Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng

Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Mô hìnhtốtụng hìnhsự(TTHS) là nộidung trong nhiều công trình nghiêncứucủa các học giả trên thế giới và là mục tiêu, đốitượngđược các quốc giahướngtớikhi xem xét, hoàn thiệnhệ thống tư pháp hình sự. Tuy vậy, ở nước ta, mô hình TTHS và việc hoàn thiện mô hình TTHS chưađược xem xét đúng mức cả trên phương diện nhận thức, lý luận, thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật.

Về nhận thức: có thể nói, ở nước ta, nhận thức về mô hình TTHS chưa thật rõ nét và đầyđủ. Từ vấnđề kháiniệm mô hình TTHS là gì? đến những yếutốnàohợpthành mô hình TTHS? chưa dànhđược sựquan tâm nghiên cứu một cách tổng thể, sâu sắc của khoa học.

Về mặt lý luận: thời gian qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viếtđềcậpđếnmộtsốkhía cạnhcụthể củamô hình TTHS, thậm chí cócả Đề án bànvề “Mô hìnhtốtụng Việt Nam“. Tuy nhiên, các công trình hoặc các bài viết nàymớikhai thác ở một hoặc một vài khía cạnh cụ thể của mô hình TTHS [1].

Về thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật: thể chế hóa yêucầucải cách tưpháp đềra trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 củaBộChính trịvề một số nhiệmvụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Bộluậttốtụng hìnhsự(BLTTHS) năm 2003được ban hànhđã có nhữngđiểmsửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến các yếu tố của mô hình TTHS như: quyđịnhthờiđiểmtham gia tốtụng của ngườibào chữasớmhơn;bổsung một số quyềnđể ngườibào chữa thực hiện tốt chức năng bào chữa; quyđịnh kiểmsát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến; chủtọaphiên tòa phảitạođiềukiện cho nhữngngườitham gia tranh luận trình

bày hết ý kiến v.v… Những nội dung cải cách này cùng vớinhững sửa đổi, bổsung khác trong BLTTHS năm 2003 đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực hơn trong công tác tư pháp hình sự. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành

9

án chuyển biến tốt; tình trạng tồn đọng án phúc thẩm cơ bản được khắc phục; tỷlệ khám phá án năm sau cao hơn năm trước; chủ trương “nâng cao chất lượng tranh tụngtạiphiên tòa“được triển khai thực hiện, tạokhông khí dânchủ

trong nhiều phiên tòa, vai trò của các luật sư được nhìn nhận tích cực hơn…

Tuy nhiên, những cải cách nàymớilà bước đầu và mớitập trung giải quyết nhữngvấnđềbức xúc nhất của tư pháp hình sự. Các quyđịnhcủa BLTTHS năm 2003 về vị trí, vai trò, trách nhiệm, quyềnhạncủa các cơ quan

tố tụng chưa thật sự rõ ràng, minh bạch, còn lẫn lộn về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này. Chẳng hạn, Tòa án là cơ quan xét xử nhưng lại có trách nhiệm chứng minh tội phạm(Điều10), có thẩm quyền khởitố vụ án (Điều104), cóquyền tiếp tục xét xử ngay cả khi kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố(Điều221). Quyền thu thập chứng cứ duy nhất thuộc các cơ quan tiến hành tốtụng;ngườibào chữa chưađược tạocácđiềukiệnđầyđủđểthực hiện tốt chức năng bào chữa. Tranh tụng mới chỉ được thể hiện một phần ở phiên tòa (chính xác hơn là ở thủ tục tranh luận) mà chưa trở thành yêucầuxuyên suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Các chủ trương quan trọng và đúng đắnđềra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChínhtrịvà Văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ X, XI của Đảng như: 1) Bảođảmcải cách hoạt động xétxửlà trọng tâm của cảicách hoạt động tư pháp; 2) Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố

gắn với hoạt động điều tra… chưa mang lại nhiều kết quả trong thực tế, thậm chí chưa được triển khai đúng mức.

Thực tiễn thi hành BLTTHS cho thấy, chấtlượnghoạtđộngxét hỏi, hàm lượng tranh tụng trong phiêntòa đượctăng cường hơn. Mặc dù vậy, thực tiễn cũng còn nhiềuhạnchế, bấtcập. Viện kiểm sát (VKS) là cơ quan thực hành quyền côngtố(thực hiện chức năng buộc tội) song nhiều yêucầucủa VKSvề chứng minhtộiphạm khôngđược Cơ quanđiềutra (CQĐT) thực hiện nhưnglạithiếu cơ chế để bảođảmcác yêucầunàyđược thực hiện, đểphát hiện triệt để, chính xác tội phạm và để VKS tranh tụng tốt tại phiên tòa. Hàm lượng tranh tụng mớichủ yếuđược triển khai ở những phiên tòa tổ chức

10

theo yêucầucải cách tư pháp, những phiên tòa về cácvụ ánkinh tế lớn. Hộiđồng xét xử dành thời lượng cho việc xét hỏi nhiều hơn thời lượng nghe hai bên tranh luận, đối đáp. Tình trạng luật sư tố khổvẫndiễn ra khá phổ biến.

Những hạn chế nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hìnhảnh của nền tư pháp, đến các quyền và lợi íchhợppháp của công dân, trongđó có quyềnđược chứngminh mình không phạmtội đã được Hiếnpháp ghi nhận, ảnhhưởngđếnmục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủnghĩa (XHCN) Việt Nam mà chúng ta đang hướng tới.

Như vậy, nhìnmộtcách tổng thể cóthểnhậnđịnhrằng, mô hình TTHS ở nướcta chưa thực sựlấyviệcbảođảmquyền conngườilàmmụcđích tối thượng của mình mà vẫn còn trong trạng thái dành thế chủ động cho các cơ quan tố tụng của Nhà nước.

Cùng với những tồn tại, hạn chế nêu trên, hoạt động TTHS ở nước ta hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức to lớn. Tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến phức tạp, vớitính chất và hậuquả ngày càng nghiêm trọng, thủđoạnphạmtộingày càng tinh vi, xảoquyệt. Trong khi đó, đòihỏicủa nhân dân đối vớihoạt động tư pháp ngày càng cao, các cơ quan tư pháp phải thực sựlà chỗdựa tincậycủa nhân dân trong việc bảovệ công lý,bảovệ quyền con người, đấu tranh có hiệu quả với mọi loại tội phạm và vi phạm pháp luật.

Chính vì những lý do nêu trên, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của BộChínhtrịvề Chiếnlược xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChínhtrịvề Chiếnlược cảicách tư phápđếnnăm 2020, Vănkiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ X, XI của Đảng chỉ rõ các yêu cầu đối với cải cách tư pháp hình sự nói chung và cải cách mô hình TTHS nói riêng: Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xácđịnh rõhơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướngbảođảmtính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụngtạicác phiên tòa xét xử, coiđâylà khâuđộtphá của cảicách tưpháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ

11

chế công tố gắn với điều tra; hoàn thiện các cơ chế để bảođảmluật sư thực hiệntốtviệc tranh tụngtạiphiên tòa, đồngthời xác địnhrõ chế độtrách

nhiệmđốivớiluậtsư…Hiến pháp vừa được Quốc hộiXI kỳhọpthứsáu thông qua lần đầu tiên Hiến định nguyên tắc tranh tụng trong xétxử được bảođảm;đồngthời, làm rõ hơn và bổsung nhiều quyền con người, quyền công dân quan trọng trong lĩnh vực tư pháp như nguyên tắc suy đoán vô tội, quyềnđược Tòa án xét xử công bằng, xét xử trong thờihạn luật định, mở rộng đến

cả ngườibị bắt cũng được bảođảm quyềnbào chữa v.v…

Để thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp, về phương diện lý luận đã đặt ra nhiều vấn đề về mô hình TTHS cần được nghiên cứu, hoàn thiện nhằm bảo đảm hoạt động TTHS diễn ra một cách công bằng, dân chủ, bảo đảm nguyên tắc tranh

tụng, lấy kết quả tranh tụng tại Tòa án làm căn cứ để phán quyết.

Những trình bày trênđâychính là căncứvà lý do của việclựachọnĐề tài: “Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng” làm đề tài luận án tiến sĩ Luật học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án * Mục đích

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiêncứu một số vấn đề lýluận cơbảnvềmô hình TTHS, đánh giá chính xác, khách quan mô hình TTHS Việt Namthểhiện trong pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS nướcta hiện nay. Trên cơsở đó, đề xuấtviệc tiếp thu những hạt nhânhợplýcủamô hình TTHS tranh tụng trong quá trình hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam.

* Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, luận ánđặtra các nhiệmvụnghiên cứu sau đây:

– Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về mô hình TTHS; những tiêu chí khoa học về phân loại các mô hình TTHS. Làm rõ lịch sử hình thành, phát triển, đặc điểm, ưu thế,hạnchế của các mô hình TTHS điển hình trên thế giới và xu thế phát triển chung của các mô hình TTHS.

12

– Xác định và làm rõnhững đặc điểmchủ yếucủa mô hình TTHS Việt Nam thông qua phân tích các quy định của pháp luật TTHS từ năm 1945 đến nay, đánh giá thực tiễn áp dụng. Làm rõ những mặt tích cực cũng như hạnchếcủa mô hình TTHS hiện hành.

– Làm rõ những yêucầucủa cải cách tư pháp đặt ra đối với việc hoàn thiện mô hình TTHS nước ta. Phân tích, làm rõ những tiền đề và thách thức đối với việc áp dụng các yếu tố của tố tụng tranh tụng trong quá trình cải cách tưpháp, trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị về phương hướng, giải pháp tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Đồng thời, đề xuấtcác điều kiện đểbảo đảm thể chế và áp dụng tố tụng tranh tụng trong mô hình TTHS nước ta.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là mô hình TTHS Việt Nam và việcáp dụng cácyếutốcủa tốtụng tranh tụng trong quá trìnhcảicách,đổimới TTHS nước ta trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định là những vấn đề thuộc vềcấu trúc của một mô hình TTHS, bao gồm: xác định tính chất của TTHS; mục tiêu và cách thức đạt đến mục tiêu của TTHS; các chức năng tố tụng cơ bản và vị trípháp lý của các chủ thể TTHS; chứng cứ và sự tồn tại của hồ sơ vụ án hình sự. Những nội dung đó được tác giả quan niệm là bằng chứng về tiêu chí và đặc điểm của một mô hình TTHS và vì vậy, việc đổi mới, hoàn thiện mô hình TTHS không thểkhácđượcngoài việc làm thayđổinộidung và tính chấtcủacácyếutốđó. Cũng theo ý nghĩa đó, nội dung của luận án không bao gồm việc nghiên cứu tất cả những quy định liên quan đến các thủ tục TTHS; những nội dung đó chỉ được nghiên cứu, phân biệt trong mối liên hệ với yêu cầu làm rõ đặc điểm của các yếu

tố hợp thành một mô hình TTHS mà thôi. Về thời gian: luận án nghiên cứu môhình TTHS thể hiện trong pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Luận án nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà

13

nước về xâydựng nhà nước pháp quyền XHCN, về cải cách tư pháp và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay, tác giả đã vận dụng các nguyên lý của chủnghĩa duyvậtbiện chứng và duyvậtlịchsửđể phân tích và làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu.

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp thống kê, lịch sử, phân tích, so sánh, lôgic pháp lý để phân tích những quan điểm khác nhau về vấn đề nghiên cứu, tiến hành khảo sát thực tiễn ở một số cơ quan tiến hành tố tụng các cấp, traođổi phỏng vấn cá nhân là những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng, tham khảo các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài.

5. Những đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình đầu tiên nêu lên yêucầu đổi mớitoàn diện môhình TTHS Việt Nam theohướngáp dụng các yếutốcủa tố tụngtranh tụng một cách phù hợp. Nhằm mục đích đó, luận án đã nghiên cứu một cách cóhệthống và tương đối toàn diện về mô hình TTHS nói chung và mô hình TTHS Việt Nam, được thể hiện ở những nội dung cụ thể sau:

– Luận án đã phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơbản về mô hình TTHS, đưa ra khái niệm mô hình TTHS, phân tích và nêu bật những đặc trưng chủ đạo nhất của từng mô hình TTHS đã hình thành và phát triển trong lịch sử, những bài học kinh nghiệm của các cuộc cảicách TTHS của một sốquốc gia.

– Luận án đã làm rõnhững đặc điểmcủa mô hình TTHS Việt Nam vànhậnđịnhmô hình TTHS nước ta thuộc mô hình TTHS pha trộn thiênvề thẩm vấn; đánh giá những ưu điểm, hạnchế, tồntạicủa quá trìnhvậnhành mô hình TTHS này thời gian qua.

– Luận ánđã hệ thốngmộtcáchđầyđủcác chủtrương, địnhhướng của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp nói chung và cải cách mô hình TTHS nói riêng; phân tích, làm rõ những tiền đề cũng như thách thức đối với việc áp dụng tố tụng tranh tụng ở nước ta. Trên cơ sở đó, luận ánđã đề xuất các nộidung, mức độtiếp thu những hạt nhân hợp lý của tố tụng tranh tụng

Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng
Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng

vào mô hình TTHS nước ta, đồng thời, đề xuất các biện pháp bảo đảm thể chế vàáp dụng thành công những nội dung đổi mới trong mô hình TTHS Việt Nam.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Việc nghiên cứu về mô hình TTHS là một hợp phần của lý luận về hệthống tư pháp hình sự. Luận án đã góp phần làm rõ tính chất, nội dung và đặcđiểmcác yếutốcơ bảnlàm nên diệnmạocủa mộthệ thống TTHScủamột quốc gia, cũng đồng thời là những tiêu chí để đánh giá về mô hình tố tụng của hệ thống đó. Kết quả nghiên cứu có thể phục vụ cho việc đánh giá một cách khá toàn diện và khoa học về mô hình TTHS Việt Nam, làm căncứcho việc đề xuấtcác nội dung đổi mới TTHS đáp ứng yêucầucải cách tư phápở nước ta hiện nay.

Những luậnđiểmvà các kiến nghị của luận án cóýnghĩa thiết thực cho việc tiến hành sửa đổi, bổsung BLTTHS năm 2003 cũng như pháp luật về tổ chức, hoạt động của các thiết chế tư pháp, đề ra các giải pháp nhằm kiện toàn tổ chức và hoạt động của các thiếtchế đó.

Nhữngnộidung và kếtquả nghiêncứucủa luận án cũng có thể sửdụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạycác vấn đề về tưpháp hình sự và TTHS, phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Những cơ sở lý luận về mô hình tố tụng hình sự.

Chương 3: Cơ sở pháp lý và thực tiễn của mô hìnhtốtụng hìnhsựViệt Nam hiện hành.

Chương 4: Định hướng và nội dung áp dụng tố tụng tranh tụng trong quá trình đổi mới mô hình tố tụng hình sự Việt Nam.

15

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC

Cải cách tư pháp hình sự và đổi mới mô hình TTHS được coi là những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp nói chung trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay ở nước ta. Vì vậy, nhiều vấn đề của chủđề này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của giới luật học nước ta trong những năm đổi mới vừa qua. Có thể chia các công trình theo những nhóm sau đây.

1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về đổi mớitổchức và hoạtđộng của các thiết chế tƣ pháp và bổ trợ tƣ pháp ở Việt Nam

1.1.2. Nhóm các công trìnhbàn về đổi mớitốtụng hình sự,luật tốtụng hình sự, các nguyên tắc của tố tụng hình sự, các chức năng tố tụng hình sự,vịtrícủacác loạichủthểtốtụng hình sự,chứngcứ và chứng minh trong tố tụng hình sự, yêu cầu tranh tụng trong tố tụng hình sự

1.1.3. Vấn đề bảo đảm quyền con ngƣời trong tố tụng hình sự

23

1.1.4. Nhóm các công trình nghiên cứu có tính chất so sánh về các hình thức tố tụng hình sự, đề xuất những kiến nghị nhằm tiếp thu những yếu tốhợp lý và các giátrịphổbiến củacác hệthốngtốtụng hình sựphục vụ cho việc đổi mới, hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƢỚC

Những nội dung liên quan đến mô hình TTHS chƣa đƣợc các công trình nghiên cứu đề cập, làm rõ:

Bên cạnh những kết quả, từ khía cạnh mô hình TTHS, các công trình nghiên cứu nêu trên chưa đề cập, làm rõ những vấn đề sau đây:

– Hầuhếtcác công trình nghiên cứu lớn chưa đề cập trực diện đếnvấnđề mô hình TTHS với tính cách là mục tiêu nghiên cứu chính của công trình. Do đó, mô hình TTHS chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, thấuđáoởcác công trình khoa học này.

– Việc đánh giá hiện trạng TTHS Việt Nam thường đi trực diện vào các chế định, các thủ tục tố tụng cụ thể hoặc một khía cạnh nhất định của môhình TTHS. Chưa đánh giá một cách hệ thống, sâu sắc hệ thống TTHS từ các yếu tố của mô hình TTHS.

29

-Mộtsốcông trình nghiêncứuđược thực hiện trước năm năm 2002 (trước khi có Nghị quyếtsố08-NQ/TW, Nghị quyếtsố49-NQ/TW, kếtquảsơ kết và tổng kết các nghị quyết này) do vậy, những đề xuất, kiến nghị cũng có phần hạn chế do giới hạn bởi quan niệm của giai đoạn cụ thể này.

1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN ĐƢỢC TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu những công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến những vấn đề của mô hình TTHS và việc hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam theohướngtiếp thu những hạt nhân hợp lýcủamô hình TTHS tranh tụng cho thấy còn những vấn đề sau đây cần tiếp tục được làm rõ về lý luận và thực tiễn:

– Thế nào là mộtmô hình TTHS và theo đó, việc xem xét, đánh giámột hệ thống TTHS thuộc mô hình nào cần dựa trên những yếu tố gì.

-Cầnđánh giá như thế nàovề tính chất và đặc điểmcủa hệthống TTHS Việt Nam hiện hànhtừgóc độcủa những tiêu chí phân loại mô hình TTHS. Trên cơ sở đó, việc tiếp thu nhữngyếutốcủa tốtụng tranh tụngcầnđược thực hiện trên những hướng và ở những mức độ như thế nàođể cóthểbảo đảmthực hiệnđầyđủ các đòi hỏi của cảicách tư pháp nói chung và cải cách tư pháp hình sự nói riêng ở Việt Nam.

Để cóthể giải quyếtđược những vấn đề đặtra nêu trên, tác giả nhận thấycầntriển khai nghiên cứu một loạt các vấn đề về lý luận và thực tiễn, bao gồmviệc nghiêncứumộtcáchđầyđủ,cóhệthống nhữngđặc trưng quan trọng của các mô hình TTHS điểnhình trên thế giới, đánh giá các quyđịnh của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng trong các thời kỳkhác nhau; tham khảo, đánh giá kinh nghiệm của mộtsốquốc gia trong quá trình chuyển đổi và thâm nhậplẫnnhau giữa các mô hình TTHS. Trên cơsở đó, đối chiếu vớinhững yêucầucủa công cải cách tư phápở nước ta để đềxuất định hướng và các giải pháp đổi mới mô hình TTHS.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

1. Quá trình cải cách tư pháp nói chung và đổi mới TTHS nói riêng đãvà đang diễn ra ở những nước thuộc những mô hình tố tụng và hệ thống pháp luật khác nhau theo hướng xíchlạigầnnhau, tiếp thu nhữngyếutốtíchcực

30

và phù hợp trên nền tảng các giá trị phổ biến của nhân loại. Quá trình đó cóvai trò quan trọng và đóng góp tích cực của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia với một khối lượng các công trình khoa học to lớn và những quanđiểmlýluận tiêu biểu.

2. Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về TTHS và đổi mớiTTHS đã góp phần quan trọng vào việc hình thành quan điểm của Đảngvà Nhà nước ta về cảicách tư pháp,đổimớivà hoàn thiện pháp luật, trongđócó pháp luật TTHS. Về địnhhướng, hầuhếtcác công trình nghiên cứuđềulấytâmđiểmlà khắc phục những khiếm khuyết, hạnchếtrên conđường hình thành một mô hình TTHS dân chủ, bình đẳng, bảo đảm quyền con người, quyền tiếp cận công lý của người dân.

Tuy nhiên, nếu nhìn nhậnmộtcáchcầu thịcóthểnói rằng, các công trình nghiên cứu có thể đang ở giaiđoạn gợi mở ý tưởng về một sự đổi mới, cảicách sâu rộng hơn cho TTHSnước ta trước yêucầucủa việc xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN. Vì vậy, các đề tàimớichúývào những khía cạnh cụ thể hay là từng bộ phận cụ thể của TTHS, chưa vươn tớitầmnhìn hệ thống và đưa ra quan điểm xuyên suốt cho việc cải cách tư pháp hình sự nói chung và TTHS nói riêng, như cách mà các nhà khoa học Liên bang Nga vàođầu những năm 90 của thế kỷ trước đã làm.

3. Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có thể xác nhậnmộtkhốilượngkhổnglồcác tư liệu khoa học. Theo đó, có thể chia thành hai loại: loại các công trình nghiên cứu phục vụ cho việc chuyểnđổi từmô hìnhtốtụng này sang mô hìnhtốtụng khác được thực hiệnở các nước chuyển đổi về chính trị, kinh tế – xã hội và loại các công trình nghiên cứu của các tác giả nhằmchỉra nhữngbấtcậpcủa TTHSnước sởtại, đề xuấtkhảnăng “tiếp thu” kinh nghiệm nước ngoài dưới áp lực của quá trình xích lại gần nhau của các không gian pháp luật thế giới. Trong cả hai loại nghiêncứu đều có những điểmnổi bậtđáng chú ý là phương pháp nghiên cứu so sánh và tính phê phán sâu sắc. Nhiều quan điểm khoa học rất đáng được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình tiếp cận các vấn đề tương ứng ở Việt Nam.

31

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC YẾU TỐ PHÂN LOẠI MÔ HÌNHTỐTỤNG HÌNH SỰ

2.1.1. Khái niệm mô hình tố tụng hình sự

Để nhậnbiết đầyđủ về mô hình TTHS, trước hết cần làm rõ nội hàm của TTHS. Tốtụng hình sự, hiểumộtcách khái quát nhất là quá trìnhxửlýmột vụ án hình sự. Quá trình đó có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cánhân với những vị trí, vai trò, chức năng, quyền và nghĩa vụ cụ thể,còn được gọi là địa vị pháp lý tố tụng; với những mối quan hệ, tác động qua lại giữa các chủthểnhằm thực hiện chức năng, quyền và nghĩavụtốtụng, hướngđến mục tiêu của TTHS. Toàn bộ quá trình này được diễn ra theo một trình tự, thủ

tục với những thời hạn nhất định.

Quan niệm tổng quát và mang tính hình thức về TTHS được cụthểhóa dưới một hệ thống các yếutố cơbản, phản ánh nội dung mà bất kỳ TTHS nào cũng có và đượcpháp luật ghi nhận, xác định. Cácyếutốnày làm nên xương sống của toàn bộ hoạt động TTHS. Đó là:

– Mục tiêu của TTHS.

– Các nguyên tắc của TTHS.

– Các chức năng trong TTHS.

– Địa vị pháp lý của các chủ thể hoạt động TTHS và mối quan hệ qua lạigiữa các chủ thể đó.

– Phương thức đạt được mục đích của TTHS.

– Trình tự, diễn biến hay là các thủ tục, giai đoạn của TTHS.

NhữngyếutốthuộcvềnộidungcủaTTHS nêu trên luôngắnkếtvới nhau để đi tới mục tiêu của TTHS. Tuy nhiên, mức độ đạt được mục tiêu của các hệ thống TTHS không hoàn toàn đồng nhất bởi lẽ liên quan đến sự quan niệm vềTTHS và việc lựa chọn phương thức TTHS. Từ mục tiêu và phương thức tố tụng sẽliên quanđếnviệc xácđịnhcáchệthống nguyêntắccủaTTHS.Đếnlượt

32

chúng, cùng với mục tiêu, phương thức tố tụng và các nguyên tắc của TTHS sẽlà cơ sở để xác định chức năng, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ của các chủ thểtố tụng, mối quan hệ qua lại giữa các chủ thể tố tụng; xác định tính chất của quátrình chứng minh vụ án hình sự, diễn biến và tính chất của các giai đoạn tố tụng.

Liên quanđếnmô hình TTHS, lịchsửTTHS thế giớiđã biếtđếnsựtồn tạicủa nhiều loại mô hình TTHS tùy thuộc vào các phương pháp tiếp cận về con đường tìm đến sự thật của vụ án [50].

Nếu lấy tiêu chí có hay không các bên trong vụ án và có sự tranh chấp, xung đột giữa các bên tranh tụng trước Tòa án độc lập hay không thì sẽ có các mô hình TTHS khác nhau. Nếu có các yếu tố nêu trên thì đó là mô hình TTHS tranh tụng; nếu không có thì đó là mô hình TTHS thẩm vấn; nếu sự hiện diện các bên và nếu sự tranh chấp, xung đột pháp lý giữa các bênchỉ tồn tạiở một hoặc một số giai đoạn tố tụng thì sẽ hình thành mô hình TTHS pha trộn.

– Theo mô hình TTHS tranh tụng (Adversarial criminal procedure): do quan niệm TTHS là quá trình giải quyết tranh chấp giữa các bên (bên buộc tội và bên bào chữa) nên hai bên cóvịtrítốtụng bình đẳng. Các chức năng cơbảncủa TTHS được táchbạch rành mạch cho các chủ thể thực hiện. Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử mà không thực hiện thêmbấtcứ thẩmquyền nào thuộc chức năng buộc tội hay chức năng bào chữa. Tòa án chỉ xét xử trên cơ sở và trong phạm vi nội dung buộc tội.

– Theo mô hình TTHS thẩmvấn(Inquisitorial criminal procedure): do không quan niệm TTHS là quá trình giải quyết tranh chấp nên trong TTHS không hình thành các bênđộc lập. Các cơ quantốtụng của Nhà nước hoàn toàn chủ động, có vai trò tích cực trong toàn bộ quá trình tố tụng, kể cả giaiđoạn xét xử. Ở đâykhông có sự phân định một cách rành mạch các chức năng cơ bản của TTHS.

– Mô hình TTHS pha trộn là hình thức phản ánh sự giao thoa, tiếp thu những yếu tố của cả mô hình TTHS tranh tụng và mô hình TTHS thẩm vấn. Pha trộnphụthuộc vàođiềukiệncụthể về kinhtế – xã hộivà truyền thống pháp lý ở từng quốc gia.

33

Như vậy, quan niệm nêu trên về các mô hình TTHS đã lấyyếutố cốt lõi nhất của TTHS làm tiêu chí để xác định các mô hình TTHS khác nhau đólà cách thức tổ chức của các hoạt động TTHS để hướng tới nhiệm vụ đi tìm sựthật của vụ án. Tuy nhiên, trong khoa học cũng như trong thực tiễn hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm không thống nhất xung quanh việc xác định “pha trộn” có phải là một mô hình TTHS hay không. Nếu là một mô hình TTHS thìtỷ lệ pha trộn trong từng yếu tố của mô hình TTHS được kết hợp như thế nào.

Cómộtcách tiếpcậnnữavềmô hình TTHSrấtnổitiếng vàđược nhiều công trình nghiêncứuvề tư pháp hìnhsự đề cậpđólà cách tiếp cận củaHerbert Packer. Packerđãlấy tiêu chívề mục tiêucủaTTHS và cách thức đạtđếnmụctiêuđể đưara các mô hình TTHS. Trên cơ sở đó, ôngđãquylạithành hai mô hình TTHS chính: mô hình kiểm soáttộiphạm (Crime Control Model) và mô hình tố tụng công bằng (Due Process Model).

– Mô hình kiểm soát tội phạm dựa trênluận điểmcho rằng trấn áp tội phạm là mục tiêu quan trọng nhất của TTHS [108]. Để đạtđược mục tiêunày, mô hình kiểm soát tội phạm yêucầuhoạt động tố tụng được tiến hành nhanh chóng, dứtkhoát và cótỷlệ buộc tộicao. Việc nhấn mạnh tínhdứtkhoátđồngnghĩa vớiviệc giảm thiểu các cơ hộicho những thách thức đốivớitốtụng và kết quả của tố tụng [74, tr. 82]. Giaiđoạn điều tra được xác định có vịtrí hết sức quan trọng, các giai đoạn tố tụng tiếp theo cần phải thực hiện ngắn gọn thì mới bảo đảm tính nhanh chóng và dứt khoát của mô hình này [74, tr. 83].

– Mô hình tố tụng công bằng dựa trên luận điểm bảo đảm sự công bằng giữa các bên trong TTHS. Packer viết “Trước hết là vì hiệu quả trong việc đặt các cá nhân đối mặt một cách công bằng với quyền lực ghê gớm của Nhà nước, mà quá trình tố tụng trong mô hình này phải đặt dưới sự kiểm soát để tránh sự vận hành với “năng suất tối đa”” [108, tr. 163-164]. Sự nhanh chóng và dứt khoát vốn được coi là mục tiêu của mô hình kiểm soát tội phạm thì trong mô hình TTHS công bằng lại bị xem như sự lạm dụng quyền lực nhà nước. Vì được xây dựng dựa trên quan điểm tôn trọng quyền con người, nhất là quyền của người bị buộc

tội và hạn chế quyền lực của các cơ quan tố tụng chuyên nghiệp nên mô hình tố

34

tụng công bằng nhấn mạnh và yêu cầu một quy trình tìm kiếm chứng cứ mang nặng tính hình thức, tính thủ tục thông qua hoạt động tranh tụng [74, tr. 83].

Nghiêncứuhai mô hình TTHS của Herbert Packer, học giả Cole đãbình luận và làm rõ thêm về cách tiếp cận và xác định các mô hình TTHS của Packer. Cole cho rằng, mô hình kiểm soát tội phạm quan niệm tự do quan trọng tớimức mọi hoạt động tố tụng đều phải hướng tới mục tiêuhạnchế tội phạm, trong khi mô hình tố tụng công bằng lại quan niệm tự do quan trọng tới mức mọi hoạtđộng tố tụng đều phải bảođảmcho các quyết định của Tòa ánđược ban hành dựa trên những căn cứ đáng tin cậy. Cả hai mô hình đều có mục tiêu là tự do xã hội, một mô hình đạt được mục tiêu đó bằng cách đề ra các thủ tục tố tụng tác động có hiệuquả đối vớingười bị nghi thực hiện tội phạm, trong

khi mô hình kia lại đặt ra yêucầuhạn chế một cách hiệu quả sự can thiệp của Nhà nước vào cuộc sống riêng tư của công dân. Và Cole đặt câu hỏi, vậy ai làngười tạo ra mối đe dọa đối với tự do của bạn nhiều hơn? mô hình kiểm soát

tội phạm thì trả lời đó là những tên tội phạm, còn mô hình tố tụng công bằng lại cho rằng chính các nhân viên nhà nước (cảnh sát và công tố) [74, tr. 85].

Cũng cómộtcách tiếpcậnkhác để phân biệt vàđịnhdanh các môhình TTHS đó là từ những dấu hiệu đặc thù của khu vực địa lý,các đặc điểm về dân tộc, tôn giáo và theođólà nhữngđặc điểmcủahệ thống pháp luật, trên cơ sở đó, người ta phân biệt ba mô hình TTHS là [50]:

– Mô hình TTHS Rôman – Giécmanh hay còngọilà mô hình TTHS lục địa có đặc trưng là lấy luật thành văn làm nguồn điều chỉnh chủ đạo hoạtđộng TTHS.

– Mô hình TTHS Anh -Mỹhay còngọilà mô hình TTHS của hệthống thông luậtvớiđặc trưng là sử dụng án lệ làm nguồn điều chỉnh chủ yếu của hoạt động TTHS.

– Mô hình TTHS tập quán pháp có đặc trưng là sử dụng tập quán, tôn giáo điều chỉnh hoạt động TTHS.

Cách thức tiếpcậntrênđâycó ưuđiểmlà đã chỉra sựtác độngcủa các yếu tố truyền thống pháp luật và địa lý, văn hóa, tôn giáoảnh hưởng đến

35

sự vận động của mô hình TTHS. Tuy nhiên, cách tiếp cận nàylạicó hạnchếrấtlớnlà chưa chỉ ra được cách thức tổ chức các hoạt động TTHS bên trongđể tìm đếnsự thật vụ án. Do vậy, sẽ không có các thông tin liên quan đến địa vị pháp lý của các chủ thể tố tụng, cách thức vận hành các chức năng cơ bản củaTTHS, cũng như các trình tự, thủtụccủa quá trìnhvậnhành các chức năng tố tụng cơ bảnđó.

Đólà mộtsốphương pháp tiếpcậnvề mô hình TTHS và nhận diện mô hình TTHS đã tồn tại trong lịch sử. Còn ở góc độ định nghĩa, khái niệm vềmô hình TTHS, qua nghiên cứu một số công trình và tài liệu chuyên ngành ởngoài nước chưa thấy các tác giả đưa ra định nghĩa cụ thể về mô hình TTHS mà chỉnhận biết, phân tích mô hình TTHS thông qua cácdấuhiệucụthể. Mộtsốcông trình, tài liệu chuyên ngành TTHS ở trongnướcthời gian cũngđã đưa ra khái niệm về mô hình TTHS. Tác giả Nguyễn Thái Phúc trong bài viết bàn về mô hình TTHS Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn đưa ra định nghĩa:

Mô hìnhtốtụng hìnhsựlà cách thức tổchức hoạtđộngtố tụng hình sự và cách thức tổ chức này quyếtđịnh địa vị tố tụng của các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng hình sự như thế nào và nguồn

lực của hoạtđộngtốtụng hìnhsựlà gì: là hoạtđộngtíchcựccủa các bên tranh tụng hay là hoạtđộngtích cực của các cơ quan nhà nướcmà trước hết là cơ quan Tòa án hay là sự kết hợp cả hai [50].

Tác giả luận án trong bài viết của mình cũng đưa ra định nghĩa về môhình TTHS vớinhiềunộidung đồng tìnhvớiquan điểm của tác giảNguyễn Thái Phúc: Mô hìnhtốtụng hìnhsựlà sựkhái quát cao nhữngđặctrưng cơbản, phổbiến, phản ánh cách thức tổchức hoạtđộngtốtụng hình sự, cách thức tìm đếnsự thậtkhách quan của vụ án. Cách thức tổ chức này quyếtđịnhđịa vị tố tụng của các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án, có thể là hoạtđộng tích cực của các bên tranh tụng hoặc là hoạt động tích cực của Tòa án vàcác cơ quan tiến hành tố tụng khác hoặc là sự kết hợp của cả hai.

36

Đề án Mô hình TTHS Việt Nam của Ban cánsựđảngVKSNDTC nhận định về mô hình TTHS như các ý kiến được trình bày nêu trên “Mô hình TTHS là sựkhái quát cao nhữngđặctrưng cơ bản, phổbiến, phản ánh cách thức tổchức hoạtđộngTTHS, cách thức tìmđếnsựthật khách quancủa vụán. Cách thức tổ chức này quyết định địa vị tố tụng của các chủ thể trong quátrình thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS”.

Từcác trình bày nêu trên thấy rằng, có thể cómộtsựđa dạng trong tiếp cận và nghiên cứu về mô hình TTHS, song tổng hợp những điểm cốt lõi của sự đa dạng đó cho phép rút ra điểm cơ bản nhất và cũng là điểm chung của hầuhếtcác trường phái, các công trình nghiêncứucho rằng mô hình TTHS chính là cách thức tổ chức hoạt động TTHS để tìm đến sự thật của vụ án. Trên cơ sở đó, có thể rút ra định nghĩa về mô hình TTHS như sau: Mô hình TTHS

là sự khái quát cao những đặc trưng cơ bản, phổ biến, phản ánh cách thức tổ chức hoạt động TTHS, cách thức tìmđến sự thật khách quan của vụ án, qua đó quyết định địa vị tố tụng của các chủ thể

tố tụng, tính chất của mối quan hệ giữa các chủ thể tố tụng và trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự.

Còn về việc định danh các mô hình TTHS, từ kết quả nghiên cứu nêu trên cũng cho thấyđã cónhiều cách định danh về mô hình TTHS. Ngoại trừcách định danh gắnvớidấuhiệu đặc thù của khu vực địa lý, các đặc điểmvề tôn giáo, dân tộc, thời kỳ lịch sử, còn việc định danh là mô hình thẩmvấnhay

kiểm soát tội phạm, mô hình tranh tụng hay tố tụng công bằng v.v… thực chất chỉlà tên gọi. Tínhphổquát trong mô hình TTHS thẩmvấnhay mô hình kiểm soáttộiphạmđólà đềuxác địnhvai tròchủđạocủa Nhà nước trong việc chứng minhtộiphạm. Trong khiđó,tínhphổquát của mô hình TTHS tranh tụng hay mô hìnhtốtụng công bằngđólà tạobìnhđẳngthậtsựvềquyền và các thủ tục tố tụng cho các bên trong TTHS.

2.1.2. Các yếu tố phân loại mô hình tố tụng hình sự

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ ÁP DỤNG TỐ TỤNG TRANH TỤNG

Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *