Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
PBXH là mộthoạt động được biết đến từ rất lâu trên thếgiới, tuy nhiên ởViệt Nam thì đây làmộtvấnđềkhámớimẻ.TạiĐạihộiĐảngtoàn quốc
lần thứX, cụm từ“phản biện xã hội”lầnđầu tiên đượcnhắc tới với vai tròcủa MTTQ và các đoàn thể nhân dân – làmộttổ chức đại diện cho tiếng nói củanhân dân, phát biểu và phản ánh vềnhững vấn đềmà nhân dân quan tâm. Tại báo cáo củaBan chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đãchỉ rõ: “Nhà nướcban hành cơ chế để MTTQ và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai
trò giám sát và PBXH…”. Văn kiện Đại hội Đảnglần thứXI, XII lại tiếp tục khẳngđịnh“Hoàn thiện cơ chếđểnhân dân đóng góp ý kiến, PBXH và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển quantrọng”. Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quáđộ lên chủ nghĩa xã hội (bổsung, phát triển năm 2011)đãxác định rõ: “…MTTQ Việt Nam là một bộ phận của
hệthống chính trị, là cơsởchính trị của chính quyền nhân dân…Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng ngheýkiến đóng gópcủaMặttrận và các đoàn thể.Đảng,Nhà nước có cơ chế, chính sách,tạo điều kiện đểMặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và PBXH”. Trên tinh thần củaCương lĩnh, vai trò giám sát, PBXH củaMTTQ Việt Nam và cácđoàn thể chính trị – xã hội được cụ thể hóa bằng Quyết định số 217-QĐ/TW củaBộ Chính trị ngày 12/12/2013 về Quy chế giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội và Quyết địnhsố218-QĐ/TW của Bộ Chính trị ngày 12/12/2013 về việc MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Ở Việt Nam đã có một số văn bản pháp luật chứa nội dung PBXH như:
Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ về
hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xãhộicủaVUSTA; Quyết định số14/2014/QĐ-TTg ngày 14/2/2014 củaThủ tướng Chính phủ thay thếQuyếtđịnh số 22/2002/QĐ-TTg đãquy định cụ thể, chi tiết hơn vềkhái niệm, quy trình, phương thức thực hiện tư vấn, phản biệncủaVUSTA; quyđịnhquyền tham gia góp ý, xây dựng chính sách, pháp luậtcủacáctổ chức, cá nhân tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.
Cụmtừ: “phản biện xã hội”lần đầu tiên được đưa vào trong Hiến pháp năm 2013 đã thểhiện sựquan tâm của Nhànước, củanhân dân và xã hội, cho thấy vai trò, ý nghĩacủaPBXH đang đượcnâng cao trong đờisống xã hội. Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 đãcụ thểhóa chức năng PBXH củaMTTQ Việt NamtạiChương VI như sau:
“PBXH của MTTQ Việt Nam là việc Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đềnghị các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghịđốivớidựthảo văn bản pháp luật, quy hoạch,kếhoạch, chương trình,dựán,đềán của cơ quan nhà nước”. Đây là những quyđịnh rấtquan trọng,mởramộtbướcngoặt lớn trong nhận thứcvềgiám sát, PBXH của MTTQ Việt Nam. Quan trọng hơn, đây là cơ sở chính trị – pháp lý đểMTTQ Việt Nam và cáctổ chức chính trị- xãhộithực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát, PBXH, góp phần quan trọng vào tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.Đặcbiệt, Luậtsửađổi,bổ sung mộtsốđiều củaLuật Ban hành văn bản QPPL năm 2020 đã ghi nhận chính thức vai trò PBXH củaMTTQ Việt Nam, chú trọng thủ tụclấyý kiến nhân dân, cánhân,tổ chức vềdựán,dựthảo văn bản QPPL. Đồng thời tạo ra cơ chế thuận lợiđểnhân dân, các chuyên gia, nhà khoa học cóthểchủđộngtham gia vào quy trình xây dựng chính sách, pháp luật ngay từgiaiđoạn ban đầu như:đềxuất xây dựng luật, góp ý cho các dự án, dự thảo văn bản QPPL.
Nhànước vàxã hội rất quan tâm đến việc thực hiện PBXH, tuy nhiên nội dung PBXH trong hoạt động XDPLđượcđềcậprấtít trong các công trình
nghiên cứu, chủ yếulà các bài báo đăng trên các tạp chí trong nướccó chất lượng khoahọckhiêm tốn. Nhiều bài viết chỉ mang tính chất khái quát mà chưa làm rõvềchủ thể, hình thức, quy trình thực hiện, cácđặcđiểm,đặctrưng của PBXH tại Việt Nam. Các hội thảo,tọađàm khoahọcmới chỉ tổ chức đánh giávềPBXH mà ítđềcập đến hoạt động này trong việc XDPL. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc PBXH còn rất mới trong nhận thức của người dân khi họ ít trực tiếp tham gia thực hiện quyền công dân của mình.
Mặc dù hoạtđộng PBXH đãđượcghi nhận thành chủ trương,định hướng củaĐảng,cũng nhưđãđược thểchế hóa trong một số văn bản QPPL, nhưng vẫn còn tồn tại không ít bất cập,hạn chếđược biểu hiện trên ba phương diện: lý luận, pháp luật và thực tiễn.
Thứnhất,vềmặt lý luận:Đảngvà Nhànướcxácđịnhviệc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là điều tất yếu trong tiến trình xây dựng đất nước, coi đó là mô hình tổng quát, là đường lối chiến lược nhất quán củaViệt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Xây dựng kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền không thể tách rời xã hội dân chủ, nhân dân là chủ, làm chủ quyền lực Nhà nước. Nhiệm vụ chiến lược của Việt Nam trong giaiđoạn đổimới hiện nay là xây dựng Nhànướcpháp quyềncủanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,đòihỏiphải hoàn thiện thểchếthực hành dân chủ. Nhân dân phải là chủ thể giám sát, phản biện việc các cơ quan nắm giữ, thực hiện quyền lực Nhà nước ở ba quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) theo uỷquyền của nhân dân để đảm bảo việc thực hiện quyền lực đó phùhợp với lợiích của nhân dân, xã hội.
Mặcdù công cuộcđổimớiđãđemlạicho đấtnướcta nhiều thành tựu quan trọng, quyền làm chủ của nhân dân được đảm bảo và phát huy trong việc quyếtđịnh những vấn đềlớn vàhệtrọng củađấtnước.Tuy nhiên, quá trình dân chủ hoáđời sốngxãhộivà sựtham gia của người dân vào hoạt động quản lý Nhà nước còn nhiều hạn chế. Hệ thống chính sách, pháp luật vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Sự tham giacủangười dân
vào hoạt động quản lý Nhànước,xã hội, xây dựng chính sách, pháp luật vẫn còn hạn chế. Vai trò giám sátcủangườidân chưađượcphát huy mạnh mẽ. Quyền làm chủ của người dân ở một vài nơi, trên một số lĩnh vực vẫn còn bị vi phạm, vẫn còn biểu hiện củadân chủ hình thức. Vìthếxây dựng Nhànước pháp quyền cần phát huy dân chủ, bảo đảm nguyên tắc tổ chức quyền lực được vận hành mộtcách dân chủ, quyền con ngườivà quyền công dân đượctôn trọng,bảo đảm vàbảo vệ.
Thứhai,vềmặtpháp luật: pháp luậtvềPBXHcủanướcta hiện nay chưa đầy đủ vàcòn nhiều hạn chếcả vềnội dung và hình thức pháp lý, còn quy định rải rác trong nhiều văn bản với mức độ ghi nhận khác nhau. Việc quy định vềchủ thể, đối tượng,nộidung phản biện vẫn còn chưa có tính đồng bộ, thống nhất. Trong tư duy của nhà làm luật, đây vẫn được xem là chức năng riêng cócủa MTTQ mà chưa thực sự được xem như là một quyền của mọi công dân màNhà nước phải có trách nhiệm ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm. Pháp luật chậm thểchếhoá chủ trương, nghị quyếtcủaĐảng vềPBXH củaMTTQ,từHiến pháp 2013 đến nay đã 08 năm nhưng phải đến 2020 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 mớibổ sung 01 điều duy nhấtvềPBXH của MTTQ Việt Nam.
Trong XDPL, còn thiếu nhiều quy định ởcác luật liên quan tạo cơsởpháp lý đầy đủ cho việc thực hiện PBXH trên thực tế. Một số quy định pháp lýcó tính chất nền tảng tạo cơ sở bảo đảm cho việc vận hành thuận lợi hoạt động PBXH đến nay chưađượcban hành hoặc nếu đãban hành thì vẫn còn chưa phù hợp hoặc chưa được thực thimộtcách có hiệu quả; thiếu những quy định rõ ràng vàcụ thểvềcơ chế tiếp nhận, phản hồi ý kiến vàchếtài đối với việc không tiếp nhận ý kiến PBXH.
Thứba, về mặt thực tiễn thực hiện PBXH trong hoạt động XDPL: hoạt động PBXH còn hình thức, thiếu tính chủ đông, chưa kịp thời; chất lượng PBXH chưa cao; năng lực của các chủ thể phản biện còn hạn chế; việc tiếp thu, phản hồi ý kiến PBXH vẫn chưa được chủ thể tiếp nhận phản biện quan tâm và
thực hiện mộtcách thực chất, bài bản. Nhận thức, năng lựcvàkỹ năng thực hành PBXH của MTTQ Việt Nam, của các tổ chức thành viên,củacác chủ thểkhác trong xãhộicòn nhiều hạn chế, chưa đóng góp thực chất và hiệu quảtrong việc nâng cao chất lượng của công tác XDPL, chưa thật sự đưa pháp luật vào cuộc sống thông qua PBXH.
Nhận thứcđượctầmquan trọng đó,nghiêncứusinhlựachọn đềtài:
“Phảnbiện xã hộitrong hoạtđộng xây dựng pháp luậtởViệt Nam hiện nay” làmđềtài Luận án tiến sĩ vớiý nghĩa cấp thiết cảvềlý luận lẫn thực tiễn. Việc tham gia PBXHcủanhân dân đối với các chính sách pháp luật làmột cách thể hiện quyền công dân, giải quyết những vấn đề đang tồn tại một cách có hiệu quảhướngtới đồng thuận xã hội. Tác động của PBXH là rất lớn, các văn bản pháp luật sau khi đượclấy ý kiến sẽhoàn thiện, chất lượng vàmang tính thực tiễn cao hơn. Các nội dung trong văn bản luật đượcrà soát,được kiểm chứng trên thực tế thông qua đánh giá của xã hội,đó làsự đánhgiámang tính khách quan, trung thực vàthểhiện lợi ích cụ thể của nhân dân và
lợi ích chung của toàn xã hội.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
Trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ Luật học thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật, luận án tập trung nghiên cứu về cơsởlý luận, cơ sởpháp lý của PBXH trong hoạt độngXDPLởViệt Nam.Đối tượng nghiên cứu là hoạt động PBXH trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật, tập trung vào quá trình xây dựng các đạo luật.
Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 (nội dung PBXHđượcquyđịnhtạiđiều 9), luận án lấy mốcthời gian nghiên cứu từnăm 2010 cho đến nay đểthấy sựthay đổi của PBXH trong hoạt động XDPL (trước và sau Hiến pháp năm 2013). Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về PBXH trong hoạtđộngXDPL, cho nên luận án nghiên cứu những vấn đề mang tính khái quát cả vềlý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
Mụcđích của luận án là nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện PBXH trong hoạt động XDPL ở Việt Nam để xác định nhu cầu, xu hướng vàđềxuất các giải pháp nâng cao chất lượng PBXH trong hoạtđộng XDPL nhằm hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay.
Đểđạt được mụcđích trên, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
-Hệthống hoá các quan điểm,khái niệmvềPBXH trong hoạtđộng XDPL ở Việt Nam và xây dựng luận điểm khoahọccủanghiên cứu sinhvề PBXH trong hoạt động XDPL.
– Phân tích, đánh giá thực trạng PBXH trong hoạt động XDPLởViệt Nam; chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm, làm rõ những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó.
– Nghiên cứuviệc thực hiện PBXH trong hoạt động XDPLcủacác nước điển hình trên thế giới để rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam.
– Xác định nhu cầu và đề xuất các định hướng, giải pháp nâng cao chất lượngPBXH trong hoạt động XDPL ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Cơsởphương pháp luận, phương pháp nghiên cứu của Luận án Luận án được thực hiện trên cơsởlý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nền dân chủ, về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN nói chung và XDPL nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu của luận án là phương pháp duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp; thống kê số liệu; nghiên cứu hệ thống; phương pháp so sánh; trong đó phương pháp phân tích, tổng hợp được sửdụng làchủyếu. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong các chương, mục của Luận án như sau:
– Phương pháp phân tích, tổnghợp được sử dụngđể trình bày các hiện tượng, các quan điểm về PBXH, về XDPL, khái quát lại để phân tích, rút ra những vấn đề thuộc về bản chất của các hiện tượng, các quan điểm, các vấn đềnêu ra; phương pháp này còn sửdụng đểđánh giá tình hình nghiên cứu
trong nước và nước ngoài về PBXH, đánh giá hệ thống các quy định pháp luật về PBXH cũng như thực tiễn thực hiện PBXH trong XDPL tại Việt Nam.
– Phương pháp so sánh nhằm đối chiếu các quy định vềPBXH trong hoạt độngXDPL của các quốc gia trên thế giới với thực tế ở Việt Nam.
– Phương pháp thống kêđượcáp dụng nhằm thu thập số liệuthực tếvềcác kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện PBXH khi XDPL.
– Phương pháp nghiên cứu hệ thống được sử dụng nhằm trình bày các nội dung theo một trình tự, bố cục chặt chẽ, hợp lý; có sự kế thừa, phát triển các vấn đề, nội dung để đạt được các mục đích, yêu cầu đã xác định. Phương pháp hệ thống được sử dụng chủ yếu để luận giải, đánh giá các vấn đề lý luận về PBXH trong hoạt động XDPL; đề ra các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng PBXH trong XDPL ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
5. Những đóng góp mới của Luận án
Trong bối cảnh chính trị, pháp luật Việt Nam với yêu cầu mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ, đảm bảo quyền con người thìPBXH đóng vai trò không thểthiếu, là nhịp cầu nối giữa người dân và Nhà nước trong việc xây dựng, thực hiện quyền chính trị của công dân trong xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật.
Luận án đã đưa ra các luận điểm mới cụ thể như sau:
Thứnhất,vềcách tiếp cận: Luận án nghiên cứu PBXH trong hoạtđộngXDPL dựa trên cách tiếp cận quyền con người, quyền công dân theo lýluận Nhà nước và pháp luật. Trong nhànướcpháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,tất cảquyền lực Nhànước thuộc vềnhân dân, nhân dân sửdụng quyền lực Nhànướcbằng dânchủtrực tiếp, dânchủgián tiếp. PBXH trong hoạt động XDPL là một hoạt động,một phương thứcđểngười
dân thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước– một quyền chính trị cơ bản của côngdân đã được hiến định, phải được Nhànước, xã hội công nhận, tôn trọng,bảo vệvà bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Pháp luật của Nhà
nước ta là pháp luật dân chủ, pháp luật của nhân dân, phải do nhân dân và cácđạidiện của nhân dân làm ra, vì lợi íchcủachính nhân dân. Bằng PBXH tronghoạt độngXDPL, công dân trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện quyền lập pháp-mộttrong ba nhánh quyền lực Nhà nước. Các chủthểcủa PBXH trong hoạt động XDPL có thểchủđộngtựmình thực hiện phản biện hoặc phản biện khi có yêu cầu củacác cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong hoạt độngXDPL. Việc thực hiện PBXH phải phù hợp với quy định pháp luật, trong phạm vi và theo cách thức được pháp luật bảo hộ.Vì vậy người dân có quyền đòi hỏi Nhànước phải tạo các điều kiện để bảo đảm thực hiện quyền, đồng thời người dân phải thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định cho mỗi cá nhân trong quá trình giám sát, PBXH đối với hoạt động XDPL. Phạm vi, nội dung, hình thức, quy trình, cách thức người dân thực hiện PBXH trong hoạt động XDPL phải phù hợp và trong khuôn khổcủa Hiến pháp và pháp luật.
Thứ hai, cách tiếp cận dựa trên quyền con người, quyền công dân đồng thời đòi hỏi trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước trong việc bảo đảm các điều kiện cần thiết và bảo vệ người dân khi thực hiện quyền tham gia quản lý Nhànướcthông qua hoạtđộng PBXH trong hoạt độngXDPL. Nhànước là chủthể chịu trách nhiệm về các điều kiện bảo đảm (chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội, văn hóa …) cho người dân thực hiện quyền con người, quyền công dân.ĐểPBXH thực hiện có hiệu quả, trướctiên và trên hết Nhànướccó trách nhiệm xây dựng, hoàn thiện thểchếpháp luật về PBXH nói chung, PBXH tronghoạt độngXDPL nói riêng; tổ chức thực hiện việc tiếp thu và giải trình ý kiến PBXH của nhân dân một cách minh bạch theo đúng quy trình, thủ tục do pháp luật quy định; xử lý những vi phạm pháp luật xâm hại đến quyền, lợiích hợp pháp, chính đáng của người dân khi thực hiện PBXH cũng như xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, lợi dụng PBXHđểvụlợi, chốngđối hoặc xâm hại đến lợi ích của xã hội, Nhà nước, cá nhân và tổ chức khác. Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm để hoạt động PBXH của cá nhân, tổ chức được
thực hiện trong mối quan hệ hài hoà lợi ích chung giữa công dân, xã hội và lợiích của Nhànước.
Với cách tiếp cận dựa trên quyền của công dân và trách nhiệm của Nhà nước, Luận án chỉ ra mối quan hệ hữu cơ hai chiều giữa đòi hỏi nâng cao nhận thức, kỹ năng PBXH và khả năng thực hiện đúng đắn quyền của người dân và yêu cầu nâng cao ý thức, kỹ năng và trách nhiệm giải trình của các cơquan Nhà nước trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền, lợi ích của người dân tham gia PBXH tronghoạt độngXDPL.
Thứba, Luận án đã chỉra những bất cập, hạn chếcảvềnhận thức lý luận, thực tiễn của PBXH trong hoạt động XDPL hiện nay ở nước ta, dự báo nhu cầu và đề xuất quan điểm, các giải pháp lâu dài và trước mắt nhằm tăng cường PBXH, nâng cao chất lượng PBXH trong hoạt động XDPL.
Bất cập cơ bản được Luận ánxác định là PBXH trong hoạt động XDPL chưa được nhận thức đúng và chưa được bảo đảm về mặt pháp luật với vị trí làmộttrong các hoạtđộng thực hiện quyền dânchủtrực tiếp về chính trịcủa công dân- quyền tham gia quản lý Nhànước.PBXH trong hoạtđộngXDPL mới được hiến định và luật định chủ yếu với tính chất là một nhiệm vụ chính tri của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên. Do đó, còn thiếu cơ sở pháp lývà các điều kiện bảo đảm khác cho việc người dân- với tư cách là chủ thể thực hiện PBXH trong hoạt động XDPL bằng các hình thức, phương tiện phù hợp, hiệu quả, trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức đại diện của mình.
PBXH là một tất yếu khách quan đóng vai trò quan trọng trong hoạtđộngXDPL ở mọi Nhà nước pháp quyền dân chủ, trong đó có Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nhà nước phải có những hình thức, cách thức, giải pháp cụ thể để điều tất yếu khách quan ấy không chỉ tồn tại trong lý thuyết màcòn hiện hữu trong thực tiễn đời sống.
Vì vậy, các kiến nghị, giải pháp được Luận án đề xuất hướng tới khắc phục bất cập cơ bản trong nhận thức lý luận và pháp luật thực định nhằm tăng cường PBXH, nâng cao chất lượng PBXH trong hoạt động XDPL, góp phần
xây dựng và hoàn thiện cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý để thực thi quyền dân chủtrực tiếp của công dân trong đời sống chính trịcủađấtnướctrong giaiđoạn mới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Về mặt lý luận, luận án làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng về PBXH nói chung và PBXH tronghoạt độngXDPL nói riêng. Trong đó luận án đưa ra khái niệm;đặc điểm;vai trò và các nhân tốảnh hưởngđếnPBXH trong hoạt độngXDPL ở Việt Nam hiện nay.
Vềmặt thực tiễn, trên cơ sởđánh giá một cách khoa học, khách quan về thực trạng PBXH trong hoạt động XDPL, luận án đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao PBXH trong việc soạn thảo, ban hành các văn bản pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập Lý luận chung về nhà nước và pháp luật cũng như các hoạt động thực tiễn khác.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận án được kết cấu thành 03 chương, cụ thể:
Chương 1. Lý luận về phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật. Chương 2. Thực trạngvềphản biện xã hội trong hoạt động xây dựng
pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3. Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1. Tình hình nghiên cứu về phản biện xã hội
1.2. Tình hình nghiêncứuvềphản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật.

2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
2.1. Tình hình nghiên cứu về phản biện xã hội a) Đề tài khoa học
c) Bài báo, tạp chí
2.2. Tình hình nghiêncứuvềphản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật
a) Đề tài khoa học
b) Sách chuyên khảo
c) Luận án, Luận văn
d) Bài báo, tạp chí
2.3. Tình hình nghiên cứuvềthực tiễn thực hiện phản biện xã hội của các chủ thể phản biện xã hội
a) Đề tài khoa học
b) Sách chuyên khảo
c) Luận án, Luận văn
d) Bài báo, tạp chí
3. Nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án 3.1. Những vấn đề đã nghiên cứu mà Luận án sẽ kế thừa
Các công trình trên đây đãđạt được một sốkết quảbướcđầu khi nghiên cứu vềPBXH và hoạt độngXDPL (quy trình xây dựng văn bản QPPL), cụ thể:
– Các công trình bướcđầu hình thành nên hệthống lý luận chung vềPBXH trên các phươngdiện cụthểnhư: chủthể, đối tượng, hình thức, các điều kiện bảo đảm cho hoạt động PBXH trong thực tế.
– Các công trình đã đề cập đến sự tham gia của các chủ thể PBXH trong việc XDPL. Cụ thể là vai trò của MTTQ Việt Nam với các thành viên, trongđó vai trò tích cựccủaLiên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Phòng Thương mạivà Công nghiệp Việt Nam và hoạt động thông tin, cung cấp số liệu, phản ánh thực tế của báo chí. Sự tham gia của các nhà khoa học, của các chuyên gia pháp luật và sự hưởng ứng đông đảo của nhân dân trong việc đưa ra những ý kiến đóng góp để XDPL.
– Các công trình nghiên cứu nêu ra các điều kiện đểđảm bảo cho PBXH được thực hiện có hiệu quả trong thực tế. Hoạt động XDPL cần được bảo đảm bằngviệc thực hiện tốt cơ chế PBXH.
3.2. Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Mặc dù đã đềcập đến PBXH nhưng các công trình nghiên cứu đãcóchưa làm rõvịtrí, chức năng củaPBXH trong hoạt độngXDPL. Cácđềtài nghiên cứu chưa nghiên cứu PBXH từ cách tiếp cận quyền con người, quyền công dân, do đó,chưa phân tích sâu bản chất, tầmquan trọng củaPBXH trong hoạt độngXDPL gắn với yêu cầu bảo đảm, bảo vệquyền con người, quyền công dân – một đặc trưng và một chức năng quan trọng nhất của Nhà nước pháp quyền XHCN.
Pháp luật về PBXH trong XDPL tuy đang từng bước hoàn chỉnh nhưng mới chỉ điều chỉnh một phạm vi hẹp – PBXH của MTTQ Việt Nam và các tổchức thành viên. Pháp luật điều chỉnh các hoạt động liên quan đến PBXH còn thiếu hoặc chưa thể hiện hết ý nghĩa của PBXH, đó là: Luật về hội, Luật tiếp
cận thông tin, Luật trưng cầu ý dân, Luật MTTQ Việt Nam… Những bất cập này cần đượcnghiên cứu đểgóp phần giải quyết đồngbộ, thỏa đáng trong thời gian tới.
Luận án cần tiếp tục nghiên cứu và giải quyết một số vấn đề sau:
– Hình thành cơ sở lý luận về PBXH trong hoạt động XDPL nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam vềchủthể, đối tượng, hình thức, quy trình và các nhântốảnh hưởngđến PBXH trong hoạtđộng XDPL ở Việt Nam hiện nay.
– Đánh giá đúng vai trò của PBXH ở Việt Nam trong thực tiễn XDPL từgócđộtiếp cận quyền con người, xây dựng và thưc hành dân chủtrực tiếp, dân chủ gián tiếp.
– Nghiên cứu một số đặc điểm của PBXH và các yếu tố tác độngđến PBXH trong hoạt động XDPL ở Việt Nam.
– Nghiêncứukinh nghiệm thực hiện PBXH tại một sốquốc gia trên thế giới để từ đórút ra một số giá trị tham khảo cho Việt Nam.
– Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng phápluật vềPBXH tại Việt Nam hiện nay (về chủ thể, đối tượng, quy trình thực hiện PBXH).
– Nghiên cứu phân tích, đánh giá về những thành tựu vàhạn chếkhó khăn trong thực tiễn thực hiện PBXH trong hoạt động XDPL ởViệt Nam hiện nay.
– Nghiên cứucác giải pháp cụthểnhằm nâng cao chất lượngPBXH trong hoạt động XDPL ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận, giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận
Vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tưtưởngHồ Chí Minh vềdânchủ, vềthực thi quyền lực của nhân dân,đườnglối củaĐảng,pháp luật của Nhànước vềxây dựng Nhànướcpháp quyền Việt Nam trên cơ sởtôn trọng quyền con người, quyền công dân, mọi hoạt độngcủa Nhà nước, đặc biệt là quá trình XDPL cần có sự tham gia của toàn xã hội, Luận án tiếp cận nghiên cứu vềPBXH trong hoạt động XDPL-mộtphương thức quan trọng thực thi quyền lực lập pháp của Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.
4.2. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
XDPL có sự tham gia, PBXH tích cực của nhân dân sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của các văn bản QPPL khi được thực hiện trên thực tế. PBXH trong XDPL với vai trò là hình thức thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân, của các tổ chức đại diện hợp pháp của nhân dân, không chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền những ý kiến tham khảo có giátrịmà còn thểhiện yêu cầu của xã hội vềnhững quy định được thểhiện trong các văn bản QPPL.Nhờcó PBXH màcác văn bản QPPL có cơ hội tiếp cận đến mức độ phù hợp, hài lòng,sự đồng thuận của xã hội. Từ đó hình thành hệ thống pháp luật ở Việt Nam mang tính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội và ổn định lâu dài.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động PBXH trong XDPL như: số lượng và chất lượng nhân lực làm công tác XDPL và PBXH trong XDPL; hệ thống pháp luật hiện hành; các điều kiện về chính trị – kinh tế – phong tục, văn hóa, truyền thống dân tộc; các bảo đảm vềthông tin và tiếp cận thông tin, kinh
phí……đều cần đượctínhđến nhằmnâng cao chất lượng củaPBXH trong hoạt độngXDPL.
Để chứng minh cho giả thuyết trên, các câu hỏi đặt ra cho Luận án là:
Câu hỏi 1: PBXH trong hoạt động XDPL có ảnh hưởngđến chất lượng các văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay không?
Câu hỏi 2:Ảnh hưởngcủa PBXH trong hoạt động XDPL đến chất lượng các văn bản QPPL được biểu hiện cụ thể như thế nào về lý luận và thực tiễn?
Câu hỏi 3: Những giải pháp gì đểphát huy vai trò và nâng cao chất lượngcủa PBXH trong hoạt động XDPL ở Việt Nam hiện nay?
Để chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu đãnêu, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
– Làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về PBXH trong hoạt động XDPL ởViệt Nam hiện nay (xây dựng khái niệm PBXH trong hoạt động XDPLdưới góc nhìn của khoa học pháp lý; làm rõ các đặc trưng của PBXH như: chủ thể,đốitượng, hình thức, quy trình và chấtlượngcủaPBXH trong hoạt động XDPL);
– Đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về PBXH trong hoạt động XDPL ở nước ta thời gian qua, chỉ ra kết quả tích cực, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến thực trạngđó;
– Đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng PBXH trong hoạt động XDPL ở Việt Nam hiện nay.
KẾT LUẬN
PBXH thể hiện phản hồi từ phía xã hội bằng thái độ, quan điểm, lý lẽ của các cá nhân, các tổ chức đại diện nhân dân đối với chính sách pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền,lợiích hợp pháp của các thành viên trong xã hội. PBXH giúp các cơ quan Nhà nước điều chỉnh chủ trương, chính sách, pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tiễn. PBXH chính là một phương thức để nhân dân thực hiện dân chủ trực tiếp, thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước, một cơ chếbiểu đạt ý kiến, nguyện vọng, thái độ của nhân dân đối với các chính sách, pháp luật do Nhà nước ban hành.
Tại Việt Nam, PBXHmới thực sựđượccoi trọng trong những năm gần đây và đang ngày càng trở thành nhu cầu bức thiết cho quá trình lãnh đạo,điều hành đất nước. Hoạt động này đã được giới nghiên cứu khoa học quan tâm tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Nghiên cứu các công trình, bài viết liên quan đến đề tài:“Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, tác giả rút ra các nhận xét sau:
1. Sốlượng công trình nghiên cứu vềPBXH nhiều, đa dạng, tuy nhiên PBXH trong hoạt động XDPL mới chỉ được đề cập tại các bài báo, tạp chí, mang tính khái quát sơ lược.
2. Hệthống lý luận vềPBXHđãđượcbướcđầuhình thành, đặc biệt làkhái niệm PBXH, cácđặcđiểm,nguyên tắc. Tuy nhiên chưa có sựthống nhất, chưa đưa ra được định nghĩa về PBXH trong hoạt động XDPL dưới gócđộ Nhà nước và pháp luật; chưa tiếp cận nghiên cứu vềPBXH trong hoạt động XDPL dựa trên trách nhiệm bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Nhànước pháp quyền trong khi thực thi quyền lực lập pháp.
Kế thừa và phát triển các kết quả phân tích từ tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về PBXH trong hoạt động XDPL, Luận án đã xây dựng giảthuyết nghiên cứu và 03 câu hỏi nghiên cứu làm định hướng cho việc triển khai nghiên cứu lý luận và thực tiễn PBXH trong hoạt động XDPL ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượngPBXH trong hoạt động XDPL, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, thực thi đầy đủ và hiệu quả dân chủ trực tiếp, bảo đảm thực chất quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG
HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
1.1. Nhà nước ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân là cơ sở chính trị – pháp lý của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật
1.1.1. Quyền con người, quyền công dân là gì? 1.1.1.1. Khái niệm quyền con người
Wolfgang Benedek từng nhận xét: “Không cócụmtừ nào tronglịch sửgầnđây của loàingười lạicó nhiều đặc quyềnđểchịu trách nhiệm và gánh vácđịnhmệnhcủaconngườinhưcụmtừquyền conngười“. DovậyQuyền con người là một thuật ngữ có tính bao quát, cómứcđộảnh hưởngvô cùnglớnđến
đời sốngchínhtrị- xãhội– pháp lý của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Quyền conngườiđượcnghiên cứu, đánh giá trên nhiều gócđộvới nhữngđịnhnghĩa sau: (1) TuyênbốViên và Chương trình hành động (1993):
“Quyền conngườivàtựdo cơbảnlà quyềnbẩmsinhcủamọingườiđược hưởng; việc thúcđẩyvàbảovệcác quyềnđólà trách nhiệmtrướctiên của Chính phủ”; (2) Tài liệuhỏiđápvềquyền conngườicủaLiênhợpquốc (1994): “Quyền conngườilà những gìbẩmsinh,vốncócủaconngườimànếukhôngđượcbảođảmthì chúng ta sẽ khôngthểsống như một con người”; (3) Văn phòng CaoủyLiên hợp quốc (OHCHR): “Quyền con người là những bảođảm pháp lý toàncầucó tác dụngbảovệ các cá nhân và các nhóm chống lạinhững hànhđộng hoặcsựbỏmặc mà làmtổnhạiđến nhân phẩm, những sựđượcphép và tự do cơ bảncủacon người”; (4) Quỹ phát triểnphụ nữLiên hợpquốc (UNIFEM): “Quyền conngườilàsứcmạnhýchíđểđảmbảovàbảovệ chân giá trị con người bằng luật phápchứkhông hoàn toànphụthuộc
vào ý thích, hoàn cảnh haysựưu đãi”; (5) Giáo trình Lý luận và pháp luật vềquyền conngườicủaKhoa Luật,ĐạihọcQuốc gia HàNội(2009):“Quyền conngườilà những nhu cầu, lợi íchtựnhiên,vốncó và khách quancủacon ngườiđượcghi nhận vàbảovệtrong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốctế”. Như vậy, quyền conngườilà cácđặcquyềntựnhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn cócủa tấtcả mọi người,được ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốctế.
1.1.1.2. Khái niệm quyền công dân
Sựhình thành khái niệm quyền công dângắnliềnvớichủnghĩa lập hiến của cách mạng tư sản và được ghi nhận trong các bản Tuyên ngôn, Hiến phápcủamộtsốquốc gia thờikỳcậnđại.Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp (1789) ghi nhận:“Mộtxãhộimà trongđósựbảođảmquyền công dân khôngđượcchắc chắn,sựphân chia quyền lực khôngđượcổn định thì xã hộiđóhoàn toàn không có Hiến pháp và pháp luật”. Hiến pháp Hoa Kỳnăm 1868(Điềusửađổithứ14) quyđịnh:“Khôngmộtbang nàođượcban hành hoặc thực thibất cứ đạo luậtnào nhằmhạnchế đặc quyền hoặc quyền bất khả xâm phạm của công dân Hoa Kỳ”; Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen cho rằng: “Quyền công dân là các quyền cơbảnđượcđặcbiệt bảođảmcho các công dâncủamộtquốc gia cụ thể; vídụnhư quyền bầu cử,ứngcử hay quyền tiếp cậnvớicác dịch vụ công tại một quốc gia nào đó“; học giảWolfgang Benedek cho rằng: “Quyền công dân có thể phát sinh trực tiếp từquyền tự nhiên hay gián tiếp thông qua các sắp xếp chính trị trong một xãhộiđượcxây dựng với sự thỏa thuận của người dân thể hiện trong các Hiến pháp và các luật lệ”. Như vậy, quyền công dân là tổnghợpcác quyền vàtựdo cơ bảncủamỗi cá nhân, tạo nênđịa vịpháp lý của cá nhân trongmốiquan hệvớinhànướcthông quachếđịnhquốc tịchđượcthừa nhận vàbảođảm bằng Hiến pháp và pháp luật của quốc gia.
1.1.1.3.Mốiquan hệ giữa quyền con người và quyền công dân
Quyền con người là quyềntựnhiên,vốncócủacon người từ lúc sinh ra, còn quyền công dântrướchếtcũng là quyền conngườinhưng việc thực hiện nógắnliền với quốc tịch, tức làvịthếpháp lý của công dân trong quan hệvới Nhànước, được Nhà nước bảođảmđốivới công dân của nước mình. Chỉ những người có quốc tịch mới được hưởng quyền công dâncủaquốc giađónhư quyềnbầucử,ứngcử,tham gia quản lý nhànước.Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng quyền con người và quyền công dân có mối quanhệhữu cơ, gắn bó với nhau. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân; mọingườicó nghĩavụtôn trọng quyềncủangườikhác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩavụđốivới Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
1.1.2. Quyền dân sự – chính trị trong Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trách nhiệm của quốc gia thành viên tuân thủ cam kết
Các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đều thừa nhận Quyền con người ở 5 lĩnh vực khác nhau củađời sống(dân sự, chính trị, kinh tế, xãhội và văn hóa). Trách nhiệmcủacác quốc gia là tuân thủnghiêm chỉnh Tuyên ngôn thếgiới vềquyền con người (UDHR, 1948); 02 Công ước quốc
tếcơ bản vềquyền con người năm 1966 (ICCPR và ICESCR) và 02 Nghịđịnhthư đính kèm.
Trong Côngước quốc tếvềquyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) quyđịnhcác quyền sau: (1) Quyền tự do bày tỏ ý kiến,tựdo ngôn luận (điều 19): “1. Mọingườiđều có quyền giữ quan điểm của mình mà khôngbịai can thiệp; 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận”; (2) Quyền hội họp hoà bình phải đượccông nhận (điều 21); (3) Quyền tựdo lập hội (điều22): “1. Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia
nhập các công đoànđểbảo vệ lợi ích củamình”; (4) Quyền tham gia quản lý công việc Nhànước vàxã hội (điều 25): “Mọi côngdân, không có bấtkỳ sựphân biệt nào và không có bấtkỳ sựhạnchếbất hợp lý nào, đều có quyền vàcơ hội để:a) Tham gia điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua nhữngđại diện do họtựdo lựa chọn; b) Bầu cửvàứngcửtrong các cuộc bầu cửđịnh kỳchân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bìnhđẳngvàbỏphiếu kín, nhằmđảmbảochocửtriđượctựdo bàytỏý nguyện củamình; c) Được tiếp cận với các dịch vụ công cộng ở đất nước mình trên cơ sở bìnhđẳng”.
Mỗicá nhân phải có nghĩa vụ đối với người khác và phải có trách nhiệm phấn đấu cho việc thúcđẩy và tôn trọng các quyền đãđượcthừa nhận; các quốc gia thành viên của Công ước phải cam kết và có trách nhiệm:“tôntrọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước, không có bấtkỳ sựphân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trịhoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặcđịa vịkhác”. Ngoài ra, phải camkếtvàđảmbảo quyền bìnhđẳng giữa nam vànữtrong việc thực hiện tất cả các quyền dân sự và chính trịmà Công ước đã quy định.
1.1.3. Các quyền dân sự, chính trị của công dân và trách nhiệm hiến định của Nhà nước Việt Nam công nhận, tôn trọng, bảo vệvà bảo đảm quyền dânsự,chính trịcủa công dân (nguyêntắckhôngđượchạnchếquyền con người, quyền công dân trái Hiến pháp)
Các quốc gia thành viên của Công ước quốc tế đãcam kết và ghi nhận các quyền dân sự, chính trị trong Hiến pháp và pháp luật nhằm tôn trọng, bảo vệvà bảo đảmquyền củacông dân.Ở Việt Nam,Điều 14, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1. Ở nước CHXHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền
công dân vềchính trị, dân sự,kinh tế,văn hóa, xã hộiđượccông nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quyđịnhcủa luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộngđồng”.Cụ thể hóa các quyền về dân sự, chính trị tại điều 25 như sau:“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” và quyền tham gia quản lý Nhànước (từđiều 27 đến điều 30), với các quyền cụ thể bao gồm:
– Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí: cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Luật Báo chí năm 2016 quy định quyền tự do báo chí của công dân bao gồm:“sángtạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báo chí, liên kết với cơ quan báo chíthực hiện sản phẩm báo chí, in và phát hành báo in (Điều 10) và các quyền tựdo ngôn luận trên báo chí của công dân”. Luật Xuất bản năm 2012 quy định công dân đượccông bốcác tác phẩm của mình cho công chúng, Nhànước bảo đảmquyền phổ biến tác phẩm dướihình thức xuất bản phẩm thông qua nhà xuất bản và bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.
– Quyền tiếp cận thông tin: Hiến pháp năm 2013đãxácđịnh rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc quy địnhquyền tiếp cận thông tin đáp ứng nhu cầu chủ động tìm kiếm thông tin một cách đẩy đủ, chính xác và trách nhiệm cung cấp thông tin chính thống vàcó trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cơ quan tạo ra thông tin. Luật Tiếp cậnthông tin năm 2016đãquyđịnh cụthểviệc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền
và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin…
– Quyền tự do hội họp và lập hội: là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Đây là nhu cầu tự nhiên của con người, vì thế Nhà nước không chỉ thừa nhận mà còn phải tạo các điều kiện cần thiếtđể đáp ứng nhu cầu tụ họp của người dân để họ có thể trao đôi, bàn bạc, thảo luận, đáp ứngvà thỏa mãn các nhu cầu chungcủanhóm người có cùng lợiích, sở thích và nhu cầu chung của xã hội.
– Quyền biểu tình: là quyền tự do, dân chủ của công dân, được quy định lần đầu tiên tại Sắc lệnh số31 ngày 13/9/1945, sau đó đượcquy định trong Hiến pháp năm 1959 (Điều 25). Hiện nay các hoạt động tập trung đông ngườiởnơi công cộngđểbiểu đạtnguyện vọng nhằm ủnghộhoặc phản đốiliên quan tới một vấn đề, sựkiện chính trị, kinh tế, xã hội được thực hiện theo Nghịđịnh số38/2005/NĐ-CP ngày 18/03/2005củaChínhphủvề“quyđịnh một sốbiện pháp bảo đảm trật tựcông cộng”và Thông tư số09/2005/TT- BCAcủaBộCông an ngày 05/09/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 38/2005/NĐ-CP. Trong thời gian tới, Dự án Luật Biểu tình tiếp tục nghiên cứu đểtrình Quốc hội ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân, nâng cao hiểu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với hoạt động biểu tình.
– Quyền bầu cử, ứng cử (Điều 27): “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội,HĐND”. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 đãmở rộngthêm “cử tri là người đang bị tạm giữ, tạm giam,ngườiđang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND cấp tỉnh nơi ngườiđóđangbịtạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc”.
– Quyền tham gia thảo luận, kiến nghị với các cơ quan nhànước vàbiểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý: Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhànước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Quyền này được cụ thể hóa trong nhiều văn bản QPPL như Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tốcáo, Luật Phòng chống tham nhũng…,trongđó,Pháp lệnh thực hiện dân chủ ởxã, phường,thịtrấn năm 2007 quy định nhữngnộidung phải công khaiđểnhân dân biết; những nộidung nhân dân bàn và quyết định; những nộidung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát…
Điều 5 Luật Trưng cầu dân ý năm 2015 quy định: “công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”. Nhân dân có quyền tham gia vào công việc quản lý, quyết định trực tiếp các vấn đề quan trọng của đất nước thông qua trưng cầu dân ý.
– Quyền khiếu nại, quyền tố cáo và trách nhiệm tiếp công dâncủacơ quan Nhànước(Điều 30): “Mọingười có quyền khiếu nại, tốcáovớicơquan,tổchức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan,tổchức, cá nhân”. Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền dân sự, chính trị quan trọng, thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân, công dân vớinhànước, thểhiện rõ bản chất của Nhà nước. Luật Khiếu nại năm 2011 (Nghịđịnhsố124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020); Luật Tố cáo năm 2018 (Nghịđịnhsố31/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019); Luật Tiếp công dân năm 2013 (Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014), là những văn bản luật quan trọng quy định cụthểvềquyền khiếu nại, quyền tố cáo và cơ chếthực hiện bảo vệquyền vủa công dân, gắn với việc giải quyết khiếu nại, tốcáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
1.1.4. Phản biện xã hội – tiếp cận từ việc thực hiện các quyền dân sự, chính trị của công dân và trách nhiệm của Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm để người dânthực hiện phản biện xã hội
Có thểthấy rằng các quốc gia trên thếgiới, trong đó có Việt Namđều thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm việc thực hiện các quyền dân sự và chính trị của cá nhân trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốctếvà khu vực. Quyền tự do ngôn luận,tựdo thể hiện tư tưởng,tựdo biểu đạt quan điểm đãđược các thểchếdân chủ trên thế giới thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Quyền này luôn xuất hiện,
tồn tại,đượcghi nhận,đượctôn trọng vàđượcbảo đảmtrong các xã hội dân chủ, được xem như làthước đo mức độ dân chủ củamột xã hội. PBXH chính làmột hình thức đểthểhiện quyền dân chủ, trong đó quyền dân sự, chính trị là tiền đề, làđiều kiện cơ bản cần thiết đểngười dân thực hiện PBXH.
Hiến pháp Việt Nam 2013 quy định về một số quyền con người, quyền công dân có nội dung liên quan đến PBXH như quyền được thông tin, quyền tựdo ngôn luận, quyền trưng cầu ý dân, quyền tham gia quản lý nhànước vàxã hội. Điều 28 Hiến pháp quyđịnh: “1.Công dân có quyền tham gia quản lýnhànướcvà xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nướcvềcácvấn đềcủa cơ sở, địa phương và cả nước. 2.Nhà nước tạo điều kiện để
công dân tham gia quản lý nhànướcvà xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”. Có thểthấy rằng ởViệt Nam trong những năm gần đây, nhân dân tham gia phản biện đối với các chính sách phát triển kinh tế – xãhội củaNhà nước ngày càng nhiều. Những ýkiến củanhân dân đã góp phần giúp cho các chính sách, chủ trương, các kếhoạch củaNhànướchoàn thiện và mang tính thực tiễn cao. Nhân dân tham gia PBXH là một cách thểhiện quyền công dân,đồngthời đócũng là hình thức đi đến đồng thuận xãhội. Đểlàm tốt các quyền này, Nhà nước phải cótrách nhiệmbảođảmvà phát huy quyền làmchủcủa Nhân dân; công nhận, tôn trọng,bảo vệ vàbảo đảm quyền con người, quyền công dân.
1.2. Khái niệm và các đặc điểm của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật
1.2.1. Khái niệm và các thuật ngữ có liên quan đến phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật
1.2.1.1. Khái niệm phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật Trong thời đại ngày nay, PBXH là một trong những vấn đề quan trọng
để các quốc gia hướng tới nền dân chủ, do vậy có nhiều quan điểm khác nhau vềPBXH. Tác giả Nguyễn Thị Tâm cho rằng: “PBXH làsựbiện luận, thẩmđịnh,đánh giá của các lực lượng xã hội đối với những chủ trương, chính sách,đềán,dựán xã hội… liên quan đến lợi ích củamọi thành viên trong xã hội nhằm phát hiện, bổ sung, chứng minh, khẳng định hoặc bác bỏ, phủ định một chủ trương, chính sách hay đề án xã hội đang hình thành hay đã công bố”[83,
tr 78,82]. Trong tác phẩm: PBXH –nhìntừgócđộLuật học của tácgiảNguyễn Văn Động, có đoạn viết: “PBXH làsựphê phán, phê bình,sựphản ứng của xã hội, có tổ chức, có mục đích và đối tượng rõ ràng, dựa trên những căn cứ lý luận và thực tiễn nhất định, mang tính xây dựng đối với chủ trương, chính sách pháp luật, văn bản QPPL của Nhànước cảởgiaiđoạn đềxuất, soạn thảo (hay xây dựng) lẫn trong giaiđoạn thựcthi các văn bản đó,nhằm cung cấp những luận cứ để Nhà nước sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhữngchủtrương và văn bản nhất định hoặc hủy bỏ các chủ trương và văn bản mà việc áp dụng chúng đã, đang gây tổn hại về vật chất, tinh thần cho xã hội hoặc làm tổn thương cho môi trường”[32, tr3,7]. PBXH là hoạt động có chất lượng khoahọccầnđáp ứng các điều kiện nhất định. PBXH bên cạnh giátrịkhoa họccòn có yếu tốxã hội,tứclà phản ánh các quanđiểm,quyềnlợicủacác
tầng lớp khác nhau trong xã hội. “PBXH không phải lúc nào cũng dựa trên cơsởlập luận khoa học thuần tuý và các yếu tố quyền lợi chính trị, kinh tế, xãhội được phản ánh thông quachủ thểphản biện” [112].
Trong tác phẩm: PBXH -Một sốvấn đềchung và phương thức phản biện xã hội, Trần Đăng Tuấn cho rằng: “PBXH làđưara cáclậpluận, phân tích nhằm phát hiện, chứng minh, khẳng định, bổ sung,hoặc bác bỏ một đềán (phương án,dựán)xã hội đãđược hình thành và công bố trước đó [88]. Nhìn nhận trên phương diện quyền lợi, Phạm Quang Tú cho rằng: “PBXH làsựphản tư của các lực lượng xã hội đối với những kiến tạo chính sách,thểchế… trực tiếp liên quan đến quyền lợi củacác thành viên trong cộng đồng,từđógiúp các cơ quan hữu quan điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tiễn” [85].
Theo tácgiảVũ Hồng Anh: “PBXH làsựphản hồi củaxãhộivới hệthống lãnh đạo, quản lý thể hiện qua những nhận xét, đánh giá, phân tích cócăn cứ và có tính thuyết phục. PBXH được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các chủ thể phản biện; có chức năng chuyển tải nhu cầu, nguyện vọng của xãhội đến nhữngngười lãnh đạo và quản lý; có tác dụng thúcđẩy nền dân chủ xã hội vàcủng cố thể chếxã hội. Hình thức PBXH phụ thuộc vào truyền thống văn hóa chính trị, trìnhđộ tổchức dân chủ củatừng nơi, từng thời kỳ lịch sử” [1, tr.9] hoặc “PBXH làsựphản ánh chính kiến củaxã hội đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật dohệthống lãnhđạo,quản lý đềra, thểhiện qua những nhận xét, đánh giá, phân tích có căn cứ và có sức thuyết phục, được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các chủ thể phản biện; có chức năng chuyển tải nhu cầu, nguyện vọng của xãhộiđến hệthống lãnh đạo và quản lý; có tác dụng thúc đẩy nền dân chủ xã hội vàcủng cố thểchếxã hội. Hình thức PBXH tùy thuộc vào truyền thống văn hóa chính trị, trình độ tổ chức dân chủ củatừng nơi, từng thờikỳ lịchsử[39].Mỗigiai đoạn,mỗithời kỳ có sựlựa chọn các hình thức PBXH khác nhau, điển hình vàtrọng tâm. Ví dụ: hình thức lấy ý kiến củanhân dân đốivớidựán luật trong thờikỳ công nghệ thông tin như hiện nay thì việc thu thập ý kiến qua mạng
internet là một thế mạnh. Hình thức này mang đến sự nhanh chóng, cập nhập thông tin liên tục vànhận được sựtham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong quá trình phản biện.
“Xây dựng pháp luật là hoạt động ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các quy định của pháp luật cho phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luậtđối với các quan hệ xã hội. XDPL là một quá trình hoạt động phức hợp, bao gồm rất nhiều các hoạt động kế tiếp nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều tổchức và cá nhân cóvịtrí, vai trò, chức năng, quyền hạn khác nhau cùng tiến hành, nhằm chuyển hóa ý chí của Nhà nước, của nhân dân thành những quy định pháp luật dựatrên những nguyên tắc nhất địnhvàđược thểhiện dưới những hình thức pháp lý nhất định mà chủ yếu là văn bản QPPL” [26, tr8]. Để tổ chức và quản lý các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, Nhànước phải tiến hành xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền và nghĩavụ pháp lý củacá nhân,tổ chức trongđời sống xãhội. Do đó, PBXH trong hoạt động XDPL được xem là sự đánh giávềtính hợp lý,sựchính đáng,đúng đắn củamộtchính sách hay quyđịnh pháp luật của Nhànước dưới góc độ lợi ích củatoàn xã hội hay một nhóm xãhội nào đó. PBXH trong hoạt động XDPL có tác dụng mở rộng và thực hành dân chủ, phản ánh quan điểm, chính kiến củachủ thểphản biện (cá nhân hoặc
tổchức)đốivới các vấn đềcó ảnhhưởnglớn hoặc lâu dài đến lợi ích của Nhà nước, xã hội vàcủamỗi cá nhân thông qua việc ban hành các văn bản QPPL.
Trên cơ sở các luận giải và phân tích, nghiên cứu sinh đưa ra khái niệm vềPBXH trong hoạtđộng XDPL như sau: PBXH trong hoạtđộngXDPL là sựđánh giá, phân tích, lập luận,thểhiện chính kiến, ý kiến tích cực của chủthểphản biện,sựphản ứng của xã hội đối với các văn bản QPPL nhằm khẳng định cái đúng, cái chưa đúng hoặc sai của các chính sách, các văn bản QPPL, để các quy định của pháp luật được ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc
bãi bỏ phù hợp với nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội. Từ đó góp phần xây dựng hệ thống pháp luật mang tính khả thi, thực tiễn vàổn định lâu dài.
Đối tượng củaPBXH trong hoạt động XDPL là các chính sách, quanđiểmđượcthểhiện chủ yếu trong cácdựán văn bản QPPL thông qua các nguyên tắc, QPPL cụ thể.Đối với các văn bản pháp luật hiện hành thì cần phản biện, xem cái gì còn hợp lý cần giữ lại, cái gì cần chỉnh sửa và cái gì cần loại bỏ.
1.2.1.2. Cácđặctrưng của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật
Thứnhất, PBXH trong hoạt động XDPL là hoạt động phân tích độclập với những lập luận có căn cứthực tiễn, khoa học. Đây là một yếu tố rấtquan trọng bảo đảm tính khách quan trong ý kiến củachủ thểphản biện. PBXHtrong hoạt động XDPLlà xem xét, phân tích, lập luận vềcácmặtkhác nhaucủamột hoặc nhiều chính sách pháp luật.Hoạt độngphân tích độclập được thểhiện ở ýtưởng, tư duy, chính kiến, cách đánh giá vàthái độ củamỗi cá nhân đối với một sựviệc, sự vật. Ví dụ: Khi xây dựng mộtđạo luật thì sẽcó những quy định liên quan đến lợi ích của những nhóm người khác nhau trong xã hội. Trên cơ sởlợiích này mà ý kiến tham gia phản biện cũng khác nhau với những lập luận khác nhau nhằm hướng tới lợi ích được thụ hưởng của cá nhân,củacộng đồng. Mỗi người có cách nhìn nhận vấn đề khác nhau về cuộc sống nên sự vận dụng ngôn
từbiểu đạt cũng như trình bày quan điểm sẽ khác nhau.Mỗingười sẽphân tích theo cách nghĩ của bản thân dựa vào sự hiểu biết cũng nhưthực tếcuộcsống họđãtrải qua. Vì thếsựphân tích độc lập là đặc điểm riêng mà hoạt động phản biện mang lại, tạo ra sự đa dạng và phong phú cho các ý kiến phản biện.
Thứhai, PBXH trong hoạt động XDPL được thực hiện bởi các cá nhân,tổ chức, nhất là những cá nhân,tổ chứccó lợi ích trực tiếp liên quan đến chính sách pháp luật.
Trướctiên, PBXH đượcthực hiện trực tiếp bởi các cá nhân trong xãhội.Các chủ trương, chính sách, pháp luật do Nhà nước ban hành có tác động trực tiếp đến các quyền, lợi ích hợp pháp mà các cá nhân, công dân được thụhưởng hoặc các nghĩa vụ mà họ phải thực hiện. Bởi vậy, cá nhân, công dân rất cần phải có quyền được tiếp cận sớm với các thông tin về chính sách,vềcác giải pháp chính sách, pháp luật mà Nhànướcdựkiến sẽban hành đểgiải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra liên quan đến đời sống, công việc làmăn,sựan toàn của cá nhân, gia đình hay cộng đồng. Trên cơ sởđó,họ sẽcất lên tiếng nóitừthực tiễn, dựa trên những hiểu biết, những trải nghiệm của cánhân đểgóp ý,đểphản biện với Nhànước vềnhữngvấn đềthiết thực đối với họ,góp phần tạonên sựđồng thuận giữa ý chí củaNhànước/cơquan làm chính sách, soạn thảo văn bản pháp luật và ý chí, nguyện vọng của nhân dân.Đó cũng chính là cách thức mà cá nhân, công dân thực hành dân chủ trực tiếp, chủ động thực hiện quyền làm chủ đối với việc thực thi quyền lực Nhànước trong lĩnh vực lập pháp. Ngược lại, Nhànướcchủ động yêu cầu,đềnghị cánhân tham gia PBXH trong hoạt động XDPL, lắng nghe, phân tích, tiếp thu vàgiải trình minh bạch, công khai đối với các ý kiến phản biện củacá nhân, công dân, chính là cách thức đểNhà nước bảo đảm vàbảo vệngười dân thực thi quyền dân chủ củamình trong hoạt động XDPL- một hoạt động có bản chất chính trị- pháp lý và xã hội sâu sắc.
Tiếp theo, PBXH được thực hiện bởi đại diện là các tổ chức, nhóm xãhội mà chính sách pháp luật tác động đến lợi ích chung củahọ.Các tổ chức nàyđược thành lập phải đại diện cho tiếng nói chung, lợi ích chung của các cánhân thành lập ra mình, đồng thời phải được thành lập trên cơ sở hợp pháp,tựlập,tựnguyện,tựdưỡng với mụcđích bảo vệquyền lợi củacác thành viên trong tổ chức. PBXH của tổ chức phải xuất phát từ chức năng đại diện của các
thành viên (tập trung phản biện những vấn đề mà các thành viên của tổ chức quan tâm vì có tác động trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của các thành viên,đếntổ chức, hoạt độngcủa tổ chức); phải phù hợp với phương thức hoạt động củatổ chức trong quan hệvới Nhànước,xã hội vàquan hệ với các thành viên của mình.
Thứba, PBXH có tính xây dựngđốivớihoạtđộng của bộ máy Nhànước, đặcbiệt là hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong việc XDPL. Việc PBXH đối với các chính sách pháp luật giúp cho các cơ quan Nhà nước thực hiện đúng chức năngcủamình,đồng thờilựachọn phương án tốt nhấtnhằm quản lý xã hội vàbảo vệtốtnhất quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Trong quá trình PBXH đối với các chính sách pháp luật cần bổ sung,sửa đổi,điều chỉnh và khẳng định cái đúng, cái hay, cái ưu điểm trong những nội dung được đề cập. Do đó,PBXH trong hoạtđộng XDPLvớiý nghĩa đúng đắn vàtoàn diện,kểcả phải sửdụng đến phương án phản bác, thì nó vẫn mang động cơ xây dựng để hoàn thiện văn bản pháp luật. PBXH trong hoạt động XDPL làsựkếthợp giữa trítuệxãhộivớitrítuệcủahệthống chính trịđểtạo ra tính chính xác, tính đúng đắn trong các chính sách pháp luật.
Thứtư, PBXH trong hoạt động XDPL gián tiếp tham gia vào các lĩnh vực hoạt động diễn ra trong đời sống xã hội như: cơ cấu tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy Nhà nước; các chính sách, pháp luật,dựán liên quan đến đời sống củacon người; các vấn đềvềchất lượng cuộc sống; những giátrị vềđạo đức; tác hại củasuy thoái môi trường và những biện pháp bảo vệmôi trường sống củacon người. Những vấn đềliên quan đếnđạo đức hoặc môi trường thường đượcdư luận phản ánh nhanh chóng,dễđạt đượcsựđồng thuận. Các hoạt động của con người trong cuộcsống đều được quy định vàđiều chỉnh bởi những QPPL, mỗi hoạt động có những chính sách cụ thể, có đối tượng riêng hướng tới.Đối với việc quản lý củaNhànước,việc ban hành các quy định của pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân trên nhiều lĩnh vực nên PBXH thường được quan tâm, chú ý.
1.2.1.3. Các thuật ngữcó liên quan đếnphản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật
a) Phản biện xã hội và đóng góp ý kiến, kiến nghị trong xây dựng pháp luật PBXH là một trong những hính thứcmởrộng dân chủ hơn so với đóng
góp ý kiến, kiến nghị, hơn nữa đó là dân chủ trực tiếp.Chủ thểPBXH có thể nêu ra các quan điểm, ý kiến,đềnghị của mình bằng (văn bản hoặc lời nói) về các chính sách pháp luật mà họ quan tâm hoặc có ảnh hưởng đến lợi ích củahọ vàcủaxã hội. Mặc dù cả hai đều hướng tới mục đích làm cho chính sách pháp luật, văn bản pháp luật được tốt hơn, hoàn thiện, phù hợp hơn trong tương lai trên tinh thần xây dựng. Tuy nhiên giữa chúng cũng có những điểm khác như:
Mộtlà: PBXH thường tập trung vào các nội dung chính, cách chính sách, quy định pháp luật quan trọng trong văn bản pháp luật vớinhững lập luận, căn cứchặt chẽdo đó,cơ quan xây dựng chính sách, pháp luật phải nghiên cứu kỹ để tiếp thu ý kiến PBXH và giải trình nếu không tiếp thu.
Hai là: Nếu đóng góp ý kiến, kiến nghị chỉ là nêu lên quan điểmhoặc những yêu cầu mà chủ thể cho là đúng, là phù hợp mà không cần phải đưa ra các luận cứ khoahọcđểchứng minh cho sự đúng đắn đó thì PBXH ngoài việc nêu ra các ý kiến, quan điểm của mình,chủ thểphản biện còn phải đưa ra những luận cứ khoahọc(lý luận và thực tiễn)đểminh chứng cho các quan điểm đó.
Ba là:Chủ thểlấy đóng góp ý kiến, kiến nghị có thể không bắt buộc phải phản hồi lại tất cảcác ý kiến nhưng trong PBXH thì chủ thểđượcphản biện thường phải phản hồi về những nội dung được phản biện (tiếp thu, đồng tình hay phản bác) và các bên thường có sựtrao đổi,tranh luận với nhau đểcó thểtìmđược những ý kiến, quan điểm chung.
b) Phản biện xã hội và Trưng cầu ý dân trong xây dựng pháp luật
PBXH là phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, ý thức trách nhiệmcủanhân dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước. Thông qua việc
PBXH, nhân dân có cơ hội bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình,tạo điều kiện đểcơ quan soạn thảo, ban hành chính sách pháp luật xem xét, chỉnh sửa và hoàn thiện nội dung trước khi ban hành hoặc quyết định sửa đổi chính sách pháp luật. PBXH phải thông qua tranh luận mới đi đến quyết định đồng ý hay không đồng ý, trong khi đó, trưng cầu ý dân là việc nhân dân bày tỏ chính kiến (đồng ý hay không đồng ý) đối với phương án đưa ra mà không cần tranh luận. Đối với các văn bản pháp luật, trong quá trình soạn thảo sẽđượcPBXHđểhoàn thiện và Quốc hội ban hành, sau đó sẽ tiến hành Trưng cầu ý dân để Nhà nước lấy ý kiến của nhân dân về văn bản pháp luật đó trên thực tế. Nếu nhận được tỷ lệ đồngýtrên 50 % củanhân dân thì sẽđượctriển khai còn dưới 50 % không nhất tríthông qua thì trảlại Quốc hội đểbổsung hoặc thay thếcho phù hợp. Do đó, PBXH thểhiện trình độphát triển cao của nền dân chủvà chỉđạt được chất lượng tốt khi có sự chuẩn bị một cách chu đáo.Nếu Trưng cầu ý dân là đi tìmsựđồng thuận đơn giản thì PBXH là đi tìm sự đồng thuận có chất lượng khoa học.
c) Phản biện xã hội và hoạt động thẩm định,thẩm tra củacác cơ quan Nhà nước
PBXH và thẩm định, thẩm tra của các cơ quan Nhànướccó nhiều điểm chung đó là cùng phân tích,lậpluận và đánh giá vấn đề.Tuy nhiên, các hoạt động này có sự khác nhau cơ bản,đó làPBXH thường nhằm vào điểm yếu, hạn chế, chỗ sai; còn sự đánh giá trong thẩm định, thẩm tra thường cân bằng cả chỗđúng vàchỗsai.
Khác biệt cơ bản là PBXH trong hoạt động XDPL do các chủ thể ngoài Nhànướcthực hiện còn thẩmđịnh,thẩm tra trong XDPL là do các cơ quan Nhà nước có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động XDPL thực hiện (thẩm định do Bộ Tư pháp, thẩm tra do các cơ quan của Quốc hội thực hiện). Việc thẩmđịnh,thẩm tra thường do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành, mặc dù trong thành phần củaHộiđồng thẩm định,thẩm tra có thể có các cá nhân,
chuyên gia độc lập tham gia với tỉ lệ nhất định theo yêu cầu của cơ quan chịu trách nhiệm thẩmđịnh,thẩm tra, còn PBXH thì thường là do các cá nhân,tổ chức không thuộcbộmáy Nhà nước thực hiện một cách độc lập theo yêu cầu củacơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
d) Phản biện xã hội và Đồng thuận xã hội trong xây dựng pháp luật Nhìn một cách đơn giản dường nhưđâylà hai hoạt động xã hội trái
chiều nhau, nhưng về bản chất cả hai đều hướngtới việc đảm bảo sựtồn tạiổn định củaxã hội. Không có PBXH thì không có dân chủ, không có dân chủthựcsựthì không thểcó đồng thuận xãhộithựcsự.PBXHđểkhắc phục những bất đồng vềtư tưởng, quan điểm, lợi ích và hành động “ngầm”, không được công khai nhận diện, tranh luận giữa các lực lượng xã hội nhằm đi đến sựthống nhất chung, tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Đồng thuận xãhộichính làmột mụcđích của PBXH.
e) Phản biện xã hội và Giám sát xã hội trong xây dựng pháp luật
Trong thời đại ngày nay, PBXH và GSXH là công cụ hữu hiệu để tạo ra nền dân chủ, tạo sựphát triển vềchính trịcủanhiều quốc gia tiên tiến.Đối tượng củaPBXH và GSXH là tất cả những hoạt động có liên quan đến tổ chức và thực hiện quyền lực nhân dân, liên quan đến quyền lực nhà nước trong việc giải quyết các vấn đềquốc kếdân sinh. PBXH là một trong những biện pháp đểmởrộng dân chủ và tạo rasựđồng thuận cao trong xã hội. Trong khi đó, GSXH là quá trình theo dõi, quan sát, phân tích,nhận định vềhành vi của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện chức trách,nhiệm vụ đượcgiao, xem có vi phạm những chuẩn mực, đặc biệt là các quy tắc, chuẩn mực pháp lý mà Nhànước đãđặt ra hay không để có sự điều chỉnh hợp lý, hiệu quảcác vấn đềcủađờisống xã hội. Như vậy,chỉtrên cơ sởGSXHmộtcách nghiêm túc thìmới có thông tin đầy đủ và thấu đáo làm tiền đề cho PBXH. Ngược lại PBXH tiến hành đúng quy trình với nội dung rõ ràng, đối tượng phản biện trong các chính sách, văn bản pháp luật thể hiện rõ lợi ích trực tiếp của người dân, cũng
nhưsựtham gia nhiệt tình, trách nhiệm của xãhộisẽgiúp cho việc GSXH phát huy đầy đủ quyền pháp lý mà pháp luật đã quy định cho các chủ thể.
Hiện nay, trong nhận thức và quy định pháp luật vẫn xem PBXH vàGSXH là hai giai đoạn khác nhau: PBXH chỉ trong quá trình xây dựng văn bản QPPL (trước khi ban hành) còn GSXH chỉthực hiện đối với việctổ chức thi hành văn bản QPPL (sau khi đã ban hành). Nhưng cần phải nhìn nhận mối quan hệchung của hai hoạt động này trong cả quá trình trước và sau khi ban hành văn bản pháp luật. GSXH có thể thực hiện đối với các chính sách pháp luật trong quátrình soạn thảo, giám sát hoạt động củacá nhân,tổ chức trong việc thực hiện nhiệm vụ soạn thảo, xây dựng văn bản pháp luật, giám sát về quy trình, thời gian thực hiện đểđảmbảo tiến độ,chất lượng củavăn bảnpháp luật.Ngượclại, PBXH sẽtham gia ngay cảkhi văn bản pháp luật đượctổ chức thực hiện trên thực tếđểcác cơ quan Nhà nước thấy được những nội dung, quy định không phùhợp, nhằm có phương án sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản QPPL mới.
g) Phản biện xã hội và Dư luận xã hội trong xây dựng pháp luật
Dư luận xãhộilà các ý kiến, quan điểm có tính chất phán xét, đánh giácủacác nhóm xãhội trước những vấn đềmang tính thời sự, những chính sách pháp luật có liên quan tớilợiích chung củanhiều người. Dư luận xãhộiđơn thuần làsựthểhiện tháiđộ có tính chất đơn giản,cảmtínhcủanhững người chung về lợi ích trực tiếp còn PBXH lại thể hiện thái độ dựa trên những căn cứ,
lập luận mang tính khoahọcvề những chính sách pháp luật mà Nhà nước ban hành.Mặtkhác, nếu dư luận xãhộilàmộthiện tượng xãhộixuất hiện một cách tự nhiên thì PBXH là một hoạt động có tổ chức, mang tính khoa học.
1.2.2. Đặc điểm phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật Thứ nhất,đâylà hoạtđộng mang tính chính trị- pháp lý kếthợptính xã hội
sâu sắc. Tính chính trị- pháp lý kết hợp tính xã hội của PBXH trong hoạt động XDPL thể hiện ở hai khía cạnh:
(1) Pháp luật vừa mang bản chất quyền lực vừa mang bản chất xã hội, XDPL làmột hoạt độngcủa quyền lực Nhà nước (quyền lập pháp) đồng thời
chịu sự kiểm soát của người dân (chủ thể của quyền lực), của xã hội. Chính vìthếpháp luật ban hành ra phải phù hợp với lợi ích chung của xã hội nhưng quyền lực Nhànướcphải đượctất cảcác thành viên trong xãhộituânthủnghiêm chỉnh.
(2) PBXH mang bản chất xã hội nhưng đốitượng củaPBXH lại là thiết chế và hoạt động quyền lực Nhà nước. PBXH được tiến hành bởi các lực lượng xã hội bao gồm nhiều thành phần, giai cấp, tầng lớp với lợi ích khác nhau, nên không thểmang tính xã hội thuần túy mà còn bao hàmcảtính chính trị. Tính chính trị thể hiện ở việc giới cầm quyền có thể lợi dụng PBXH để can thiệp vào các hoạt động chính trị, còn người dân hoặc các nhóm lợi ích vì lợi ích của cánhân mình có thể tiến hành PBXH đi ngược với ý chí và quyền lợi chung của đất nước. Đối với các thế lực đối nghịch, trong những điều kiện nhất định, tính chính trị thể hiện ở việc lợi dụng PBXH nhưmộthình thức công khai chống đối các chính sách pháp luật của Nhànước.
Thứhai, cácchủthểthực hiện PBXH trong hoạt độngXDPL cósựđộc lậptrong việc thu thập thông tin, lập luận đểđưara chính kiến riêng củamình. Tính độc lập chính kiến tạo ra môi trường, điều kiện đểchủthểtheo dõi, đánh giá, đưa ra được những nhận xét mang tính độc lập. Tínhđộc
lập gắn với vị trí, vị thế độc lập (tương đối) của chủ thể PBXH, nhờ đóchủthể có khả năng xem xét các khía cạnh khác nhau của văn bản pháp luật vàgóp phần ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, giá trị của những quyđịnh được phản biện. Nhờtính độc lập mà các lập luận, đánh giá trong PBXH không chịu sựchi phốicủabất kỳai,mới thực sựlà tiếng nóicủa chủthểphản biện. Đây là một yếu tố rất quan trọng, nếu mất đi đặc điểm này thì tính chất phản biện sẽ giảm hoặc không còn tính giá trị.
Mặtkhác, tínhđộc lập có thểcó tính chủquan nhưng phải đảmbảo đượcnhữngyếu tốkhách quan nhất định.Tính khách quan, trung thực thể
hiện ở chỗ nókhông phụ thuộc vào ý muốn của cơ quan soạn thảo văn bản pháp luật, dù không tiếp thu hoặc tiếp thu ở mức độ nào thì ý kiến phản biện vẫn phải được lập luận trên một cơ sở khoa học nhất định. Đây là tiêu chí cơ bản xác định chủ thể đại diện cho tiếng nói của nhân dân, bảo vệ lợi ích của người dân nhằm góp phần làm cho các chính sách pháp luật của Nhànước phản ánh được đầy đủ, toàn diện, sâu sắc hơn.
Thứba, PBXH trong hoạtđộng XDPL mang tính phổbiến, lịchsửvàkhách quan. Tính phổbiến, lịchsửcủa PBXH trong hoạtđộng XDPLđược quy định bởi đặc tính dân chủ của Nhà nước pháp quyền: chỉ trong Nhànước pháp quyền dân chủ thì PBXH mới trở thành nhu cầu tự thân của từng cá nhân, của xã hội và Nhànước;là điều kiện để cá nhân, công dân, tổ chức thực hiện quyền tham gia của mình và là nghĩa vụ của Nhà nước pháp quyền trong việc bảo đảm điều kiện để công dân thực thi quyền. Sự tham gia của các tổ chức xãhộivàngườidân vào các công việc quản lý xã hội đang là xu thếchung của nhiều nước trên thế giới. Một số chức năng do các cơ quan Nhà nước quản lýsẽ tiến hành xã hội hóa dưới sự tham gia của các tổ chức xã hội.
Tính phổ biến, lịch sử của PBXH trong hoạt động XDPL thể hiện ở xu hướngphát triển khách quan về phạm vi, quy mô nội dung, hình thức, phương thức thực hiện PBXH trong hoạt động XDPL. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu tranh luận càng trở nên cần thiết và là yêu cầu không thể thiếu trong cuộc sống. XDPLảnhhưởng, tácđộng trực tiếp đếnquyền lợi của các tầng lớp trong xã hội, vì thế họ phải biểu lộ ý kiến của mình. Chủ thể phản biện nói lên tiếng nói mình nhưngphải đảm bảo ý kiến đó làtiếng nói trung thực, khách quan của cá nhân, của nhóm mà mình đại diện. PBXH trong hoạt động XDPL vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan của chủ thể phản biện, đó là ý kiến phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của người dân.
Thứtư, PBXH trong hoạtđộng XDPL mang tính mụcđích và tính dânchủrộng rãi.Từ góc độ của cánhân, tổ chức, mục đích hướng tới của họ chính là các lợi ích chính đáng từ các chính sách, văn bản pháp luật đem lại. Lợi ích đó xuất
phát từ các nhu cầu về thỏa mãn về các giá trị vật chất, tinh thần, sức khỏe, môi trường sống vàđảm bảocác quyền công dân.Từgócđộcủa Nhà nước, mục đích hướng tới chính là việc quản lý Nhànước được bảo đảm thôngqua việc các chính sách, văn bản pháp luật được thực hiện trên thực tế, phát huy các giátrịpháp lý và ít bị thay đổi. Từ đó, làm cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, khoa học, mang tính khả thi, phù hợp với thực tiễn đời sống.
Mục đích chung giữa Nhà nước và cá nhân, tổ chức hướng tới chính làtính ổn định, công bằng, khách quan trong việc thực hiện các quyền và trách nhiệm pháp lý được ghi nhận trong các chính sách, văn bản pháp luật. Lợi ích củacá nhân,tổchứcđượcbảo đảm sẽhình thành thói quen tuân thủcác QPPL nhằm hạn chế các thế lực thù địch lợi dụng PBXH tiến hành chống phácác chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy cần xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể để PBXH được thực hiện một cách nghiêm túc.
Tính dân chủ thể hiện ở việc phản ánh quan điểm, quyền lợi của các tầng lớp khác nhau trong xãhội vềviệc xây dựng và sửa đổivăn bản luật. Vì thế, cần phảiđểcác đốitượng đó tham giatừkhi xây dựng đến khi thực hiện. Trong xã hội có dân chủ, những ai bị văn bản luật tác động đều có quyền phản biện và quyền được tôn trọng sự phản biện của mình. Thực tế cho thấy văn bản pháp luật từ khi còn là dự thảo cho đến khi được ban hành nếu tổ chức PBXH
tốt sẽ huy động được sự sáng tạo, trí tuệ tập thể của toàn xã hội. Từ đó tránhđượctình trạng văn bản pháp luật thiếu cơ sở pháp lý và không phù hợp với tình hình thực tế của đời sống xã hội.
1.3. Các nội dung chính của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam
1.3.1. Chủ thể phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng Pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay

