Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam

Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong lý luận cực kỳ cơ bản của pháp luật, Quyền và Nghĩa vụ là hai mặt của một vấn đề.Nếucon ngườicho rằng mình có Quyền thụ hưởng(enjoyment) thì cũngđồng nghĩa với việc phải có Nghĩa vụ cống hiến (dedication). Thậm chí, Nghĩa vụ phải đi trước Quyền thì xã hội mới phát triển hợp lý. Con người phải trồng lúa rồi mới có gạo để nấu cơm ăn. Nếu chỉ đòi hỏi phải có cơm, Quyền được ăn cơm là Quyền hiển nhiên, rồi ai cũng ngồi đó chờcơm thì chẳng bao lâu kho gạosẽ cạn.Mọi người phải đi gieo trồng lúa trước đã,rồi Quyền được ăn cơm sẽ hiện ra.

Trên phương diện lý luận pháp luật hiện nay, thế giới đangbị cuốnvào trào lưu đề cao Quyền con người, nhưngrấtít ai biết quan tâm đến Nghĩa vụ mà conngười cầnthực thi.Sựmấtcân bằng này đang gây ra nhiều hệlụycho xã hội. Tổng thốngthứ35 của Hoa Kỳ John Fitzgerald Kennedy trong buổilễnhậm chức năm 1961 từng phát biểu rằng: “Đừnghỏiđất nước cóthể làm gì được cho các bạn, hãy hỏi các bạn có thể làm gì cho đấtnước” (ask not what your country can do for you, ask what you can do for your country)1. HoaKỳ làmột quốc gia luôn cho mình là điđầuvềtựdo Nhân quyền, nhưngrồi thực tếcuộc sốngđãbuộc vịTổng thốngcủa họ phảibật lên câu nói mang ý nghĩa đề cao Nghĩa vụ, tức là trách nhiệm củacông dân, đốivới đấtnước.

Thực tế cuộc sống đó là gì? Đólà sựđòi hỏimọi thành viên trong một đất nước phải siêng năng làm việc,tận tụycống hiến, phải rất có tráchnhiệm đểxây dựng, phát triển vàbảo vệ cộng đồng của mình,chứkhông phảilà cứkhăng khăng đi tìm quyền lợi cá nhân vìcho rằng mình đương nhiên có những Quyền đó.

Khi ta nói Quyền và Nghĩa vụ không tách rời là ta đang đề caosựcông bằng. Có sựcông bằng, mọi người sẽ có niềm tin vào cuộc sốngđểlàm việc cống hiến. Trước đây, khi mà thân phận conngười bị đàyđọaáp bức, nhất là trong Thế chiến thứ hai, các họcgiảđãđấu tranh cho Nhân quyền cũng chínhlà để đi tìm sựcông bằng này. Hiện nay, khi mà Quyền con người được ưu tiên đề cao khiến chosựcông bằngbịđe dọa,sẽkhiến cho con người mấtniềm tin vào cuộc sống. Đây chính là lúc ta phảiđặtvấnđềvềNghĩa vụ conngười đểtìmlạisựcông bằngđó.

Việc Quyền con người được ưu tiênđềcao cũng đã dẫn đến tình trạng mộtsốngười lợi dụngđể đòiQuyền nhưng ỷ lại lười biếng không chịu thực thi Nghĩa vụđãkhiến chothếgiới cạn kiệt nguồn lực tài nguyên khi phải đầu tư xây dựng liêntục đểđảmbảoQuyền mưu cầuhạnh phúccủangười dân.Hệquảcủa nó là ngân sách cạn kiệt, chínhphủphải đi vay mượn, gây ra hiệntượngnợcông (public debt) tràn lan, các quốc gia rơi vào tình trạng khủng

1 Chủ tịch Hồ Chí Minh cũngđãnói điều tương tự tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam vào ngày 19 tháng 1 năm 1955: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tựhỏimình đã làm gì cho nước nhà?” (Báo Nhân dân, số 326, ngày 21/01/1955). Xem Hồ Chí Minh: Toàntập(2011), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tập 9, tr. 265.

2

hoảng nghiêm trọngvềnhiều mặt. Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước châu Âu vốnđược đánh giálà các cường quốc hàngđầuthếgiới, thì ngày nay đangtựbiến mình thành những connợkhổng lồ. Nhiều quốc gia bênbờphá sản vì nợ nần, khủng khiếp nhất là consốhơn 28.800 tỷUSD nợ côngcủaHoa Kỳ tínhđếntháng 9/2021. Ngoài ra, khi Quyền tưhữu được đẩy lên thành tuyệt đối, bấtkhảxâm phạm,đãtạora nhữngngười rấtgiàu khiến cho khoảng cách giữangườigiàu và người nghèo trong xã hội càng trầm trọng hơn.Ẩnsau bề ngoài hào nhoáng, tránglệcủa những thànhphốhoamỹlà những người laođộngvất vảmưu sinh đểthanh toán các hóa đơn trả góp hàng tháng. Đời sống củahọrất bấp bênh, tỷlệ thấtnghiệp cao, nhiều người dân, nhất làtrẻem, phải sống trong tình trạng nghèo đói, vô gia cư.

Đề cao Quyền con người, cũng chính làđềcao sựthụhưởng, cũng chínhlà đềcao lòng ích kỷ, gây nên sự xuống cấp của các giá trị đạo đức trong xã hội. Do được khuyến khích thụ hưởng Quyền quá nhiều, con người đã cho rằng rất là tự nhiên khi họ được phục vụ,giúpđỡ. Họ dầntrởnên vô ơn, thờ ơ, ít biết quý trọng công laocủangười khác và thiếu trách nhiệm với cộng đồng. Quyền con người, nhất là Quyền trẻ embị đẩylên cực điểm,đã phá vỡ các chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ xã hội như con cáibấtkính với cha mẹ, hôn nhân dễ tan vỡ, học trò vô lễ với thầy cô, các mối quan hệ họ hàng, xóm giềng,

bạn bè… trởnên lỏng lẻo.

Với nhiều hệ lụy tiêu cực như vậy, việc nhân loại tiếp tục đề cao một cách thái quáQuyền con người sẽ khiến giới nghiên cứu phải đặt câu hỏi về tính hợp lý trong mối tương quan giữa Quyền và Nghĩa vụ của con người.

Trong thời kỳ chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế, thân phận con người đã rất bi thảm khi bị cai trị bởi các ông vua bạo ngược. Mạng sống con người đã bị coi rẻ, thân phận con người đã bị lệ thuộc hoàn toàn vào ý chí của kẻ thống trị. Quan điểm chính trị của loài người đã bắtđầuthay đổitừkhi xuất hiện Tuyên ngôn độclập năm 1776 của Hoa Kỳ, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Pháp. Những văn bản pháp luậtđóđã đi tiên phong trong việc đề cao các Quyền tự do của con người. Đến khi Liên hợp quốc ra đời năm 1945,lịch sửQuyền conngười đãbước sang một giaiđoạn đỉnhcao với bản Tuyên ngôn Universal Declaration of Human Rights năm 1948 (Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền – sau đây xin gọi tắt là“Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền”).Sau đó, nhiềuđiều ước quốc tế (international treaties), nhiều hiến pháp của các quốc gia (national constitutions) nối tiếp bổ sung thêm các Quyền căn bản của con người và công dân.

Khái niệm tự do của phương Tây đangđược hiểulà một loại Quyền đặc biệt, có thể làm mọi thứtheo ý mình. Ai cũng cảm thấy rằng cuộc sống sẽ đáng sống nếu ta được làm những gì mình muốn. Thế giới đã tích cực đấu tranh, đã làm cách mạng, để đòiđược tựdo. Karl Marx đã đấu tranh cho giai cấp công nhân bị bóc lột, Abraham Lincoln đã đấu tranh giải phóng nô

lệ, hay Nelson Mandela đã đấu tranh chống chủ nghĩa Apartheid… tất cả vì giành Quyền tựdo cho con người. Khi đấu tranh đòi tự do, họ đã dùng rất nhiều lý luận để tôn vinh Quyềntựdo như là một giá trị cao quý.

3

Chúng ta không phủ nhận rằng Quyền con người là một thành quả tốt đẹp, một bước tiến văn minhcủanhân loại. Tuy nhiên,đếnngày hôm nay, chúng ta phải nhìn nhận lại một cách thấu đáo hơn về bản chất của Quyền con người, về mối tương quan giữa Quyền và Nghĩa vụ của con người. Vì Quyền và Nghĩa vụ là hai mặtcủa một vấnđề,nênnếu chỉđề cao Quyền mà lãng quên Nghĩavụ,chúng ta đã gây nênmộtsựthiên lệch lớn cho thếgiới. Hơn nữa, Nghĩa vụ con người còn là tiềnđề,là điều kiện để Quyền con người được thụ hưởng.Chỉkhi con người thực thi Nghĩa vụ một cách đầyđủ đểxây dựng nguồn lực dồi dào cho xã hội, sau đó Quyền con người mới có cơ hội được áp dụng vững chắc trong thực tế.Điềunày cũng giống nhưmộtngười muốn có Quyền ăn cơm phải có Nghĩa vụ đi trồng lúa trước vậy.

Nếu nhìn Quyền và Nghĩa vụ qua lăng kính toán học, chúng ta sẽ có sự hình dung trực quan hơn về mối tương quan giữa hai yếu tố này:

Một,tổng sốgiữa Quyền và Nghĩa vụ. Quyền mang dấu âm vì thụhưởng lấyđi bớt nguồn lực của xã hội, Nghĩa vụ mang dấu dương vì cống hiến tạo bổ sung thêm cho nguồn lực xã hội.

Nghĩa vụ + Quyền = Nguồn lực xã hội

Nếu kết quả là âm (cống hiến ít hơn thụ hưởng) thì xã hội sẽ thiệt thòi không còn nguồn lực để phát triển. Nếu kết quả là dương (cống hiến nhiều hơn thụ hưởng) thì nguồn lực xã hội được tích lũy dư dả để phát triển.

Hai, tỉ số giữa Quyền và Nghĩa vụ. Quyền là mẫu số vì đó là tất cả những lợi ích màcon người mongước được thụ hưởng, Nghĩavụ làtửsốvìđó làphần cống hiến mà con người có khả năng thực hiện.

Nghĩa vụ

= Giá trị con người

Quyền

Tasẽthấy rằng, nếu tử số càng lớn màmẫu sốcàng nhỏ, thì giá trị của phân số càng lớn. Tức là khi khả năng cống hiến nhiều, màsự đòihỏi Quyền lợi ít thì con người có giátrịcao giữa cuộcđời. Nếutửsốlàsốdương, mẫu số tiếnvề“không”thì giátrị củaphân số đólà vôcực, tức người đósống gần như khôngđòi hỏiQuyền lợi màchỉthích cống hiến chođấtnước,nhân loại, giátrịngười đó làvô hạn, tuyệtđốicaoquý, được cảnhân loại tôn vinh. Chính vìsựquan trọng của Nghĩavụcon người là như thế, nên giữa trào lưu tôn vinh

Quyền conngười ồ ạt khắpthếgiới, đã có nhiều người nhìn thấysựmấtcân bằng nguy hiểm trong pháp luật vàđời sốngnếungười ta xem thường Nghĩavụcủacon người. Mộtsốhọc giảđã lên tiếng cảnh báovề hậuquảcủaviệc đề cao Quyền con người một chiều.Họcũngđã nhấn mạnh Nghĩa vụ của conngười mới là điềuquan trọngđể xâydựng thế giới tốtđẹp, vì trên thực tế, có đóng góp xây dựng, người ta mới xứngđáng được thụhưởng.

Năm 1997, tổ chức The InterAction Council đã đưa ra Tuyên ngôn Quốc tế về Nghĩa vụ con người để đốitrọng (counterbalance) với UDHR năm 1948, nhưng những nội dung

4

mà họ tuyên bố chưa ghi được dấu ấn và chưa đủ sức thuyết phục cộng đồng quốc tế nên Tuyên ngôn đó dần bị lãng quên. Tuy nhiên, tổ chức này cũng đã nêu ra được những ý kiến nhằm cảnh báo các nước về hậu quả nghiêm trọng khi con người chỉ đón nhận Quyền màkhông thực thi Nghĩa vụ. Trước đó, khoản 1, Điều 29 UDHR đã khẳng định tầm quan trọng của Nghĩa vụ con người:“Mọingười đều cónhững Nghĩa vụđối với cộng đồng,là nơi duy nhất mà ở đónhân cáchcủa bảnthânhọ cóthể phát triểntựdovà đầyđủ” (Everyone has duties to the community in which alone the free and full development of his personality is possible), nhưng đáng tiếc thay nội dung này cũng chưa được nghiên cứu, khai thác đúng mức.

Nếucứtiếp tục ca ngợi thái quá Quyền con người, thế giới sẽ suy thoái vàsụp đổ dần dần, từnước nàyđến nước khác, từkhuvực này đếnkhu vực khác, một cách không thể tránh khỏi. Hiện nay, Việt Nam đangbịảnh hưởngbởi trào lưu Quyền con người, chủ nghĩatựdo (liberalism) nguy hiểmcủaphương Tây. Nếu không nhận thức và thay đổi kịp thời, chúng ta khó lườngđược nhữnghậuquảgì sẽxảyra với đất nước mình.

Sau một lịch sử dài đằng đẵng thân phận con người bị xem thường,bịngược đãi, con người đã đánh dấu sựtiến bộ văn minh bằng cách tuyên bố hùng hồn về Quyền con người nhằm khẳng định tính pháp lý cho sự sống có phẩm giá của toàn thể nhân loại. Tuy nhiên, phía sau sự phản ứng thái quá đó, phía sausựđề cao gần như cực đoan về Quyền con ngườiđó,loài người bắt đầu nhìn ra sự mất cân đối giữa Quyền và Nghĩa vụ. Nếu chỉ có Nghĩa vụ mà không có Quyền thì con người quá vất vả. Ngược lại, nếu chỉ có Quyền mà không có Nghĩa vụ thì nguồn lực xã hội nhanh chóng cạn kiệt.Đã đếnlúc chúng ta cần đề cao Nghĩa vụ của con người để tìm lại sự cân bằng cho xã hội, tìm lại sự thăng bằng cho tâm lý đạo đức,dựtrữnguồn lực đểxây dựng cả thế giới thành một nơi bình yên, hạnh phúc.

Việc thúc đẩy trách nhiệm và Nghĩavụcủacon người đối với cộng đồng và nhân loại trong thời điểm hiện tại, cả về lý luận và thực tiễn, là việc làm cấp bách quan trọng. Với những nhận định như thế, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam” ở mức độ Luận ánTiến sĩ, nhằm hướngđến mục tiêu để mọi người nhìn nhận lại tầm quan trọng của Nghĩa vụ con người, giúp cho nhận thức về mối tương quan giữa Quyền và Nghĩa vụ không còn thiên lệch nữa màtrởnên cân xứng. Việc ghi nhậnbảo vệQuyền làmột sựtiến bộ, nhưng việc thiên vị Quyền mà lãng quên Nghĩa vụ là một sai lầm, Luận án sẽ giúp tránh sailầmđó. Chúng tôi cũng mong muốn rằng đề tài này sẽ tạo cảm hứng và làm tiền đề cho các học giả tiếp tục nghiên cứu vấn đề này chuyên sâu hơn trong tương lai. Và hơn nữa đề tài cũnghướngtới kêu gọi các nướcđệtrình lênĐạiHội đồngLiên hợp quốc thông qua“Tuyên ngôn ToàncầuvềNghĩa vụcủacon người” với những nội dung gợi ý phong phú,đầy đủ và thuyếtphục (xem chi tiết tại Chương 4).

5

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiêncứu củaluận án là làm rõnhững vấn đềlý luận và thực tiễnvềNghĩa vụcon người trong Pháp luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam, qua đó khẳng định tầm quan trọng của Nghĩavụcon người trong pháp luật. Trên cơ sởđó,đề xuấtcác giải pháp hoàn thiện Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế, Pháp luật Việt Nam, và cơchếbảođảm thực thi Nghĩa vụ con người.

Là công trình khoahọcđầutiên nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và cóhệthống vềNghĩa vụ con người trong Pháp luậtquốc tếvà Pháp luật Việt Nam, luận án có nhiệmvụnghiên cứu sau:

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốctếvà Pháp luật Việt Nam;

Phân tích làm rõ những vấnđềlý luận cơbảnvề Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tếvà Pháp luật Việt Nam như khái niệm, mục đích, ý nghĩa của Nghĩavụcon người trong pháp luật và mối tương quan giữa Nghĩa vụ và Quyền con người trong pháp luật;

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng những quy định về Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam; và tình hình về sự thực thi Nghĩa vụ con người;

Đề xuất giảipháp đểhoàn thiện Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốctếvà Pháp luật Việt Nam, và các biện pháp nhằm đảm bảo việc thực thi Nghĩa vụ con người trong pháp luật được đầy đủ,chính xác, và hiệu quả hơn. Luận án cũng xin được đề xuất một bản “Tuyên ngôn Toàn cầu về Nghĩa vụ con người” (Global Declaration of Human Responsibilities) như là một gợi ýcó thểtrình lên ĐẠI HỘIĐỒNGLIÊN HỢP QUỐC (United Nations General Assembly) nhằm tạo nên một sự cân bằng với bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (Universal Declaration of Human Rights) được công bố năm1948.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận về Nghĩa vụ con người trong pháp luật: khái niệm,đặc điểm,mụcđích, ý nghĩa, các Nghĩa vụ cơ bản của con người trong pháp luật;

Các quy định Pháp luật quốctế(hiến chương, tuyên ngôn, các điềuước quốc tế…)

và Pháp luật Việt Nam (hiến pháp, các đạo luật và văn bảndưới luật…), quy định hiến pháp một số quốc giavềNghĩa vụ con người trong một số lĩnh vực quan trọng;

Thực trạng thực thi Nghĩavụcon người trong Pháp luật Việt Nam, những yếutốtácđộng tích cực và tiêu cực đến nhận thức và thực thi Nghĩa vụ con người;

Các căncứđể xáclập và nội dungcụthểcủa các giải pháp hoàn thiện quyđịnhvà thực thi Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốctếvà Pháp luật Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi nội dung: những lý luận liên quan đến Nghĩa vụ con người tiếp cận dưới góc độ pháp luật, đạođức,tôn giáo, tâm lý, xã hội; lịch sử Nghĩavụconngười ở ViệtNam

6

và quốc tế; những Nghĩa vụcon người được quy định trong các văn bảnPháp luật Việt Nam, Pháp luật quốc tế và hiến pháp một số quốc gia.

– Phạm vi không gian: Việt Nam và quốc tế, có liên hệ đến một số nước trên thế giới. Tập trung ở Việt Nam khi phân tích thực trạng thực thi Nghĩa vụ con người.

– Phạm vi thời gian: việc phân tích pháp luật và thực trạng Nghĩa vụ con người sẽ tập trung từ UDHR năm 1948 cho đến nay.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận được sử dụng để giải quyết các vấn đề trong nội dung luận án là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nghĩa vụcon người, Nghĩa vụ công dân.

Luận án tiếpcậnnghiêncứuNghĩavụconngườitừgócđộLuật hiến pháp vàLuật hành chính. Tuy nhiên, Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế và Pháp luật quốc gia là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, vì vậy, trong quá trình nghiên cứu về Nghĩa vụ con người, Luận án còn có sự tiếp cận kết hợp theo hướng liên ngành, đa ngành với các khoa học xã hội khác để xem xét, đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, đầy đủ các vấn đề liên quan đến Nghĩa vụ con người.

Luận án được nghiên cứu bởi một số phương pháp nghiêncứu cụthể, chuyên sâu như:

– Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các khía cạnh của vấn đề lý luận vàthực tiễn quy định pháp luật về Quyền và Nghĩa vụ con người;

– Phương pháp tổng kết các kết quả đã thực hiện để đánh giá chính xác những hiệu quả vềcác quy định Nghĩa vụ con người nhằm rút ra phương hướng tốt hơn cho khoa học pháp luật;

– Phương pháp tổng hợp nhằm rút ra nhữngkếtluận tổng quan, quan điểm,đềxuất, kiến nghị cụ thể liên quan đến Quyền và Nghĩa vụ của con người;

– Phương pháp so sánh luật học nhằm làm sáng tỏ những điểm chung,sựkhác biệt trong các quyđịnh hiện hành của Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật củacácnước trên thế giới;

– Phương pháp phân tích logic quy phạmđược sử dụng để pháthiện mâu thuẫn trong nộidung quy định pháp luậtvềQuyền và Nghĩa vụ công dân, Quyền và Nghĩa vụ con người; – Phương pháp chuyên gia được sử dụng để trao đổi, tham vấn ý kiến trong đề xuất

xây dựng các quy định về pháp luật Nghĩa vụ con người;

– Phương pháp lịchsửnghiên cứu đượcáp dụng để rút ramốiquan hệbiện chứng giữa Quyền và Nghĩa vụ con người;

– Phương pháp điều tra xã hội học để đánh giá nhận thức của công dân về Nghĩa vụ.

7

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án đã đưa ra khái niệm đầy đủ về Nghĩa vụ con người trong pháp luật trên cơsở phân tích các quan niệm khác nhau về Nghĩa vụ con người trên thế giới và Việt Nam. Phân tích làm rõ mối tương quan giữa Nghĩa vụ con người và Quyền con người.

Luận án cũng đã phân tích làm rõ cơ chế pháp lý và cơ chế xã hội bảo đảm thực thi Nghĩa vụ con người trong pháp luật.

Từgóc độluật Hiến pháp và luật Hành chính, luận án đãkhái quát, đánh giá thực trạng Nghĩa vụ con người và cơ chế thực thi Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tếvà Pháp luật Việt Nam, từ đó nêu lên những vấn đề cần được bổ sung trong việc quy định và thực thi Nghĩa vụ con người trong pháp luật hiện nay.

Luận án đãxây dựng hệthống các giải pháp hoàn thiện Nghĩa vụcon ngườitrong Pháp luật quốc tế, Pháp luật Việt Nam, và cơ chế bảo đảm thực thi Nghĩa vụ con người.

Đặc biệt làluận án đề xuất dự thảo bản “Tuyên ngôn Toàn cầu về Nghĩa vụ conngười” với những nội dung gợi ý phong phú, toàn diện và thuyết phục để kiến nghị Liên hợp quốc ban hành với mong muốn cộng đồng quốc tế, cũng như mỗi quốc gia hãy nhìn nhận và hànhđộngđúng hơn đối với vấn đề Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế và Pháp luật quốc gia vì một thế giới hạnh phúc, an bình.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết quả đạt được của luận án sẽ gópphần làm sáng tỏ về phương diện lý luận và thực trạng trong khoa học pháp lý của vấn đề Nghĩa vụ con người trong pháp luật. Cụ thể là làm rõđược bản chất của Nghĩa vụ con người và phân loại Nghĩa vụ con người; xây dựng khái niệm và phân biệt Nghĩa vụ con người và Nghĩa vụ công dân; xác định được mục đích, ý nghĩa của Nghĩa vụ con người và mối tương quan giữa Nghĩa vụ và Quyền; phân tích thực trạng Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế, Việt Nam; chỉ ra những bất cập của pháp luật và đưa ra những phương hướng hoàn thiện phápluật vềNghĩa vụ con người… Ngoài ra, những giải pháp hoàn thiện pháp luật là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tương ứng.

7. Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mởđầu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luậnán được cấu trúc gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Những vấn đề lý luận về Nghĩa vụ con người trong pháp luật

Chương 3: Thực trạng Nghĩavụcon người trong Pháp luậtquốc tếvà Pháp luật Việt Nam

Chương 4: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tếvà Pháp luật Việt Nam

Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam
Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án

Trong quá trình nghiên cứu, NCS nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề Nghĩa vụ con người,được công bốdưới nhiều hình thức, trong đó có các công trình tiêu biểu có liên quan trực tiếp tới các nội dung thuộc phạm vi luận bàn sau:

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2.1. Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đã nghiên cứu được luận án kế thừa, tiếp tục phát triển

Thứnhất, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đếnđề tàiluận án tươngđối phong phú,được tiếp cận từnhiều khía cạnh và có các mức độ cũng như cấp độ nghiên cứu khác nhau.Đây sẽlà nguồn tư liệu cần thiết và quan trọng để NCS tiếp cận, nghiên cứu, so sánh nhằm hoàn thiện luận án.Về cơbản, các công trình nghiên cứu đã cung cấp một lượng kiến thức lý luận quan trọng về khái niệm Nghĩa vụ con người; mối tương quan giữa Quyền con người và Nghĩa vụ con người; tầm quan trọng của việc đề cao Nghĩa vụcon người trong Pháp luật quốc gia và Pháp luật quốc tế; các kiến nghị, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về Nghĩa vụ con người.

19

Thứhai, số lượng các công trình nghiên cứu trong nước liên quan trực tiếp tới đề tài luận án là không nhiều và thường tiếp cận ở phạm vi hẹp.

Thứba, các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đếnđề tàiluận án đa dạng, phong phú hơn so với các công trình nghiên cứu trong nước.Tầmmức nghiên cứu cũng sâu và rộng hơn. Các nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa Quyền con người và Nghĩavụcon người,sựcầnthiết phải cósựcân bằng giữa Quyền và Nghĩa vụ này, chỉ ra Nghĩavụcon người làsựbổ sung cần thiết cho việc đảm bảo Quyền con người và nhấn mạnh vai tròquan trọng của Nghĩa vụđạo đức cánhân trong việc xây dựng một thế giới hòa bìnhtốtđẹp.Dưới góc độpháp lý,một sốnghiên cứu đã ít nhiều đề cập đến Nghĩa vụ con người trong các văn kiện Pháp luật quốctế.

Nhưng so vớinhững gì các tác giả, các tài liệu đãnói vềNghĩa vụcủacon người, NCS nhận thấy vẫn còn nhiều dưđịa,nhiều không gian trống để chúng ta có thể kế thừa và tiếp tục mở rộng, phát triển nhằm hoàn thiện đề tài của luận án.

Trên phương diện lý luận: Hầu hếtcác công trình nghiên cứutrong và ngoài nướcđều thể hiện sựđồng thuận cao trong nhận thức về vai trò quan trọng của Nghĩa vụ con người và mối tương quan không thể tách rời giữa Nghĩa vụ con người với Quyền con người. Trong mối tương quan này, một số học giả đã cho rằng Quyền con người phải xuất phát từnền tảng là Nghĩa vụ con người và các giátrị đạo đức căn bản.

Trên phương diện thực tiễn: Thực trạng những quy định về Nghĩa vụ con người trong hiến pháp một số quốc gia và việc thực thi Nghĩa vụ con người trong cuộc sống đã được một số nghiên cứu đề cập tới. Trong chừng mực nào đó, nhiềuđề tàinghiên cứu đã đềcậpđến sựmấtcân đốigiữa Quyền và Nghĩavụcủa con người. Các công trình này cũng đãchỉra rằng Nghĩa vụ là vấn đề của lương tâm, của trách nhiệm, trong khi đó vấn đề về Quyền lại có khuynh hướng thuận theo bản năng của con người. Vì vậy, Nghĩa vụ con người chưađược quan tâm nghiên cứu như là Quyền con người.Từđó dẫn đến thực trạng là,sựđòi hỏi quá mức chosựthụhưởng Quyền mà không tuân thủ các Nghĩa vụcủanhiều cá nhânđã gây ra những hệ lụy nặng nề trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trên phương diện đề xuất, kiến nghị: Xuất phát từ tầm quan trọng của Nghĩa vụ con người, các giải phápđược đưa ra đềunhằm hoàn thiện và thực hiện hiệu quả những quyđịnh về Nghĩa vụcon người. Một số công trình nghiên cứu đã kiến nghị Nghĩa vụcon người cần phải được quan tâm, xem xét,bổ sung trong các văn kiện pháp lý quốc tếvàtrong Pháp luật quốc gia. Nhiều nghiên cứu cũng đã soạn thảo hoặc đềxuất soạn thảo Tuyên ngôn về Nghĩavụcon người và thể hiện quan điểm ủng hộ cho việc đệ trình lên Đại hội đồng Liên hợp quốc nhằm thông qua bản Tuyên ngôn quốc tế về Nghĩa vụ con ngườiđể cân bằng với UDHR năm 1948.Từđó tiến đến việc thành lập hội đồng quốc tế về Nghĩa vụcon người. Bên cạnh cơchếbắt buộc thực thi của pháp luật,một sốhọcgiảđề xuấttăng

20

cường giáo dục đạo đức nhằm nâng cao ý thức tự giác cá nhân trong việc thực thi Nghĩa vụcon người.

1.2.2. Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án còn chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa thấu đáo mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Về lý luận:

Thứnhất, mặc dù các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cóđềcập đếnkhái niệm Nghĩa vụconngườinhưng chỉdừng lạiởmứcđộkhái lược.Dựa trênsựkếthừa những nền tảng lý luậntừnhững nghiên cứu trước đó, luậnán sẽlàm sáng tỏ hơn bản chất của Nghĩa vụ con người cũng như khái niệm và mục đích, ý nghĩa việc quy định Nghĩavụcon người trong pháp luật.

Thứhai, một số công trình nghiêncứu đãít nhiều đề cậpđến mốitương quan giữa Quyền và Nghĩa vụcon ngườitrong pháp luật nhưng chưa phân tíchđầy đủvà sâu sắc. Luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phân tích toàn diện hơn mối tương quan này.

Thứba, phần lớn các công trình nghiên cứu nước ngoài chỉ đề cao Nghĩavụcủa nhànước,tập thể và tổ chức phi chính phủ, trong khi đó Nghĩa vụ cá nhân còn rất mờ nhạt. Ngoài ra, một số nghiên cứu còn bày tỏ sự lo ngại vấn đề Nghĩa vụ con người sẽ làm suy yếu và cản trở Quyền. Luận ánsẽphân tích, chứng minh để làm sángtỏvai trò nền tảng, cốt yếu của Nghĩa vụ con người trong mối tương quan với Quyền con người, cũng như vai trò của Nghĩa vụ cá nhânđối với sựphát triển của xã hội.

Thứtư, hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ nghiên cứu quy định và cơchế bảo đảm Nghĩa vụ con người qua biểu hiện là Nghĩa vụ công dân trong Pháp luật quốc gia. Luận án sẽ tiếp tụcnghiên cứu toàn diện những vấnđềlý luận về Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốc tế và Pháp luật quốc gia (Pháp luật Việt Nam).

Về thực trạng:

Các công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở góc độ lý luận mà chưa có khảo sát toàn diện về thực trạng Nghĩa vụ con người trong Pháp luật Việt Nam và Pháp luật quốctế.Dođó,việc triển khai khảo sát thực tế sẽ giúp luận án đưa ra những nhận xét, đánh giá chính xác hơn về thực trạng Nghĩa vụ con người trong Pháp luật quốctế vàPháp luật Việt Nam.

Về quan điểm, giải pháp, kiến nghị:

Những kết quả nghiên cứu liên quanđến đềtài Nghĩa vụ con người cho thấy, dùđãcó nhiều giải phápđược đưa ranhưng trên thực tế,vấnđề Nghĩa vụcá nhânvẫnchưa được quan tâm đúng mức, hệ thống pháp luật trong nước cũng như trên thế giới vẫn còn thiếu những quy định cần thiết về Nghĩa vụ con người.

Dựa trên cơsởlý luận và thực trạng, NCS sẽđưa ra những quanđiểm nhằm hoàn thiện Nghĩa vụ con người trong pháp luật.Từđó,NCS kiến nghị các nhóm giải pháp trước mắt và các nhóm giải pháp mang tính lâu dài nhằm hoàn thiện các quyđịnh vềNghĩa vụcon người trong hệ thống Pháp luật Việt Nam và Pháp luật quốctế.Luận án cũng sẽđưa

21

ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơchế đảm bảo và thúc đẩyviệc thực thi Nghĩa vụ con người trong pháp luật. Đã đến lúc nhân loại phải đấu tranh cho Nghĩa vụ con người giống như đã đấu tranh cho Quyền con người.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 1.3.1. Câu hỏi nghiên cứu

Thứnhất, Nghĩa vụ con người có phải là nền tảng của Quyền con người và con người chỉ thực sựcóQuyền đầyđủ khi thực hiện tốt Nghĩa vụ hay không? Vai trò của Nghĩa vụcon người đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội như thế nào?

Thứ hai, Pháp luật quốc tế và Pháp luật Việt Nam đã quy địnhđầy đủ, thốngnhất về Nghĩa vụ của con người chưa? Nếu chưa thì bổ sung và hoàn thiện như thế nào?

Thứba, thực trạng việc thực thi Nghĩa vụ con người trong Pháp luật Việt Nam nhưthế nào?

Thứ tư, giải pháp nào để đảm bảo việc thực thi Nghĩa vụ con người trong pháp luật? 1.3.2. Giả thuyết nghiên cứu

Thứnhất, Nghĩavụcon người đóng vai trò quyết định trongsựtồn tại, phát triển của xã hội, đồng thời cũng là gốc, làtiền đề để Quyền con người được thụ hưởng;

Thứhai, những quy định về Quyền và Nghĩa vụ con người trong Pháp luậtquốc tếvàPháp luật Việt Nam chưa được cân bằng. Những nội dung về các biện pháp thực thi Nghĩa vụ con người chưa được đầy đủ;

Thứba, thực trạng hiện nay làđã cónhiều tác giả, Giáo sư, tác phẩm trên thế giới cónêu lên được tầm quan trọng của Nghĩa vụ con người nhưng vẫn chưa được quan tâm bởi các nhà nước, các tổ chức quốc tế;

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về Nghĩa vụ conngười kết hợp với giáo dục đạo đức làmột trong những biện pháp rất hiệu quả để giải quyết các thực trạng trên.

22

CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ CON NGƯỜI TRONG

PHÁP LUẬT

2.1. Khái niệm và mụcđích, ý nghĩa việc quy định Nghĩa vụcon người trong pháp luật

2.1.1. Khái niệm Nghĩa vụ con người trong pháp luật 2.1.1.1. Quan niệm về Nghĩa vụ con người

Để điều chỉnh các quan hệ xã hội hay hành vi của con người, các quy phạm xã hội (pháp luật, đạo đức, tập quán…) đã được sử dụng, trong mỗi quy phạm thường có các cách thức tácđộng là: Cho phép (allowances) (được làm, được thụ hưởng); Bắt buộc (compulsions) (phải làm, phải tuân thủ mệnh lệnh); Cấm đoán (prohibitions) (không được làm, không được thụ hưởng); Khen thưởng (rewards) (được nhận những lợi ích cho hành vi tốt đẹp) và chế tài (sanctions) (hậu quả bất lợi, sự trừng phạt cho hành vi sai trái). Trong bốn cách thức tác động này, thì bắt buộc và cấm đoán là những cách thức hình thành nên Nghĩa vụ. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, thì thuật ngữ “Nghĩa vụ” được hiểu là: “Việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác”2. Một vài thuật ngữ Tiếng Việt khác cũng có nghĩa tương tự với Nghĩa vụ như: trách nhiệm, bổn phận, nhiệm vụ, chức năng, phận sự. Tùy hoàn cảnh cụ thể, các từ này có thể được dùng thay thế cho nhau. Chẳng hạn:

– Thuật ngữ“trách nhiệm” được hiểulà: 1.“Phần việc được giao cho hoặc coi nhưđược giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu nhiều hậu quả”; 2.“Sựràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình,bảo đảm đúng đắn,nếusai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”3;

– Thuật ngữ“bổn phận” được hiểu là: “phần việc phải lo liệu, phải làm, theo đạo lýthông thường”, ví dụ:“bổn phận làmcon, làm tròn bổn phận công dân”4;

Trong Tiếng Anh, có khá nhiều từngữchỉ Nghĩa vụ,chẳng hạn: responsibility, obligation, duty, onus, liability, trust, charge, boundness, obligatoriness, function, mission5. Các văn kiện quốc tế hay các tài liệu nghiên cứu khoa học vẫn chưa có sự thống nhất trong việc dùng từngữnào cho khái niệm Nghĩa vụ. Trên thực tế, responsibility, duty và obligation được dùng phổ biến nhất để thay thế cho nhau. Oxford Dictionary định nghĩa các từ này như sau:

– Thuật ngữ “obligation” được hiểu là: 1.“Tình trạng bị bắt buộc phải làm điều gì đóvì nó là bổn phận của bạn, hoặc vì pháp luật quy định”; 2.“Điều mà bạn buộc phải làm vì đã hứa hoặc vì pháp luật quyđịnh”6; 3.“Những điều bắtbuộc phải thực hiện theo giaoước của hợp đồng”(của Bộ luật dân sự).

2 GS. Hoàng Phê (2012), Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nxb Từ điển bách khoa, tr. 875. 3 GS. Hoàng Phê (2012), tlđd, tr. 1304.

4 GS. Hoàng Phê (2012), tlđd, tr. 120.

5 Tham khảo từ điển đồng nghĩa và trái nghĩa Thesaurus.com

6 A.S. Hornby (2006), Oxford Advanced Learner’s Dictionary, 7th Edition, Oxford University Press, tr. 1045.

23

– Thuật ngữ“duty” được hiểu là:1.“Điều màbạn cảm thấy mình phải làm vì nó làtrách nhiệm đạo đức hay trách nhiệm pháplý”;2.Công việc mà bạn làm trong nghề nghiệp của mình”; 3.“Nhiệm vụ nhưlà một phần của việc làm/nghề nghiệp”7.

– Thuật ngữ “responsibility” được hiểu là: 1.“Một bổn phậnmà bạn phải giải quyết, hoặc chịu trách nhiệm với việc gì hoặc chăm sóc ai đó,nếu bạn làm sai thì sẽbị khiển trách”; 2.“Việc bịchê trách vìđiềukhông tốtđã xảyra”; 3.“Bổn phận phải giúp hoặc chăm sóc ai đó vì côngviệc hay địa vị”8.

Nhiều văn kiện quốc tế, học giảsửdụng từ“duty” để chỉNghĩavụconngười9. Erica – Irene A. Daes cũng dùngtừnày với nghĩa:“bất kỳhành động hay lối cưxửđược xem nhưlà một bổn phận đạođức hay pháp lý”10. Tương tự,TS. Eric Robert Boot dùng “duty”:

“một hành động mà một người bịbắt buộc phảilàm”11. Triết gia – nhà đạo đức học Samuel von Pufendorf dùng hai từ “duty” và “obligation”: “là hành động của con người tuân theo pháp luật trên cơsởcủa sựbắt buộc”12. Các tác giảcủa bảnbáo cáo “The relationship between rights and responsibilities” 13 thì đề cập cả ba từtrên. Văn bản “Valencia Declaration of Human Duties and Responsibilities” cũng có sự hoán đổi qua lại giữa ba thuật ngữđó.Cụthểlà:“duty” means an ethical or moral obligation(điểma); còn “responsibility” means an obligation that is legally binding under existing international law (điểm b)14.

TS. T.S.N.Sastry cũng vậy, tuy nhiên, ông chính thức dùng “duty” để chỉ Nghĩa vụ: “phát sinh từ việc hoàn thành một yêucầu(mang tính pháplý)”15. TS. Mumba Malila cho rằng mặc dù có một chút khác biệt, tuy nhiên,về cơbản cả ba từngữtrên cùng có nghĩa làmột người “bị bắt buộc phải làmtheo đạo đức, pháp luật, giao thương,lờikêu gọi, lương

tâm,sựthúc giục từ nội tâm phải hànhxử…”16.

7 A.S. Hornby (2006), tlđd, tr. 477.

8 A.S. Hornby (2006), tlđd, tr. 1294.

9 Như khoản 1, Điều 32 Công ước châu Mỹ về Quyền con người năm 1969; khoản 1, Điều 29 UDHR năm 1948; Lời nóiđầu, Điều 27 và Điều 28 Hiến chương châu Phi năm 1981; Lời nói đầu của hai Công ước quốc tế ICCPR và ICESCR năm 1966; học giả Miguel Alfonso Martínez…

10 Erica – Irene A. Daes (1983), The individual’s duties to the community and the limitations on human rights and freedoms under article 29 on the universal declaration of human rights, United Nation Publication, Chương I, tr. 38.

11 TS. Eric Robert Boot (2015), Human Duties and the Limits of Human Rights Discourse, Netherlands Organization for scientific Research, tr. 55.

12 Samuel von Pufendorf (tác giả), James Tully biên soạn (1991), On the Duty of Man and Citizen According to Natural Law 1682, Press Syndicate of the University of Cambridge, tr. 17.

13 Liora Lazarus, Benjamin Goold, Rajendra Desai và Qudsi Rasheed, University of Oxford (2009), The relationship between rights and responsibilities, Ministry of Justice (UK) Research Series 18/09, mục 1.4, tr. 4,5.

14 Xem Điều 1, Văn bản Valencia Declaration of Human Duties and Responsibilities – thườngđược gọilà Tuyên bốValencia. Văn bản này được tổ chức UNESCO và Hội đồng thànhphốValencia – Tây Ban Nhabảo trợthông qua năm 1998 nhân dịp kỷ niệm 50 năm Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua UDHR.

15 TS. T.S.N. Sastry, (2011), Introduction to human rights and duties, University of Pune Press, tr. 18.

16 TS. Mumba Malila (2017), The place of individuals duties in international human rights law: perspectives from the african human rights system, University of Pretoria, tr. 142-157.

24

Trong các sách báo pháp lýở ViệtNam, các tác giả đều cho rằng Nghĩa vụ là “cách xửsựbuộc phải thực hiện”,“sựcần thiết phải xử sự” của chủ thể này nhằm đáp ứng Quyền của chủ thể khác17.

Như vậy, hầu hết các tácgiảở trên đềucho rằng Nghĩa vụ là cách xử sự, việc, hành vi màmộtngườihaytổchức phải làm. Cáchxửsự, việc, hành viđócóthểđượcthểhiện ởdạng hànhđộnghoặc không hànhđộngnhằm chăm sóc, lo lắng, giúp đỡ cho người khác (phạm vi nhỏ); cống hiến, đóng góp, phục vụ, bảo vệ và không gâyhại đếnlợi ích cộng đồng (phạm vi lớn)… Một cáchxửsự(việc, công việc, hành vi) được xem là Nghĩavụkhi vàchỉkhi cách xử sự đó mang lại lợi ích cho người khác, ít nhất là mộtngười. Nếu cáchxửsựchỉmanglạilợi ích cho cá nhân người thực hiện thì không được xem là Nghĩavụ.

Về động cơ thúc đẩy việc thực thi Nghĩa vụ: hầu hết các học giả đều nêu ra hai động cơchính, một là do sựđòi hỏiyêu cầu từ các chủ thể khác (tổ chức, cộng đồng, cá nhân), hai là do lương tâm bổn phậncủa chủthể tự thấy cần phải thực thi Nghĩa vụ đó.

Việc thực thi Nghĩa vụ sẽ đem lại Quyền và Lợi ích hợp pháp cho người khác, cho cộng đồng. Lợi ích đó có thể là vật chất (tiền bạc, sản phẩm, vật dụng), hoặc dịch vụ(sựphục vụ), hoặc tinh thần (lời nói có tính giáo dục, tác phẩm nghệ thuật),hoặc sựtựdo riêng

tư của người khác… Rồi những lợi ích đó sẽ đem lại sự dồi dào vật chất,sựphát triển thịnh vượng,sựtiến bộ tinh thần cho xã hội.

Về chủ thể“con người”của Nghĩa vụ: con người có thểlà một thểnhân (natural person) hoặc một nhóm người, tổ chức (có hoặc không có tư cách pháp nhân (legal entity)), một giai cấp, một dân tộc, một nhà nước (pháp nhân đặc biệt). Tuy nhiên,chủ thểchính của Nghĩa vụ con người mà luận án hướng đến là cá nhân. Để tồn tại và phát triển tốt đẹp, mỗi cá nhân thường phải gắnbó vớinhững cộng đồng,tổchức nhất địnhtrong xã hội. Cộng đồng, tổ chức sẽ cưu mang,bảovệ,tạođiều kiện cho cá nhân tồn tại và phát triển. Ngược lại, mỗi cá nhân ở những mức độ, tùy theo điều kiện của mình phải có (thực hiện) những Nghĩa vụnhất địnhđối với bảnthân,đối với cáccá nhân khác,đối với cảcộng đồng, tổ chức. Như vậy, Nghĩa vụ con người được hiểu là Nghĩa vụ của cá nhân với tư cách làcon người.

Từcác phân tích trên, có thể khái quát về Nghĩa vụ con người như sau:

Nghĩa vụ con người là cách xửsự(việc, công việc, hành vi) mà con người buộc phải thực hiện (phải làm hoặc không được làm) do pháp luật quy định, hoặc do luân lý xã hộiđòi hỏi, hoặc do lương tâm đạo đức nội tại thúc đẩy, nhằm đem lại lợi ích, hạnh phúc,đạođức cho người khác và cộng đồng.

17 Xem Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, tr. 393; Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội (1998), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 401; PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan chủ biên (2010), Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam, Nxb Chính trịQuốc gia Hà Nội, tr. 36; PGS.TS. Hoàng Thị Kim Quế chủ biên (2005), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 419; Học Viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2011), Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị – Hành chính, tr. 268.

25

Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam tồn tại rất nhiều các Nghĩa vụ con người khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau. GS. Saul Takahashi cho rằng, có hai loại Nghĩa vụconngười gồmNghĩavụpháp lý và Nghĩa vụđạođức: “mộtnghĩa vụ cóthểlà nghĩa vụpháp lý như đóng thuế hoặc nghĩa vụ quân sự. Một nghĩa vụ cũng có thể là một nghĩa vụđạo đức,như nói sựthật hay chung thủy với vợ/chồng”18. Triết gia Samuel von Pufendorf và GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế cũng cùng có quan điểm tươngtự19.

TS. Nguyễn Thị Thanh Hương cho rằng có ba loại Nghĩa vụ: Nghĩavụtheo phong tục (do phong tục,tậpquáncủađịa phương quy định); Nghĩa vụvềđạođức,nhân văn (con phải có hiếuvớichamẹ,vợchồng phải sống thuỷ chung vớinhau…); Nghĩavụpháp lý(những Nghĩa vụ đã được pháp luật quy định; Nghĩa vụ của công dân do hiến pháp và các luật quy định)20.

PGS.TS. Đoàn Minh Huấn cho rằng, có nhiều loại Nghĩavụconngườinhư: trách nhiệm công dân,bổnphận báođáptrongđờithường, trách nhiệmvớicộngđồngxã hội,

trách nhiệm với cộngđồngquốc tế, bổn phận của người cầm quyền (đạo làm quan)…21 Văn bảnUniversal Declaration of Human Responsibilities22 nêu ra ít nhấtbốnloại Nghĩa vụ con người: Nghĩavụ đốivới bản thân,đốivới người khác, đối với quốc gia và đối với hành tinh. TS. Eric Robert Bootlạicho rằng, có hai loại Nghĩa vụ con người là: Nghĩa vụ hoàn

thiện (perfect duties) (Nghĩavụmà có các quyền lợi tương xứng) và Nghĩavụkhông hoàn thiện (imperfect duties) (Nghĩa vụ không có quyền lợi tương xứng)23. Bản chất của Nghĩa vụhoàn thiện là Nghĩa vụ pháp lý, vì chủ thểđược phápluật quyđịnhNghĩavụ, đồngthời cũng ghi nhận những quyềnlợitương xứngvớiNghĩavụđó.Còn Nghĩavụkhông hoàn thiện có bản chất tươngtựNghĩavụđạođức, vìchủthểtựnguyện thực thi Nghĩavụmàpháp luật không quyđịnhvà do đó không có những quyền lợi pháp lý tương xứng.

Luật sư Abdallah Salam cho rằng tươngứngvới Nghĩavụhoàn thiện và không hoàn thiện là Nghĩa vụ pháp lý và Nghĩavụ đạo đức (củaImmanuel Kant), hoặc Nghĩa vụ pháp lý và Nghĩavụkhông phải pháp lý (non – justice) (của Hugo Grotius)24. TS. T.S.N. Sastry và TS. Mumba Malila chia Nghĩa vụ thành nhiều loại: Nghĩa vụ tự nhiên và Nghĩa vụ buộc phải làm (acquired), Nghĩavụchủđộng(positive duties) và Nghĩavụthụđộng (negative

18 International Council on Human Rights Policy (1999), Taking Duties Seriously: Individual Duties in International Human Rights Law – A Commentary, International Council on Human Rights Policy, tr. 13.

19 Xem GS.TS. HoàngThịKim Quế (2012), Nghĩa vụcủacon người, công dân vànhững vấn đềđặt ra trong việc sửađổi, bổsung Hiến pháp 1992,Tạpchí Nghiên cứu lập pháp, số 18 (226), mục 2, tr. 14.

20 Xem Nguyễn Thị Thanh Hương (2017), Giáo dục Nghĩa vụ đạo đức cho sinh viên các trường Đại học công lập hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Khoa học Xã hội, tr. 44.

21 Xem PGS.TS. Đoàn Minh Huấn (2018), Giáo dục, rèn luyện Nghĩa vụ đạo đức cách mạng cho Đảng viên – một nội dung quan trọng của xây dựng Đảngvềđạo đức,Tạp chí Cộng sản, số 2.

22 Văn bản này ra đời năm 1997, gồm 19 điều, được tổ chức Interaction Council đềxuất lên Đại hội đồngLiên hợp quốc thông quađểđối trọngvới UDHR, nhưng không thành công.

23 TS. Eric Robert Boot (2015), tlđd, mục 2.1, tr. 55-82.

24 Xem Abdallah Salam (2014), Perfect and imperfect rights, duties and obligations: from Hugo Grotius to Immanuel Kant, Merton College, University of Oxford.

26

duties), Nghĩa vụ hoàn thiện và Nghĩa vụ không hoàn thiện, Nghĩavụcăn bản và nhữngđiều khác được xem là Nghĩa vụ25.

Căn cứ vào động cơ của Nghĩa vụ con người NCS cho rằng, tồn tại ba loại Nghĩa vụcon người26 là:

– Nghĩa vụ con người do pháp luật quy định;

– Nghĩa vụ con người do luân lý xã hội đòi hỏi;

– Nghĩa vụ con người do đạođức nội tại thúc đẩy.

i. Nghĩa vụ con người do pháp luật quy định (hay còn gọi là Nghĩa vụ pháp lý, thuật ngữtiếng Anh trong trường hợp này là obligation)

Trong Pháp luật quốc gia, các quy phạm về Nghĩa vụ con người được nhà nước quyđịnh trong hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Chúng được bảo đảm thực hiện bằng sứcmạnh quyềnlựcnhà nước.Hình thức củacác quyđịnh này cóthểtồn tại

dưới dạng chỉdẫn như phải làm gì, làm như thế nào (Nghĩavụchủđộng)… cũng cóthểlàmệnh lệnh cấm đoán không cho làm gì (Nghĩa vụ thụ động).

Trong Pháp luật quốc tế, Nghĩa vụ con người tồn tại trong một số văn kiện quốc tế, các tập quán quốc tế, thông lệ quốc tế. Một số nội dung về Nghĩa vụ con người trong các văn kiện quốc tế được kể ra: Mỗi người có nghĩa vụ hợp tác với nhà nước và cộng đồng bằng sựtôn trọng an ninh và phúc lợi xã hội, phù hợp với khả năng và hoàn cảnh hiện có của mình27; Ai cũng có nghĩavụđốivới cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thểđược phát triển một cáchtựdovà đầyđủ28; Các cá nhân phải có nghĩa vụ: lao động bằng cả trí lực và khả năng, và đóng thuế theo quy định của pháp luật vì lợi ích của xãhội29.

ii. Nghĩa vụ con người do luân lý xã hội đòihỏi (hay còn gọi là Nghĩa vụ luân lý, thuật ngữ tiếng Anh trong trường hợp này là duty)

Luân lý là “những quy tắc về quan hệ đạo đức giữa người với người trong xã hội”30. Như vậy, luân lý xã hội là những quytắc về đạo đức xã hội được cộng đồngchấp nhận. Nólà thứ luật“mềm”,dùng đểhướngdẫn, khuyến khích mọingười tựgiác hành xử cho đúngđạo lý.Luân lý xã hội giúp cho mối quan hệ giữa người với người được hài hòa, tạo thành nề nếp kỷ cương(orderliness) của xã hội. Sức mạnh chế tài của nó chínhlà sựphê phán. Vì sợphê phán, vì thích được khen ngợi nên con người cố gắng hoàn thành các Nghĩa vụdo luân lý xã hội đòi hỏi.

25 TS. T.S.N. Sastry (2011), Introduction to human rights and duties, University of Pune Press, tr. 19; Mumba Malila (2017), tlđd, tr. 274-281.

26 Thuật ngữ responsibility được luận án dùng cho Nghĩa vụ con người khi diễn đạt với nghĩa chung chung, chưa phân loại.

27 Xem Điều 35 ADRDM.

28 Xem khoản 1, Điều 18 Tuyên ngôn về những người bảo vệ Nhân quyền năm 1998. 29 Xem khoản 6, Điều 29 Hiến chương châu Phi năm 1981.

30 GS. Hoàng Phê (2012), tlđd, tr. 760.

27

Luân lý xã hội được hình thành từ nơi văn hóa của cộng đồng, có tính truyền thống, có khi được ghi nhận bằng văn bản, có khi chỉ là bất thành văn. Những người trong cộng đồng đó đã mặc nhiên chấp nhận quy tắc ứngxửđã được truyền lại,được công nhận từlâu. Ví dụ,học trò gặp thầy cô giáo phải khoanh tay chào kính cẩn; khi gặp đám tang, không ai được cười nói mà phải ngả mũ chào trầm mặc. Khi nghe tiếng quốc ca, công dân phải đứng nghiêm chỉnh. Khi gặp người già yếu, khuyết tật, trẻ em mồ côi,phụnữmang thai phải nhường nhịn, hỏi han giúp đỡ. Khi thấy người ănmặc hởhang, nói bậy phải khéo léo nhắc nhở. Gặp người nước ngoài phải cưxửlịch sự, thân thiện hiếu khách,giữhình

ảnh quốc gia và sự hòa hiếu giữa các dân tộc… Đó là những luân lý mà cộng đồng đòi hỏi.

iii. Nghĩa vụ con người do lương tâm đạo đức thúc đẩy (hay còn gọi là Nghĩa vụđạođức,thuật ngữ tiếng Anh trong trường hợp này là onus)

Đạo đức là“những phẩm chấttốtđẹp củacon người do tu dưỡngtheo những tiêu chuẩn đạo đức mà có”31,“ý thức đạo đức (lương tâm) là tinh thần tự xét đoán giá trị các hành vi của mình”32. Mởrộng ra,đạo đứclà những khuynh hướng tốt trong tâm ta, mànhững khuynh hướng đó tạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài khiến cho mọi người chung quanh ta được chuyển hóa, an vui, lợi ích33. Như vậy,đạo đức là ý thức,phẩm chất, khuynh hướng trong nội tâm, nhưng chi phối hành vi và lời nói bên ngoài. Người nào cóđạo đức,người đósẽ tựcó sựphán xét đúng sai kỹ lưỡngđểtựgiác hànhxửtốtđẹpnhằmđem lại lợi ích hạnh phúc cho cộng đồng. Việc tự giác hànhxửtốtđẹp đóđược gọi làNghĩa vụ con người do đạo đức nội tại thúc đẩy.

Trong ba loại Nghĩa vụ (do pháp luật quy định, do luân lý xã hội đòi hỏi, và do lương tâm đạo đức thúc đẩy), có những Nghĩa vụđáp ứng được cả baloại đó nhưng có Nghĩavụchỉ đáp ứngđược một hoặc hai loại. Ví dụ như Nghĩa vụ hiếu kính và phụng dưỡng chamẹcủa con cái thì vừa đáp ứng được quy định của pháp luật,vừa đáp ứng sựđòi hỏi củaluân lý xã hội và cả sựthúc đẩy của đạođức nội tại.

Khi kết hợp ba loại Nghĩa vụ này với nhau (tức là một Nghĩa vụ có cả ba động lực thúc đẩy từ quy định pháp luật, luân lý xã hội và đạo đức nội tại) thì việc thực thi Nghĩa vụ con người trên thực tế sẽ đạt được hiệu quả tối ưu. Chẳng hạn như Nghĩa vụ chăm sóc người già, neo đơn là Nghĩa vụ luân lý và Nghĩavụ đạo đức,nhưng khi được pháp luật quy định thêm thìviệc thực thi sẽ trọn vẹn, hiệu quả. Hoặc Nghĩa vụ quân sự, Nghĩa vụ nộp thuế được quy định trong pháp luật nhưng khi được kết hợp với đạo đức nội tại và luân lý xã hội, thì những Nghĩa vụđó sẽ được thực thimột cách chu toàn hơn.

Nghĩa vụ con người là bao trùm lêntất cảvì ai cũng là con người. Nghĩa vụ conngườiđược thể hiện ở ít nhất bốn mức độ:

31 GS. Hoàng Phê (2012), tlđd, tr. 380.

32 Trần Đức Huynh (1966),Đạođứchọc, Nxb Ra Khơi, tr. 57.

33 Xem Thích Chân Quang (2004), Tâmlý đạođức, Nxb Tôn giáo, tr. 7.

28

– Khi con người có trách nhiệm với gia đình thì ta gọi là Nghĩavụcủathành viên giađình.

– Khi con người có trách nhiệm với cộng đồng thì ta gọi là Nghĩa vụ của thành viên cộng đồng.

– Khi con ngườicó trách nhiệm với quốc gia của mình thì tagọilà Nghĩa vụcông dân.

– Khi con người có trách nhiệm với thế giới thì ta gọi là Nghĩa vụ của công dân toàn cầu (obligation of a global citizen) (từ ngữ mới).

Tất cả đều làNghĩa vụ của con người. Phạm vi của Nghĩa vụ con người bao hàm, trải dài từ gia đìnhđếncộng đồng, quốc gia và nhân loại. Như vậy, Nghĩa vụ công dân chính là Nghĩa vụ con người nhưng được điều chỉnh một chút để phù hợp với pháp luật của quốc gia đó. Khi so sánh Nghĩa vụ công dân của các quốc gia, ta đều thấy có những đặc điểm giống nhau. Dù là ở bất kỳ quốc gia nào thì công dân (cũng là con người) đều phải thực thi Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, Nghĩa vụ quân sự, Nghĩa vụ nộp thuế, Nghĩa vụ lao động… Nên trong luận án này, khi nói Nghĩa vụ con người là ta đã bao hàm Nghĩa vụ công dân.

2.1.1.2. Khái niệm Nghĩa vụ con người trong pháp luật

Nhưđềcậpở trên, Nghĩa vụ con người được hình thànhtừđòihỏi (bên ngoài) củatổchức, cộngđồng hoặctừlương tâm đạo đức (bên trong) củamỗicon người. Nhữngđòihỏiđócóthểthông qua những mệnh lệnh đơn hành (unilateral orders), nhưng cũng cóthểthông qua những mệnh lệnh có tính quy phạm (normative orders)(đạođức, tín điều tôn giáo, quy

địnhcủatổ chức, quy ước của cộng đồng, pháp luật…). Trong những mệnh lệnh có tính quy phạm thì pháp luật có vai trò quan trọng hơn cả.

Trong lĩnh vực pháp luật, Nghĩa vụ được xem xét ởhai cấpđộ: một là, Nghĩa vụriêng trong quan hệ pháp luật dân sự, hợp đồng (lao động, mua bán, chuyển nhượng, tuyển

dụng…); hai là, Nghĩa vụ chung theo lý luận của pháp luật. Nghĩa vụ con người trong luận án này xinchỉđược xem xétở cấpđộ thứhai, tức là Nghĩavụ chung hay Nghĩavụcơ bản của con người trong pháp luật.

Dựa vào quan niệm Nghĩa vụ con người và loại Nghĩa vụ con người do pháp luật quyđịnh,ta có thể định nghĩa: Nghĩa vụ con người trong pháp luật là cách xửsự(việc, công việc, hành vi) do pháp luật quy định mà con người buộc phải thực hiện (phải làm hoặc không được làm), nhằm đem lại Trậttựcho xã hội, tạo ra Nguồn lực cho quốc gia, và làm nền tảng cho Quyền con người được thực thi.

Khác với Nghĩavụluân lý hay Nghĩavụđạođức,Nghĩa vụcon ngườitrong pháp luật (Nghĩa vụ pháp lý) có cácđiểm đặc thùcơ bản sau:

Thứ nhất, Nghĩa vụ pháp lý của con người được pháp luật (Pháp luật quốc tế và Pháp luật quốc gia) ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức;

Thứhai, Nghĩavụpháp lýcủacon người có phạm vi tác động rộng lớn trong quốc gia và thậm chí vượt khỏi biên giới quốc gia (công dân đi ra nước ngoài vẫn phải tuân thủ pháp

29

luậtcủaquốc gia màhọmang quốc tịch). Đối tượng tác động (chủthểphải thực thi Nghĩa vụ)củaNghĩa vụ pháp lý thường làmọingười (cũng là công dân). Nghĩavụpháp lý do nhànước quy định trong pháp luật nên thườngđược phổbiến bằnghệthống cơ quan nhànước;

Thứba, Nghĩa vụ pháp lý của con người có tính ràng buộc cao vì được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế (coercive methods), là các biện pháp nghiêm khắc hơn so với các biện pháp xã hội khác;

Thứtư, Nghĩa vụ pháp lýcủacon người, nếu không được chủthểthực hiện hoặc thực hiện không đúng thì chủ thể đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý (giam giữ, phạt tiền,

lao động công ích…).

Nghĩa vụ con người trong pháp luật có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau như theo Hiến pháp và các Bộ luật bao gồm các lĩnh vực của đời sống xã hội thì có Nghĩa vụ kinh tế, Nghĩa vụ chính trị, Nghĩa vụ dân sự, Nghĩa vụ văn hóa, Nghĩa vụ xã hội, Nghĩa

vụ môi trường…

Một cách phân loại khác về Nghĩa vụ con người trong pháp luậtgồmcó Nghĩavụcơbản (được quy định trong hiến pháp như làbảo vệ Tổ quốc,đóng thuế, bảo vệ môi trường…) và Nghĩa vụ chi tiết (được quy định trong các văn bản pháp luật khác như là xe đi đúng làn

đường,đúng tốc độ…).

Phụ thuộc vào chủ thể ban hành, phạm vi tác động Nghĩa vụ con người trong pháp luật gồm có Nghĩa vụ trong Pháp luật quốc tế và trong Pháp luật quốc gia…

2.1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc quy định Nghĩa vụ con người trong pháp luật

Có nhiều công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, bao gồm pháp luật và một số công cụ khác như quy ước, hương ước,nộiquy, thanh quy, gia quy,điềulệ đảng,tínđiều tôn giáo,tậpquán, đạo đức… Không một công cụ nào được xem là vạn năng mà tấtcảphải bổ sung cho nhau để giúp điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ xã hội được tốt đẹp nhất. Trong việc điềuchỉnh các quan hệ xã hội, tác giảNguyễn Minh Đoan cho rằng“các công cụquản lý xã hộiluôn dựa vào nhau,hỗtrợ nhauđể cùng tồn tại, phát triển vì sựổn định và trật tựxã hội, vì cuộc sống cộng đồng ổn định phát triển hướng tới chân, thiện,mỹ”34. Tuy nhiên, pháp luật vẫn được xem là công cụ hàng đầu và có hiệu quảnhất. Do đó, những Nghĩa vụ con người cơ bản, cốt lõi, cóảnh hưởng lớn đến sựổn định và phát triển của xãhộikhông thểchỉđược điều chỉnhbởi các công cụ ngoài pháp luật mànhất thiết phải được quy định trong pháp luật vì những mục đích, ý nghĩa sau đây:

Thứnhất, khẳngđịnhtầmquan trọng và tính phổ quátcủaNghĩa vụ con người Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Việc ban hành pháp luật được tiến

hành thông qua trình tự thủ tục chặt chẽ với sự tham gia của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên pháp luật có tính khoa học và khách quan cao. Pháp luật không mang tính tự phát hay cảm tính, không phải xuất phát từ một trường hợp đơn lẻ nào mà là sự tổng hợp từ rất nhiều những trường hợp có tính phổ biến trong xã hội. Những quy định của pháp luật là khuôn mẫu

34 TS. Nguyễn Minh Đoan (2009), Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 25.

30

điển hình để các chủ thể thực hiện. Pháp luật có phạm vi tác động rộng lớn, “Ở đâu có sự hiện diện của chính quyền, ở đó có sự tác động của pháp luật”35.

Pháp luật luôn được công khaivới mọiđốitượng, có khả năng tácđộng đếnmọicánhân tổ chức trong xã hội, có khả năng tác động đến mọi vùng miền lãnh thổ trong phạm vi quản lý của chính quyền. Không những thế, khi Nghĩa vụ con người được quy định trong các văn kiện quốc tế thì phạm vi tác động của nó còn mở rộng ra khỏi biên giới của một quốc gia, thậm chí là ảnh hưởng toàncầu nếucó nhiều quốc gia tham gia ký kết. Vì vậy, việc quy định Nghĩa vụ con người trong pháp luật là sự xác lập vị thế quan trọng và tính phổ quát của Nghĩa vụ con người trong đời sống xã hội, khác hẳn với những Nghĩa vụ con người chỉ tồn tại trong phong tục tập quán địa phương hay ý thức đạo đức cá nhân.

Thứhai, tăng tính ràng buộc trong việc thực thi Nghĩa vụ con người

Pháp luật mang tínhbắtbuộcđối với mọicá nhân, được nhànước bảođảm thực hiện

bằng nhiều biện pháp khác nhau như tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế…, trongđó, quan trọng nhất là biện pháp cưỡng chế nhànước. Ở bấtkỳxãhộinào cũngtồntại một bộphận khôngnhỏcác cá nhân thiếuý thức tựgiác không chịu chấp hành pháp luật. Đối với hạngngười đó,các biện pháp như tuyên truyền giáodụckhông phải lúc nào cũng phát huy tác dụng. Nhà nước cần phải dùng biện pháp cưỡng chế của pháp luậtmớicó thể thiếtlậpđược trậttựổnđịnh xãhội. Pháp luật cóđược sức mạnhnày chính là nhờ sức mạnh của nhànước,sức mạnhcủabộmáy chuyên nghiệp, chuyên môn làm nhiệm vụcưỡngchế.

Vì vậy, khi Nghĩa vụ con người được quy định trong pháp luật, các cá nhân phải chấp hành nghiêm chỉnh, không phụ thuộc vào ý chí của họ có muốn hay không. Điều này cũng góp phần tạo ra sự công bằng và bình đẳng trong việc thực thi Nghĩa vụ của các cá nhân. Trong khi đó,hầuhết trong các công cụ ngoài pháp luật không có thiết chế chuyên nghiệpđể bảo đảm thực hiện,hoặc nếu có cũng thường không đủ mạnh và không nghiêm ngặt nhưbiện pháp cưỡng chế nhà nước của pháp luật.

Thứba, nâng cao ý thức về Nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của cá nhân đối với cộng đồng

Khi pháp luật được ban hành một cách công khai và rộng rãi, bắt buộc các cá nhân trong xã hội phải nắm bắt được chúng. Không một cá nhân nào được miễn trách nhiệm pháp lý với lý do không biết luật. Với vai tròđịnh hướng tư tưởng và hành vi của con người, pháp luật buộc các cá nhân phải hình thành thói quen suy nghĩ và hànhđộng hợp pháp, tuân thủ, tôn trọng pháp luật. So với các công cụ ngoài pháp luật, pháp luật tácđộng lên ý thức của cá nhân mạnhmẽhơn,từđó điều chỉnh hành vicủacon người hiệuquảhơn.

Vì vậy, việc quy định Nghĩa vụ con người trong pháp luật sẽ góp phần nâng cao ý thức vềNghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận của cá nhân đối với cộng đồng. Thông qua các quy định của pháp luật, các cá nhân sẽ biết chính xác và cụ thể những hành vi nào buộc phải thực hiện, hành

35 Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, tr. 241.

31

vi nào bị cấm thực hiện để hoàn thành Nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận của mình. Từ đó các cánhân có cơ sở để lựa chọn và thực hiện hành vi một cách phù hợp. Bên cạnh biện pháp cưỡng chế tạo nên sức ngăn cản mạnh mẽ đối với các hành vi không thực thi Nghĩa vụ hoặc thiếu trách nhiệm, những hình thức khen thưởng được pháp luật quy định cũng tạo nên sự khuyến khích các cá nhân tích cực, chủ động, tự giác thực thi Nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận của mình vượt hơn yêu cầu của pháp luật. Nhưng trong thực tế pháp luật, hình thức khen thưởng ít được áp dụng hơn biện pháp chế tài.

Thứtư, tạo nên sự cân bằng trong thực tế cuộc sống giữa sự thụ hưởng (Quyền) và sựcống hiến (Nghĩa vụ)

Việc quy định Nghĩa vụ con người trong pháp luật còn có ý nghĩa to lớn nhằm tạo nên sự cân bằng giữa việcthụhưởng Quyền với việc thực thi Nghĩavụcủa mỗicá nhân trong đời sống xã hội. Pháp luật bảo vệ Quyền con người, tạo điều kiện để các cá nhân thụ hưởng Quyền con người. Đồng thời, pháp luật cũng phải quy định Nghĩa vụ con người một cách cụ thể nhằm tạo cơsởpháp lý để mọi người thực thi Nghĩa vụ một cách đầyđủ vàcông bằng. Chỉ khi con người thực thi Nghĩavụ một cách đầy đủmới tạora được nguồn

lực dồi dào cho xã hội. Quyền con người chỉ được đảm bảo khi nguồn lực xã hội dồi dào.

Quyền con người phải đi đôi với Nghĩa vụ con người, các cá nhân được hưởng Quyền thì cũng phải thực thi Nghĩa vụ. Nhà nước chỉ đóng vai trò là chủ thể điều phối giữa Quyền con người và Nghĩa vụ con người mà thôi. Nhà nước không tự mình cung cấp các Quyền con người hay tự đặt ra các Nghĩa vụ cho con người. Các cá nhân muốn được hưởng nhiều Quyền thì buộc phải thực thi nhiều Nghĩa vụ để tạo nên nguồn lực dồi dào cho xã hội. Nhànước đóng vai trò trung gian (intermediary) điều phối nguồn lực này, chuyển hóa nguồn lực này thành quyền lợi cho các cá nhân, cho cộng đồng.Tóm lại, Quyền con người do chính Nghĩa vụ con người quyết định. Có chăng nhà nước chịu trách nhiệm tạo cơ hội cho con người được thực thi Nghĩa vụ, nghĩa là không để cho ai trở thành vô dụng, và nhà nước cũng chịu trách nhiệm cung cấp Quyền con người một cách công bằng tương xứng.

Thứnăm, tạo điều kiện cho mỗi người phát huy năng lực cá nhân,từđó khẳng định giá trị bản thân thông qua Nghĩa vụ conngười

Việc Nghĩa vụ con người được quy định trong pháp luật một cách rõ ràng, cụ thể sẽ tạo nên cơ chế thúc đẩy các cá nhân phát huy năng lực của mình trong lao động, sản xuất. Nhà nước và cộng đồng sẽ có trách nhiệm tạo mọiđiều kiện thuận lợi đểcác cá nhân thực hiện tốt nhất Nghĩa vụ của mình. Chính việc thực thi Nghĩa vụ làm cho con người có giá trị giữa cuộc đời. Câu nói của Bác Hồ: “Lao động là sự nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng”36 cũng hàm chứa ý nghĩa này. Sự kết tinh các giá trị vật chất và tinh thần được tạo nêntừ sức lao động. Sự cống hiến của các cá nhân chính là chất liệu để xây dựng đời sống xã hội. Xã hội phát triển là nhờ có nhiều cá nhân cống hiến nhiều hơn thụ hưởng. Trong cộng đồng, rất nhiều

36 Hồ Chí Minh: Toàn tập (2011), tlđd, tập 7, tr. 418.

32

cá nhân sẵn sàng cống hiến thực thi Nghĩa vụ vượt hơn yêu cầu của pháp luật. Đơn cử trong lĩnh vực môi trường, không chỉ thực hiện tốt Nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nhiều cá nhân còn

tự nguyện tham gia vào các hoạt động cải tạo môi trường như thu gom, tái chế rác thải, trồng cây gây rừng… Chính sự cống hiến này đã làm cho phẩm giá của bản thân họ được nâng cao. Những người này sẽ luôn nhận được sự quý mến từ cộng đồng xung quanh.

2.2. Bản chất Nghĩa vụcon người và mối tương quan giữa Nghĩa vụcon người với Quyền con người trong pháp luật

2.2.1. Bản chất Nghĩa vụ con người

Bằng việc quan niệm Nghĩa vụ con người là “cách xửsự(việc, công việc, hành vi) mà con người buộc phải thực hiện, nhằm đem lại lợi ích, hạnh phúc, đạo đức cho người khác và cộng đồng”, có thể thấy bản chất của Nghĩa vụ con người chính là sự cống hiến (mang tính vị tha) của con người đối với cộng đồng, xã hội.Sựcống hiến này có thể là việc

đóng góp công sức, thời gian, năng lực, trítuệ… của mìnhchocộng đồng(Nghĩa vụchủđộng) hoặc cũng cóthểlà việctựhạnchế những hànhđộng,ý muốn, lợi íchcủabản thân mình để không làm tổnhại đến lợi íchcủa người khác, lợi íchcủa cộng đồng(Nghĩa vụthụ động). Tuy nhiên, dù là việc đóng góp haytựhạn chế bảnthân, thì bản chất của Nghĩa vụcon người vẫn luôn thể hiện rõ khuynh hướng vị tha (altruistic tendency). Sự đóng góp của con người khi thực thi Nghĩa vụ sẽ giúp bù đắp lại những lợi ích mà con người đã thụ hưởng từxã hội, đồng thời cũng là nguồn lực cốt yếu giúp xã hội được tồn tại và phát triển. Còn việc tự hạn chế bản thân nhằm giúp cho xã hội giữđược trật tự, ổn định.

Bên cạnh đó, khuynh hướng vị tha trong bản chất của Nghĩa vụ con người cũng được thể hiện khi phân tích Nghĩavụcon người dưới góc độ lịch sửvà góc độcác động lực hình thành. Xét từ nguồn gốc lịch sử, vào thời hoang sơ, khi xã hội chưa có tổ chức, con người sống theo bản năng. Lúc đó, trong khi bươn chải để tìm lương thực cho sự sống giữa rừng hoang mênh mông, conngười được tựdo chiếm hữu mọithứcủathiên nhiên không giới hạn. Họ luôn muốn tranh giành mọi thứ về cho mình,từthực phẩm cho đến những lợi ích khác. Họ cũng tự nhiên biết chăm sóc, bảo bọc gia đình ruột thịt của mình. Đây chính là khởi nguồn tự nhiên của Quyền và Nghĩa vụ (xem mục 3.1.1). Quyền là sựthụ hưởng lợiích cho bản thân nên có tính vịkỷ,còn Nghĩa vụ là tinh thần chăm lo cho người khác nên mang ý nghĩa của lòng vị tha.

Khicộng đồngphát triển lớn dần, dânsốđông hơn, sự khai thác chiếm hữu tài nguyên thiên nhiênđãbắtđầucó xungđộtcạnh tranh. Lúcđóconngười cầnluậtpháp đểđiều chỉnh sựtựdo chiếm hữu cho hợp lý lại. Quyền conngười đãbắt đầuđược phápluậtđiềuchỉnh. Cũng vì cộngđồngđãphát triển lớn hơn, nhưng tinh thần trách nhiệm của conngười vẫnchỉlẩnquẩn trong gia đìnhcủamình, nên những thủ lĩnh củabộ tộc đãra quyđịnhbuộc con người phải mở rộng tinh thần trách nhiệm của mình với cộng đồng. Nghĩa vụ conngười đãbắtđầuđược phápluật điều chỉnh. Phápluật đãthuhẹpQuyền con người vàmở rộngNghĩa vụcon người cho cânđốilạivới nhau.

33

Ngày nay khi xã hội đã vô cùng đông đúc phức tạp, nếu ta xem Quyền con người làtựnhiên như thời hoang sơ để áp vàothời đạingày hôm naysẽlàmột sựápđặtkhập khiễng bất hợp lý. Cũng vậy, nếuta đểmặc cho trách nhiệm con người chỉ lẩn quẩn trong gia đình cũng sẽ là một sự thiếu sót trầm trọng.

Xét trên góc độ các động lực hình thành nên Nghĩa vụ, chúng ta thấy: banđầu,Nghĩa vụđược hình thành do bản năng thương yêu gia đình của mỗi người, nghĩa là con người có trách nhiệm chăm sóc cho gia đình của mình trước hết. Khi yêu thương nhau người ta sẽ chăm sóc cho nhau, đó là quy luật tâm lý rất tự nhiên của con người. Những tình cảm

như tình mẫu tử, tình anh em, tình thươngvợchồng… luôn làđộng lực mạnhmẽthúc đẩy con người phải hành động vì lợi ích của người kia (thực thi Nghĩa vụ)37. Kế theo, khi cộng đồng phát triển lớn hơn, người có đạo đức cũng phát triển tình thương của mình lớn như thế, nên cũng có trách nhiệm với cộng đồng. Nghĩavụvới cộngđồng đãbắtđầuđược hình thành từ đạo đức vị tha thật sự. Đến khi cộng đồng phát triển quá lớn, thành vùng lãnh thổ hay quốc gia, người dùcó đạođức cũng không còn cơhộiđược tiếpxúc với người ởxa mình, nên tình thương không phát triển theo kịp với cộng đồng,và họcảm thấy không cần phải có trách nhiệm. Tuy nhiên, nơi cộng đồng lớn lao đó mà ta gọi là xã hội, con người vẫn có sựtương tác vô hình với nhau, có chia sẻ lợi ích với nhau, nên buộc phải có trách nhiệm với nhau dù ta không ý thức về trách nhiệm đó. Lúc này, pháp luật phải xuất hiệnđể điều chỉnh,buộc con người phải có trách nhiệm lớn hơn cả nhận thức và đạo đức của mình. Trách nhiệm đối với xã hội này, ta gọi là Nghĩa vụđược quy địnhbởi pháp luật.

Như vậy, ta có các nguồn của Nghĩa vụ như sau:

– Nghĩa vụ do bản năng tình thương yêu gia đình. – Nghĩa vụ do đạo đức đối với cộng đồng.

– Nghĩa vụ do pháp luật quyđịnh.

Ngoài ra, trong trườnghợp một người chưa đủđạo đức với cộngđồng,nhưng không muốn bị cộng đồng xung quanh phê phán nênphải ứng xửcó trách nhiệm. Trong trường hợp này,độnglực để làm nên Nghĩavụlà do luân lý xã hội đòi hỏi. Vì thế, ta có thể chia Nghĩa vụđốivới cộng đồng thành hai loại:mộtlà do luân lý xã hộiđòihỏi, hai là do lương tâm đạo đức nội tại thúc đẩy.

Nếu Nghĩa vụ đó là do lương tâm đạo đức thúc đẩy, thì khuynhhướngvị tha sẽ được thể hiện rất rõ ràng. Từ đạođức nhưthế, con người sẽ thực thi Nghĩa vụ một cách tự giác, chu toàn, thậm chí vượt hơn bổn phận của mình để mang lại lợi ích cho tha nhân.

Nếu Nghĩa vụ đó là do luân lý xã hội đòi hỏi (sợ bị phê phán), thì việc thực thi Nghĩa vụcũng sẽ giúp hài hòa các mối quan hệ giữa người với người, tạo thành nề nếp kỷ cương, sựổn định trong xã hội.

NếuNghĩavụđóđược quy định bởi pháp luật, thì việc thực thi Nghĩavụsẽcó tínhphổ

37 Xem Nguyễn Quang Uẩn (2007), Giáo trình tâm lý học đại cương, NxbĐại họcSư Phạm, tr. 162.

34

quát, chi tiết, mạnh mẽđể bảovệnhững lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, và cảthếgiới38.

Tuy nhiên, trong lịch sử, nhất là ở thời đại quân chủ chuyên chế, rất nhiều Nghĩa vụtrong pháp luật được dùngđể phụcvụ giaicấpthống trị. Conngười đãphải phụngsựrất nhiều cho lợi ích của vua quan. Khi xã hộitiến tới nềnvăn minh dân chủ, thì Nghĩa vụtrong pháp luật không phảidùng đểphục vụgiai cấp thống trịmà được dùng đểtạo nên nguồn lực phục vụ cho lợi íchcủacon người. Lúc đó, nhànước đóngvai trò điều phối giữa quyền lợi và Nghĩa vụ của người dân.

Đặc biệt, trong thời đại hôm nay, ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề có tính toàn cầu như:

biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, tư tưởng cực đoan, khủng bố, chiến tranh… con người lại càng bị yêu cầu cao hơn về tinh thần trách nhiệm. Vì thế, pháp luật phải được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện để nâng Nghĩa vụ con người lên cao hơn, đồng thời, nhận thức và đạo đức của con người cũng phải được nâng tầm một cách phù hợp.

Điềunày đòihỏipháp luật vàđạo đức vềNghĩa vụ con người phải được hoàn thiện hơn, không chỉ nhằm đạt được lợi ích của riêng một cộng đồng, hay quốc gia nào mà phải hướng tới toàn thế giới. Các nhànước phảiquy định các Nghĩa vụ con người phù hợp với khuynhhướngtoàncầunày, và chính mỗi cá nhân cũng phải xây dựng tinh thần Nghĩavụtoàncầuđểtạonênmột thế giới đạiđồng bình yên hạnh phúc.

2.2.2. Mối tương quan giữa Nghĩa vụ con người và Quyền con người trong pháp luật 2.2.2.1. Quyền con người không tách rời với Nghĩa vụ con người

Có một hệ thống quan điểm cho rằng Quyền con người là tự nhiên, bẩm sinh, vốn có, không phụ thuộc vào ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, cộng đồng hay nhà nước nào39. Tuy nhiên, nhiều học giả trên thế giới đã nhận ra sự bất hợp lý của Quyền tự nhiên và lên tiếng phủnhận. Nổi bật trong số đó, Jeremy Bentham – triết gia, luật gia người Anh, đã cho rằng Quyền tự nhiênlà “ngônngữkhủng bố” (terrorist language)40.

Quan điểm của luận án cho rằng, tuỳ theo góc nhìn mà ta nói rằng Quyền con người là tựnhiên hay là do quy định của pháp luật. Quan điểm Quyền tự nhiên xuất phát từtiềm thức từ thời hồng hoang, khi mà dân số còn thưa thớt, tài nguyên còn dồi dào, rừng hoang còn mênh mông, conngười được tựdo chiếm hữu các lợi íchtừthiên nhiên mà vẫn không xung đột nhau.Đến khi cộngđồng xã hội phát triển, dân sốđông lên, con người không còn muốn lấy gì thì lấy, muốn làm gì thì làm theo ý riêng của mình nữa, mà phải theo quy định chung (pháp luật) để tránh xung đột với nhau. Lúc này, khái niệm Quyền con người phải là do quy định của pháp luậtchứkhông còn là tự nhiên như ngày xưa nữa.

38 Xem Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, tr. 257.

39 Xem Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Giáo trình Lý luận và Pháp luật về Quyền con người, Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội, tr. 39.

40 Xem George H.Smith, Jeremy Bentham’s attack on natural rights, website:

https://www.libertarianism.org/publications/essays/excursions/jeremy-benthams-attack-natural-

rights#:~:text=Natural%20rights,%20according%20to%20Bentham,to%20laws,%20and%20revolution%20against, truy cập ngày 27/01/2021.

35

Hơn nữa, theo tinh thần khoa học, không có gì xuất hiện một cách tự nhiên cả. Như đểcó được một thảo nguyên xanh tươi bát ngát, ta cần phải hội đủ các điều kiện: đất, nước, độẩm, hạt mầm chìm trong đất, khí hậu thích hợp. Cũng vậy, Quyền con người sẽ được hình thành tùy theo hoàn cảnh xã hội là thời sơ khai thưa thớt hay là thời xã hội văn minh đông đúc. Nếu là thời văn minh đông đúc thì Quyền con người cần những điều kiện để thực thi, đó làNghĩa vụ con người và hệ thống pháp luật vững chắc. Tư duy về luật pháp của con người làđủ chín chắntiến bộkhi cho rằng Quyền và Nghĩa vụ con người là không tách rời nhau.

i. Quyền người này là Nghĩa vụ người khác

Con người luôn có sự tương tác nhất định với cộng đồng và mọi người xung quanh. Sựtương tác này tạo thành mối tương quan giữa Quyền của người này là Nghĩa vụ người khác. Nếu một người được thụ hưởng tiện nghi sung sướng, thì một người khác phải vất vả làm việc, chăm sóc, phục vụ. Nếu một công dân có quyền thụ hưởng cuộc sống hạnh phúc, ấm no thìcác lực lượng chức năng, công an, cảnh sát, quân đội… phải vất vả ngày đêm canh gác, bảo vệ. Do đó, để Quyền con người được thụ hưởng thì Nghĩa vụ con người phải được thực thi.

Để cho nhân dân có Quyền con người thì nhà nước phải có trách nhiệm chăm lo đời sống cho nhân dân, có trách nhiệm điều phối Quyền và Nghĩa vụ cho người dân, và chính người dân cũng phải thực thi Nghĩa vụmột cách đầy đủ.Mỗi cá nhân khi đòi hỏi Quyền con người của mình thì đồng thời lúc đó cũng đã buộc những người nào khác, một tổ chức hay nhà nước phải thực hiện Nghĩa vụ nhiều hơn, thậm chí là những sự đánh đổi, hy sinh tính mạng để đáp ứng Quyền con người cho mình. Do đó phải hết sức dè dặttrước sự thụhưởng của mình, thay vì đòi hỏi quá nhiều về Quyền thì mỗi người nên có ý thức thực thi Nghĩa vụđểgiảm gánh nặng cho xã hội, quốc gia vì “các Quyền con người cũng đòi hỏi phải có Nghĩa vụ kèm theo đối với mỗi cá nhân, nếu không Nhà nước sẽ không có cơsởđểđảm bảo các Quyềnnày được thực hiện”41.

ii. Người hưởng Quyền gì phải có Nghĩa vụ tương xứng với Quyềnđó

Theo lý luận cơ bản của pháp luật, Quyền con người và Nghĩa vụ con người là hai mặt của một vấn đề. Mỗi cá nhân đều được hưởng những Quyền và Lợi ích nhất định, đồng thời chính họ cũng phải thực thi những Nghĩa vụ tương xứng. Việc thực thi Nghĩa vụ này là điều kiện tiên quyết để đảm bảo Quyền được thụ hưởng. Có thể nói,“Con người, công dân muốn được đảm bảo các Quyền thì phải thực hiện các Nghĩa vụ… quyền lợi và Nghĩa vụluôn phải đi đôivớinhau”42. Thực sự:“Việc đòi hỏiQuyền mà không thực hiện các Nghĩa vụtương xứng là mộtsựgian trá khó có thể chấp nhận”43. Chính Nghĩavụ con người đã tạo ra Quyền con người, bởi vì đã tạo ra nguồn lực cho xã hội.Nhờvào nguồn

lực đó,con người được thụ hưởng những lợi ích (Quyền). Lãnh tụ Mahatma Gandhi đã

41 Gerhard Ernst và Jan – Christoph Heilinger (2012), The Philosophy of Human Rights – Contemporary Controversies, Walter de Gruyter GmbH & Co. KG, Berlin/Boston, Đức, tr. 75.

42Đại học Luật Hà Nội(2016), Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr. 257-258. 43 Onora O’Neill (2005), The Dark Side of Human Rights,Tạpchí International Affairs, tập 81, số 2.

36

từng khẳng định:“nếu ai cũng khăng khăng đòi hỏi quyền lợi, trong khi không ai nghĩ vềNghĩa vụ thì đó là một điều thật khôi hài”44.

Trong cuộc sống, không ai có thể tồn tại độc lập, riêng lẻ mà phải luôn sống trong một xã hội nhất định, được cộng đồng che chở, cưu mang. Do đó, ngoài việc thực thiNghĩa vụ đểđáp ứng cho nhu cầu hưởng Quyền của mình thì mỗi cá nhân còn phải có những Nghĩa vụ góp phần xây dựng và phát triển cộng đồng. Người hưởng Quyền gì phải có Nghĩa vụ tương xứng với Quyền đó. Chẳng hạn, con người có Quyền sống trong một xã hội sung túc như mong muốn thì cũng có Nghĩa vụ siêng năng làm việc; con người có Quyền sống trong môi trường trong lành thì cũng có Nghĩa vụ cùng nhau bảo vệ môi trường, con người có Quyền tự do thì cũng có Nghĩa vụ của sự tự do.

Quyền tự do là một trong những Quyền quan trọng nhất của con người.Tựdo nghĩa là được làm được nói những gì mình muốn. Khi được làm được nói những gì mình muốn, con người cảm thấy hạnh phúc. Bởi vì Quyền tự do là một yếu tố tạo nên hạnh phúc, nên nó phải được bảo đảm bằng pháp luật (quốc tế cũng như quốc gia). Chẳng hạn, Quyền tựdo được quy định trang trọng trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của HoaKỳ,Điều1 Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Pháp, hay Điều 1 Tuyên ngôn Quốc

tế Nhân quyền năm 1948…

Quyền tự do manglạinhiều ý nghĩa tích cực như cho phép conngười được tựdo mưu sinh nuôi sốngbảnthân mình, tự do theo đuổi những sở thích cá nhân chính đáng, tự do tìm tòi sáng tạo, vàtựdo làmđiềuthiện cống hiến cho xã hội (nếu nhưhọcó thiện chí). Nhưng ngượclại, Quyềntựdo cũng cómặttráicủanó.Đólà trong khitựdo hànhđộngtheoýmuốn, con người cũng cóthểgâytạotộilỗi, làmtổnhạicho cộng đồng. Thực tế, mộtsốngười đãnhân danh Quyền tự dođểvi phạm pháp luật.

Như đã đề cập ở trên,Quyền con người không tách rời Nghĩa vụ con người. Nhưng hiện nay, nhân loại đã ca ngợi quá nhiều về Quyền tự do mà ít chú trọng về Nghĩa vụ của con người khi thụ hưởng những Quyền tự do đó. Điều này là không công bằng và đã gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội. Con người không thể thiếu Quyền tự do để được sống hạnh phúc, nhưng con người cũng cần có Nghĩa vụcủa sựtự do để ngăn chặn sự nguy hiểm đến từ mặt trái của nó.

Vì con người có Quyền tự do, có thể làm những điều mình muốn, thế nên con người cũng có Nghĩa vụ kiểm soát ý muốn của mình sao cho chỉ muốn làm những điều tốt đẹp, đúng pháp luật, đúng luân lý xã hội, đúng với lương tâm đạo đức, để không gây tổn hại cho người khác, không gây tổnhạicho cộng đồng, không gây tổn hại cho đất nước, không gây tổn hại cho nhân loại. Chẳng hạn, trẻ em trong gia đình phải được cha mẹ dạydỗ uốn nắn kỹ lưỡng, chứ không phải được tự do hoàn toàn theo ý muốn. Con người sống trong khu phố phải tuân theo các quy ước trong khu phố đó, chứ không phải hoàntoàn được tựdo theo ý mình. Còn

44 Samuel Moyn (2016), Rights vs. Duties: Reclaiming Civic Balance, Boston Review, website:

http://bostonreview.net/books-ideas/samuel-moyn-rights-duties, truy cập ngày 13/01/2021.

37

người có đạo đức cao thì tự mình kiểm soát được ý muốn của bản thân một cách sâu sắc để không làmđiều tộilỗi mà chỉ làm những điều tốt đẹp cho người khác.

Hình 1 – Sơ đồ Quyền tự do

Quyền con người không thể là vô hạn mà phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật, của luân lý xã hội (social ethics) và đạo đức nội tại (moral conscience)45. Quyền con người phải dừng lạiở vị trí nhường chỗ cho Nghĩa vụ tôn trọng Quyền – Lợi ích hợp pháp của người khác “nhằmđảm bảo sự hài hòa giữa các Quyền cá nhân và các Quyền của tập thể (cộng đồng, quốc gia, dân tộc), cũng như giữa các cá nhân với nhau”46. Nếu ai cũng đòi hỏi Quyền mà không thực thi Nghĩa vụ tôn trọng Quyền của người khác thì sẽ dẫn đến sự xung đột lợi ích giữa các cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể. Để tránh sự xung đột đó cũng như nhằm đảm bảo Quyền con người được thụ hưởng thì Quyền của mỗi cá nhân phải được đặt trong sự giới hạn và có mối tương quan với Nghĩa vụ tôn trọng Quyền – Lợi ích hợp pháp của người khác.

Sựgiới hạn Quyền này được đảm bảo bằng nhiều phương thức như: quy định của pháp luật (legal provisions), hoặc trong các công cụ điều chỉnh khác nhưđạo đức,tínđiều tôn giáo (religious beliefs),kỷluật củatổchức, hươngướccủa cộngđồng dân cư. Việc mỗi cá nhân tuân thủ chấp hành sự giới hạn này cũng đồng nghĩa với việc thực thi Nghĩa vụ nhằm đảm bảo cho Quyền conngười được thụ hưởng.

Ngoài ra, Quyền con người và Nghĩa vụ con người còn có mối tương quan lẫn nhau khimức độ hưởng Quyềncủa một người phụ thuộc vào tinh thần trách nhiệmvà đạo đức của người đó. Trong thực tế cuộc sống, khái niệm “Con người” rất phức tạp. Cùng là con người nhưng có rất nhiều hạng người khác nhau cùng tồn tại, có người nghèo – người giàu,

45 Xem khoản 2, 3 Điều 29, UDHR.

46 GS.TS. Tạ Ngọc Tấn (chỉ đạo nội dung), Phạm Văn Ba, TS. Nguyễn Thị Báo, TS. Vũ Công Giao (đồng chủ biên) (2015), Quyền con người, Quyền và Nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam, Nxb Văn phòng thường trực về nhân Quyền và Học viện Chính trị Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 53.

38

người tài – người bất tài,người đạo đức – người ác độc,người có năng lực hành vi dân sự

– người mất năng lực hành vi dân sự, người tận tụy cống hiến – người lười biếng,thụ động… Và theo lẽ công bằng, người có công phải được khen thưởng, người có tội phải bị trừng phạt, còn ngườikhông làm gìsẽ bị quên lãng. Những kẻ xấuác, ích kỷ,tham lam,lười biếng, không có trách nhiệm vớigia đình, cộng đồng xã hội thì không thể được hưởng Quyền ngang bằng với một người cống hiến cả đời. Một kẻ sát nhân không thể được hưởng Quyền con người ngangbằng với người có đạo đức.Nói cho cùng,“kháiniệmtựdo phải

xoay quanh Nghĩa vụ vàbổn phận…”47,sựthụ hưởng Quyền phải dựa trên những tiêu chíđạo đức căn bản và tinh thần trách nhiệm.

Hơn nữa, “nếu mọi người thực thi Nghĩa vụ thì sẽ tạo ra một môi trường mà Quyền của họ ít có khả năng bị vi phạm”48. Quyền con người sẽ không có cơ sở, nguồn lực,điều kiện để thực hiện nếu con người không thực thi những Nghĩa vụ tương xứng. Ví dụ nếu tất cả công dân chấp hành pháp luật, thực thi Nghĩa vụ của mình một cách nghiêm túc, tận tụy dựng xây cống hiến để góp phần tạo nên nguồn lực dồi dào thì chính họ sẽ được sống trong một đất nước hùng mạnh sung túc an toàn. Không chỉ riêng bản thân họmà cảanh em họhàng và cộng đồng này cũng được thụ hưởng điều đó.

Quyền con người không phải tự nhiên sinh ra là đã có mà phảicầncó điều kiện. Điều này chứngtỏrằng“Quyền conngườisẽđượcbảođảmtốthơn khimọingườiđảmnhận Nghĩa vụ của mình đối với người khác,đốivới cộng đồng, đối với quốc giavà đốivới cả thếgiới”49. Trên thực tế, nguyên tắc Quyền con người không tách rời Nghĩa vụ con người làmộtnguyên tắc quan trọng trong Hiến pháp và pháp luật các quốc gia nhằm định hướng cho hoạt động pháp luật, đồng thời xây dựng tinh thần trách nhiệm cho con người, công dân khi thụ hưởngcác Quyền của mình. Với sự quy định rõ ràng, cụ thể nguyên tắc Quyền con người không tách rời Nghĩa vụ con người này sẽ giáo dục tư tưởng, ý thức của mỗi cá nhân, khi thụhưởngbất kỳ quyềnlợinào thì cũng cần phải suy xét mình đã thực hiện Nghĩa vụ gì. Trong hiến phápmộtsố quốcgia, nguyên tắc này được quyđịnhmộtcách rõ ràng như:

−Quyền công dân không tách rời Nghĩa vụ công dân (Citizens’ rights are inseparable from citizens’ obligations)50.

−Hiến pháp và pháp luật sẽ quy định những Quyền cho công dân thụ hưởng,đồng thời cũng quy định những Nghĩa vụ cho công dân thực thi. (Every citizen enjoys the rights prescribed by the Constitution and other laws and at the same time must perform the duties prescribed by the Constitution and other laws)51.

47 TS. T.S.N. Sastry (2011), tlđd, tr. 4, 25.

48 Sue L.T. McGregor (2013), Human Responsibility Movement Initiatives: A Comparative Analysis, Journal of peace education and social justice, tập 7,số1, tr. 1-2.

49 Sue L.T. McGregor (2013), tlđd, tr. 1-2. 50 Điều 15, Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

51 Điều 33, Hiến pháp Trung Quốc năm 1982.

39

−Mỗi công dân sẽ được hưởng các Quyền và phải tuân theo các Nghĩavụ được quyđịnh trong Hiến pháp này (Every citizen shall enjoy the rights and be subject to the duties enshrined in this Constitution)52.

−Các Quyền và tự do cơbảnbao gồm Nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân đối với xã hội, gia đình và các cá nhân khác (The fundamental rights and freedoms also comprise the duties and responsibilities of the individual to the society, his/her family, and other individuals)53.

−Việc thụ hưởng các Quyềnvà tựdo không thể táchrờiviệc thực thi Nghĩavụ,bổn phận (The exercise and enjoyment of rights and freedoms is inseparable from the performance of duties, and obligations)54.

Quyền con người không tách rời Nghĩa vụ con người là một nguyên tắc tiến bộ trong một bản hiến pháp tiến bộ. Nghĩa là hiến pháp phải quy định rõ ràng về các Quyền mà con người được thụ hưởngvà các Nghĩa vụ mà con người phải thực thi. Việc quy định như vậy giúp cho người dân hiểu rõ được các Quyền và Nghĩa vụ của mình cũng nhưthể hiện sựlãnh đạo sáng suốt công bằng của nhà nước.

Ở Hiến pháp một số quốc gia, Quyền được quy định rất nhiều trong khi Nghĩa vụđược đề cập rất ít hoặc thậm chí không được nhắc đến.Việc quy định nhiều Quyền hơn Nghĩa vụ trong Hiến pháp là một chính sách tranh thủ sựủng hộcủanhân dân, vì dândễcó cảm tình với người cho họ nhiều Quyền hơn là bắt họ có trách nhiệm. Trên thực tế, Hiến pháp không đề cập đến Nghĩa vụ nhưng trong các văn bản Luật thì Nghĩa vụ lại được quyđịnh rất nhiều. Chẳng hạn như Hiến pháp Mỹ không hề nhắc đến Nghĩavụ nộpthuế nhưng Luật Thuế của họ thì quy định Nghĩa vụ này rất chi tiết chặt chẽ kèm theo các biện pháp chế tài rất mạnh.

Như vậy, từ lý luận và thực tiễn cho đến sự ghi nhận của pháp luật, Quyền con người không tồn tại độc lập, riêng lẻ, mà luôn đặt trong mối tương quan chặt chẽ với Nghĩa vụcon người. Nơi nào có Quyền, chắc chắn ở phía sau phải có Nghĩa vụ được thực thi, hoặc do chính người hưởng Quyền thực thi, hoặc do người khác thực thi (từmột động cơNhân tình, Nhân đạo, Nhân nghĩa, hay hợp đồng dân sự, hay do pháp luật bắt buộc). Dù làNghĩa vụ của ai thì mỗi người khi thụ hưởng các Quyền và lợi ích nhất định của mình cũngđều phải có những Nghĩa vụtương xứng đểbù đắp lại choQuyền được thụ hưởng,bù đắp lại cho nguồn lực đã tiêu hao.

iii. Về ba phương thức cung cấp Lợi ích hợp pháp khác bên cạnh Nhân quyền NguyêntắcQuyền không táchrờiNghĩavụcònđượchiểu là:nếuai không thực thi

Nghĩa vụ thì đương nhiên không được hưởng Quyền hợp pháp (Nhân quyền). Điều cần nhấn mạnh là trong xã hội luôn tồn tại những người lười biếng, thiếu thiện chí. Họ hoàn toàn có khả

52 Điều 12, Hiến pháp Bồ Đào Nha năm 1976. 53 Điều 12, Hiến pháp Thổ Nhĩ Kỳ năm 1982. 54 Điều 41, Hiến pháp Ghana năm 1992.

40

năng (sức khỏe, nhận thức, kiến thức, kỹ năng…) để thực thi Nghĩa vụ nhưng chỉ thích thụhưởng phúc lợi, trợ cấp mà không chịu làm việc hoặc chỉ làm việc hời hợt. Sự đóng góp của họ là hoàn toàn không tương xứng với Quyền được thụ hưởng. Đối với những người kém thiện chí này, nguyên tắc pháp lý “Quyền và Nghĩa vụđi đôi”cầnphải được áp dụng nghiêm khắcđể buộc họ phải có mộtcuộc sống công bằng hơn.

Trong những tình huống ngược lại, có những đối tượng mặc dù không phải lười biếng, nhưng vìmột sốlý do chính đáng nên không có điều kiện để đóng góp cho xãhội(thực thi

Nghĩa vụ) nhưtrẻem, người già yếu, người khuyết tật… Nếu vin vào lý do vì họ không thực thi Nghĩavụnên không được hưởng Quyền, thìtấtcảnhững người trênsẽrơi vào tình trạng bế tắc,đóikém, tuyệt vọng. Tính nhânđạocủaloài người không cho phép xảy rađiềuđó. Ai cũng phảiđược sống, được cóniềm vui trong cuộcsống, được cơhội để cống hiến dù rấtít ỏi. Lúc này, bên cạnh phương thức Nhân quyền, conngười sẽdùng ba phương thức cung cấplợi ích khác là Nhânđạo(từthiện xã hội), Nhân nghĩa (lòng biết ơn của cộng đồng) vàNhân tình (tình yêu thương gia đình)đểbảođảm cuộc sốngan toàn, ấm no cho những đối tượngkém may mắn đó. Cụthểlà:

– Nhân tình (Human Love): bản năngtựnhiêncủacon người là khi yêu thương ai, ta sẽchăm lo cho người đó. Người ta yêu thương có thể là người cùng huyết thống hoặc ngoài huyết thống. Vì yêu thương mà chăm sóc cho nhau, ta gọi đó là phương thức Nhân tình (theođịnhnghĩacủaluận án này)bổsung cho phương thức Nhân quyền. Ví dụ, quyền lợi mà trẻem được thụ hưởngtừsựnuôi dưỡngcủacha mẹ là Nhân tình chứ không phải là Nhân quyền. Dù trẻ em chưa thể thực thi được Nghĩa vụ, nhưng vẫn được cha mẹ nuôi dạy chođếnkhi đủkhả năngtựlo cho mình. Vì chưa thể làm việc cống hiến, trẻ em được xem làđốitượng “vaymượn” quyền lợi đểsống và phát triển. Tuy vậy, trẻ cũng nênđược hướngdẫn thực hiệnmột sốbổn phận phù hợp với thể chất và nhận thức của mình, như hiếu kính cha mẹ, ngoan ngoãn, vâng lời để không gây thêmsựức chếvềtâm lý cho cha mẹ. Ngoài ra, trẻ cầnđược dạydỗdần dầnvề tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng để sau nàylớn lên có đủnhậnthức, đạo đức và kỹnăngđể cốnghiếnbù đắplạikhoản quyền lợi mà trẻđược hưởng lúc còn nhỏ.

– Nhân nghĩa (Human Gratitude): là phương thức cung cấp Lợi ích hợp pháp cho con người xuất pháttừlòng biết ơn của xã hộiđốivới người đãcó nhiều công lao, cống hiến cho đời khi họ còn khỏe mạnh. Họ là người già yếu, người về hưu55, thương binh, bệnh

binh… Dù họ không còn khả năng cống hiến nên không nhận được lợi ích thông qua

55 Lương hưu được hiểu như sau: khi đang còn làm việc, ta đang trích tiền lương của ta vào quỹ bảo hiểm. Số tiền này không phải để dành cho ta, mà ta đang đóng gópđể trả tiền lươnghưu cho ai đó. Sau này, khi ta nghỉ hưu, những người đang còn làm việc cũng đóng quỹ bảo hiểm, và quỹ này sẽ biến thành lương hưu của ta. Tương tự như vậy với quỹ bảo hiểm y tế. Khi ta đóng quỹ bảo hiểm y tế là khôngphải để dành cho chính ta, mà ta đóng cho người nào đóđang cần chi phí chữa bệnh. Sau này, khi ta bị bệnh, tiền bảo hiểm y tế của người khác đang đóng sẽ hỗ trợ cho ta. (Xem thêm Vương Tấn Việt (2020), Thực hiện pháp luật Bảo hiểm Y tế từ góc độ nghĩa vụ công dân ở Việt Nam – Thực trạng và một số kiến nghị, kỷ yếu hội thảo quốc tế: “Pháp luật Bảo hiểm Y tế của Đức và Việt Nam – Tiếp cận từ góc độ so sánh và những đề xuất cho Việt Nam”, TrườngĐại học Luật Hà Nội và Viện Friedrich Ebert Stiftung).

41

phương thức Nhân quyền, tuy nhiên,họsẽnhận sựđãingộ, chăm sóctừsựnhớơn của cộng đồng,đây được gọilà phương thức Nhân nghĩa.

Tuy già yếu, bệnhốm,không làm việcđược nhiều,nhưng họ cũng nên có trách nhiệmđối với cộng đồng nhưgương mẫuvề đạođức,chấp hành pháp luật, truyềnđạt kiếnthức,

kinh nghiệm cho đời sau… để phẩm giá của họ vẫn không bị suy giảm.

– Nhân đạo (Human Compassion): là phương thức cung cấp Lợi ích hợp pháp cho con người xuất pháttừlòng thiện nguyện giữa con người với nhau. Phương thức Nhân đạo này sẽ thay thế cho phương thức Nhân quyền để cung cấp lợi ích cho những người không còn khả năng thực thi Nghĩa vụ theo pháp lý. Ví dụ, người khuyết tật không thểtựlo cho mình được, cũng không thể thực thi Nghĩa vụđối với cộng đồng.Theo nguyên tắc pháp lý, họ không được thụ hưởngnhững lợiích thông qua phương thức Nhân quyền.Họlà đối tượng kém ưu thế rõ rệt trong xã hội. Dù Quyền con người của người khuyết tật cóđược quy định bởi pháp luật, nó cũng chỉ mang tính hình thức. Ít ai cảm thấy có động cơvà sựràng buộc phải cung cấp lợi ích cho họ. Trong trường hợp đó, quyền lợi của người khuyết

tật phụ thuộc vàosựđốixửNhânđạo củaxã hội, nghĩalà từlòngtrắc ẩncủamọi người. Xã hội nào có tính Nhân đạo cao thì người khuyết tật đỡvấtvả.Trong ý nghĩa tích cực, cộng đồng cố gắng không để người khuyết tậttrởthành vô ích hoàn toàn. Nhà nước và xãhội giúp đỡcho người khuyết tật, đồng thời cũng khuyến khích,tạo điềukiện cho họ cống hiến với khả năng ít ỏi của mình,để họvẫn còn có phẩm giá giữa cuộc đời.

Một số đốitượngkém ưu thế khác nhưtrẻ mồcôi, người khốn khó dosựkiệnbấtkhả

kháng như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh… mặc dù không phải là già yếu, tật nguyền, nhưng lâm vào hoàn cảnh tạm thời ngặt nghèo,cũng đáng được hưởng sựđốixửNhânđạo của xã hội. Khi đang được hưởng sựđối xửNhân đạo của xã hội, những người kém ưu thế cũng nên san sẻ những lợi ích của mình (dùrấtít ỏi) cho người kém ưu thế khác, để cùng nhau vượt qua khăn khó. Khi hoàn cảnh tốt trở lại,tất cả phải cố gắng cống hiến để bù đắp

lại nguồn lực cho xã hội.

Trường hợp như đối với những người dân mất việc làm, họ không còn khả năngtrảtiền mua nhà hàng tháng và bị ngân hàng tịch thu mất nhà ở (tình trạng chung của các nước phương Tây),họtrởthành homeless dắt díu gia đình ra ở ngoài đường, cũng cóthểđược coi là người kém ưu thế. Trong trường hợp này, sự sòng phẳng của pháp luật đã không đảm bảo được Quyền sống, Quyền cư trú cho con người. Lúc nàyhọ rất cầnnhận được những

lợi ích thông qua các phương thức Nhân tình, Nhân nghĩa,Nhân đạo để đảm bảo nhữngđiều kiện sống tối thiểu của con người. Khi hoàn cảnh tốt trở lại, họ phải cố gắng cống hiến để bù đắp lại nguồn lực cho xã hội.

Nếu chỉ cần thông qua phương thức Nhân quyền để cung cấp lợi ích cho con người thì chỉ cần các cơ quan thực thi pháp luật về Quyền con người là đủ. Nhưng thực tế là nhànước và xã hội đã lập ra nhiều tổ chức khác để đảm bảo Quyền và Lợi ích hợp pháp cho công dân, đó là các ủy ban quốc gia về người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em… các hội

42

đoàn như Hội Người cao tuổi, Hội Người khuyết tật,Hội Chữthập đỏ,các hội từ thiện xã

hội… Các tổ chức này có trách nhiệm sử dụng phương thức Nhân đạo, Nhân nghĩa, Nhân tình để cung cấp lợi ích cho các trường hợp mà pháp luật về Nhân quyền không đủ chức năng cung cấp.

Qua việc làm sáng tỏ bốnphương thức cung cấp Lợi ích hợp pháp cho con người, ta có thể thấy rằng, Nhân quyền không phải là nguồn duy nhất.Từlâu, những nhà hoạt động Nhân quyền đã nhầm lẫn tai hại, đã gom cả bốnphương thức về lại thành một phương thức Nhân quyền, khiến cho lý luận về phápluật bịsơhở.

Tóm lại, Quyền và Nghĩa vụ luôn đi đôi với nhau. Theo đó, chỉ người nào thực thi Nghĩa vụmớiđượcnhận Quyềnhợppháp tương ứng. Tuy nhiên, bên cạnh Quyền pháp lý (Nhân quyền), nhân loại với trí tuệ và đạo đức còn tạo ra ba phương thức cung cấp Lợi ích hợp pháp khác là Nhân tình, Nhân nghĩa và Nhân đạo để bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho những đối tượng yếu thế trong xã hội. Nhưng dù cho được thụ hưởng những lợi ích từ ba phương thức trên thìnhững người yếu thế cũng nên ít nhiều thực thi nghĩa vụ trong khả năng hạn hẹp của chính mìnhđể nâng cao phẩm giá và đóng góp cho cộng đồng.

Hình 2 – Sơ đồ thực thi Nghĩa vụ

43

Figure 2 – The process of the fulfillment of responsibilities

2.2.2.2. Nghĩa vụ con người là nền tảng của Quyền con người

Cho đến ngày nay, vấn đề Quyền con người là nền tảng của Nghĩa vụ con người hay Nghĩa vụ là nền tảng của Quyền luôn là một đề tài tranh luận sôi nổi của các học giả trên thế giới. Có nhiều học giả quan niệm rằng Quyền là nền tảng vì nó mang lại hạnh phúc cho con người. Tuy nhiên, cũng không ít học giả phản bác luận điểm này và cho rằng Nghĩa vụmới là nền tảng của Quyền vì Nghĩa vụ là nguồn lực đảm bảo choQuyền được thụhưởng. Theo quy định tại khoản 1, Điều 29 UDHR, “Mọingười đềucóbổnphậnđốivới cộng

đồng, chỉ trong cộngđồngđó con người mới cóthểcósựphát triển tự do vàđầy đủvề nhân cách của mình”. Qua tuyên bố này, UDHR đã khẳng định rằng, ai cũng phải có trách nhiệm với cộng đồng, vì không ai có thể sống riêng biệt mà phải là một phần của cộngđồng, phụthuộc vào cộngđồng đểtồn tại và phát triển. Việc quá đề cao quyền và lợi ích cá nhân màbỏ qua các Nghĩavụđó sẽ dẫn đến sựmất cân bằng mà TS. Eric. R. Boot đã nói rằng:“Nếu sựmấtcân bằng giữa Quyền và Nghĩavụ, giữa tựdo và trách nhiệm, (giữa hưởngthụvàcống hiến)cứđược tiếp tục duy trì, chủ nghĩa cá nhân sẽ được hình thành một cách khôngđược kiềmchế. Điềunày sẽ dẫn xã hội đến xung đột vàbấthòa”56. Việc quyđịnhNghĩavụtrong UDHR sẽ khuyến khích mỗi cá nhân thực thi những Nghĩavụvà trách nhiệm của mình một cách nghiêm túc,tạothành nguồn lựcdồidào cho xã hội phát triển,tạotiềnđềcho Quyền conngườiđượcbảođảm.Ta cóthểkhẳngđịnh,Nghĩavụchính lànềntảng của Quyền. Tại khoản 2, Điều 29 UDHR quy định rằng, Quyền tự do cá nhân của mỗi người phải chịu sự giới hạn đểđảmbảoQuyền tự do của người khác, đồng thời không được trái với các đạođức xãhộivà phúc lợi chung của cộng đồng.Nghĩa là, trong khiđược thụhưởng Quyềntựdo cá nhân, con người phải có Nghĩa vụ kiềm chế để không xung đột với

56 TS. Eric Robert Boot (2015), tlđd, tr. 17.

44

các lợi ích của người khác, không đi ngược lại với các chuẩn mực đạo đức của xã hội, vàkhông gây tổn hại cho phúc lợi của cộngđồng.

Chính việc thực thi những Nghĩavụnày sẽ đảm bảo cho Quyền conngười được thụhưởngtrong một xã hội sung túc và công bằng. Hay nói cách khác, Quyền con người chính làkếtquả củaviệc mỗi cá nhân thực thi Nghĩa vụ. Nếu ai cũng khăng khăng đòi Quyền màkhông chịu thực thi Nghĩa vụ, không tôn trọng các lợi ích của cộng đồng, xã hội sẽ bị suy thoái và hỗn loạn. Ta nhận thấyrấtrõ rằng, tuy UDHR là lời tuyên bố hùnghồnvềQuyền con người, cũngđãkhôngthểbỏqua vai trò của Nghĩavụbởi vì chính Nghĩa vụ mới là nền tảng, tạo nguồn lực cho conngười được thụ hưởngnhững quyền lợi chính đáng của họ.

Trong giai đoạn quân chủ chuyên chế độc tài, con người đã bị ràng buộc bởi quá nhiều Nghĩa vụ mà không có các Quyền tương xứng. Thân phận con người khi đó rất khốn cùng, khổ sở. Việc tôn vinh Quyền con người chính là một cuộc cách mạng lớn trong lịch sử nhân loại nhằm giải phóng thân phận con người khỏi những áp bức vô lý. Tuy nhiên, trong xã hội dân chủ văn minh như hiện nay, Quyền con người được tôn vinh quá đáng đã gây mất cânđối so với Nghĩa vụ, gây nên nhiều sự bất anđổ vỡtrongđạo đức củacá nhân, trongđời sống của gia đình và trong trật tự của xã hội. Triết gia Giuseppe Mazzini đã bày tỏ quanđiểm về vấn đề này: “Tôi chỉ đơn thuần nói rằng các quyền đó chỉ có thể tồn tại như một hệ quả của những Nghĩa vụ đã thực thi, chúng ta phải bắt đầu bằng việc hoàn thành Nghĩa vụtrước rồi mới có Quyềnđể thụ hưởng.Dođó,nếucó ai đó rao giảng vềsựcần thiết của một cuộc chuyển biến xã hội và bảo rằngchỉcó thểđạt được điều đóbằng cách đòi hỏi các quyền lợi cho bạn, hãy biết ơn vì ý tốt đó nhưng đừng tin vào kết quả của nó”57.

Quan điểm phải thực thi Nghĩa vụ trước rồi mới có Quyền để thụ hưởng là một điều hợp lý. Trong thực tế cuộc sống, người có Quyền là người được phép thụ hưởng những lợi ích do người khác phục vụ, chăm sóc; được thỏa mãn các nhu cầu cá nhân, được làm điều mình muốn mà không bị ngăn cản. Còn người có Nghĩa vụ là người phục vụ cho người khác, không ngăn chặn việc thụ hưởng Quyền của người khác. Như vậy, Quyền con người chính là sự thụ hưởng và Nghĩa vụ con người chính là sự cống hiến.

Chúng ta thường ở vào một trong hai trạng thái, hoặc là đang thụ hưởng hoặc là đang cống hiến. Lúc lao động, làm việc, phục vụ người khác chính là lúc con người đang cống hiến. Ngược lại, lúc ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí là lúc con người đang thụ hưởng. Chúng ta cũng cóthể ở vào tình trạng vừa thụhưởngvừa cống hiến. Hai trạng thái này đan xen nhau và thay đổi qua lại. Trong thời điểm này họ đang thụ hưởng nhưng trong thời điểm khác họ đang cống hiến. Hầu như không ai chỉ có cống hiến mà không thụ hưởng và cũng không ai chỉ có thụhưởng mà không cống hiến. Có người cống hiến thì mới có người thụ hưởng. Hoặc người nào đã từng có cống hiến thì người đó mới xứng đáng được thụ hưởng. Cống hiến đích thực là nguồn lực cho sự thụ hưởng. TS. Mumba Malila đã viết trong luận án tiến sĩluật học: “Việc

57 Samuel Moyn (2016), tlđd.

45

hoàn thành Nghĩa vụ của từng người trong xã hội chính là điều kiện tiên quyết tạo nên quyền lợi cho tất cả mọi người (The fulfilment of duty by each individual is a prerequisite to the rights of all)58. Từ những nhận định trên, chúng tôi cho rằng Nghĩa vụ là nền tảng, là gốc của Quyền.

Quan trọng hơn, con người không phải là một cá nhân đơn lẻ lạc loài giữa xã hội màchính là từng thành tốđểxây dựng nêncảmột cộng đồng nhân loại. Việc con người lựa chọn Quyền là nền tảng hay Nghĩa vụ là nền tảng còn có ý nghĩa quyết định tương lai của nhân loại.Sựđềcao quá đángvềQuyềnđãdẫn đến việcthụhưởng quá nhiều củacon người mà sựthụ hưởng đó đang làm cạn kiệt tài nguyên của Trái đất.

Đã đến lúc Nghĩa vụ phải được xem là nền tảng của Quyền để con người biết hạn chế sựthụ hưởng cá nhân, biết cùng chung tay xây dựng lại nguồn tài nguyên vô giá của Địa cầu cho nhữngthếhệsau. Việc thực thi Nghĩavụđãtạođiềukiện cho Quyền conngườiđượcthụhưởng, đóng vai trò là nền tảng của Quyền, tồn tại song hành với Quyền, không thể tách rời. Khi Nghĩa vụ con người được thực thi song song Quyền con người được thụ hưởng sẽ đúng với nguyên tắc Quyền và Nghĩa vụ phải đi đôi với nhau theo lý luận của pháp luật, luân lý của xã hội và lương tâm của con người.

Thay vì hỏi “Quyền của tôi là gì?” thì trước hết con người nên hỏi rằng “Tôi nên làm gì?”59. Hiểu được như thế, chúng ta đang làm cân bằng lại mối quan hệ giữa Quyền con người và Nghĩa vụ con người. Chúng tôi cũng tìm được sự đồng tình khi Mia Giacomazzi nói rằng: “Trong một thế giới mà mọi người đòi hỏi quyền lợi nhưng không chấp nhận Trách nhiệm sẽ là một thế giới bất bình đẳng, thậm chí là nguy hiểm và bất hòa”60.

Trong lá thư gửi cho Huxley, Gandhi có lờikêu gọi vềviệc dành ưu tiênđối với Nghĩa vụ như sau: “Yêu thích thực thi Nghĩa vụ chính là một phẩm chất cốt lõi của một công dân toàn cầu trong tương lai”61. Khi nhân loại tiến đến một nền văn minh cao hơn sẽrất ít người đòi hỏi về Quyền, mà ngược lại ai cũng yêu thích thực thi Nghĩa vụ để chung tay xây dựng một thế giới thanh bình, một cõi yêu thương. Theo Auguste Comte, nhân loại trong một thế giới văn minh và đạo đức nên nhận thức rằng: “Con người chỉ có duy nhất một Quyền, đó là Quyền được thực thi Nghĩa vụ”62. Tuy nhiên, nếu mỗi người chỉ thực thi những Nghĩa vụ pháp lý thì chưa đủ, mà cần phải hướng đến những Nghĩa vụ cộng thêm. Nghĩa vụ cộng thêm là những Nghĩa vụ không mang tính bắt buộc và có tính đạo đức cao hơn, do lương tâmđạođức nội tạithúc đẩy. Nhờcó đạođức vàtrí tuệ nên con người tựbiết phải làm những điều gì tốt đẹp cho cộng đồng mặc dù không chịu bất kỳ áp lực nào từpháp luật hay luân lý xã hội. Vì không đòi hỏi Quyền được thụ hưởng trở lại nên những Nghĩavụ cộng thêm này sẽ tạo ra nguồn lực dồi dào cho xã hội phát triển.

58 TS. Mumba Malila (2017), tlđd, tr. 97.

59 Xem TS. Eric Robert Boot (2015), tlđd, tr. 215.

60 Mia Giacomazzi (2005), Human Rights and Human Responsibilities: A Necessary Balance?, Santa Clara Journal of International Law, tập 3, số 2, tr. 6-7.

61 Samuel Moyn (2016), tlđd. 62 Samuel Moyn (2016), tlđd.

46

Tóm lại, việc thực thi Nghĩa vụ con người sẽ tạo nên nguồn lực và chính nguồn lực đósẽ đảm bảo cho Quyền con người được thụ hưởng. Với vai trò quan trọng như thế có thể khẳngđịnh rằng, Nghĩa vụ chính là nền tảng của Quyền và cần được chú trọng một cách đúng mức.

2.2.2.3. Những tính chất của mối tương quan giữa Quyền con người và Nghĩa vụ con người

i. Ở phương diện không gian

– Quyền ở đâu thì Nghĩa vụở đó,Nghĩa vụ ngay nơi Quyền và ngay nơi mỗi chủ thểQuyền và Nghĩavụđi đôi làmộtnguyên tắc trong pháp luật vàthực tếcuộc sống. Ai

muốnđược hưởngQuyền và Lợi ích hợp pháp thì chính họ phải thực thi Nghĩavụmộtcách tương xứng. Việc luônđặtra trách nhiệm cho bản thân khi muốnthụhưởnglà đang thể hiện tinh thần trách nhiệm cao (high sense of responsibility) với cộng đồng, xã hội. Nhưđãnói, sựthụ hưởng củangười này là sự cống hiến của người kia. Người này muốn hưởng nhiều thì người khác phải cống hiến nhiều,vấtvảnhiều hơn. Giống nhưmộtmiếngđấtbằng phẳng, nếumuốn có một gò cao thì buộc phải đàođất bênnày thành cái hố sâuđểlấy đấtđắp cho cái gò kia. Đất chẳngtừđâu đếnvà cũng chẳngmấtđi đâu, chỉ chuyển từchỗnày sang chỗkhác. Chỗ này có Quyền thì chỗ khác phải có Nghĩa vụ và ngược lại. Việc có trách nhiệm khi mình đangđược sốngbình yên (thụhưởngQuyền)sẽlàmột sựcông bằng, và giúp làm giảm gánh nặng cho xã hội.

Ngoạitrừcác đốitượng yếuthế, còn lại với mỗi chủ thể, Nghĩavụphảitồn tạingay nơi Quyền. Quyền lợi được cung cấp cho mỗi người dựa trên khả năng thực thi Nghĩa vụcủa chính người đó.NếuQuyền conngười được cấpvô điềukiện thì xãhộirất dễsuy thoái. Vì thế, Quyềnở đâuthì Nghĩa vụở đó,Nghĩavụngay nơi Quyền. Nguyên tắc này được biểu hiện cụ thể trong một số môi trường như sau:

Trong gia đình, các thành viên có Quyền được hưởng cuộc sống gia đình hạnh phúc, toàn vẹn, thì cũng có bổn phận vun vén, chăm lo cho mọi người trong giađình được êmấm,tránh các xung độtđểgia đình khôngbịrạnnứt; chamẹphải yêu thương, nuôi dạy con cái nên người; con cái phải hiếu kính chamẹ,không được cóthái độhỗnláo, tạo thêm áp lực cho chamẹ;ông bà phải thương yêu con cháu, con cháu phải phụngdưỡngông bà chuđáo; người vợphải giữ gìn tiết hạnh, người chồng phải có tinh thần trách nhiệm cao,vợ

chồng phải thủy chung, tránh để việc ly hôn xảy ra có thể gây nhiều hệ lụy choxã hội…

Tạikhu vực sinh sống, người dân có Quyền được sống trong một cộng đồng với môi

trường sạch đẹp, con người văn minh, an ninh tốt… thì cũng có Nghĩa vụgiữgìnvệsinh chung, cưxửvới nhau tình nghĩa, giúp đỡ nhau làm ăn kinh tế, khôngđểaibịnghèo đói; cóý thức giữ gìn an ninh,tốgiáctộiphạm; chăm sóc người neo đơn; quan sát, giáodụctrẻem

trong cộngđồngđó…Thật ra, con người chỉ có trách nhiệm bắt buộc dành cho gia đình, còn với cộngđồngthì sự ràng buộc ít hơn. Tuy nhiên, người nào sẵn lòngmở rộngtrách nhiệm ra với cộngđồng sẽnhậnlạisựtôn trọng, yêumếnvà gây hiệu ứngtốtchocảxã hội.

Tại trường học, học viên có Quyềnsửdụng thiết bị và phương tiện phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu khoa học, có Quyền tham gia các diễn đàn, câu lạc bộ chuyên ngành…

47

Ngược lại, học viên có Nghĩa vụ tôn trọng giảng viên, nhân viên của nhà trường; bảo quản vật dụng, tiết kiệm năng lượng; tiết kiệm, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau (mutual support) trong học tập và rèn luyện. Hoặc suy rộng ra, con người có Quyền thụ hưởng một nền giáo dục tiến bộđể thủđắc cáckiến thức cần thiết cho xã hội văn minh, thì con người cũng phải có Nghĩa vụ đóng góp cho nền giáo dục tiên tiến, có Nghĩa vụ kính trọng các thầy cô giáo, có bổn phận chia sẻ các kiến thức, kỹ năng quý giá cho xã hội cùng tiếnbộ,có bổn phận giúp đỡcác bạn bè khó khăn.

Tại nơi làm việc, người nào cũng có Quyền làm việc,hưởnglương phù hợp với trìnhđộ,kỹ năng của mình, được bảo đảm điều kiện về an toàn, vệ sinh lao động; được hưởng phúc lợi xã hội… Song song với đó, người lao động cũng phải có Nghĩa vụ: thực hiện hợp đồng lao động, chấp hành kỷ luật, nội quy lao động; tôn trọng, tuân theosựquản lý, giám sát của người sử dụng lao động. Nếu doanh nghiệp trải qua thời kỳ khó khăn, người laođộng nên chấp nhận lương ít hơn, vẫn siêng năng, tận tụy, giúp đỡ đồng nghiệp, trung thành với doanhnghiệp đểcùng chiasẻkhó khăn với doanh nghiệp mà mìnhđãchọn.Sựcống hiến này không những giúp cho doanh nghiệp bềnvững, đóng góp thêm ngân sách cho quốc gia, mà quyền lợi của chính người lao động cũng được đảm bảo.

Trongmộtquốc gia, công dânđượchưởngmộtnềnsảnxuất tiên tiến,dồidào sản phẩm, được cungcấpcác dịch vụ cho cuộc sống, được thụ hưởngsựlãnh đạo sáng suốt công minh (the visionary and just leadership),đượcsựchăm lo,bảohộcủanhànước.Đổilại, công dân có Nghĩavụlaođộng, họctập, yêu nước, đoàn kết, tạo ra một chính quyềntốtđẹp chođấtnước;có Nghĩavụbầulên những nhà lãnhđạotài ba, có Nghĩavụ hỗtrợ nhànước trong các hoạtđộngquản lý; tôn trọng nhà nước, công chức; tuân thủ pháp luật; tiết kiệm tài

nguyên thiên nhiên, bảovệ môi trường…

Trên hành tinh này, nhiều biến cố có tính chất xuyên quốc gia nên Nghĩa vụ con người cũng có tính chất toàn cầu. Đã đến lúc pháp luật quy định con người phải có trách nhiệm với cả thế giới này, dù chưa hẳn đạo đức của họ đã theo kịpvới tầmmức của cộng đồng nhân loại hay chưa. Con người phải có trách nhiệm đóng góp vào nền hòa bình chung của nhân loại, đặt tình yêu nhân loại lên trên tình yêu đất nước, hoặc có bổn phận mơ ước về một quốc gia duy nhất cho toàn thể nhân loại. Từ bây giờ, con người phải tự hoàn thiện đạo đức của mình để cóthể yêu thương được cả thế giới và thực thi Nghĩa vụ đúng với tình yêu thương bao lađó.

– Thực thi Nghĩa vụ nơi này nhưng hưởng quyền lợi nơi khác

Chẳng hạn,ngườichiến sĩ thực thi Nghĩavụtạiđơnvịcủamìnhởhảiđảo,biên giới, nhưng có thể được hưởng quyền lợi khi trở về đất liền, phố thị. Ví dụ, khihọ mắcnhững bệnh màcơ sởquân y tại đơn vị không cókhảnăng điều trị thìhọsẽđược chuyểnvề khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế cấp cao hơn, được thanh toán viện phí; khi nghỉ hưu về địa phương,được chính quyềnđịaphương nơi cư trútạođiều kiện ổnđịnh cuộcsống; trường hợp chưa cónhàở thìđược hưởngchính sách hỗtrợ vềnhàở xã hội;khi phục viên chuyển ngànhđược ưu

48

tiên cộng điểm trong thi tuyển công chức, viên chức63… Hoặc trong một không gian rộng lớn hơn, cóthể sựthực thi Nghĩavụdiễn raở mộtquốc gia này nhưng quyền lợi nhậnđược lạinằmở mộtquốc gia khác. Ví dụ, có nhà khoahọcđãrấtthành công khi nghiên cứu, làmviệc ở nước ngoài, có uy tín với thế giới. Nếuvềnước, ngay lậptức, họđược đón chào và vinh danh. Nhànước cóthểtạonhiều điều kiện, cungcấpnhiềuđặcquyền (privileges) đểhọyên tâm đóng góp.

– Cống hiến trong thụ hưởng và thụ hưởng trong cống hiến

Có một số trường hợp, trong sự thụ hưởng cótồn tại sựcống hiến và trongsựcống hiến có tồn tại sự thụ hưởng:

Cống hiến trong thụ hưởng

Thứ nhất, khi tiêu tiền để mua sắm (thụ hưởng Quyền), vô tình con người đã giúp tiêu thụ hàng hóa, kích thích sản xuất, đóng thuế vào ngân sách (thực thi Nghĩa vụ). Đây chính là

một ví dụvề việc cống hiến trong thụ hưởng. Hoặc khi ta đi chữa bệnh, đi xem hát, dulịch… đều có tính chất thụ hưởng Quyền và Lợi ích hợp pháp, chắc chắn ta đã giúp tạo nên công ăn việc làm cho nhiều người. Đó cũng là lý do sống hà tiện quá cũng không phải điều tốt.

Thứ hai, khi làmđược nhiềuviệc tốt, ta được vinh danh khen ngợi (thụ hưởng Quyền), vô tình ta đã tạo tấm gương tốt (thực thi Nghĩa vụ) cho mọi người noi theo, phấn đấu, nỗ lực để tiến bộ.

Thứ ba, ví dụ, trong khi tađi dựlễ hộivới trangphục đẹp(thụ hưởng Quyền), đã vô tình tạo nên sự trang nghiêm cho buổi lễ đó (thực thi Nghĩa vụ).

Thụ hưởng trong cống hiến

Trong khi đang cống hiến, chúng ta cũng đangthụ hưởngmột sựphục vụcủa aiđómà ta không trực tiếp thấy bằng mắtđược.Vídụ:

Thứnhất, người nông dân đang lao động trên nông trường vui vẻ (cống hiến), người công nhân đang lao động trong nhà máy tất bật (cống hiến),tất cảđều đang được bảo vệ(thụ hưởng) bởi một hệ thống luật pháp vững chắc của quốc gia.

Thứhai, người giáo viên đang đứng lớp dạy dỗ (thực thi Nghĩa vụ) cũng là đang nhận được sựkính trọng của họcsinh (thụ hưởng), nhận đượcsựhỗtrợcủanhà trường (thụhưởng).

Thứba, người viên chức nhà nước trong khi đang chịu trách nhiệm điều hành quốc gia (thực thi Nghĩa vụ) cũng là đang có quyền định đoạt và nhận được sự kính trọng của rất nhiều người (thụ hưởng Quyền).

ii. Ở phương diện thời gian

Mối tương quan giữa Quyền và Nghĩa vụ được nhìn nhận dưới ba khía cạnh là Quyền trước Nghĩa vụ sau, Quyền và Nghĩa vụ đồng thời, Nghĩa vụ trước Quyền sau:

63 Tham khảo Điều 39-40, Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng năm 2015.

49

−Quyền trước Nghĩa vụ sau: tức là thụ hưởng lợi ích trước rồi thực thi Nghĩa vụ sau. Chẳng hạn, sinh viên có tiền trang trải chi phí học tập và sinh hoạtnhờchính sách cho vay vốn, khách hàng được mua sắm hàng hóa bằng hình thức trả góp hoặc thẻ tín dụng (credit card), khách hàngđược dùngdịch vụđiệnthoại di động bằng hình thức góicước trảsau…Điểnhình của Quyền trước Nghĩa vụ sau là trẻ em được thụhưởng sựnuôi nấng chăm sóc trước, rồi sẽthực thi Nghĩa vụ cống hiến khi đã khôn lớn.

Khi còn nhỏ, vì trẻ chưa có đủ sự nhận thức và sự phát triển đầy đủ về thể chất, nên pháp luật thường không đặt ra nhiều Nghĩa vụ cho trẻ. Vì chưa thực thi Nghĩa vụ đầy đủ, nên theo nguyên tắc Quyền và Nghĩa vụ không tách rời, trẻ em chưa được xem là đối tượng thụ hưởng đầy đủ các lợi ích từphương thức Nhân quyền.Để có các điều kiện để sống vàphát triển, trẻ em sẽ được cung cấp các lợi ích bởi phương thức Nhân tình thông qua sựyêu thương chăm sóc của chamẹ,sựdạydỗ của thầy cô… Trách nhiệm yêu thương chăm sóc dạy dỗ đó tuy xuất phát từ phương thức Nhân tình (có tính đạo đức đạo lý mềm dẻo), nhưng cũng có thể được quy định trong pháp luật (cứng rắn hơn). Nếu những chủ thể trên

(cha mẹ, thầy cô…) không hoàn thành trách nhiệm yêu thương chăm sóc dạydỗtrẻ em, họ sẽ bị pháp luật trách phạt. Cóthểthấy, pháp luật cũng bảo vệ những lợi ích xuất pháttừphương thức Nhân tình, cũng là bảovệ những giá trị đạo đức đạo lý củadân tộc.

Tùy theo nhận thức và sức khỏe, trẻ em chỉ có một vài bổn phận như siêng năng học tập, hiếu kính ông bà cha mẹ, giúp việc nhà, kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với người lớn, thành thật với bạn bè… Sau này khi lớn lên, các em phải thực hiệnđầy đủcác Nghĩavụdần dầnđểđược thụhưởng đầyđủ cáclợi ích của Nhân quyền, cũnglà đểbùđắplại lợi ích của Nhân tình đãđược hưởnglúc còn nhỏ.

−Quyền và Nghĩa vụ đồng thời: tức là Quyền và Nghĩa vụ song hành với nhau. Hầu hết nguyên tắc này dành cho người trưởng thành khi mà năng lực hành vi (legal capacity) của họ đã đầy đủxét theo tuổi tác, sức khỏe, sự nhận thức. Đối với người trưởng thành thìnguyên tắc trong pháp luật “Quyền và Nghĩa vụ phải đi đôi” cần phải được áp dụng triệtđể.Đâylàđộ tuổilao động quan trọngnhất của đời người,là lúc mà con người phải cống hiến rất nhiều cho xã hội. Hơn thế nữa,sựcống hiến của họ phải vượt hơn sựthụ hưởngđể bù đắp lại quyền lợimà họ được thụ hưởnglúc còn nhỏ, và chuẩn bị nguồn lực lúc về già khi không còn khả năng thực thi Nghĩa vụ.

−Nghĩa vụ trước Quyền sau: người già không còn đủ điềukiện đểtiếp tục thực thiđầy đủ Nghĩa vụ con người. Quyền của người già xuất phát từsựcống hiến lúc họ còn trẻchứkhông phải đến từsựcống hiến hiện tại, vì chỉ một số ít người già vẫn còn sức khỏe, sựminh mẫn và khả năng làm việc cao, cònlại đa sốbị suy giảm sức khỏe, nhận thức, trínhớ. Lúc này,họsống bằng lương hưu,được hưởng sựchăm sóc của con cháu,sựyêu quýcủa đồng nghiệp,sựbảo bọccủa xóm giềng. Hoặc trường hợp các thương binh, có thể chưa đến tuổi về hưu, nhưng vẫn luôn luôn được sự chăm sóc của xã hội theo chính sách của quốc gia được quy định rõ ràng.

50

Tuy nhiên, họ vẫn nên cố gắng thực thimộtsố Nghĩa vụ như nêu gương về phẩm chấtđạođức, lối sống mẫumực; giáo dụcthếhệtrẻvềtruyền thốngtốt đẹpcủadân tộc; gương mẫuchấp hành pháp luật; truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm quý chothếhệ sau64. Vì vẫn còn thực thi Nghĩa vụ, dù không nhiều, nên họ vẫn còn giátrịgiữa cộng đồng.

iii. Ở phương diện tương tác

Tương tác là tác động qua lại lẫn nhau, thể hiện ở chỗ: Quyền của người này sẽ gắn liền với Nghĩa vụ của người khác và ngược lại. Sau đây là một vài sự tương tác về Quyền và Nghĩa vụ giữa các chủ thể:

– Quyền và Nghĩa vụ giữa nhà nước và công dân

Trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, Quyền và Nghĩa vụđược đặt racho mỗi bên một cách rõ ràng và có tính pháp lý.Mức độ Quyềnvà Nghĩa vụcủamỗi bên tùy thuộc vào kiểu nhà nước. Xét trên mối quan hệ giữa Quyền và Nghĩa vụ giữa nhà nước vàngười dân, có thể chia thành ba kiểu nhà nước như sau:

Một là, nhà nước quân chủ chuyên chế: tất cả quyền lực, tài sản quốc gia đều là của giai cấp thống trị, nhất là Vua. Ý chí của Vua là tuyệt đối, áp đặt lên vận mệnh của quốc gia và thân phận của người dân. Lúc này, người dân hầu như không có (hoặc có rất ít) Quyền con người,

trong khi họ phải gánh vác rất nhiều Nghĩa vụ như là đang bị áp bức…

Hai là, nhà nước Dân chủ: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về người dân, người dân quyết định vận mệnh của quốc gia và thân phận của chính mình một cách trực tiếp hoặc thông

qua cơ quan dân cử (nghị viện, quốc hội, hội nghị quốc dân…). Cơ quan dân cử đại diện choý nguyện của nhân dân để lãnh đạo quốc gia, ban hành pháp luật, buộc chính phủ phải thi hành pháp luật đó, điều hành đất nước đúng với ý nguyện của người dân. Lúc này, Quyền con người

của người dân được pháp luật ghi nhận, chú trọng, bảo vệ… còn nhà nước phải có Nghĩa vụcung cấp, bảo đảm, thúc đẩy các Quyền con người đó.Nhược điểm củakiểu nhà nước này là người dân đòi hỏi Quyền một chiều, trong khi đó, nhà nước phải xoay sở để cung cấp Quyền cho họ mà không biết lấy nguồn lực ở đâu. Điều này khiến cho xã hộidễ bị bất ổn, rốiloạn.

Ba là, nhà nước Điều phối: nhân loại cần hướng đến một mô hình nhà nước tiến bộ hơn, trong đó, nhà nước không định đoạt thân phận của người dân (như trong nhà nước chuyên chế), cũng không cung cấp Quyền con người một chiều (như trong nhà nước dân chủ tư sản). Nhànước kiểu thứ ba này sẽ có Nghĩa vụ điều phối khéo léo giữa Quyền và Nghĩa vụ của người dân một cách hợp lý, công bằng và nhân bản nhất. Nghĩa là, nhà nước tạo cơ hội để người dân thực thi Nghĩa vụ, người dân tạo ra nguồn lực xã hội, nhà nước sẽ sử dụng nguồn lực đó để cung cấp Quyền và Lợi ích hợp pháp trở lại cho người dân.

Bằng pháp luật, nhà nước quyđịnhcụthểvà hướng dẫn người dân thực thi Nghĩa vụ, cũng như ghi nhận vàtạođiềukiệnđểhọđượchưởngQuyền và Lợi íchhợppháp tương xứng. Chính việc người dân thực thi Nghĩa vụ nghiêm túc sẽ tạo nên nguồn lực dồi dào cho

64 Xem khoản 2, Điều 3, Luật người cao tuổi năm 2009.

51

quốc gia. Nhà nước chỉ đóng vai trò điều phối, biến nguồn lực đó trở thành Quyền để cung cấp lại cho người dân. Đây là một vòng tuần hoàn tốt đẹp giữa Nghĩa vụ con người và Quyền conngười, “nhà nước đảmbảo cho con người và công dân những quyền lợi hợp pháp nhưng mặtkhác cũng đòi hỏi mọi người, mọi công dân phải thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩavụcủa mình…”65. Các cường quốc trên thế giới sở dĩ vượt lên hùng mạnh đều bởi sức cống hiến caocủatoàn dân. Thậm chí, lýtưởngxãhộichủnghĩacủaKarl Marx là conngười được sốngđầyđủ, ấmno, hạnh phúc,“làmtheo năng lực, hưởng theo nhu cầu” cũngđược dệt thành từ chính sự đóng gópcủamỗingười cùng với năng suất laođộnglớn củatoàn xã hội.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NGHĨA VỤ CON NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *