-NCPL ngày 02/3/1974 của TANDTC gửicho các Tòa án địa phương, đã đề cập việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ

từlờikhai của ngườilàm chứng. Công vănđã phân loại nhữngngườilàm chứng thành hai loại:

Loại nhân chứng trực tiếp là ngườinghe và thấy khi việc phạm pháp xảy ra và loại nhân chứng gián tiếp là người không nghe thấy trực tiếp mà nghe nói lại (có người nghe nhân chứng trực tiếp kể lại, cóngườinghe ngườibịhạinóilạinhững tình tiết có liên quan đến sự việc phạm pháp) [84, tr. 74].

Công văn cũng đã nêu lên sự cần thiết phải xác minh, kiểm tra, đánh giáchứng cứ từ lờikhai của người làm chứng:

Lờikhai của nhân chứng trực tiếp hay gián tiếpđềuphảiđược xác minh có đúng sự thật không, vì những lý do:

a) Người làm chứng tuy khách quan nhưng vì trí nhớ hoặc mắt cóthểkhông tốt, nên thuật lại có thể không hoàn toàn đúng diễn biến của sự việc.

b) Việc xảy ra đã lâu nên không nhớ chi tiết, thuật lại có thiếu sót.

c) Ngại phiền phức hoặc thù oán mà không khai hết sự việc mà mìnhđã biết.

d) Vìcảmtình hoặc có mâu thuẫnvớimộtbên trongvụán mà khai thêm hoặc bớt, thiếu chính xác.

đ) Cũng có nhân chứng, vì nhớ không kỹ mà khai thêm, bớt, suy diễn theo chủ quan của mình.

e) Vì bị đe dọa hoặc bị mua chuộc mà khai sai sự thật.

51

g) Đã khai không đúng, nhưng sau vẫn khai như trước, vì sợ khai khác thì bị đánh giá là người không trung thực.

Thực tiễn xét xử cho thấy, có trường hợp nhân chứng khai về một sựviệc ở CQĐT, ở VKS và ở phiên tòa đều khác nhau. Do đó mà việc xác minh lời khai của nhân chứng xem lời khai nào đáng tin, đáng làm cơ sở để kết luận có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá chứng cứ.

Thông thường thìlờikhaicủanhữngngườiđứngđắn,ngay thẳng, không có thân thuộc, bạn bè, không có mâu thuẫn gì với bị cáo, vớingườibịhạihoặc không có quyềnlợigì liên quanđếnvụán thì có nhiều khả năng chính xác. Tuy nhiên, không thể khẳng định trước là lời khai của nhân chứng nào là đáng tin hơn nhân chứng nào, dù là nhân chứng trực tiếp, nếu lời khaiấy chưa được xác minh [84, tr. 74-75].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẾ ĐỊNH CHỨNG CỨ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *