Miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam

Miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam

Miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong công cuộc đấutranh phòng ngừa và chống tội phạm, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước có mục đích không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội [66], mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mạikhác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Đây cũng là mục đích cơ bản của hình phạt được quy định tại Điều 31 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 [66]. Tuy nhiên, không phải lúc nào hình phạt cũngđượcđem ra để áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội là sẽ có hiệu quả cao vàđáp ứng được yêucầucủa chính sách hình sự và các nguyên

tắccơbảncủaluật hìnhsự(như: phân hóa trách nhiệm hìnhsự(TNHS), nhânđạo, công bằng), vì không phải mọi người, pháp nhân thương mại phạmtộiđều bị áp dụng mộthình phạt giống nhau dù là cùng phạmmộttộidanh. Dođó,bên cạnhchếđịnh hình phạt, pháp luật hình sự cần phải có cả chế định miễn, giảm hình phạt, bởi miễn, giảm hình phạt chính là phương thức, là biện phápđểthực hiện các chính sách và nguyêntắc củaluật hìnhsự,bảođảmtính hiệuquả củapháp luật hình sự trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa, chốngtộiphạm.

Ở Việt Nam, quyđịnh vềmiễn, giảm hình phạtđãcótừlâu trong lịchsử.Từ thời đại phong kiến, miễn, giảm hình phạt đã được quy định tại các Bộ luật như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long. Sau khi giành được độc lập đất nước năm 1945, vấn đề miễn, giảm hình phạt cũng đã được nhắc đến và quy định rải rácở cácvăn bản pháp lý mang tính đơn lẻ như sắc lệnh, thông tư, pháp lệnh hay các báo cáo tổng kết công tác củaTòa án nhân dân (TAND)tốicao. Sau này, khi phápđiểnhóa luật hìnhsự,chế định miễn, giảm hình phạt đã được ghi nhận chính thức trong BLHS năm 1985 và tiếp tục được quy định tại BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với xu hướng ngày càng hoàn thiện và mở rộng hơnvềđối tượng miễn, giảm hình phạt. Như vậy, lịch sử pháp luật hình sự Việt Namđãghi nhận miễn, giảm hình phạt là một quyết địnhđặcbiệt của Tòa án có tính nhânđạo sâusắc trong quá trình xét xử. Việc Tòa án quyết địnhmiễn, giảm hình phạt cho người, pháp nhân thươngmạiphạm tội không có nghĩa làm giảm tính răn đe, trừng trị của pháp luật bởi Tòa án chỉ miễn hình phạt khi thấy rằng việc áp dụng hình phạt là không cần thiết hoặc giảm hình phạt khi

1

thấy rằng mức hình phạt giảmlà đãđủsức trừng trị, giáo dục và phòng ngừa. Hơn nữa, việc miễn, giảm hình phạt vừa thể hiện chính sách nhân đạo, vừa có ý nghĩa tiết kiệm các chi phí để thực thi biện pháp cưỡng chế, thúc đẩy tính thiện, động viên, khuyến khích người, pháp nhân thương mại chứng tỏ khả năng tựgiáo dục, tựcải tạo, tạođiều kiện cho họ sớm tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội và thúc đẩy ý thức tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của pháp nhân. Tuy nhiên, trên cả ba phương diện lý luận, lập pháp và thực tiễn xét xử, chế định về miễn, giảm hình phạt vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể:

Thứ nhất, về phương diện lý luận, miễn, giảm hình phạt chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện. Qua khảo sát tình hình nghiên cứu thì miễn, giảm hình phạt mới chỉđược đề cập đến nhưmột khía cạnh liên quan khi nghiên cứu các chế định khác hoặc nghiên cứu chung của các công trình nghiên cứu về chính sách, nguyên tắc của luật hình sự, việc quyết định hình phạt. Ngoài ra, trong khoa học luật hìnhsựđã có một số công trình đề cập đến miễn hình phạt, nhưng chưa có công trình nào đề cập đến khái niệm, cơ sở, bản chất pháp lý và phân loại các trường hợp giảm hình phạt trong xét xử của Tòa án, cũng như làm sáng tỏ hậu quả pháp lý của miễn, giảm hình phạt. Đặc biệt, đến nay chưa có một công trình nào mang tính tổng thể, hệ thống và xây dựng khung lý thuyết về vấn đề miễn, giảm hình phạt và những vấn đề lý luận ở cấp độmột Luận án tiến sĩ luật học cùng một lúc về miễn, giảm hình phạt kể từ khi ban hành ba BLHS Việt Nam đến nay (các năm 1985, 1999 và 2015).

Thứ hai,vềphương diệnlậppháp, lần pháp điểnhóathứba luật hình sự- BLHS năm 2015 mặc dù đã có những sửađổi, hoàn thiện quyđịnh về miễn, giảm hình phạt, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về mặt lập phápđối với chế định miễn, giảm hình phạt cũng như thực tiễn áp dụng. Chẳng hạn, cả ba BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 và BLHS năm 2015 vẫn chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý của khái niệm miễn hình phạt, giảm hình phạt; miễn, giảm hình phạt; hậu quả pháp lý của pháp nhân thương mạiđược miễn hình phạt; các trường hợp miễn hình phạt vẫn quy định rải rác trong BLHS; chưa có sự thống nhất giữa luật nội dung (BLHS) và luật hình thức (BLTTHS) trong việc quyđịnh vềmiễn hình phạt;đặc biệt quy định về miễn hình phạt vẫn còn quy định chung cùng với chế định miễn TNHS, chưa có sự phân hóa với miễn TNHS và còn mang tính chất tùy nghi lựa chọn

(“có thể”),chưa có quy định về trường hợp đương nhiên được miễn hình phạt. Điều

2

này cũng làm hạn chế việc áp dụng chế định miễn hình phạt trong thực tiễn xét xử. Vềgiảm hình phạt thì chưa có quyđịnh về phương pháp giảm nhẹ, công thức giảm nhẹ khi có tình tiết giảm nhẹ cũng như các trường hợp loại trừ việc giảm nhẹ dù cótình tiết giảm nhẹTNHS, dẫn đếnviệc giảm nhẹtùy thuộc vàoýchí chủ quan của người Thẩm phán, nên mới dẫn đến việc giảm nhẹ ở một sốvụ án còn chưa đúng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo. Tòa án nhân dântốicao cũng chưa ban hành văn bảnhướngdẫncụthểđốivớitrườnghợpmiễn, giảm hình phạt đối với người phạm tội, việc miễn hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội và vấn đề xóa án tích; nội dungcủa một số tình tiết đểgiảm nhẹ TNHS với tư cách là điều kiện giảm hình phạt; v.v…

Thứ ba, về phương diện thực tiễn, trong thực tiễn áp dụng, miễn hình phạt ítđượcáp dụng và còn có sai sót; việc giảm hình phạtđượcáp dụngphổbiến, khoảng 70% vụ án có áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS để giảm hình phạt cho người phạm tội, nhưng vẫn còn nhiều vụ án áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS và giảm hình phạt còn chưa chính xác. Việc các nhà lập pháp quy định hình phạt theo khung vì không thể tính hết vàquy định hết tất cả các trường hợp phạm tội khác nhau để quy định hình phạt tương ứngđốivớitừng trườnghợpphạmtộicóthểxảyra trên thựctếđãlàm tăngkhảnăng lựa chọn của Tòa án khi quyết định hình phạt, cũng như quyết định giảm hình phạt nhưng cũng dẫn đến không ít trường hợp giảm hình phạt còn tùy tiện do phụ thuộc nhiều vào ýchí chủ quan của Thẩm phán. Việc giảm hình phạt giống như việc “bốc thuốc Bắc” vàThẩm phán được ví như thầy lang, thuốc bốc chuẩn thì bệnh mới chóng khỏi, việc giảm chuẩn thì mới có tác dụng trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, nhưng như trên đã nêu thì việc giảm nhẹ hình phạt trên thực tiễn vẫn còn có sai sót và không thống nhất, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Vì vậy, thực tiễn đòi hỏi cần có sự nghiên cứu toàn diện để tìm ra các giải pháp bảo đảmáp dụng đúng quy định miễn, giảm hình phạt.

Những bất cậpnêu trên chính là những lý do luận chứng cho việc nghiên cứu sinh (NCS.) lựa chọn đềtài “Miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam” làm Luận án tiến sĩ luật học của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận án là xây dựng khung lý thuyết về miễn, giảm

3

hình phạt, đánh giá khách quan quy định về miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự ViệtNam và thực tiễn áp dụng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Trên cơ sở này, Luận án xác định những phương hướng, nội dung hoàn thiện và đề xuất giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định về miễn, giảm hình phạt, từ đó, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

1) Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Luận ánđể xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong Luận án;

2) Làm rõ cơ sở của việc quy định miễn, giảm hình phạt, chỉ ra cácđặc điểm cơ bản, ý nghĩa của miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự và xây dựng định nghĩa khoa học về khái niệm miễn, giảm hình phạt;

3) Hệ thống hóa lịch sử phát triển của pháp luật hìnhsựViệt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945đến khi ban hành BLHS năm 2015 quyđịnhvềmiễn, giảm hình phạt để rút ra nhận xét, đánh giá;

4) Phân loại các trường hợp miễn, giảm hình phạt trong BLHS với các tiêu chíkhác nhau; phân tích thực trạng quy định về miễn, giảm hình phạt trong BLHS năm 2015, đồng thời so sánh quy định tương tựvềmiễn, giảm hình phạt trong BLHS một số nước trên thế giới để rút ra những so sánh, chỉ ra các điểm giống và khác nhau, các quyđịnh tiến bộ,có tính ưu việt về miễn giảm hình phạt phù hợp với Việt Namđểkiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.

5) Đánh giá thực tiễn áp dụng quyđịnhcủa BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 về miễn, giảm hình phạt trong hoạt động xét xửcủa Tòa án các cấpgiai đoạn 2010 – 2020 (dựa trên số liệu thực tiễn của Tòa án 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam vànghiên cứu trực tiếp, ngẫu nhiên 300 bản án sơ thẩm, phúc thẩm, giámđốc thẩmcủa một sốđơn vị Tòa án), qua đó, chỉ ra các kết quả đã đạt được và những sai lầm, thiếu sót trong thực tiễn áp dụng, nêu rõ các nguyên nhân cơ bản;

6) Chỉ ra những yêu cầu, phương hướng, đề xuất nội dung hoàn thiện quy định về miễn, giảm hình phạt trong BLHS năm 2015 trên phương diện lập pháp, đặc biệt là kiến nghị xây dựng hướng dẫn cụ thể về cách tính mức hình phạt áp dụng đối với trường hợp giảm hình phạt củaTòa án,đồngthời đưa ra các giải pháp bảođảm áp dụng đúng trên phương diện thực tiễn.

4

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu của Luận án bao gồm: Một là, những vấn đề lý luận vềmiễn, giảm hình phạt và lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về miễn, giảm hình phạt; hai là, quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và quy định tương tự trong BLHS một sốnước vềmiễn, giảm hình phạt; ba là, thực tiễn áp dụng quyđịnh vềmiễn, giảm hình phạt của Tòa án các cấp trong giai đoạn 2010 – 2020.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận ánđược thực hiện theo chuyên ngành Luật hìnhsựvà tốtụng hình sự(mã số 9 38 01 04).

Do đó, phạm vi nghiên cứu của Luận ánđược xác định:

Mộtlà, trong phạm vi lý luận, Luận án tiếpcậnvấnđềmiễn, giảm hình phạt chung, dưới góc độ khoa học luật hình sự là một chếđịnh phản ánh chính sách phân hóa, tư tưởng nhân đạo và nguyêntắccông bằng trong pháp luật hình sự; còn dưới góc độ áp dụngpháp luật làmộthoạtđộngquyếtđịnhhình phạtcủaTòa án trong xét xửmà ở đó Thẩmphán được trao quyền đánh giá và phán quyết về việc miễn, giảm trên cơ sở các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, được hiểu là các trường hợp miễn hình phạt quyđịnh tại Điều 59, Điều 88, Điều 390 BLHS, khoản 4 Điều 91 và các trườnghợpgiảm hình phạt chung khi có tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 51 BLHS và giảm hình phạt đặc biệt quy định tại Điều 54 BLHS về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, vàmộtsố quy định liên quan đến miễn, giảm hình phạt chung. Phạm vi nghiên cứu của Luận án không xem xét đến trường hợp giảm hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay trường hợp người phạm tội là ngườidưới18 tuổi hay giảm hình phạt trong một số tội danh cụthểvì việc giảm hình phạt trong các trườnghợpnày thuộc về chính sách hình sựđối với các đối tượng đặc biệt và đây là những trường hợp giảm mang tính chất cố định và do luật định

(về mặt lậppháp) đã quyđịnh cụ thểmức giảm, cũng như không bắt buộc phải có tình tiết giảm nhẹ TNHS, không phải là do người phạm tội có tình tiết giảm nhẹ TNHS mà được giảmnhẹ hình phạt, không phải là trường hợp trao quyền đánh giá, phán xét mứcđộ giảmnhẹ cho Thẩm phán khi xét xử; đồng thời Luận án cũng không xem xét đến các trường hợp miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt vìđólà

5

hoạt động miễn, giảm việc chấp hành thực hiện sau khi xét xử, diễn ra trong giai đoạn thi hành án.

Hai là, trong phạm vi thực tiễn, Luận án phân tích, đánh giá việc áp dụng quyđịnh về miễn,giảm hình phạt của Tòa án các cấp trong giai đoạn 2010 – 2020 trên địa bàn cả nước, chỉ ra những kết quả đạt được, các sai lầm, thiếu sót và các nguyên nhân cơ bản.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận

Đềtàiđượcnghiêncứutrên cơsởphương pháp luậncủachủnghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm,định hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách hình sựvàcảicách tư pháp; quan điểm,đườnglốixửlýcủaNhànước đốivớitộiphạm và TNHS, cũng như các nguyêntắccơbảncủaluật hìnhsựViệt Nam (như: phân hóa, nhân đạo, công bằng và cá thể hóa hình phạt) trong giáo dục, cải tạo người phạm tội, bảo đảm quyền con người và phòng ngừa tội phạm.

Luận án cũng nghiên cứu miễn, giảm hình phạt theo cách tiếp cận đa ngành, liên ngành giữa các ngành khoa học xã hội và luật học.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Như vậy, để trực tiếp giải quyết các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, NCS. sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

1) Phương pháp tổng hợp: Phương pháp nàyđược tập trung sửdụng trongđánh giá về phần tổng quan tình hình nghiên cứu, nhằm hệ thống hóa các công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực miễn, giảm hình phạt và phân loại chúng theo nội dung tư duy cụ thể, từ đó chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong Luận án.

2) Phương pháp phân tích:Đâylà phương pháp được áp dụng trong toàn bộcấu trúc, nội dung của Luận án. NCS. sử dụng phương pháp này nhằm luận giải, làm sáng tỏcác vấn đề lýluận, phân tíchnộidung quy địnhvà từđó đưa ra những nhậnđịnh, đánh giá mang tính kết luận về miễn, giảm hình phạt.

3) Phương pháplịch sử: Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu lịch sử lập pháp Việt Nam về miễn, giảm hình phạt và những yêu cầu hoàn thiện đáp ứng xu hướng phát triển của pháp luật hình sự nước ta trong thời gian tới khi quy định về miễn, giảm hình phạt.

6

4) Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sửdụng để xửlý các tài liệu, số liệu xét xử trong giai đoạn 2010 – 2020 của Tòa án các cấp và phân tích 300 bản án hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm) được lấy ngẫu nhiên để làm sáng tỏ thực tiễn xét xử, qua đó, đánh giá những kết quả đạt được, sai lầm, thiếu sót và các nguyên nhân cơ bản, bổ sung thêm luận cứ hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 về vấn đề này.

5) Phương pháp so sánh: Phương pháp này được dùng để so sánh những sự thayđổi vềnhận thức, quy định, áp dụng miễn, giảm hình phạt qua từng giaiđoạn để luận giải các nội dung lý luận; phương pháp sosánh đượcsử dụng trong một số nộidung nghiên cứu về BLHS các nước có quy định tương ứng về miễn, giảm hình phạt.

6) Phương pháp quan sát: NCS. sử dụng phương pháp này để có những đánh giá cá nhân nhằm phục vụ các nghiên cứu một số biến đổi xã hội có tác động tới chính sách hình sựvềmiễn, giảm hình phạt;từđó,chỉra các giải pháp bảo đảmthi hànhđúng quy định của BLHS năm 2015 về miễn, giảm hình phạt ở Việt Nam hiện nay.

5. Cơ sở lý thuyết

Cơ sở lý thuyết của Luận án là:

1) Làm rõ khái niệm khoa học về “miễn hình phạt”, “giảm hình phạt” và “miễn, giảm hình phạt” trên cơ sởphân tích, tổng hợp các quan điểmkhoa học trong sách báo pháp lý hình sự ở trong và ngoài nước Việt Nam;

2) Dựa trên chính sách hình sự, các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự, lý thuyết vềbiện pháp tha miễn TNHS và hình phạt, cũng như cơchếgiảmnhẹTNHS trong pháp luật hình sự để làm sáng tỏ các nhiệm vụ nghiên cứu;

3) Phân tích các kết quả đạt được và hạn chế, thiếu sót của việc áp dụng miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự, từ đó kiến nghị phương hướng hoàn thiện quyđịnh BLHS năm 2015 và giải pháp bảo đảm áp dụng chính xác.

Với những vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu như trên thì Luận án phải giải quyết các câu hỏi nghiên cứu cơ bản được đặt ra như sau:

1) Những vấn đề gì cần làm rõ trong lý luận về miễn, giảm hình phạt?

2) Trong pháp luật hình sự Việt Nam và trong BLHS các nước trên thế giới thìquy định về miễn, giảm hình phạt được thể hiện như thế nào?

3) Các tồn tại,hạn chếtrong quyđịnhcủa BLHS Việt Nam về miễn, giảm hình phạt là gì?

Miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam
Miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam

4) Việc áp dụng quyđịnhvềmiễn, giảm hình phạt trong thực tiễn xétxửcủa Tòa án các cấp như thế nào?

5) Những yêu cầu, phương hướng, giải pháp khắc phục cáctồntại,hạnchếtrong quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về miễn, giảm hình phạt và sai lầm, thiếu sót trong thực tiễn áp dụng.

6. Đóng góp mới về khoa học của Luận án

Đâylà công trình lần đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệthống và đầyđủnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam ở cấp độ một Luận án tiến sĩ luật học.

Luận ánđãlàm rõ ý nghĩa, cơ sở của việc quy định miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sựViệt Nam. Trên cơ sở đó, Luận ánđã xây dựng khái niệm, chỉ ra các đặc điểm cơ bản của miễn, giảm hình phạt.

Luận ánđã hệthống hóa lịchsửlậppháp hìnhsựViệt Nam quyđịnhvềmiễn, giảm hìnhphạt từsau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015, đồng thời nghiên cứu quy định trong BLHS Việt Nam và quy định tương tự trong BLHS các nước trên thế giới để đưa ra đánh giá, nhận xét. Trongđó,

lầnđầutiên phân tích các quyđịnhtrong BLHS năm 2015vềvấnđềmiễn, giảm hình phạt cho cả người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội trong tương quan với quy định của BLHS năm 1999 trên cơ sở phân loại các trường hợp miễn, giảm hình phạt với các tiêu chí khác nhau.

Đặc biệt, qua việc phân tích bức tranh thực tiễn xétxửvềtình hình áp dụng miễn, giảm hình phạt của Tòa án các cấp trong giai đoạn 2010 – 2020, Luận án cũng chỉ ra những sai lầm, thiếu sót, nêu rõ các nguyên nhân cơ bản. Trêncơ sởnày, Luậnán còn là công trìnhđầutiênđềxuất những yêu cầu,đềra phương hướng,nộidung hoàn thiện quy định về miễn, giảm hình phạt trong BLHS năm 2015 trên phương diện lập pháp và đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng trên phương diện thực tiễn.

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án 7.1. Ý nghĩa khoa học

Trong công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân hiện nay, thì việc nghiên cứu để làm sáng tỏ nhữngvấn đề lýluận về miễn, giảm hình phạt và thực tiễnáp dụng của TAND các cấp không những góp phần nâng cao nhận thức thống nhất

8

của Thẩm phán, Hội thẩm và cán bộ Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bảo đảm ápdụng quyđịnh vềmiễn, giảm hình phạtđượcchính xác, xử lýtộiphạm và người, pháp nhân thương mại phạm tộiđược côngbằng và đúng pháp luật, mà còn góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luậnvề miễn, giảm hình phạt trong khoa học luật hình sự, cũng như thực hiện tốt chính sách hình sự và các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam.

Ngoài ra, Luận án còn là tài liệu tham khảo hữu ích và cần thiết cho học viên cao học và NCS. chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật trên cả nước.

7.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của Luận án làm cơ sở để đưa ra những yêu cầu, phương hướng tiếp tục hoàn thiện quy địnhcủaBLHS năm 2015 và thực thi chính sách hình sự của Nhànước Việt Nam về miễn, giảm hình phạt.

Các kiến nghị hoàn thiện quyđịnh về miễn, giảm hình phạt trong BLHS năm 2015, đặc biệt là kiến nghị xây dựng hướng dẫn cụ thể về cách tính mức hình phạtáp dụng đối với trường hợp giảm hình phạt của Tòa án, cũng như giải pháp bảo đảm áp dụng đúng góp phần bảo đảm phòng, chống oan, sai và vi phạm pháp luật trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, trong áp dụng quy định miễn, giảm hình phạt của Tòa án khi quyết định hình phạt, qua đó, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giáo dục, cải tạo người phạm tội, cũng như pháp nhân thương mại phạm tội.

8. Kết cấu của Luận án

Ngoài Phần mởđầu, Kếtluận, Danh mụctài liệu tham khảo vàPhụlục, nội dung của Luận án gồm 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Chương 2:Những vấn đề lýluận và lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về miễn, giảm hình phạt.

Chương 3: Quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 và quy định tương tự trong Bộ luật Hình sự một số nước trên thế giới.

Chương 4: Thực tiễn áp dụng, nội dung hoàn thiện và các giải phápbảo đảm áp dụng đúng quy định về miễn, giảm hình phạt.

9

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

b. Các công trình nghiên cứu về giảm hình phạt

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

a. Các công trình nghiên cứu về miễn hình phạt

b. Các công trình nghiên cứu về giảm hình phạt

1.2. Đánh giá các công trình khoa học vànhững vấn đề đặt racần tiếp tục nghiên cứu

1.2.1. Đánh giá các công trình khoa học trong và ngoàinướcliên quanđếnđề tài Luận án

Tổng quan các công trình khoa học nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước nêu tại mục 1.1 cóthểchưa thật sựđầyđủ nhưng đã phần nào phản ánh đượcthực trạng, mức độ, quy mô nghiên cứu về chế định miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự, qua đó NCS. có những nhận xét, đánh giá như sau:

26

Thứ nhất, các công trình khoahọcnêu trên (trừ bài viếtcủaNCS.) đều không trực diện nghiên cứu về miễn, giảm hình phạt, tuy nhiên các công trình này cũngđãhình thành được hệ thống quan điểm, học thuyết liên quan đến miễn, giảm hình phạt nhưvấn đềtội phạm, TNHS, đặc biệtlà vềhình phạt, xã hội học về hình phạt, cũng nhưhệ thống các biện pháp tha miễn TNHS và hình phạt trong luật hình sự. Đáng chú ý là có một số công trình nghiên cứu về tình tiết giảm nhẹ TNHS. Đây là những nghiên cứu có giá trị làm cơ sở khoa học để NCS. tiếp tục triển khai nghiên cứu vấnđề lý luận về miễn, giảm hình phạt trong luật hình sự.

Thứ hai, nội dung các công trình trong nước về cơ bản đã thống nhất trong việc nêu khái niệm, các đặc điểm cơ bản của miễn hình phạt và nội dung của các trường hợp

miễn hình phạt là việc Tòa án không áp dụng hình phạt trong khi xétxử… đượcthể hiện trong hệ thống sách báo pháp lý và hệ thống các giáo trình chuẩn tại những cơsở đàotạoluật. Một số công trình bước đầu đề xuất kiến nghị hoàn thiện quyđịnh BLHS, nhưng chủ yếu là kiến nghị hoàn thiện BLHS năm 1999, trong khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành nhưng vẫn còn một số bất cập. Tuy nhiên, có một số công trình hiểu khái niệm miễn hình phạt theo nghĩa rộng, bao gồm cả nội dung miễn chấp hành hình phạt trong giai đoạn thi hành án.

Thứ ba, việc nghiên cứu theo cách gọi là giảm hình phạtchưa được đề cập màgiảm hình phạt được nhắc đến trong các nghiên cứu hiện nay theo nghĩa hẹp mới chỉ đượchiểu chính là việc quyết định hình phạt nhẹ hơn quyđịnh của BLHS khi cónhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, theo nghĩa rộng thì có quan điểm cho rằng giảm hình phạt baogồm cả nộidung giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong giai đoạn thi hành án. Ở đây, giảm hình phạt dưới gócđộ làmột chế địnhmang tính chất nhân đạo và làmột hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án trong giai đoạn xét xử khi có tình tiết giảm nhẹ chưa được các nhà nghiên cứu trong nước đề cập. Ngoài ra, chưa có nghiên cứu phân biệt, so sánh giảm hình phạt và giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

Thứtư, các công trình khoahọcởnướcngoài khiđềcậpđếnmiễn, giảm hình phạt đều thể hiện điểm tương đồng với luật hình sự nước ta khi cho người phạm tội được khoan hồng là miễn, giảm hình phạt thì phải có điều kiện bắt buộc là họ phải có tình tiết giảm nhẹ TNHS và có nhân thân tốt. Tuy nhiên, các công trình vẫn chủ yếu mới đề cập riêng rẽ hoặc về miễn hình phạt hay về giảm hình phạt và được thể hiện thông qua một số án lệ, hoặc thậm chí cũng có quan niệm coi việc miễn, giảm hình phạt làthủ tục tố

27

tụng do Tòa án áp dụng trong giai đoạn xét xử, giảm hình phạt gắn với quá trình cải tạo, lao động, trong đó nhấn mạnh vai trò của Thẩm phán khi quyết định vấn đề này.

Thứ năm, các nghiên cứu về miễn, giảm hình phạt mới chỉ tập trung vào từng vấn đề của miễn, giảm hình phạt, chưa có tính tổng thể và chủ yếu nghiên cứu về khái niệm, căn cứ áp dụng theo luật thực định. Do đó, tính tổng thể và sự liên kết đồng bộ dưới góc độ khoa học luật hình sự về miễn, giảm hình phạt là chưa có. Mặc dù vậy, qua nghiên cứu cho thấy có một số công trình có giá trị tham khảovề khoa học vàthực tiễn tốt, đặc biệt là các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng.

Thứ sáu, các công trình khoa học nêu trên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau: 1)Sửdụng phương pháp phân tích và tổng hợplý thuyết; 2) Sửdụng phương pháp tổngkếtkinh nghiệm thực tiễn; 3)Sửdụng phương pháp so sánh luật học; 4) Sử dụng phương pháp phân tích pháp luật thực định. Tuy nhiên, chưa có công trình nào sử dụng tổng hợp, hệ thống các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu thực tiễn và các phương pháp nghiên cứu khác để có thể tiếp cận một cách toàn diện, khách quan, đầyđủ các vấn đề về lý luận, thực tiễn và dưới khía cạnh pháp lý hình sự Việt Nam về miễn, giảm hình phạt từ khi ban hành BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015. Đặc biệt, các quyđịnh về giảm hình phạt chưa thấyđược đề cập hoặc nghiên cứu triển khai thi hành BLHS năm 2015 về miễn, giảm hình phạt là chưa cóvà cùng một lúc cả hai chế định này.

1.2.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Các công trình đã nêu trên ở trong và ngoài nước hình thành hệ thống lý thuyết về tội phạm, TNHS, các biện pháp tha miễn TNHS và hình phạt, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể và toàn diện về miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam. Vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu khi triển khaithực hiện đềtài Luận án tiến sĩ luật học “Miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam”, bao gồm:

Một là, phân tích những đặc điểm cơ bản của miễn, giảm hình phạt từ đó xây dựng khái niệm khoa học về “miễn hình phạt”,“giảm hình phạt” và “miễn, giảm hình phạt” trong điều kiện lập pháp Việt Nam đãcó sựthay đổi khi quy định bổ sung pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm. Ngoài ra, trên cơ sở này, làm sáng tỏ các cơ sở (lý luận, thực tiễn và lập pháp), cũng như ý nghĩa của việc quyđịnh miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự nước ta.

28

Hai là, hệ thống hóa lịch sửvề miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sựViệt Nam và nghiên cứu, so sánh quyđịnhtươngtựvềmiễn, giảm hình phạt trong BLHS các nước trên thế giới, trong đó đề cập đến chính sách hình sự, mối quan hệ giữa miễn, giảm hình phạt vớicác tình tiết giảmnhẹTNHSđểrút ra nhận xét;đồngthời phân tích cácđiềukiện và những yêucầucủatình hình tác động đến việc quyđịnh miễn, giảm hình phạt.

Ba là, trên cơ sở quy định của BLHS năm 2015, NCS. làm rõ thực trạng quyđịnh pháp luật về miễn, giảm hình phạt. Những nội dung này sẽđượcphân tích, đánh giá rút ra những ưu điểm, hạn chế trong quy định của BLHS và trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giáo dục, cải tạo người phạm tội ở nước ta hiện nay, qua đó đặt ra việc nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện pháp luật hình sự.

Bốn là, phân tích, đánh giá đúng và chính xác thực tiễn áp dụng quyđịnh của BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 trong hoạt động xét xử của TAND các cấp khiáp dụng quy định miễn, giảm hình phạt trong giai đoạn 2010 – 2020 là nhiệm vụ quan trọng đặt ra khi nghiên cứu Luận án. Kết quả nghiên cứu thực tiễn được đối chiếu với lý luận về miễn, giảm hình phạt, từ đó chỉ ra những bất cập trong quá trình áp dụngđể làm cơ sở cho phương hướng, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quyđịnh của BLHS Việt Nam năm 2015.

Năm là, ngoài ra, cùng với việc tiếp tục hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015, thì cần có hướng dẫn về cách tính mức hình phạt áp dụng đối với trường hợp giảm hình phạt của Tòa án, cũng như yêu cầu có những giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng và chính xác quyđịnhcủaBLHS Việt Nam vềmiễn, giảm hình phạt dưới góc độ thực tiễn (sự tham gia của gia đình, cơ quan, tổ chức; sự kiểm tra, giám sát hay các giải pháp về tổ chức, cán bộ, nghiệp vụ…) là rất cần thiết, phục vụ yêu cầu của thực tiễn xét xử.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Tóm lại, nghiên cứu nội dung Chương 1 Luận án: “Tổng quan tình hình nghiên cứu”, NCS. rút ra các kết luận sau đây:

1. NCS. thực hiện đềtài với tên gọi: “Miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam” làm Luận án tiến sĩ luật học đòi hỏi phải phân tích, đánh giá chọn

lọc nội dung trong các nhóm công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước, từ đó nhận

29

xét, đánh giá tổng quan và đưa ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong nhiệm vụ, giả thuyết nghiên cứu. Trên cơ sở này, Luận án có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn, giảm hình phạt, đưa ra phươnghướnghoàn thiện quyđịnh của BLHS và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng.

2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu chothấy đối với vấn đề miễn,giảm hình phạt vẫn còn ít được đề cập trong nước và nghiêncứu vẫn chủyếu gắn vớiBLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, chưađềcập đếnnhiềutừkhi ban hành BLHS năm 2015. Tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác giả mới ở dưới dạng là các bài viết đăng trêntạpchí khoa họcchuyên ngành,mộtphần,mụctrong các giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo, hoặc mới chỉ xem xétvấn đề ở một khía cạnhnhất định, một phần trong luận văn thạc sĩ, Luận án tiến sĩ luật học. Điều này có nghĩa, cho đến nay trong khoa học luật hình sự của Việt Nam chưa có công trình nghiêncứu nào đề cập đến chế định miễn, giảm hình phạt một cách có hệ thống và đồng bộ. Đặc biệt, nhiều vấn đề lýluận và thực tiễn xung quanh chế định miễn, giảm hình phạt cũng đòi hỏi các nhà khoa học cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn.

3. Các công trình nghiên cứu đều phản ánh điểm tương đồng với luật hình sựViệt Nam khi cho người phạm tộiđược miễnhình phạt hay giảm hình phạt thì phải có điều kiệntiên quyết là có tình tiết giảmnhẹTNHS và có nhân thân tốt. Tuy nhiên, các công trình vẫnchủyếumới đề cậpriêng rẽ hoặc về miễn hình phạt hay về giảm hình phạt và được thể hiện thông qua một số án lệ, hoặc coi việc miễn, giảm hình phạt làthủ tục tố tụng do Tòa án áp dụng trong giai đoạn xét xử, giảm hình phạt gắn với quátrình cải tạo, lao động.

4. Trên cơ sở kết quả các nghiên cứu lý thuyết trong những công trình khoa học trong và ngoài nước, Luận ánđặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cơ sở, ý nghĩa của việc miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự; phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp lý hình sựvề miễn, giảm hình phạt, từđó chỉ ra các sai lầm, thiếu sót trong quá trình áp dụng để làm cơ sở cho kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 và đề xuất các giải pháp bảo đảmáp dụng chính xác quyđịnh đótrong các chương tiếp theo của Luận án.

30

Chƣơng 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM VỀ MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT

2.1. Những vấn đề lý luận về miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự2.1.1. Khái niệm và mục đích của hình phạt

Trước hết, để làm sáng tỏ khái niệm, nội dung miễn, giảm hình phạt, thì cần làm sángtỏnộidungvềhình phạt và cácmụcđíchcủahình phạt.Bởilẽ,miễn, giảm hình phạt có liên quan chặtchẽđếnhình phạt. Theođó,Tòa án trên cơsởđánh giá khách quan,hệthống và toàn diện vụánvớicác quyđịnhcủapháp luật hình sự để từ đó quyết định hình phạt hay miễn hình phạt cho người phạm tội (hiện nay, trong BLHS năm 2015 còn quy định thêm cả pháp nhân thương mại phạm tội), còn nếu có tình tiết giảm nhẹ TNHS sẽ được cân nhắc giảm nhẹ hình phạt, qua đóbảođảm phùhợpvớiyêucầuđấutranh phòng ngừa và chống tội phạm, cũng nhưyêucầugiáo dục, cải tạo và bảo đảm trật tự xã hội. GS.TS. Võ Khánh Vinh cũng đã từng nhận định: “Luật hìnhsựnước ta quyđịnh các quy phạm giảmnhẹTNHS và

hình phạt… còn nhằm bảo vệ có hiệu quả quyền lợi của xã hội, của Nhà nước và mọi công dân khỏi sự xâm hại của tội phạm” [133, tr.392].

Hiện nay,dướigócđộkhoahọcluật hình sự,có rất nhiều quanđiểm khoa học về khái niệm hình phạt [10, tr.554]; [31, tr.29]; [133, tr.340-341] (nhưng không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án này nên NCS. không nêu cụ thể). Về góc độ

lập pháp, BLHS năm 1999 lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về khái niệm hình phạt tại Điều 26 như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằmtướcbỏhoặchạnchếquyền,lợiíchcủangườiphạm tội. Hình phạtđượcquy địnhtrong BLHS và do Tòa án quyếtđịnh”.Đến BLHS năm 2015, khái niệm hình phạt được hoàn thiện hơn khi các nhà làm luật đã bổ sung chủ thể của tội phạm làpháp nhân thương mại.

Về góc độ lý luận, NCS. thấy rằng: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế về hình sựnghiêm khắc nhất của Nhà nước, do Tòa án quyết định trong bản án kết tội cóhiệu lực pháp luật đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án với nội dung tước bỏ hay hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại, qua đó nhằm giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm.

31

Như vậy, hình phạt làmộthình thứccủaTNHS mang tínhphổbiến nhất, là phương tiện đểđạtđược mụcđíchcủaTNHS” [31, tr.7] và là cách thức thể hiệnsựxửsựcủaNhànước đối vớicác hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hay như C. Mácđã đánh giá “Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện tự vệ của xã hội chống lạisựvi phạm các điều kiện tồn tại của nó”. Do đó, ngoài mục đích trừng trị (tác động trực tiếp đối với hành vi vi phạm thông qua việc tướcbỏ hoặc hạn chếquyền, lợi ích nhất định của người phạm tội), hình phạt còn hướng tới mục đích phòng ngừa (tác động gián tiếp đối với các chủ thể khác bằng việc cải tạo, giáo dục ýthức, định hướng hành viđể có sự xử sựphù hợp, đúng quy định pháp luật.

BLHS hiện hànhđãghi nhận mục đích của hìnhphạt tại Điều31 như sau: Hình phạt không chỉ nhằm trừng trịngười, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”. Như vậy, BLHSvớicách ghi nhận mục đích của hình phạt đã luật hóa những quan điểmlý luận và thống nhất được cách hiểu mục

đích hình phạt không phải làsựtrảthù của Nhànướcđốivớingười, pháp nhân thương mại phạm tội, mà chỉ là sự trừng trị để nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là giáo dục (gồm cả giáo dục riêng đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội vàgiáo dục chung đối với xã hội) và đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm.

Để đạt được các mục đích của hình phạt, đặc biệt là mục đích giáo dục, cải tạo và mục đích phòng ngừa tội phạm nhưđã nêu trên thì pháp luật hình sựcần có các chế địnhthể hiện tính nhân đạo, công bằng và phù hợp của pháp luật mới có thể cảm hóa và thay đổi nhận thức của cá nhân, pháp nhân mà miễn, giảm hình phạt chính làmột trong những phương thức thực hiện các nhiệm vụ, mục đích của hình phạt. Bởi

lẽ, nếu ví tội phạm như một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, là bệnh tật của xã hội, thì hình phạt được ví như một phương thuốc để điều trị. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp mắc bệnh đều phải dùng đến thuốc và không phải mọi trường hợp bệnh đều được sửdụng liều lượng thuốc giống nhau, điều này còn tùy thuộc vào cơ thể của mỗi chủ thể đang mang căn bệnh đó và mức độ trầm trọng của bệnh. Hình phạt cũng vậy, không phải mọi trường hợp phạm tội đều phải dùng đến hình phạt và không phải mọi trườnghợpphạm tội đềucó một hình phạt giống nhau; vì vậy, miễn giảm hình phạt cũng giống như cách để có một liều thuốc vừa đủđể trị bệnh, bởi đó chính là

32

cách thức để Tòa án quyết định một hình phạt phù hợp với từng trường hợp phạm tội. Tòa án đóng vai trò là người bác sĩ, quyết định hình phạt cũng giống như việc sửdụng thuốc với liều, lượng chính xác, phù hợp để điều trị và ngăn ngừa bệnh tái phát với mục đích cuối cùng là để đẩy lùi căn bệnh (đẩy lùi tội phạm), bảo vệ con người và xã hội,chứkhông phải là trả thù, là tiêu diệt chủ thể mang bệnh (con người và xãhội). Đấy chính là mục đích của hình phạt nói riêng và của pháp luật nói chung.

2.1.2. Khái niệm và đặc điểm của miễn hình phạt

Từ khái niệm hình phạt và các mục đích của hình phạt như đã nêu cho thấy, việc ghi nhận chế định miễn hình phạt không đingược lại“nguyên tắc hình phạt” của pháp luật hình sự. Bởilẽ,thực tế cho thấy không phải lúc nào hình phạtđược áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội trong một số trường hợp cũng đem lại lợi ích xã hội thiết thực đối với việc giáo dục, cải tạo người đó và có hiệu quả đối với công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Việc Tòa án áp dụng một loại hình phạt nào đó với một tội phạm là thực sự cần thiết nhưng hiệu quả của hình phạt đó có đạtđược trên thực tế hay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Hình phạt đạtđượchiệuquảkhi trướchếtnóphải đạtđược các mục đíchcủahình phạt. Hình phạt khôngchỉcó mục đích là trừng trịngười phạmtội(hiện nay, bao gồmcảpháp nhân thương mại phạm tội), mà còn có mục đích giáo dục, cảitạo họ,ngăn ngừa phạm tội mới.Vớimụcđíchhướngtớicảitạoconngườitrởlêntốtđẹphơn,mộtpháp nhân thương mại tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật hơn, từ đó bảo vệ tốt hơn các quyền, lợiíchcủacon người, vì thế, bên cạnh việc quyđịnhhình phạt thì pháp luật hìnhsựcũng cần có quy định về miễn, giảm hình phạt – bởi đó là một trong các giải pháp đểđạt được mục đích và bảo đảm tính hiệu quảcủa hình phạt. Hơn nữa, trong một số trường hợp,mặcdùmộtngười, pháp nhân thươngmạiđãthực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhộibịluật hìnhsựquyđịnh là tộiphạm, vàlẽ ra họ phải chịu TNHS nhưng vì có các tình tiết giảm nhẹ TNHS, đồng thời thỏa mãn nhữngđiều kiệnkhác do luật định, thì cóthểkhông buộc họ phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước – đó là hình phạtvề tộimà họ đãthực hiện. Nói cách khác, nếu việc áp dụng hình phạt trong trường hợp này là không cần thiết và không còn ý nghĩa thì Tòaán quyết định miễn hình phạt cho người, pháp nhân thương mại bị kết án.

Như vậy, miễn hình phạtvớiýnghĩa làsựkhoan hồngcủaNhànướccó tác dụng rất lớn đối với tâm lý của người phạm tội, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho sự kết

33

hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội khác nên miễn hình phạt đem lại hiệu quả cao khi giáo dục, cải tạo mà không cần thiết phải áp dụng hình phạt mà vẫn giúp họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Do đó, trong một số trường hợp, khi đáp ứng các điều kiện do luật định, thì một người có thểkhông buộc phải chịu hình phạtvề tội mà họ đãthực hiện; hoặc khi pháp nhân thương mạibịkết ánđã khắc phục toàn bộhậu quảvà đã bồi thường toàn bộthiệt hạido hành vi phạm tội gây ra, thì cũng không phải chịu hình phạt về tội mà chủ thể này đã thực hiện.

Hiện nay, trong khoa học luật hình sự có nhiều quan điểm khác nhau về miễn hình phạt, nhưng qua nghiên cứu, NCS. nhận thấyvềcơ bảnđềuthống nhất vềnội

dung, bản chất pháp lý, thẩm quyền, đối tượng áp dụng… nhưng vẫn chủ yếu gắn liền với quyđịnh của BLHS năm 1999. Chẳng hạn, một sốquan điểmđịnh nghĩa nêu ngắn gọn nội dung, hoặc có quan điểm nêu thiếu thẩm quyền áp dụng là Tòa án như: Miễn hình phạt là “không buộc một người phải chịu hình phạt về tội màngười đóđã thực hiện” [52, tr.323] hay “là quyết định của Tòa án không áp dụng hình phạt đối với ngườiđãthực hiện tội phạm”[87, tr.238] hoặc“là không buộcngườibịkếtán phải gánh chịu hình phạt” [132, tr.470]…

Ngoài ra, các quan điểm khác định nghĩa bằng cách nêu cả điều kiện áp dụng, theo đó, miễn hình phạt “là việc người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đángđược khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đếnmức được miễn TNHS, được Tòa án ra quyết định miễn hình phạt” [38, tr.224] hay “được áp dụng trong trường hợp Tòa án kết tội, nhưng không áp dụng hình phạt đối với người phạm tội do có những điều kiện mà BLHS quy định” [23, tr.196].

Gần đây, một số quan điểm có gắn với quy định BLHS năm 2015 hiện hành (khi các nhà làm luật nướctađãbổsung thêmchủthểcủa tộiphạm là pháp nhân

thương mại) [11, tr.637] hoặc có tác giả nhấn mạnh là sự “hủy bỏ” khi nêu: “miễn hình phạt là hủy bỏ biện phápcưỡngchế về hình sự nghiêm khắc nhất cho chủ thể bị kết án mà lẽ ra Tòa án phải tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với chủ thể đó do có đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định” [11, tr.637]; hoặc gắn với quy định BLHS để định nghĩa: “miễn hình phạt là trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 54, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn TNHS” [57, tr.331-332]; hoặc đồng

34

bộvớicác chủthểđược miễn hình phạt như: “miễn hình phạt là không buộc người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chếnghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt về tội mà họ đã thực hiện” [123, tr.276]; v.v…

Trong Giáo trình Sau đại học: “Luật hình sự Việt Nam – Phần chung” do GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tại Chương XXIvề“Miễn hình phạt; miễn, giảm, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt và xóa án tích”, giáo sư đã nêu khái niệm miễn hình phạt là “không buộc người bị kết án phải chịu hình

phạt”, đồngthời nêu ý nghĩa của việc miễn hìnhphạt là “… kích thích việc tự giáo dục, cải tạo để phục thiện của người phạm tội, tiết kiệm được việc trừng trị bằng các biện pháp pháp lý hình sự…”,qua đó, chỉ ra cơ sở của việc miễn hình phạt “là tính không hợp lý do người phạm tội thực hiện tội phạm trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ và cơ sở chung được cụ thể hóa trong từng loại hình phạt…” [133, tr.433].

Như vậy, ngoài một sốcông trình bình luận khoa học BLHS có gắn với quyđịnh của BLHS Việt Nam hiện hành, còn lại các quan điểm nêu trên vẫn chủ yếu gắn liền với người phạm tội, hoặc mới chỉ nêu nội dung của miễn hình phạt “không buộc một ngườiphải chịu hình phạtvềtộimàngườiđóđãthực hiện” hoặc điều kiện đểđược miễn hình phạt “khi có nhiều tình tiết giảm nhẹTNHS”; hoặc phân tách riêng giữa miễn hình phạt đối với người hoặc đối với pháp nhân thương mại phạm tội căn cứ vào BLHS năm 2015 mà chưa có nhiều quan điểm nêu đầy đủ bản chất pháp lý vànội dung, thẩm quyền áp dụng miễn hình phạt gắn với điều kiện áp dụng đối với cácđối tượng.

Do đó, để đưa ra được định nghĩa khoa học về khái niệm này, chúng ta cần chỉra và phân tích đặc điểm cơ bản của miễn hình phạt, đồng thời phân biệt miễn hình phạt với một sốkhái niệm khác có liên quan, từđó làm sáng tỏphản ánh bản chất pháp lý của miễn hình phạt. Theo NCS. thì miễn hình phạt có các đặc điểm như sau

[120, tr.56-57]:

Một là, miễn hình phạt là một hình thức của TNHS và là một cách phản ứng của Nhà nước đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội.

Hai là, miễn hình phạt phản ánh chính sách hình sự“nghiêmtrịkếthợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo”, đồng thời thể hiện nội dung của các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự (nguyên tắc nhân đạo, công bằng,

35

cáthểhóa hình phạt) khi áp dụng hình phạtđối vớitội phạm và người, pháp nhân thương mại phạm tội trong luật hình sự Việt Nam.

Ba là, miễn hình phạt là việc một người hoặc pháp nhân thương mại không bịTòa án quyết định bất kỳ hình phạt nào đối với hành vi phạm tội đã thực hiện do thỏa mãn những điều kiện nhất định theo quy định của BLHS.

Bốn là, việc áp dụng miễn hình phạt chỉ do duy nhất một cơ quan áp dụng, đólà Tòa án và được thực hiện trong giai đoạn xét xử (điểm d khoản 1 Điều 125, khoản 2 Điều 328, điểm a khoản 1 Điều 357, điểm c khoản 2 Điều 451 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Năm là, miễn hình phạt phải được thể hiện bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên không áp dụng (quyết định) hình phạt đối với người, pháp nhân thương mại bị kết án.

Sáu là,ngườiphạm tộiđượcmiễn hình phạt khôngbịcoi là có án tích (trừpháp nhân thương mại). Tuy nhiên, người được miễn hình phạt vẫn có thể bị Tòa ánáp dụng một hoặc nhiều biện pháp tư pháp. Biện pháp tư pháp đối với người phạm tội bao gồm: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồithường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;bắtbuộc chữa bệnh. Biện pháp tư phápđốivớipháp nhân thương mại phạm tộibao gồm: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; khôi phục lại tình trạng ban đầu; thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

Trong luật hình sự có một số khái niệm đều có nội dung liên quan đến xóa bỏhình phạt đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội cần được phân biệt với khái niệm“miễnhìnhphạt”,đólà “miễntrách nhiệm hìnhsự” (miễn TNHS),“miễn chấp hành hình phạt”.

Về“miễn TNHS” là trường hợp không buộc một người phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi (trong đó hình phạt cũng là một trong những hậu quả pháp lý) đối với hành vi phạm tội do mình thực hiện khi có đủ các điều kiện luật định. Điểm giống nhau giữa miễn TNHS và miễn hình phạt là cả hai chế định này đều phản ánh chính sách hình sự và các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự (như: phân hóa, nhân đạo…),được áp dụng đốivới người có hành vi phạm tội khi có cácđiều kiện do pháp luật hình sựquyđịnhvàđềukhông buộcngườiphạmtộiphải chịu biện phápcưỡngchế

36

nghiêm khắc nhất là hình phạt;đềukhông phải chịu hậu quả pháp lýbấtlợicủaviệc phạm tội, của việc quyết định hình phạt và không phải chịu án tích. Tuy nhiên, xét vềmứcđộkhoan hồng, thì miễn TNHS nhânđạohơn sovớimiễn hình phạt vì miễn TNHS có nghĩa là không buộc một ngườiphải chịuhậuquảpháp lý bất lợicủaviệc phạmtội(TNHS) dođápứngcácđiềukiện nhấtđịnh,còn miễn hình phạt thì người phạm tội vẫn phải chịu TNHS nhưng khi quyết định hình phạt, Tòa án không áp dụng hình phạt về tội mà họ đã thực hiện. Ngoài ra, nếu thẩm quyền miễn hình phạt do duy nhất một cơ quan là Tòa án áp dụng trong giai đoạn xét xử, thì thẩm quyền miễn TNHS có thể do Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng trong các giai đoạn tố

tụng hình sự. Hiện nay, BLHS quy định, nếu miễn TNHS chỉ áp dụng riêng đối người phạm tội, còn miễn hìnhphạt lại được ápdụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội.

Về “Miễn chấp hành hình phạt” là trường hợp người bị kết án trong giai đoạn thi hành án được Tòa án quyết định cho họ không phải chấp hành một phần hoặc toàn bộhình phạt của bản án đã tuyên khi họcóđủcác điều kiện do BLHS quy định. “Miễn chấp hành hình phạt” và “miễn hình phạt” là hai khái niệm không đồng nhất, mặcdù “miễn chấp hành hình phạt” có tính chất tương tựvới “miễn hình phạt”vềnội dung là người phạm tội vẫn phải chịu TNHS nhưng không buộc người phạm tội phải chịu hình phạt về hành vi phạm tội mà họ thực hiện; và đều phản ánh chính sách hình sự mang tính nhân văn, cũng nhưđược áp dụngkhi có các điều kiện cụ thể do BLHS quy định.

Điểm khác biệt giữa “miễn chấp hành hình phạt” và “miễn hình phạt” đó là ngườiđượcmiễn hình phạt khôngbịTòa án tuyênbấtcứmộthình phạt nào, nhưng người được miễn chấp hành hình phạt thì vẫn bị tuyên một hình phạt nhất định và việc miễn đối với họ là miễn việc chấp hành. Nói cách khác, đối với biện pháp miễn hình phạt, cơsởcủaviệc áp dụng là xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện phápcưỡngchếnghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt nhưng vẫn cần áp dụng TNHS. Trong khi đó, đối với biện pháp miễn chấp hành hình phạt, cơ sở của việc áp dụng là xét thấy cần thiết phải áp dụng nhưng khôngcầnthiết phải thi hành biện phápcưỡngchế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt đã tuyên khi có những điều kiện do luật định.

Ngoài ra, nếu miễn hình phạt chỉ do cơ quan duy nhất là Tòa án áp dụng trong quá trình xét xử, thì miễn chấp hành hình phạt ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án áp

37

dụng trên cơ sở đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát hoặc cơ quan thi hành án hình sự ở giai đoạn thi hành án, sau khi xét xử; miễn chấp hành hình phạt còn thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước trong trường hợp đặc xá (khoản 1 Điều 62 BLHS; khoản 3Điều 88 Hiến pháp năm 2013) và thuộc thẩm quyền của Quốc hội trong trường hợp đại xá (khoản 1 Điều 62 BLHS; khoản 11 Điều 70 Hiến pháp năm 2013). Điều kiện áp dụng miễn hình phạt khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS và thỏa mãn các điều kiện khác. Trong khi đó, điều kiện áp dụng miễn chấp hành hình phạt căn cứ vào thái độ của người bị kết án, hoặc tình trạng bệnh tật và khả năng nguy hiểm của họ đối với xã hội. BLHS quy định, miễn hình phạtđược áp dụng đối với cảngười, pháp nhân thương mại phạm tội, trong khiđó,miễn chấp hành hình phạtchỉáp dụngđốivới ngườiphạm tội.Đặcbiệt,vềhậuquảpháp lý, khi áp dụng miễn hình phạt thìchủthể bị áp dụng không bị coi là có án tích, còn đối với miễn chấp hành hình phạt thì người phạm tội vẫn phải chịu án tích trên cơ sở chung.

Chính vì vậy,vớitêngọicủa Luận án là“Miễn, giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam”, thì trong phạm vi nghiên cứu về miễn hình phạt không bao gồm các trường hợp miễn chấp hành hình phạt.

Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu về hình phạt, mục đích của hình phạt, bản chất pháp lý và các đặc điểmcủa miễn hình phạt, có tham khảo các quan điểmvềkhái niệm miễn hình phạt, NCS. đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như sau: Miễn hình phạt là một hình thức của TNHS, phản ánh chính sách phân hóa TNHS, tư tưởng nhân đạo, nguyêntắccông bằng trong pháp luật hìnhsựvớinộidung không buộc người, pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu hình phạtvềtộiphạm màhọđãthực hiện khiđáp ứng đủ các điều kiện luật định, do Tòa án quyết định trong quá trình xét xử, tại bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật.

2.1.3. Khái niệm và đặc điểm của giảm hình phạt

Khácvớimiễn hình phạt, hiện nay trong khoa họcluật hìnhsựchưa có nhiều công trình (rất ít qua khảo sátcủaNCS.)đềcậptrực tiếpđếnkhái niệm“giảm hình phạt”vớiýnghĩa là hoạtđộngáp dụng pháp luật trong xétxửcủaTòa án (cùng với hoạtđộngkhác như: miễn TNHS, miễn hình phạt, quyết định cho hưởng án treo) mà các nghiên cứu chỉ đề cập đến với ý nghĩa là trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật khi Tòa án cân nhắc, xem xét khi có tình tiết giảm nhẹ TNHS.

38

“Giảm” theo Từ điển tiếng Việt là làm cho trở nên ít đi về số lượng và mức độ

[51, tr.389]. Như vậy, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự phải được hiểu là việc làm cho hình phạt đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội được nhẹ đi về mức độ cưỡng chế, mức độ trừng trị khi có tình tiết giảm nhẹ TNHS và khi có nhiều tình tiết giảmnhẹTNHS, kết hợp với điều kiện khác, chủthểcó thểtừgiảm hình phạt chuyển sang được miễn hình phạt.

Với ý nghĩa đó, xem xét trên phương diện lập pháp thấy rằng BLHS Việt Nam 2015 có quy định về các trường hợp được giảm nhẹ như sau: 1) Giảm hình phạt chung khi có 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS (giảm trong khung hình phạt); 2) Giảm hình phạt đặc biệt khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS; 3) Giảm hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; 4) Giảm hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và; 5) Giảm hình phạt dưới dạng chuyển khung hình phạt đối với tội phản bội Tổquốc [66].

Tuy nhiên, trên phương diện lý luận, với tính chất là một hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án mà ở đó Thẩm phán được trao quyền đánh giá, cân nhắc, quyết địnhhình phạt trong khi xétxửthì khái niệm giảm hình phạtchỉbao gồm việc giảm hình phạt khi có tình tiết giảm nhẹ, đó là: 1) Giảm hình phạt chung khi có 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS (giảm trong khung hình phạt) (Điều 51 BLHS) và; 2) Giảm hình phạt đặcbiệt khi có nhiều tình tiết giảmnhẹTNHS(Điều54 BLHS), không baogồmcác trườnghợpnhư: Giảm hình phạt trong trườnghợpchuẩnbịphạm tội, phạmtộichưa đạt;giảm hình phạtđốivớingườidưới18 tuổi phạm tội; và giảm hình phạt trong khung hình phạt đối với tội phản bội Tổ quốc, vì các trường hợp này là giảm hình phạt từ góc độlập pháp, được các nhà làm luật cố định tại khung (khoản), đồng thời, về bản chất đây là các quy định về trách nhiệm pháp lý hình sự mang tính đặc thù. Cụ thể, nếu ngườiphạmtộilàngườidưới18 tuổi thìhọđươngnhiên khôngbịxửphạt tù chung thân hay tử hình. Nếu người phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt thì họ đương nhiên chỉ phải chịu hình phạt tù không quá 20 năm nếu điều luật được áp dụng có quyđịnhhình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tửhình;nếulà tù có thờihạnthì mức hình phạt không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định. Nếu người phạm tội thuộc trườnghợpchuẩnbịphạmtộithìchỉphải chịu hình phạt trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể (gồm 25 tội danh có quy định hình phạt đốivới hành vi chuẩnbịphạm tội tạiPhần chung và cụthểhóa trong Phần các tội

39

phạm BLHS,đâylàđiểmkháccủaBLHS năm 2015 sovớiBLHS năm 1999 trước đây). Còn nếu người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội được quy định trong BLHS hoặc phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, mà là người dưới 18 tuổi thì lại tiếp tục được giảm nhẹ theo quy định tại Điều 102 hoặc giảm hình phạt cố định tại khoản 2 Điều 108 BLHS năm 2015. Những trường hợp này được xem nhẹ hơn quy định – bởi nó là chính sách hình sự của Nhà nước đối với những trường hợp đặc biệt, là quy định mang tính “cố định”,“bắt buộc”, là đường lối xử lýchung, đồng thời TNHS được áp dụng riêng đối với các trường hợp do cơ chế giảm nhẹ TNHS đặc thù, cũng như không bắt buộc phải có tình tiết giảm nhẹ TNHS, không phải là do người phạm tội có tình tiết giảm nhẹ TNHS mà được giảm nhẹ hình phạt, cũng không phải là hoạt động giảm nhẹhình phạt của Tòa án trong quá trình xét xử khi có tình tiết giảm nhẹ. Do đó, phạm vi nghiêncứucủa Luận án không nghiêncứuhình phạtđượcquyđịnh giảm trong các trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; giảm hìnhphạt đối với người dưới 18 tuổi phạmtộivà giảm hình phạt đốivớitộiphảnbộiTổquốc màchỉđềcập khi nghiên cứu, đánh giá nội dung tương ứng.

Vì vậy, khái niệm“giảm hình phạt” đượcnghiên cứu trong Luận ánnày được NCS.tiếp cận dưới góc độ là hoạt độngquyết định hình phạt của Tòa án trong xét xửvà điều quan trọng là chủ thể phải có tình tiết giảm nhẹ TNHS, được hiểu như sau:

Một là, giảm hình phạt chung, trong phạm vi khung hình phạt khi có tình tiết giảm nhẹ TNHS (giảm trong khung hình phạt);

Hai là, giảm hình phạt dưới mức thấp nhất của khung (nói cách khác là áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt quy định trong khung hình phạt được Luật quy định),thểhiệndướicác dạng: 1) Giảm hình phạtdướimứcthấp nhấtcủakhung hình phạt màđiều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; 2) Giảm hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và không buộc phải trong khung hình phạt liền kề hoặc; 3) Giảm hình phạt bằng việc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Tương tự như miễn hình phạt, trước khi đưa ra định nghĩa khoa học về giảm hình phạt, NCS. cho rằng cần phải nghiên cứu và chỉra các đặc điểm cơbảncủa “giảm hình phạt”đồng thời nghiên cứu và phân biệt giảm hình phạt với một số khái niệm khác có liên quan, từ đó làm sáng tỏ bản chất pháp lý của giảm hình phạt. Theo NCS. thì giảm hình phạt có các đặc điểm cơ bản như sau:

40

Một là, giảm hình phạt cũng làmộthình thức của TNHS, là một cách phản ứng của Nhà nước đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội.

Hai là, giảm hình phạt phản ánh chính sách hìnhsự -“nghiêmtrịkếthợpvới khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo”, đồng thờithể hiện nội dung các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam như: phân hóa TNHS, nhân đạo, côngbằng đối với tội phạmvà người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội.

Ba là, giảm hình phạt là hoạtđộng quyếtđịnhhình phạtcủaTòa án,đượcáp dụng trong quá trình xét xử, khác với giảm thời hạn chấp hành hình phạt diễn ra sau xét xử (hay còn gọi là giảm mức hình phạt đã tuyên).

Bốn là, điều kiện để giảmhình phạt là người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội phải có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS chung do luật định;

Năm là, giảm hình phạt có cácmứcđộgiảmnhẹkhác nhauvớicáchậuquảkhác nhau do Tòa án quyếtđịnh,cân nhắc áp dụngmứccụthểnhư: giảm hình phạt trong phạm vi khung hình phạt khi có tình tiết giảmnhẹTNHS chung do BLHS quyđịnh;giảm hình phạtdướimức thấp nhất của khung hình phạt với các mức độkhác nhau hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Như vậy, khái niệm giảm hình phạt được đề cập trong Luận án không bao gồm nội dung của khái niệm“giảmthời hạn chấp hành hình phạt”nhưng cũngcầnphân biệt, làm rõ.Mặcdù “giảmthời hạnchấp hành hìnhphạt”có tính chất tươngtựnhưgiảm hình phạtở chỗđều làgiảm mức độhình phạt áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội, đều thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với các chủthểphạm tội. Tuy nhiên, giảm thời hạnchấp hành hình phạt không thuộc hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án trong quá trình xét xử (giảm khi có tình tiết giảm nhẹ), mà nó là hoạtđộng giảmviệc“chấp hành” sau xét xử, trong giai đoạn thi hành án khi đáp ứngcácđiều kiệndo luậtđịnh. Nếugiảm hình phạt là hoạtđộng ápdụng pháp luật trong xét xử của Tòa án và áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội với điềukiện tiên quyết là có 01 hoặc nhiều tình tiết giảmnhẹTNHS, thì giảm thời hạn chấp hành hình phạt lại là hoạt động diễn ra trong quá trình thi hành án, cụ thể là sau xét xửcủaTòa án và thể hiện nội dung Tòa án rút ngắn thờihạncủaviệc chấp hành hình phạt còn lại của loại hình phạt có thời hạn hoặc miễn tiếp tục chấp hành phần còn lại của loại hình phạt khác đối với người bị kết án khi có thành tích, tiến bộ trong việc lao động, cải tạo,đãbồithường đượcmột phần nghĩa vụ dânsự vàcóđề nghị của cơ

41

quan, tổ chức, chính quyền địa phương, cơ quan thi hành hình phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác thì được giảm thời hạn chấp hành hình phạt đặc biệt.

Như vậy, giảm hình phạt là hoạt động được Tòa án xem xét mộtcách thường xuyên khi xét xử đốivới ngườiphạmtội(hiện nay, baogồmcảpháp nhân thương mại phạm tội). Khihọcó các tình tiết giảm nhẹ theo luật định thì trước tiên phải xem xétđến các biện pháp miễn, giảm TNHS và hình phạt; xem xét có nên buộc họ phải chịu hình phạt hoặc nếu phải chịu hình phạt thì có thể giảm nhẹ hình phạt cho họ được hay không. “Giảm hình phạt” trong hoạt động xét xử của Tòa án thuộc về hoạt động quyết địnhhình phạt với các trườnghợpđãnêu nhằmđạtđượcmụcđích của hình phạt. Trong khi đó, giảm thờihạnchấp hành hình phạt không phụ thuộc vào loại tội, mà phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác như: thời gianngười bị kếtánđãchấp hành hình phạt, thái độ, ý thức của người bị kết án; tình trạng bệnh tật hay nhân thâncủa người bị kết án… và nhằm mục đích đưa người bị kết ánsớmtái hòa nhập cộng đồng. Đặcbiệt, giảm hìnhphạt được ápdụng đối với cả người, pháp nhân thương mại bị kết án, trong khi đó, giảm thời hạn chấp hành hình phạt chỉ áp dụng đối vớingười bị kếtán.

Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu nội dung, bản chất, các đặc điểm của giảm hình phạt, khái niệm giảm hình phạt được định nghĩa như sau: Giảm hình phạt là một hình thức của TNHS, phản ánh chính sách phân hóa TNHS, tư tưởng nhân đạo, nguyên tắc công bằng trong pháp luật hìnhsựvớinội dung giảm nhẹhình phạtđốivớingười, pháp nhân thươngmạiphạmtộikhi có tình tiết giảmnhẹTNHS và cóđủnhững điều kiện luật định, do Tòa án quyết định trong quá trình xét xử, tại bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật.

2.1.4. Khái niệm và đặc điểm của miễn, giảm hình phạt

Tổng quan tình hình nghiêncứutrong khoahọcluật hìnhsự(đượcnêu tại Chương I của Luận án) cho thấy đến nay các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đếnkhái niệm miễn hình phạtgắnliềnvớiBLHS năm 1999,chỉcómộtvài công trìnhđềcậpgắnvớinộidungcủaBLHS năm 2015vớiđịnhnghĩa riêngvềmiễn hình phạtđối vớingườiphạm tộivà miễn hình phạt với pháp nhân thương mại phạm tội [33, tr.272, tr.380].

Tươngtự,cũng chưa thấy tácgiảnàođềcậptrực tiếpđếnkhái niệm “giảm hình phạt” với ý nghĩa là hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử của Tòa án (đãnêu) mà chỉ đề cập với ý nghĩa là trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định

42

của Bộ luật hoặc khi nêu khái niệm tình tiết giảm nhẹ TNHS “có nghĩa là giảm nhẹhình phạt trong khung hình phạt đã quy định” [72, tr.283]. Ngoài ra, cũng có thể được xem là giảm nhẹmứchình phạt trong phạm vimộtkhung hình phạt nhấtđịnh (lượng hình)” [2, tr.340], hay chỉ tập trung đến “giảm mức hình phạt đã tuyên” với tư cách là quyếtđịnhcủaTòa án sau xétxửkhiđápứngcácđiều kiện nhất định, diễn ra trong quá trình chấp hành án, phụ thuộc vào thời gian đã chấp hành, vào thái độ lao động, cải tạo [33, tr.35]; v.v…

Khái niệm miễn, giảm hình phạt thì hoàn toàn chưa được đề cập trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào. Tuy nhiên, việc xây dựngđịnhnghĩa khoahọcvềkhái niệm “miễn, giảm hình phạt”cũngrấtquan trọng, giúp các nhà khoa học, nhà lập pháp, nhà thực tiễn pháp lý có đượccái nhìn sâu sắc, toàn diện,từđócó cơsởlý luậnđểđịnhhướngvềmặtlậppháp và áp dụng đúng quyđịnhnày trên thực tiễn. Trên cơsởnghiên cứu, khái niệm, cácđặc điểm cơ bản, nộihàm của khái niệm “miễn hình phạt” và khái niệm “giảm hình phạt” đã nêu tại tiểu mục 2.1.2 và 2.1.3, NCS. rút ra một số đặc điểm cơ bản của “miễn, giảm hình phạt” như sau:

Một là, miễn, giảm hình phạt là hình thức của TNHS và là sự phản ứng mang tính chất nhân văn từ phía Nhà nước đối với người, pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội. Hiện nay, hệ thống biện pháp của TNHS có những hình thức thể hiện vốn có được khoa học luật hình sự thống nhất quan niệm là hình thức của TNHS (cũng cóthể gọi là hình thức thực hiện TNHS nhưng nội hàm không thay đổi), bảo đảm thực hiện chính sách hình sự và hiệu quả của TNHS nói riêng và của pháp luật hình sự nói chung. Các biện pháp TNHS còn được xem như hình thức phân hóa TNHS, phản ánh tư tưởng khoan hồng, nhân đạo, đồng thời quyết định trong một số trường hợp cụ thểdo luật định khi ngườiphạm tội có nhiều tình tiết khác nhau… [150, p.133-155]. Ởđây, “ngoài hình phạt được coi là hình thức quan trọng,chủyếuvà phổbiến nhất, TNHS cònđược thểhiện dưới các hình thức khác nhau như các biện pháp tư pháp, miễn TNHS, miễn hình phạt, án treo, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích… Sự phong phú và đa dạng của hình thức TNHS cho phép thực hiện có hiệu quả TNHS trên thực tế” [133, tr.317].

Bên cạnh đó, khi người, pháp nhân thương mại phạm tội đã bị truy cứu TNHS nhưng không bịáp dụng biện pháp cưỡng chếnghiêm khắc nhất của Nhànước làhình phạt hoặc được giảm hình phạt khi có 01 hoặc nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS.

43

Tuy nhiên, chủ thể cũng đã bị Nhà nước lên án về hành vi phạm tội của mình dođãcó hành vi xâm phạm đến lợi ích chung của Nhà nước, của công dân. Bởi lẽ, “nhằm phát triển hài hòa các quan hệxã hội, Nhà nước đềra những yêu cầu mà việc thực hiện chúng là điều kiện khôngthể thiếu để bảo đảmvà bảo vệ trật tự xã hội, trật tựpháp luật và pháp chế của đất nước. Đối với hành vi vi phạm yêu cầu có tính bắt buộc đó, Nhà nước có sự phản ứng tương thích nhằm bảo đảm cho các quy phạm pháp luật được thực hiện và sự vi phạm pháp luật trong tương lai được ngăn chặn” [71, tr.43].

Hai là, miễn, giảm hình phạt phản ánh nội dung “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo” trong chính sách hình sự vàcác nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hình sự Việt Nam như: phân hóa, nhân đạo, công bằng… Ở đây, chính sách hìnhsự vànguyên tắc phân hóa trong pháp luật hìnhsự thểhiện ởviệc truycứuTNHS, áp dụng hình phạtvớiviệc miễn hình phạt màvẫnbảo đảmyêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và giáo dục, cải tạo người, pháp nhân thương mại phạm tội; giữa việc phải chịu hình phạt hoặcmứchình phạtnhẹnhưng ở mức độcầnvà đủđể bảo đảm yêu cầu phòng ngừa tội phạm.

Trong khi đó, nguyêntắcnhân đạo thểhiện ởviệc khi áp dụng biện pháp miễn, giảm hình phạt, thay mặt Nhà nước, Tòa án mong muốn lấy việc cải tạo, giáo dục người, pháp nhân thương mại là chủ yếu, bảo đảm tính thiện trong xử lý tội phạm và việc xử lý, truy cứu TNHS, áp dụng hình phạt hoặc áp dụng hình phạt nặng không phải là biện pháp duy nhất.

Nguyên tắc công bằng thể hiện ở việc nếu một người hay pháp nhân thương mại phạm một tội cũng giống như những người, pháp nhân thương mại phạm tội khác nhưng họ có nhiều tình tiết giảm nhẹ, họ thể hiện khả năng tự phục thiện, tự cải tạo và sau khi phạm tội đã có thái độ và hành động tốt thì họ phải được giảm nhẹ và được khoan hồng hơn. Bởi lẽ, công bằng trong pháp luật cũng chính là việc áp dụng một hình phạt tương xứng và khoan hồng hơn đối với những người, pháp nhân thương mại đã có cố gắng làm những điều tốt đẹp thể hiện sự ăn năn, hối cải sau khi phạm tội.

Ba là, miễn, giảm hình phạt thể hiện các mức độ khoan hồng của pháp luật hình sự (do Nhà nước điều chỉnh) đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội. Như đã đề cập,trong pháp luật hình sự, ngoài hình thức của TNHS nghiêm khắc nhất là hình phạt, thì còn có nhiều hình thức TNHS khác theo hướnggiảm nhẹ, khoan hồng của chính sách hìnhsựđượccụthểhóa trong pháp luật hìnhsựnhư chongườiphạm tội

44

hưởng hình phạt không tước tự do (ví dụ như cảnh cáo); biện pháp tha miễn TNHS và hình phạt (ví dụ như án treo, miễn TNHS, miễn chấp hành hình phạt…), mà trong đó, biện pháp miễn, giảm hình phạt phản ánh mức độ khoan hồng có tính linh hoạt khi áp dụng đối với từngđối tượng và trườnghợpcụ thể. Miễn hình phạt và giảm hình phạt cùngbảnchất thể hiện nộidung giảmnhẹTNHSvớicácmứcđộkhác nhau khi có cùng điều kiện áp dụng là có tình tiết giảm nhẹ TNHS.

Trước hết, cảnh cáo là hình phạt chính nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt, có mức độ khoan hồng để Tòa án lựa chọn với miễn hình phạt. Khi chủ thể phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì Tòa án có thể buộcchủ thểbị kết án phải chịu hình phạt nhẹ nhất (là cảnh cáo) hoặc là không buộc họ phải chịu bấtkỳhình phạt nào (áp dụng quyđịnh miễn hình phạt). Hoặc miễn hình phạt cũng là lựa chọn để áp dụngvới miễn TNHS khi người phạm tội có tình tiết giảm nhẹ TNHS và

đáng được khoan hồng… và nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, Tòa án lại lựa chọn giữa việc miễn hình phạt hay giảm hình phạt đặc biệt cho người bị kết án để họ có thểđược khoan hồng, giảm hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn, giảm hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và không buộc phải trong khung hình phạt liền kề; hoặc giảm hình phạt bằng việc chuyển sangmộthình phạt khác thuộc loạinhẹhơn. Như vậy, giữa những biện pháp nàyđượcTòa án vậndụng linh hoạt theo từng nhóm với nhau tùy theo từng trường hợp cụ thể và ranh giới giữa các nhóm này đôi khi trên thực tiễn áp dụng làkhó xác định đòi hỏi Tòa án phải đánh giá toàn diện, đầy đủ và dựa trên các điều kiện do luật định. Cụ thể, Tòa án có thể áp dụng linh hoạt – giữa hình phạt cảnh cáo vàmiễn hình phạt; miễn hình phạt với miễn TNHS; miễn hình phạt với giảm hình phạtđặc biệt khi căn cứ vào nhân thân và hành vi phạm tội với các điều kiện do luật định… vì mức độ khoan hồng còn thể hiện ở hậu quả pháp lý khi bị áp dụng. Theo đó, đối với người bị áp dụng hình phạt cảnh cáo phải chịu án tích và mang án tích trong thời hạn nhất định (ví dụ 01 năm). Còn người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích, người được giảm hình phạt vẫn phải chịu án tích căn cứ vào loại tội và hình phạt mà người đó bị kết án. Người được miễn TNHS không phải chịu bất kỳ hậu quả pháp lý nào, không bị coi là có án tích…

Bốn là, miễn, giảm hình phạt thuộc về hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án trong quá trình xét xử. Trong quá trình xét xử, Tòa án thực hiện nhiều hoạt động

45

tố tụng như quyết định tội danh, quyết định hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng… trong đómiễn, giảm hình phạt thuộc vềhoạt động quyết định hình phạt. Trong hoạt động này, có nhiều nội dung như quyết định loại hình phạt, khung hình phạt…, quyết định miễn, giảm hình phạt là một trong những nội dung của hoạt động quyết định hình phạt và đó là hoạt động thuộc về quyền chủ động đánh giá, quyết định củaTòa án trong quyếtđịnhhình phạt khi người, pháp nhân thương mạicó tình tiết giảmnhẹTNHS. Quyết định miễn, giảm hình phạt khi có tình tiết giảmnhẹTNHS khác với việc giảm nhẹ hình phạt nhưng mang tính cố định, bắt buộc về mặt lập pháp đối với một sốđối tượng chủthểđặc biệt như người dưới 18 tuổi, người phạm tội phản bội Tổ quốc, người phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt hay chuẩn bịphạm tội.

Năm là, về thẩm quyền và thời điểm áp dụng thì miễn, giảm hình phạt chỉ do duy nhất một cơ quan là Tòa án áp dụng trong giaiđoạnxét xửvà được tuyên tại Bản án có hiệu lực pháp luật. Hiện nay, việc áp dụng miễn hình phạt, giảm hình phạt chỉ do duy nhất một cơ quan áp dụng và là thẩm quyền đặc biệt của Tòa án thực hiện trong giai đoạn xét xử. Việc áp dụng miễn, giảm hình phạt được thể hiện tại bản án, điều này khác với miễn chấp hành hình phạt và giảm thời hạn chấp hành hình phạt là việc miễn, giảm sau xét xử, khiđã có bản án và đượcthực hiện trong giaiđoạnthi hành án, nên không được tuyên trong bản án. Theo đó,do thỏa mãn các điều kiện nhất định nên một người, pháp nhân thương mại không bị Tòa án quyết định bất kỳhình phạt nào trong bản án kết tội, có nghĩa miễn hình phạt cho người, pháp nhân thương mại đó. Nội dung trong bản án đó là tuyên không áp dụng (quyết định) hình phạt đối với người, pháp nhân thương mại bị kết án.

Sáu là,đốitượngbịáp dụng biện pháp miễn, giảm hình phạt làngườihoặc pháp nhân thương mại phạm tội với tư cách tố tụng tại thời điểm được miễn, giảm là bị cáo khi bị Tòa án đưa ra xét xử. Riêng đối với pháp nhân thương mại phạm tội thìchỉ có giảm hình phạt chung, không có giảm hình phạt trong trường hợp đặc biệt.

Bẩylà, vềhậu quảpháp lý hình sự.Đối vớingười phạm tội được miễn hình phạt không bị coi là có án tích, còn pháp nhân thương mại phạm tội sau 02 năm kể từngày chấp hành xong bản án, quyết định… thì được đương nhiên xóa án tích. Còn nếu được giảm hình phạt, các chủ thể này vẫn phải chịu án tích trên cơ sở chung. Ngoài ra, tùy từng trường hợp người được miễn hình phạt vẫn có thể bị Tòa án áp dụng một

46

hoặc nhiều biện pháp tư pháp (nếu cần thiết). Trong khi đó, giảm hình phạt chung thì người, pháp nhân thương mại phạm tội vẫn có thể phải bị áp dụng hình phạt bổ sung.

Do đó, với cách tiếp cận đã đề cập trong đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận án và lý giải trong phần về miễn hình phạt, giảm hình phạt thì khái niệm miễn, giảm hình phạt đang nghiêncứuđượcđịnhnghĩa như sau: Miễn, giảm hình phạt làhình thức của TNHS, phản ánh chính sách hình sự và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam, thuộc về hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án, do Tòa ánáp dụng trong quá trình xét xử, nhằm không áp dụng hình phạt hoặc giảm nhẹhình phạt đối với người,pháp nhân thương mại phạm tội, khi có tình tiết giảm nhẹ TNHS và cóđủ những điều kiện luật định.

2.1.5. Cơ sở của việc quy định miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sựViệt Nam

Hình phạt với tư cách là một công cụ thực hiện chính sách hình sự và là biện pháp quan trọng để góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giáo dục, cải tạo người phạm tội (hiện nay, bao gồmcảpháp nhân thương mại phạm tội), duy trì công lý và bảo đảm trật tựxã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào hình phạt khiđược ápdụng là đạt được hiệu quả và thực hiện tốt các nhiệm vụ trên. Trên cơ sở này, các nhà làm luật đã tính đến trường hợp mặc dù việc truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt là rất quan trọng, nhưng không phải và không lúc nào cũng là biện pháp duy nhất để áp dụng, mà cần phải kết hợp, mềm dẻo và linh hoạt các hình thức củaTNHS khác nhau,“mởrộng các biện pháp tác động xã hội khác đểđấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” [74, tr.19], cũng nhưbảo đảm đồngthời chính sách hình sự và các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự (phân hóa, nhân đạo, công bằng, cá thể hóa hình phạt…). Do đó, đáp ứng các đòi hỏi trên, miễn, giảm hình phạt được quy định với tư cách là hình thức của TNHSnhằm giảm nhẹ cường độ, mức độ của TNHS trong những trường hợp cho phép và nâng cao hiệu quả vàđạt được mục đích của hình phạt.

Như vậy, từ khái niệm đã nêu, căn cứ vào quy định BLHS năm 2015 trongsựđối sánh với quyđịnh BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, thực tiễn xét xửvà kinh nghiệm lập pháp hình sự các nước cho thấy, cơ sở của quy định miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự nước ta được thể hiện trên ba phương diện – lý luận, thực tiễn và lập pháp dưới đây.

47

a. Cơ sở lý luận

* Việc quy định miễn, giảm hình phạt là xuất phát từ chính sách hình sự với nội dung phân hóa TNHS và cá thể hóa hình phạt trong pháp luật hìnhsự

Chính sách hìnhsựthểhiệnnộidung phân hóa TNHS nhằm bảođảm cho việc trừng trị, giáo dục, cải tạo được thuận lợi, chính xác. Một mặt, vừa bảo đảm trừng trị, nhưng mặt khác, bảo đảm yêu cầu giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm. Do đó, phân hóa TNHS đòihỏixửlý đúngđắnvà đầyđủcác mối tương quan sau đây:

“Tương quan giữa mức độ nặng – nhẹ của hành vi phạm tội; tương quan giữa yếu tốhành vi phạm tội và yếu tố nhân thân người phạm tội; tương quan giữa các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ TNHS; tương quan về lứa tuổi của người phạm tội; tương quan giữa các yếu tố bắt buộc áp dụng với các yếu tố tùy nghi áp dụng (đối với các cơ quan áp dụng pháp luật); tương quan giữa yêu cầu xử lý TNHS và khả năngđiều tra, phát hiện tội phạm; tương quan giữa trách nhiệm cá nhân người phạm tội với trách nhiệm của xã hội, của Nhà nước” [104, tr.198]. Trên cơ sở đó, chủ thể phạm tội sẽbịphân hóa TNHS và hình phạt theohướngtăng nặng hơn hoặc giảm nhẹhơn. Giới hạn của sự phân hóa TNHS là “ranh giới tối đa và tối thiểu của việc phân hóa TNHS màchỉkhi chúngđượcxácđịnhmộtcáchhợplýmớicóthểtạora những

quy phạm pháp luật hình sự phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc phân hóa TNHS… từ đó có thể cá thể hóa TNHS trong áp dụng pháp luật hình sự” [47, tr.30].

Miễn, giảm hình phạt với tư cách là hình thức của TNHS được Tòa án lựa chọn theo chiềuthứhai – giảm nhẹhơn. Dođó,việc quyđịnh miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự chính là cơ sở để thực hiện chính sách hình sự với yêu cầu phân hóa TNHS. Trong trườnghợpnày,nộidung phân hóathểhiện ởviệc người, pháp nhân thương mại phạm tội phải được giảm nhẹcường độ, mức độáp dụng TNHS và hình phạt khi có các tình tiết giảm nhẹ và những điều kiện khác theo quy định, thông qua biện pháp miễn, giảm hình phạt.

Ngoài ra, miễn, giảm hình phạt được quy định cũng xuất phát từ nguyên tắc cá thể hóa hình phạt. Cá thể hóa hình phạt được xác định là một trong các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự, là đòi hỏi phải được tuân thủ trong khi xây dựng, giải thích và áp dụng pháp luật hình sự để hình phạt, hay bất kỳ hình thức của TNHS nào được Tòa án tuyênđều tạo cơ sở đạt được mục đíchcủa hình phạt và hiệu quả của luật hình sự. Tuy nhiên, để có thể thực hiện tốt nguyêntắccá thể hóa hình phạt trong khi áp dụng luật

48

đòi hỏi phải có sự phân hóa TNHS trong pháp luật hìnhsự đầy đủ. Nóicách khác, các hình thức của TNHS càng được phân hóa rõ ràng, minh bạch bao nhiêu trong luật thìcàng có cơ sở cho việc cá thể hóa hình phạt trong thực tiễn áp dụng. Miễn, giảm hình phạt chính là một trong những hình thức đó nên việc quy định chính lànhằm đạt được các yêu cầu sau: Một là, phải thể hiện được đường lối xử lý khác biệt ở mức tối đa đối với các trường hợp phạm tội khác nhau về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhân thân người phạm tội; hai là, phải tránh tình trạng quá chi tiết đường lối xử lý đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể [47, tr.31]. Trên cơ sở này, các nhà làm luật nước ta đã phân hóa miễn, giảm hình phạt theo các mức độvà thang bậc giảmnhẹnhư: miễn hình phạt, giảm hình phạt chung và giảm hình phạt trong trườnghợp đặc biệt đểphản ánh chính sách hình sự và nguyên tắc phân hóa với mức độ khoan hồng tươngứng đối với đối tượnglà người (và hiện nay cả pháp nhân thương mại) phạm tội, qua đó bảo đảm cá thể hóa hình phạt trong thực tiễn áp dụng.

* Việc quy định miễn, giảm hình phạt nhằm thể hiện tư tưởng nhânđạotrong pháp luật hình sự

Nhân đạo là một xu hướng trong hoạt động lập pháp nói chung, xây dựng pháp luật hình sựnói riêng bao giờcũng tính đến bảo đảmcho thực tiễn áp dụng theo hướng đề cao quyền lợi của công dân, quyền con người, tôn trọng các giá trị, phẩm giá của con người, sự yêu thương, đối xử có tình người, nhân văn và hướng thiện cho con người, dù người đó là người phạm tội. Đâychính là tưtưởngnhân đạo trong pháp luật hình sự, thể hiện chính sách hình sự Việt Nam. Nói cách khác, “trong lĩnh vực xã hội pháp luật, nhân đạo thể hiện ở chỗ con người tồn tại vì pháp luật mà ngược

lại, pháp luật phảitồntạivì conngười” [73, tr.53]. Đến lượt mình, trong pháp luật hình sựđòi hỏi việc quyđịnh các biện pháp cưỡng chế hình sựđểáp dụng đối với người phạm tội không nhằm mục đích trả thù, khủngbố,gây đau đớn, đầy đọa về thểxác hay tinh thần hoặc hạ thấp danh dự, nhân phẩm của họ hoặc bêu riếu, xúc phạm pháp nhân phạm tội.

Do đó, khi áp dụng biện pháp miễn, giảm hình phạt không chỉ động viên, khuyến khích họ lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng tựgiáo dục, cải tạo nhanh chóng và tạo điều kiện để người đó sớm tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội, mà còn cho thấysựnhân đạo của pháp luật trong việc quyđịnh hình phạt không phải nhằmđểtrừng trị mà hướng tớimụcđích cao hơn là vì con

49

người, muốn cải tạo, giáo dục con người. Chính vì vậy, việc áp dụng hình phạt với mức độ TNHS chỉcầnvà đủlà hợp lý, hình thức của TNHS được áp dụng chỉ cần ởmức có khả năng phòng ngừa tội phạm, phòng ngừa tái phạm và tái phạm nguy hiểm. Điều này cũng lý giải tại sao pháp luật hình sự lại cho phép Tòa án với tư cách là “cầm cân nảy mực” có thể lựa chọn các hình thức của TNHS với tư cách là những biện pháp phản ứng của Nhà nước để áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội vàphát huy hiệu quả của pháp luật hình sự trong xử lý tội phạm và các chủ thể này với giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm. Đặc biệt, đây cũng chính là một trong các chế định phản ánh xu hướng “nhân đạo hóa” trong chính sách hình sự Việt Nam [131, tr.417].

* Việc quy định miễn, giảm hình phạt để thực thi nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự

Trong pháp luật hình sự, cùng với các nguyên tắc khác, thì nguyên tắc công bằng cũng chi phối và là cơsởcủa việc quyđịnh miễn, giảm hình phạt. Pháp luật hình sự đòi hỏi bảo đảm nguyên tắc công bằng trong quy định tội phạm và hình phạt, trong việc địnhtội danh và quyết định hình phạt. Công bằng không có nghĩa là cào bằng, vì vậy hình phạt, các hình thức của TNHS và các quy định hình sự khác áp dụngđối với người phạm tội cần bảo đảm sự phù hợp với tính chất, mức độ nghiêm trọng củatộiphạmđượcthực hiện,độngcơ vàmụcđích phạm tội,mứcđộlỗicũng nhưtính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân người phạm tội… Trong pháp luật hìnhsựluôn có các quy phạm mang tính chấtlựachọn nhằm giúp Tòa ánchủđộngtrong việc xác định, áp dụng một cách hợp lý, hợp tình, phát huy hiệu quả mụcđích của hình phạt…

Cụ thể hóa điều này, Nhà nước ban hành pháp luật hình sự không chỉ xác định những điều cấmđểngăn ngừa, trừng phạt người, pháp nhân thương mại phạm tội, quyđịnhchếtàivềhìnhsự(thể hiện phản ứngcủaNhànước)đốivớinhững người, pháp nhân thương mại phạm tội, màcầnquyđịnhđa dạng, phong phú các hình thức của TNHS khác nhau để đáp ứng đòi hỏi của nguyên tắc công bằng. Miễn, giảm hình phạt đượcquyđịnh chính là bảo đảm nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt, bảo đảm công bằng đối với những người có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn, có thái độ và hành động tích cực sau khi phạm tội, thể hiện sự ăn năn, hối cải và khả năng tựcải tạo, phục thiện phải được hưởng sự khoan hồng và chịu mức hình phạt nhẹ hơn.

50

Quyết định hình phạt theo nghĩa rộng không chỉ là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt, mà còn cả bảo đảm việc miễn, giảm hình phạt có căn cứ, hợp lý và hợp tình, cũng như bảo đảm hiệu quả của hình phạt. Hơn nữa, cần tính đến bảo đảm mối quan hệ giữa một bên là chế độ Nhà nước, an ninh, an toàn lợi ích quốc gia; trật tự, kỷ cương và pháp chế; tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của cơ quan, tổ chức với một bên là chủ thể đã xâm hại đến một hay nhiều lợi ích đó. Trong đó, có cả quyền, lợi ích của người phạm tội, ở đây làquyền được xét xửcông bằng1, quyền đượchưởng mức hình phạt nhẹhơn, quyền được áp dụng biện pháp miễn, giảm hình phạt…

* Việc quy định miễn, giảm hình phạt nhằm bảođảm thựchiệntốtcác mục đích và tính hiệu quả của hình phạt

PGS.TS. Trần Văn Độ nhận định: “hình phạt không có hiệu quả nếu không đạt được mục đích đặt ra nhưng hiệu quả hình phạt cũng không cao khi mặc dù mục đíchđặt ra đã được thực hiện nhưng hiệu quả tiêu cực lại trở thành yếu tố quan trọng hơn so với mục đích đạt được” [22, tr.92-93].

Từ điển tiếng Việt địnhnghĩa, mục đích là“dự kiến trong ý thức conngười về

kết quả nhằm đạt được bằng hoạt động của mình… Với tính cách là động cơ trực tiếp, mụcđíchhướng dẫnvà điều chỉnh mọi hành động” [112, tr.648]. Mục đích của hình phạt là kết quả mà Nhà nước đặt ra và mong muốn đạt được khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội bị kết án (hiện nay, bao gồm cả pháp nhân thương mại bị kết án). Như đã phân tích ở phần trên, hình phạt vừa có mục đích trừng trị vừa có mục đích giáo dục. Ở đây, “trừngtrị” và “giáo dục” là hai mặt có liên quan mật thiết đến nhau, Tòa án có trách nhiệm không được đề cao hay coi nhẹ mặt nào. Nếu coi nhẹ mục đích giáo dục sẽ dẫn đến quyết định hình phạt và áp dụng hình phạt quá nặng, người phạm tội sẽ có tâm lý cho rằng hình phạt đã tuyên không thỏa đáng với họ. Hình phạt trong trường hợp nàysẽchỉlàm cho người bịkết án thù ghét, căm giận pháp luật và Tòa án, nảy sinh tâm lý chống đối, từ đó sẽ không cố gắng tích cực lao động, cải tạo đểtrở thành công dân có ích cho xã hội. Ngược lại, nếu quá coi nhẹ mục đích trừng trị sẽdẫn tới việc quyết định hình phạt một cách quá nhẹ, áp dụng miễn, giảm hình phạt không đúng, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

1Ví dụ, “Quyền được xét xử công bằng” được ghi nhận Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), mà Việt Nam đã gia nhập từ năm 1982. Trong Công ước này, quyền được xét xử công bằng được

ghi nhận một cách trang trọng tại Điều 14 và một số điều luật khác…

51

vi phạm tội, thì hậu quả là bản thân người được áp dụng sẽ coi thường pháp luật, còn quần chúng nhân dânsẽthiếu tintưởngvào pháp luậtcủaNhà nước.Dođó,khi quyết định hình phạt phải bảo đảm đạt được cảhai mục đích này.

Trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy nếu chỉquyết địnhhình phạt theo quyđịnhchung mà không xem xét đến các tình tiết giảm nhẹcủa người, pháp nhân thương mại phạm tội thì sẽ dẫn đến tình trạng áp dụng hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và không kích thích được tính thiện, ýthức mong muốn làm điều tốt sau khi đã phạm tội, khiến người phạm tội không tâm phục, khẩu phục, nên không thể đạt được các mục đích của hình phạt. Vì vậy, miễn giảm hình phạt chính là biện pháp để Tòa án có thể ra một quyết định hình phạt phù hợp, tương xứng, đủsức răn đe nhưng cũng mang lại hiệu quảgiáo dục. Điều này cũng cho thấy miễn, giảm có ý nghĩa quan trọng, là cơsở để đạt được mục đích của hình phạt trên thực tế.

b. Cơ sở thực tiễn

* Xuất phát từ thực tiễn đa dạng, phức tạp và phong phú của hành vi phạm tội Trong thực tiễn, hình thức của hành vi phạm tội diễn ra rất đa dạng, phức tạp

và phong phú. Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì baogiờcũng có sựtham gia của nhận thức, cảm xúc, ý chí và nhu cầu của người phạm tội, có các yếu tốtácđộng,ảnhhưởngđến hành vi hoặc đặcđiểm nhân thân, khảnăng cải tạo, giáo dục… chi phối. Chính vì vậy, không phải lúc nào hình phạt được áp dụng đối với chủthể thực hiện hành vi phạm tội trong tất cả các trường hợp cũng đem lại lợi ích xã hội thiết thực, hiệu quả đối với việc giáo dục, cải tạo họ; hoặc khi áp dụng mức độ TNHS và hình phạt nặng là có tác dụng phòng ngừa tội phạm đạt hiệu quả cao. Điều này cónghĩa, trongmột số trường hợp cần phải giảm mức độ “trừngtrị”, liều lượng “trấn áp” và không cần sử dụng đến biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất.

Các nhà lập pháp cũng không thểdựliệu được hết tất cảcác hành vi và tình huống sẽdiễn ra trong thực tiễn, vì vậymà mới quyđịnh hình phạt theo khung, khoản. Hay nói cách khác, việc quy định hình phạt theo khung, khoản không chỉ định một mức hình phạt cụthểmà là cách quyđịnh mang tính chất áng chừng và trao quyền định đoạt, quyết định cho Tòa án. Vì vậy, BLHS cũng cần có cả quy định vềmiễn, giảm hình phạtđểTòa án có thểlựa chọn không áp dụng hoặc áp dụng mức hình phạt hợp lý, phù hợp với hành vi phạm tội diễn ra trên thực tếvà các tình tiết

52

tăng nặng, giảmnhẹTNHS của người, pháp nhân thương mại phạm tội. Quyđịnh miễn, giảm hình phạt cũng là cách để Tòa án vận dụng linh hoạt trong các trường hợp đa dạng trong thực tiễn. Tục ngữ Việt Nam có câu “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại”. Vì vậy, mặc dù họ có những hành vi phạm tội mà theo pháp luật hình sự phải bị trừng trị bởi một hình phạt tương xứng như thế, nhưng nếu họ có một hoặc nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS,đồngthời thể hiện thái độ hối cải của người có thể cải tạo và tự cải tạo và có những đóng góp hữu ích trong việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm… thì có thể giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt.

* Xuất phát từ nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, cũng như giáo dục, cải tạo và tăng tính hướng thiện của người, pháp nhân thương mại phạm tội

Bên cạnh các trường hợp cần xử lý nghiêm minh, bảo đảm nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, thì việc quy định miễn, giảm hình phạt xuất phát từ việc cần phát huy tính thiện của người, pháp nhân thương mại bịkết án, giúp họnhanh chóng tái hòa nhập xã hội. Nói cách khác, đúng như một nhà khoa học đã viết: “không cách ly người phạm tội với xã hội, kích thích và tạo điều kiện để họ thích nghi nhanh chóngvớitrậttựpháp luật, kích thích việctựgiáo dục,tựcảitạođểphục thiện của

ngườiphạmtội…”[128, tr.463]. Còn đốivớipháp nhân thương mại việc quyđịnh miễn, giảm hình phạt có tác dụng bảo đảmchủthểnàysẽchấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và tự nguyện bồi thiệt hại hoặc khắc phục toàn bộ hậu quả đã xảy ra.

c. Cơ sở lập pháp

* Việc quy định miễn, giảm hình phạt bảo đảm cho việc quyết định của Tòa án có hiệu lực trong thực tiễn

Quyết định hình phạt là một nội dung quan trọng, một giai đoạn (bước) trong hoạt động xét xửcủa Tòa án. Căn cứquyết định hình phạt đóng vai trò quan trọng nhất chính là căn cứ vào các quy định của BLHS, thể hiện nội dung pháp chế xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi phải tuân thủ khi quyết định hình phạt.

Chính vì vậy, lập pháp là để làm cơ sở cho các quyết định của Tòa án có hiệu lực bảo đảm tuân thủ pháp chế, thực thi nguyên tắc công bằng và cá thể hóa trong thực tiễn áp dụng. Dođó,ngoài hai cơsởlý luận và thực tiễnđãnêu, cơ sởlậppháp của việc quyđịnhmiễn, giảm hình phạtđòihỏinguyêntắcáp dụng biện pháp TNHS và biện phápcưỡngchếhìnhsựphảiđượctương xứngvớitính chất vàmứcđộnghiêm trọng của tội phạm, cũng như nhân thân người phạm tội. Tội phạm có tính chất, mức độ

53

nghiêm trọng đến đâu thì có mức trách nhiệm đến đó với các mức độ đo lường, thang bậc TNHS và hình phạt khác nhau. Yêu cầu này trong lậppháp đòihỏikhi thiếtkế(quy định) miễn, giảm hình phạt trong BLHS ngoài thực hiện chính sách hình sự với nội dung nguyên tắc phân hóa, nhân đạo của pháp luật hình sự, thì điều kiện, phạm vi, nội dung, mức độ và hậu quả pháp lý khi áp dụng miễn, giảm hình phạt phải được cụthể hóa và phân hóa rõ, chẳng hạn trường hợp nào đương nhiên được miễn hình phạt và trường hợp nào có thể được miễn hình phạt; giảm khi có 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS thì mức giảm trong phạm vimộtkhung hình phạt; khi có nhiều tình tiết giảm nhẹTNHS thì mức giảm trở thànhđặc biệt; điều kiện để được miễn, giảm hìnhphạt phải cụ thể, rõ ràng thuận lợi cho thực tiễn áp dụng; mức độ của tình tiết giảm nhẹ TNHS do luật định phải có giá trị cao hơn tình tiết giảm nhẹ khác hoặc tình tiết giảm nhẹ do Tòa án tựcân nhắc, xem xét và quyết định khi ghi rõ lý do áp dụng trong bản án; v.v… Do đó, bằng việc quy định rõ nội dung, điều kiện của từng biện pháp miễn, giảm hình phạt, trường hợp nào thì được áp dụng, trường hợp nào được miễn, giảm hình phạt thì các nhà làm luật Việt Nam cũng đã xác định rõ ràng về mặt lập pháp phạm vi

(thước đo) của từng hình thức của TNHS được áp dụng đối với các chủ thể phạm tội khác nhau, loạitộikhác nhau.Ởđây,mặcdù pháp luật trao quyền cho Tòa án, nhưng để quyết định của Tòa án được thực thi tốt trong thực tế và có hiệu lực, hiệu quả thì việc quy định miễn, giảm hình phạt trong lập pháp hình sự (cụ thể là BLHS) là rất cần thiết.

* Đáp ứng yêu cầu tương thích với các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Cùng với đó, cơ sở lập pháp của việc quy định miễn, giảm hình phạt chính là

đáp ứngyêucầutương thích với các Côngướcquốctếmà Việt Nam tham gia kýkết. Bởilẽ,từsau cuộccảicáchmởcửanăm 1986, Việt Nambướcvàohộinhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới, đã tham gia nhiều Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có lĩnh vực tư pháp hình sự. Bên cạnh những thay đổi tích cực, quá trìnhhộinhập sâu rộng cũngđặtra không ít thách thức,đòihỏipháp luật hìnhsựcũng phải vận động, thayđổi đáp ứng với những yêu cầu của thờiđại, từngbước tương thích với Công ước quốc tếmà Việt Nam là thành viên và phù hợp vớixu hướng phát triển của pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự các nước trên thế giới. Có thể nói, tính bắt đầu từ văn bản quốc tế đầu tiên quan trọng nhất của nhân loại là bản Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 [36, tr. 48-1465], chúng ta có

54

thể nhận thấy rằng, bằng các điều ước quốc tế về quyền con người, đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp hình sự luôn được quan tâm, đề cao với tinh thần nhân đạo, khoan dung, mong muốn con người được hưởng mức độ giảm nhẹ vàcó quyền được hưởngmức độgiảm nhẹ TNHS và hình phạt, quyền được xét xử bởi một Tòa án công bằng, quyền suyđoán vô tội, quyền được tái hòa nhập cộng đồng sớm… Trên cơ sở này, nhiều quốc gia đã cụ thể hóa quy định các biện pháp (hình thức) của TNHS như: miễn hình phạt, giảm nhẹhình phạt, miễntrừhình phạt… quađó,phản ánh chính sách hìnhsựnhân văn, nhân đạovà công bằng do Tòa án áp dụng trong quá trình xét xử. Do đó, việc quyđịnh chếđịnh miễn, giảm hình phạt trong lịch sửvà từng bước hoàn thiện qua các BLHS năm 1985, 1999 và 2015 rõ ràng phản ánh xu thế quốc tế hóa, cũng như yêu cầuđòihỏisựtương thích với các Côngước quốctếmà Việt Nam là thành viên tham gia.

2.1.6. Ý nghĩa của việc miễn, giảm hình phạt

Như vậy, việc miễn, giảm hình phạt trong hoạt động xét xửcủa Tòa án có ýnghĩa quan trọng sau đây:

a. Miễn, giảm hình phạt đúng góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trước hết, pháp chếxã hội chủnghĩađược hiểu là “sựtôn trọng, tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật củacác cơ quan, nhân viên nhà nước, của các tổ chức và mọi công dân” [4, tr.603]. Do đó, để pháp luật được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh trong mọi hoạt động của đời sống xã hội thì phía các chủ thể đòi hỏiphải có ý thức tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành, tuânthủpháp luật. Miễn, giảm hình phạt chính là biện pháp giúp tăng hiệu quả hình phạt, đạt được mục đích giáo dục người phạm tội có ý thức tôn trọng, tự giác chấp hành pháp luật và các quy

tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa để từ bỏ hẳn con đường phạm tội, đó cũng chính là ý nghĩa bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa của miễn, giảm hình phạt.

Ngoài ra, miễn, giảm hình phạt có căn cứ pháp luật sẽ làm các thành viên khác trong xã hội vững tin vào pháp luật, coi pháp luật là chỗ dựa vững chắc cho mọi hànhđộng.Đối vớicác thành viên khác còn thiếu niềm tin vào pháp luật thì thấy tính nghiêm minh của pháp luật mà từ bỏ ý định phạm tội và tự giác chấp hành pháp luật một cách nghiêm minh. Miễn, giảm hình phạt đúng còn làm tăng tính thiện, thúc đẩy ý thức tự cải tạo, giáo dục người, pháp nhân thương mại bị kết án, đồng thời quan trọng

55

hơn là nhận thức được tính nghiêm minh của pháp luật để tự giác chấp hành pháp luật, góp phần bảo đảm pháp chế trong Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Còn ngược lại, việc miễn, giảm hình phạt sai sẽ không thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật, làm cho các quytắccủacuộc sống xãhộichủnghĩa, các quyền vàlợiích hợpcủaconngườibịxâm phạm, cũng như làm giảm hiệuquảcông tácđấutranh phòng ngừa và chống tội phạm, làm giảm hiệu quả công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội và yêu cầu phòng ngừa người, pháp nhân thương mại phạm tội.

b. Miễn, giảm hình phạt đúnglà cơ sở để đạt được cácmục đích của hình phạt Mục đích của hình phạt có đạt được hay không phụ thuộc vào việc miễn, giảm

hình phạt được thực hiện nhưthếnào khi chủthểđáp ứng các điều kiện đểđược miễn, giảm hình phạt. Ở đây, tất cả các trường hợp miễn, giảm hình phạt sai hoặc là áp dụng chưa đầy đủ, chưa công bằngđều sẽ không đạt được mục đích của hìnhphạt trong thực tiễn và còn làm nảy sinh những phản ứng tiêu cực, tâm lý chống đối, không tin tưởng vào tính công minh của pháp luật, của Tòa án từ phía người, pháp nhân bị kết án và dư luận xã hội.

Do đó, để quyết định một hình phạt công minh, áp dụng miễn, giảm hình phạt chính xác, bảo đảm sự tương xứng với tính chất, mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thânngười phạm tội là điều kiện bắt buộc để đạt được các mục đích trừng trị và giáo dục của hình phạt.

c. Miễn, giảm hình phạt đúng sẽ tiết kiệm các chi phí để thực thi các biện pháp cưỡng chế về hình sự

Trong quá trình tổ chức quản lý xã hội, Nhà nước dành một phần chi phí cho hoạt động thi hành án hình sựđểbảo đảmduy trì trật tựxã hội và thực hiện trách nhiệm quản lý trong lĩnh vực thi hành án. Do đó, nếu Tòa án quyết định miễn, giảm hình phạt đúng cho người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm thì rõ ràng, cácchủthể này không phải chịu hình phạt về tội mà họ đã phạm (nếu miễn hình phạt), được giảm hình phạt (nếu giảm hình phạt), từ đó, thời gian, khả năng chấp hành hình phạt và tái hòa nhập xã hội đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội sẽnhanh chóng, tiết kiệm chi phí cho Nhà nước trong việc thực thi các biện pháp cưỡng chế vềhình sự, trong hoạt động giáo dục, cải tạo người, pháp nhân thương mại phạm tội, cũng như chi phí trong quá trình tổ chức thi hành (chấp hành) hình phạt tại các cơ sở

56

giam giữ, quađó thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắcthi hành án hìnhsựtrong Luật thi hành án hình sự.

2.2. Lịchsửpháp luật hìnhsựViệt Namvềmiễn, giảm hình phạttừsau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015

2.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến lần pháp điển hóa thứ nhất – Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985

Với thắng lợi to lớn mang ý nghĩa chính trị- lịch sử, cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đi kèm với sự ra đời Nhà nước Việt Nam kiểu mới đầu tiên đãđánh dấumột mốc quan trọng trong phát triển đất nước, cũng như lịch sửlập pháp nói chung, lịch sử lập pháp hình sự nói riêng ở nước ta. Theođó,nghiên cứu lịch sử

lập pháp Việt Nam cho thấy, trước lần phápđiển hóa thứnhất – BLHS năm 1985, trong các văn bản pháp lý đơn lẻ và thực tiễn xét xử có đề cập đến một số biện pháp khoan hồng đặc biệt đểáp dụng đối với người phạm tội là miễn, giảm hình phạt vàtrong sự lựa chọn với một số biện pháp tha miễn TNHS và hình phạt như: miễn tội, miễn hết cả tội, miễn TNHS… khi người phạm tội có tình tiết giảm nhẹ TNHS, từ đó,để Tòa án vận dụng “linh hoạt” trong từng trường hợp cụ thể, gắn với từng đối tượng cụthểnhư: Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 – vănbảnpháp luật hìnhsựđầu tiên của giai đoạn này quyđịnh vềđạixá cho một sốtội phạm trước ngày 19/8/1945 đểtha miễn TNHS hoàn toàn chongườiphạm tội;Sắclệnhsố223/SL ngày 17/11/1946 trừng trị các tội nhận hối lộ, đưa hối lộ, phù lạm hoặc biển thủ công quỹ quy định về

“miễn hết cảtội”…nhưng chưa đềcậptrực tiếpđến miễn, giảm hình phạt. Sau đó, các biện pháp nàyđượcquyđịnhlồng ghépvớinhau trong từng vănbảncủaquátrình lập pháp hình sự như sau:

– Thông tưsố 556-TTg ngày 24/12/1958 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường lãnh đạo đối với việc bắt giữ, truytố và xét xử khi đề cập đến đường lối xử lý

các bọn phản cách mạng đã nêu rõ: “… chính sách của chúng ta trước sau vẫn là nghiêm trịkếthợpvớikhoan hồng. Nghiêmtrịbọnchủmưu,thủác,bọnngoancốkiên quyết chốnglạita. Khoan hồngđối với kẻ thật thà hốicải,đốivớikẻlầm đường,kẻbị ép buộc, kẻ bị mua chuộc. Giảm tội hay miễn tội cho kẻ lập công chuộc tội. Thưởng cho

kẻ lập được công lớn…” [77, tr. 85]. Theo văn bản này, khi đề cập chính sách nhânđạo đối với kẻ phạm tội lập công chuộc tội, Nhà nước ta có biện pháp khoan hồng đặc biệt là giảm tội và miễn tội, còn miễn, giảm hình phạt vẫn chưa được quy định trực

57

tiếp nhưng đã lồng ghép chính sách khoan hồng trong quá trình áp dụng.

– Báo cáo tổng kết công tác năm 1962 của TAND tối cao đã nêu: “…các Tòaán đã dựa vào ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa, chú trọngđếntínhchất và mức độnguy hiểm của tội phạm,đếnnhân thâncủabịcáo,đếncác tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, đồng thời vận dụng một cách đúng đắn chính sách “trừng trị kết hợp với giáodục” [77, tr.76]. Sau này, các tình tiết giảm nhẹ (và cả tăng nặng TNHS) được chính thức ghi nhận trong các pháp lệnhvềmộtsốloạitộicụthểmà các Tòa án phải căn cứ vào để lượng hình trong phạm vi một khung hình phạt. Ở giai đoạn này, giảm hình phạt được xem xét khi người phạm tội có tình tiết giảm nhẹ TNHS.

– Bản Tổng kết và hướng dẫn số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của TAND tối cao về đường lối xử lý với tội hiếp dâm và các tội phạm khác về mặt tình dục có nêu vềviệc giảm nhẹ hình phạt đối với tội cưỡng dâm: “Khi tập trung nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoặc khi có những tình tiết giảm nhẹđặc biệt, có thểxửdưới các mứctốithiểu trênđây, cóthểchohưởngán treo hoặcđặcbiệt cóthểtha miễn hình phạt”[77, tr.118]. Theo đó, trong bản tổng kết và hướng dẫn này, miễn, giảm hình phạtcòn được sử dụng với tên gọi là biện pháp tha miễn hình phạt, lồng ghép giữa các biện pháp miễn hình phạt và giảm hình phạt trong đó.

-Điều2 Pháp lệnh trừngtrịcáctộiphản cách mạng ngày 30/10/1967 quy định về âm mưu phạm tội và hành động phạm tội đều bị trừng trị đã nêu rõ nguyên

tắc trừng trịbọnphản cách mạnglà: “Nghiêmtrị bọnchủmưu, bọn cầm đầu,bọnthủác, bọn ngoan cố chống lại cách mạng; khoan hồngđốivới những kẻ bị ép buộc, bị

lừaphỉnh, lầm đường vànhữngkẻ thật thà hối cải; giảm nhẹhình phạt hoặc miễn hình phạt cho những kẻ lập công chuộctội”.Trên cơ sở này, Điều 20 Pháp lệnh đã quyđịnh về những trường hợp giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt như sau: “Kẻ nào phạm tội phản cách mạng nêu ở mục 2 mà tội phạm thuộc vào một hoặc nhiều trường hợp sau đây thì được giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt:

1. Có âm mưu phạm tội, nhưng đã tự nguyện không thực hiện tội phạm.

2. Tội phạm chưabịphát giác mà thành thật tự thú, khai rõ những âm mưu và hành động của mình và của đồng bọn.

3. Cố ý không thi hành đầy đủ hoặc khuyên bảo đồng bọn không thi hành đầy đủ những âm mưu của bọn cầm đầu phản cách mạng.

4. Có những hành động làm giảm bớt tác hại của tội phạm.

58

5. Phạm tội vì bị ép buộc, bị lừa phỉnh và việc làm chưa gây thiệt hại lớn.

6. Bị bắt, nhưng trước khi bị xét xử đã tỏ ra thành thật hối cải, lập công chuộc tội” [77, tr.195].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *