Hoạt động của Hội đồng dân tộc các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hoạt động của Hội đồng dân tộc các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Với vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà

nƣớc cao nhất của nƣớc CHXHCN Việt Nam, QH có ba chức năng quan trọng làlập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nƣớc và chức năng giám sát tối cao đối vớihoạt động của Nhà nƣớc. Kể từQH khóa I cho đến hiện nay

và kể cảtrong giai đoạn tới, QHnƣớcta hoạt động không thƣờng xuyên, một năm chủ yếu là họp haikỳ(với thời lƣợng một kỳhọp trung bình kéo dài khoảng một tháng), đa số các vị ĐBQH hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, nêntừthực tế này,để có thểđảm đƣơng đƣợc các nhiệm vụ,quyền hạn đƣợcHiến pháp, pháp luật quyđịnh, một nhu cầu khách quan là QH phải trông đợi vào hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan của QH, trong đó có HĐDT, các Ủy ban.

QH Việt Nam đang trong quá trình từng bƣớc kiện toàn về tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động (QH khoá XI đã thành lập thêm hai Uỷban làUBTP và UBTC-NS; từ nhiệm kỳ QH khóa XII, hai Ủy ban này chính thức đi vào hoạt động). Thực tiễn hoạt động của QH thời gian qua cho thấy, bên cạnh những kết quả quan trọng đạt đƣợc, vẫn còn những bất cập, tồn tại trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết địnhcác vấn đề quan trọng của đất nƣớc, mà một nguyên nhân quan trọng là hoạt động của HĐDT, các Ủy ban vẫn còn có những khoảng cách nhấtđịnh, chƣa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn. Thực tế hoạt động của HĐDT, các Ủy ban cũng cho thấy, nhiều vấn đề vƣớng mắc, hạn chế cả về khuôn khổ pháp lýcũng nhƣtừthực tiễn hoạt động của các cơ quan này cũng đã bộc lộ, đòi hỏi phải

đƣợc giải quyếtmộtcách đồngbộ.Bên cạnh đó, cùngvớiviệc ban hành Hiến pháp

nƣớc CHXHCN Việt Nam năm 2013, công cuộc đổimớitoàn diện đất nƣớc, trongđó có tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc tiếp tục bƣớc sang giai đoạn mới, nhiều nội dung của Hiến pháp cũng đặt ra những đòi hỏi mới, cần có cách tiếp cận sâu sắc hơn trong hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐDT, các Ủy ban. Yêu cầu nghiên cứu về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH cũng xuất phát từthực tiễn này.

Trong thời gian qua, cùng với quá trình đổi mới, kiện toàn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc nói chung, trongđó có QH, thì vấn đềhoạt động của HĐDT, cácỦy ban của QH nhƣ thế nào, gắn với các yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơchế Đảng lãnh đạo QH, cải tiến, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động, yêucầu

1

phát huy vai trò, trách nhiệm của HĐDT, các Ủy ban trong việc chuẩn bị, thẩm tra dựán luật, pháp lệnh; yêu cầu thể chế hóa nguyên tắc dân chủ trong hoạt động của cơ quan dân cử, yêu cầu nghiên cứu, xác lập quyền chất vấn của HĐDT, cácỦy ban… đã đƣợc đề cập trong các văn kiện của BCHTƢ Đảng qua cácnhiệm kỳ Đại hội IX [12, tr. 204-205], X [13, tr. 126], XI [14, tr.248-249], của Bộ Chính trị [3] vàhiện nay đã trở thành một trong những nội dung trong quá trình tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam [14, tr.52-53]. Những quan điểm nêu trên là những tƣtƣởng chỉđạocó tính chất định hƣớng, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu khách quan cần thiết phải nghiên cứu thể chế hóa về mặt khuôn khổ pháp lýtrong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của QH nói chung và của HĐDT, cácỦy ban nói riêng.

Yêu cầu nghiên cứu hoạt động của HĐDT, các Ủyban còn xuất phát từnhững đòi hỏi đặt ra trong lĩnh vực lý luận. Cùng với quá trình đổimới đất nƣớc, việc nghiên cứu về QH, trong đó liên quan đến hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

đƣợc quan tâm nhiều hơn ở những mức độ khác nhau trong những công trình nghiên cứu gần đây, songsố lƣợng công trình nghiên cứu một cách toàn diện vềhoạt động củacác cơ quan này nhìn chung còn rất ít. Vềnộidung, nhiều vấnđềlýluận và thực tiễn về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban còn để ngỏ. Điều này có thểquan sátđƣợc ở cáckhía cạnh nhƣ chƣa nhận diện và làm rõ kháiniệm, đặcđiểm,

phƣơng thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban; chƣa luận chứngđầyđủ, sát thực về các yêu cầu đối với hoạt động của HĐDT, các Ủy ban; việc nghiên cứu, đánh giáthực tiễn hoạt động của HĐDT, các Ủyban còn chƣa toàn diện, đầyđủ; việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp với tình hình mới cũng nhƣvị trí, vai trò của HĐDT, các Ủy ban còn nhiều vấn đề đặt ra và vẫn còn có những tranh luận, cách thức tiếp cận khác nhau cần đƣợc tiếp tục làm sáng tỏ, v.v…

Nhƣ vậy, từđặc điểmcủa QHnƣớcta, việc xây dựng HĐDT, cácỦyban thực sựtrở thành những cơ quan có đầy đủ năng lực, trách nhiệm để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ tƣ vấn, tham mƣu về chuyên môn cho QH, đóng vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của QH hiện nay, vừa là yêu cầu của thực tiễn, yêu cầu chính trị, pháp lý, vừa mang tính khách quan trong tiến trình đổi mới tổ chức, hoạt động của QH nói riêng cũng nhƣ trong việc đẩymạnh xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Từnhững lý do nêu trên, NCS chọn chủ đề: “Hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” làmđề tài Luận án tiến sỹ luật học.

2

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích của Luận án

Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, Luận án đƣa ra đề xuất nhằm tiếp tục kiện toàn hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH ở nƣớc ta hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ của Luận án

– Nghiên cứu những vấn đềlý luận vềhoạt độngcủa hệ thống Uỷ ban của QH; phƣơng thức hoạtđộng của hệthống Ủyban; các yêu cầu đặtra đối với hoạtđộng của HĐDT, cácUỷban trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam;

– Đánh giá thực trạng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban, tiếp cận từgiác độkhuôn khổ chính sách, pháp luật và quá trình thực hiện trong thực tiễn.

-Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tụckiện toàn hoạt động của HĐDT, các Ủy ban trong thời gian tới.

3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của Luận án

Hoạt động của HĐDT, các Ủy ban có nội dung rộng và phức tạp. Trong khuôn khổchuyên ngành Lý luận lịchsửNhànƣớc và pháp luật, Luận án tậptrung vào những vấnđềlý luận và thực tiễn về hoạtđộngcủaHĐDT, các Ủy ban với vị trí làcác Ủy ban thƣờng trực (xin khôngđề cập đếnỦy ban lâm thời), đặt trong bối cảnh xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Cùng với việc khảo sát những bƣớc phát triển lớn trong hoạt động của HĐDT, các Ủy ban trong quá trình hình thành, phát triển của các cơ quan này kể từ nhiệmkỳQH khóa I, Luận án hƣớng trọng tâm vào việc nghiên cứu hoạt động của HĐDT, các Ủy ban trong các nhiệm kỳ QHgần đây, kể từthời điểmHiến pháp năm 1992 đƣợc ban hành (nhiệm kỳ QH khóa X) cho đến nhiệm kỳ QH khóa XIII hiện nay.

4. Phƣơng pháp luận

Luận án đƣợc thực hiện dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ

tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và Pháp luật, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, tất cảquyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân. Luận án sử dụng phƣơng pháp luận của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác-Lê nin để nghiên cứu các nội dung của Đề tài. Đồng thời, trong Luận án còn sử dụng kết hợp các phƣơng pháp nghiên cứu sau đây:

– Phƣơng pháp phân tích tổng hợp, phƣơng pháp phân tích theo hệ thống

3

đƣợc thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ Luận án, nhằm đặt toàn bộ các nội dung liên quanđến chủ đềnghiên cứu, các tƣ liệu, thông tin liên quan trong quá trình hoạt động củaHĐDT, các Ủy ban trong một chỉnh thể thống nhất;

– Phƣơng pháp lịchsửcụthể:đƣợcsửdụngchủyếutrong việc đánh giásựphát triển trong hoạtđộngcủaHộiđồng,Ủyban;đặtchủđềnghiêncứutrong bối cảnh thực tế tổ chức và hoạt động của QH và bộ máy nhà nƣớc ta; nhìn nhận vấn đề hoạt động của HĐDT, các Ủy ban trong những giai đoạn, những dấu mốc có ý nghĩa lịch sửtrongtổchức và hoạt độngcủa QH nói riêng vàbộmáy nhànƣớcta nói chung; đồng thời, đặt các kiến nghị đổi mới, hoàn thiện hoạt động của HĐDT, các Ủy ban trongbốicảnh và điềukiện thực tiễn chính trị-pháp lýcụthể củaViệt Nam.

Phƣơng phápnày đƣợcáp dụng chủ yếu trong việc đánh giá thực trạng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban cũng nhƣ việc đề xuất các quan điểm, giải pháp cụ thể.

– Phƣơng pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: đƣợc sử dụng để xem xét vấn đềnghiên cứu trong mối liên hệ giữa lý luận, các quy định của pháp luật về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban với tình hình thực tiễn về hoạt động của các cơ quan này. Những vấnđề lý luận về hoạtđộngcủa HĐDT, các Ủy ban cần đƣợc đặt trong điều kiện thực tiễn tổ chức và hoạt động của Nhànƣớc ta nói chung và QH nói riêng; đồng thời, kết hợp cả lý luận và thực tiễn để đánh giá, đề xuất các quan điểm, giải pháp đổi mới, hoàn thiện hoạtđộngcủaHĐDT, các Ủy ban. Ngoài ra, Luận án còn sửdụng các phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ phƣơng pháp so sánh: thực hiện việcđối chiếu giữa quy định của pháp luật về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban và thực tiễn thực hiện để luậngiải vấn đề khái niệm hoạt động, đặcđiểm hoạtđộng, yêu cầu đối vớihoạt động của HĐDT, các Ủyban. Phƣơng pháp này còn đƣợcáp dụng trong việc nghiên cứu tham chiếu vớihoạt động củahệ thống Ủy ban ở QH một số nƣớc…

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án

– Về mặt khoa học, Luận án góp phần bổ sung, phát triển một bƣớc lýluận vềhoạtđộngcủa HĐDT, cácỦyban; tậptrung nhận diện rõđặcđiểmhoạtđộng;các yêu cầu đặt ra trong hoạt động của các cơ quan này. Luận án cũng là công trình đánh giá một cách có hệ thống về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban, nhận diện và làm rõhơn các đặc điểm hoạt động của HĐDT, các Ủy bancủaQH ở Việt Nam hiện nay.

-Về mặt thực tiễn, các nội dung đƣợc trình bày trong Luận án là những tƣliệu có giá trị tham khảo đối với các hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban. Bên cạnh đó, trong việc đề xuất các kiến nghị, đã cố gắng tập trung, hƣớngđếnmục tiêu giải quyếtnhững vấn đề hạnchế, vƣớng mắctrong

4

thực tiễn. Do đó, kết quả nghiên cứu của Luận án cóthểđƣợc xem xét tham khảo,ứng dụng trong quá trình sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các VBQPPL có liên quanđến hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH ở nƣớc ta.

6. Những đóng góp mới của Luận án

Thứ nhất, trên cơ sở đánh giá một cách khái quát về tình hình và kết quả nghiên cứu về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH, Luận án góp phần làm sáng tỏ vàsâu sắc hơn lý luận cơ bản về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban, nhƣ:

– Lần đầu tiênđề cập đến mộtcách tƣơng đối toàn diện về khái niệm,đặcđiểmhoạt độngcủa HĐDT, các Ủyban; đồng thời, trong Luận án, đã có sựtập trung phân tích, nghiên cứu những nội dung cơ bảnvềphƣơng thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban.

– Luận án xác định rõ cùng vớinguyên tắc làm việc theo chế độ tậpthểvà quyết địnhtheo đasố nhƣ pháp luật hiện hành và thông lệ các nƣớc, thìtậptrung dân chủ cần đƣợc bổ sung, khẳngđịnhrõ là một trong những nguyên tắc trong hoạtđộng của HĐDT, các Ủy ban.

– Nhận diện những yêu cầu đặt ra trong hoạt động củaHĐDT, các Ủyban trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, thông qua việc phân tích, hệ thống hóa, khảo cứu pháp luật và thực tiễn hoạt động của HĐDT, các Ủy ban thời gian qua, Luận án trình bày tƣơng đối hệthống, toàn diện thực trạng hoạt động của Hội đồng, Ủyban trong giai đoạn hiện nay, tập trung vào việc nhận diện những hạn chế trong quyđịnh của pháp luật vàtrong thực tiễn thực hiện. Trong đó, Luận án đã mạnh dạn chứng minh các nguyên tắc làm việc của HĐDT, các Ủy ban chƣa đƣợc thể hiện một cách nhất quán trong cách thức quyđịnhcủa pháp luật hiện hành về hoạt động của HĐDT, các Ủyban cũng nhƣ trong thực tiễn hoạt động của các cơ quan này. Từ đó, góp phần cung cấp những luận cứ thực tiễn làm cơ sở cho việc đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện hoạt động của HĐDT, các Ủy ban.

Thứ ba, xác lập đƣợc hệ quan điểm và đề xuất các giải pháp tiếptục đổi mới, hoàn thiện hoạt động của HĐDT, các Ủy ban; phù hợp với đặc điểm tổ chức và hoạtđộng củaQH nƣớc ta, Luận án nhấn mạnh vai trò của tập thể HĐDT, các Ủy ban, sựthƣờng xuyên trong hoạt động của các cơ quan này, phát huy mạnh mẽ hơn vai trò, trách nhiệm tham mƣu, tƣ vấn về chuyên môn cho QH trong những lĩnh vực chuyên môn. Luận án đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hoạtđộng của HĐDT, các Ủyban trên các phƣơng diện về nhiệm vụ, quyền hạn, thực tiễn hoạt động và các điều kiện bảo đảm hoạt động.

Hoạt động của Hội đồng dân  tộc các Ủy  ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hoạt động của Hội đồng dân tộc các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Về nội dung, các giải pháp trƣớc hết tập trung vào việc làm sáng tỏ, cụ thể hóa những kiến nghị còn dang dở, mới chỉ ởmức độ ýtƣởng (nhƣ tiếp tụchoàn thiện cơ chế thực hiện nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến của hệ thống pháp luật của HĐDT, các Ủy ban theo hƣớng chặt chẽ, cẩn trọng hơn; hoàn thiện quy trình giám sát VBQPPL của HĐDT, các Ủyban; hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện đúngđắn nguyên tắc làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số, v.v…). Đồng thời, đềxuất nhiều giải pháp mới, nhƣ minh định rõ hơn vị trí, vai trò của HĐDT, các Ủy ban ở cấp độ Hiến pháp; luận chứng về sự cần thiết phải bổ sung nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của HĐDT, các Ủy ban; cách thức thẩm tra chi tiết của HĐDT, các Ủy ban; quy trình xây dựng báo cáo thẩm tra; việc bổ sung một số thẩm quyền mới cho HĐDT, các Ủyban, trong đó có trách nhiệm mới của UBQP-AN trong việc tham gia thẩm tra để bảo đảm yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, bảođảm lợiích quốc gia; xây dựng quy trình chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, pháp lệnh, trong đó nêu cao trách nhiệm của HĐDT, các Ủy ban; v.v…

Trong điều kiện QH nƣớc ta hoạt động không thƣờng xuyên, đa sốđại biểu hoạt động kiêm nhiệm, tƣ tƣởng chủ đạo xuyên suốt trong toàn bộ Luận án là hƣớngđến việc xây dựng một hệ thống các Ủy ban thực sự trở thành những “trụ cột” trong hoạt động của QH, trên cơ sở phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm, trí tuệ của từng thành viên nhằm tạo nên sức mạnh tri thức của tập thể HĐDT, các Ủy ban; để các cơ quan này thực hiện ngày càng tốt hơn vị trí, vai trò là các cơ quan tƣ vấn, tham

mƣu cho QH về các lĩnh vực chuyên môncụthể, gópphần để mọi quyết địnhcủa QHthực sựhƣớng đếnmục tiêu xây dựng xã hội Việt Nam dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

7. Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,kết quảnghiên cứu của Luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của Đề tài. Chương 2. Cơ sở lý luận về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội. Chương 3. Thực trạng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội. Chương 4. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện hoạt động của HĐDT, các Ủy

ban của Quốc hội.

6

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc

Trong thời gian qua, cùng với chủtrƣơng lớn đƣợc nêu trong các văn kiện của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạtđộng của QH, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quanđếnhoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH đã đƣợc các nhà khoa học, các vị ĐBQH, các chuyên gia quan tâmđề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu. Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến chủđề Luận án theo các nhóm cơ bản sau đây:

a) Luận án tiến sỹ

b) Đề tài nghiên cứu khoa học

c) Sách chuyên khảo

d) Bài báo khoa học

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

1.1.3. Tóm lƣợc các kết quả nghiên cứu từ cách tiếp cận của Luận án 1.1.3.1. Về những vấn đề chung về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

1.1.3.2. Về thực trạng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

1.1.3.3. Về quan điểm, các giải pháp hoàn thiện hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

Vềquanđiểmliên quanđếnđƣờng hƣớngphát triển trong hoạtđộng của HĐDT, các Ủy ban: gần đây trong Đề tài cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổchức và hoạtđộngcủaHĐDT, cácỦyban củaQuốchội”,các tácgiảcó đềcập đến 4 quanđiểm:quán triệt quanđiểmcủaĐảngCộngsảnViệt Namvềxây dựng

21

Nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam, đổi mới tổ chức và hoạt động của QH, các cơ quan của QH; Bảođảmtính tổng thể, đồng bộ giữa việc hoàn thiện tổ chức và hoạtđộngcủaHĐDT, cácỦybanvớihoàn thiện tổchức và hoạtđộngcủabộmáy nhà

nƣớc, đặc biệt là QH, xây dựng QH mạnh trên cơ sởHộiđồng vàcác Ủy ban mạnh; Bảo đảmtăng dần tính chuyên nghiệp và chuyên sâu trong hoạtđộng của Hội đồng, Ủyban;Bảođảmtínhtậpthểtrong hoạtđộngcủaHội đồng,Ủyban vàđồngthời phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân đại biểu QH [34, tr.140-144]. Việc đề xuất các quan điểm này của Đề tài là hợp lý trong cách thức tiếp cận của các tác giả.

Về nội dung đề xuất, kiến nghị cụ thể trong các công trình gần đâycó liên quan đến hoạt động của HĐDT, các Ủy ban, có thể phân loại theo các nội dung cơbảnsau đây:

Trong hoạt độnglập pháp, nâng cao chất lƣợng hoạt động thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban cũng là một trong những nội dung đƣợc kiến nghị trong những công trình nghiên cứu gần đây. Tác giả Trần Hồng Nguyên (2007) trong Luận án tiến sỹluật học: “Nâng cao chất lượng hoạtđộng lập pháp của Quốc hộinước CHXHCN Việt Nam trong giaiđoạnhiện nay”, đã đềxuất đổi mới hoạt độngthẩm tra của HĐDT, các Uỷ ban theo 5 hƣớng cơ bản: hoạt động khảo sát thực tế phải làthủ tục bắt buộc và đƣợc thực hiện trƣớc khi tiến hành thẩm tra chính thức; cần cócơ chế phốihợpthẩm tra phùhợpđốivớinhững dự án luậtđƣợcgiao cho nhiều cơquan thẩm tra; việc thẩm tra cần đƣợc tiến hành toàn diện trên các mặt của dựán; bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định theo đa số trong hoạt động của Hộiđồng, Ủy ban; hoạt động thẩm tra chỉ đƣợc tiến hành khi cơ quan soạn thảo gửi tài liệu cho cơ quan thẩm tra đúng thờihạn[56, tr.117-120]. Tác giả Lê Văn Hòe

(2008), trong công trình: “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” có nêu những kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động lập pháp nói chung, trong đó cóđề cậpđến việc mở rộng thẩm quyền của HĐDT, các Uỷ ban, hình thành cơ chế phản biện nội tại trong thẩm tra trên cơ sở đổimớiphƣơng thức thẩm tra [29, tr.133,137-139]. Tiếp theo hƣớng này, trong công trình “Tiếp tục đổi mới hoạt động của Quốc hộitừthực tiễn hoạt động của Quốc hội khóa XII”, để nâng cao chất lƣợng thẩm tra, các tác giả kiến nghị cần quan niệm thẩm tra mộtdựán luật về cơ bản phải là một hoạtđộng “mở”, cuộc họp thẩm tra cần thực sựtrởthành cuộc họp phản biện chính sách; với nhiều nội dung cần phải chuẩn bị cả trƣớc, trong và sau cuộc họp; nếu thấy chất

lƣợng chƣa đạt yêu cầu, có quyền yêu cầu chuẩn bị lại dự án [73, tr.266-267].

22

Liên quanđến việc đổi mới hoạt động thẩm tra, Ths. Nguyễn Thị Phƣơng Thảo (2004) có kiến nghị mộtsốđiểm vềđổi mới hoạt động thẩm tracủa Hội đồng,Ủy ban, trong đó có đề cập sơ bộ việc thẩm tra về khía cạnh tài chính đối với các dựán luật, pháp lệnh [71, tr.80]. TS. Trần Thị Quốc Khánh (2013) đề nghị cần xây dựng và quyđịnhcụ thể về cơ chế thẩm tra các dựán luật, pháp lệnh do cơ quan của QH trình; xác định rõ phƣơng thức, cơ chế phối hợp thẩm tra, trách nhiệm của cơ quan chủ trì thẩm tra và cơ quan phối hợp thẩm tra; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo đa số trong hoạt động thẩm tra; việc chủ

động triển khai các hoạt động nghiên cứu, khảo sát thực tế, bảo đảm chất lƣợng của báo cáo thẩm tra; phát huy dân chủ, công khai trong hoạt động củaHội đồng, Ủy ban đồng thờimở rộngsựtham gia của chuyên gia vào hoạt động thẩm tra các dựán, dự thảo [34, tr.156-161].

Trong bối cảnh Hiến pháp năm 2013 có quy định về trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp của HĐDT, các Ủy ban, ở bài viết: “Vấn đề hoạch định, phân tích chính sách trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật”, các tác giả Đinh Xuân Thảo, Trần Văn Thuân (2014) đề nghị trong toàn bộ quy trình lập pháp, cần đặc biệt chú trọng đến việc bảo đảmtính hợp hiến của hệ thống pháp luật; theođó, cần sửa đổi các văn bảnpháp luật liên quan theo hƣớng khẳng định mạnhmẽ hơn vai trò của QH, trong đó có vai trò của toàn thể UBPL trong việc bảo đảm tính hợp hiến của hệ thống văn bản pháp luật [76, tr.43]. Kiến nghị này có sự cập nhật với yêu cầu mới về trách nhiệm của Hội đồng, Ủy ban trong Hiến pháp năm 2013, song chỉ dừng lạiở nêu vấn đề có tính gợi mở, các nội dung cụ thể chƣa đƣợc đề cập.

Có công trình nghiên cứu đề nghị cần xây dựng, hoàn thiện đƣợc quy trìnhtổchức chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh đầy đủ, hợp lý hơn, phát huy đƣợc vai trò của Hộiđồng,Ủyban trong việc cùngvớicơ quan trìnhdựán tiếptụcđềxuất, phân tích, tham mƣu chính sách…trình QH, UBTVQH xem xét, quyết định [76, tr.43].

Trong hoạt động giám sát, có công trình kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH, trong đó có kiến nghị mang tính chất nêu vấn đề về cácnội dung: làm rõ hơn quy trình giám sát cũng nhƣ mối quan hệtrong quá trình thực hiện hoạt động giám sát của các cơ quan của QH; hạn chế đến mứcthấp nhất việc UBTVQH giao cho HĐDT và các Ủyban tiến hành giám sát một vụ việc cụ thể nào đó, nếu thấy cần giám sát việc giải quyết một việc cụ thể thìUBTVQH trực tiếp thành lập Đoàn giám sát; trong trƣờng hợp có sựkhông thống nhất giữa báo cáo kết quả giám sát với kết luận của UBTVQH thì HĐDT, Ủy ban

23

đƣợc báo cáo để QH xem xét, quyết định; vềlâu dài nên thành lập Ủyban về thủtục của QH có nhiệm vụ chuyên rà soát quy trình, thủ tục làm việc của QH; đề cao trách nhiệm và tăng cƣờng hình thức tổ chức công việc tại các Ủyban nhiều hơn,

thƣờng xuyên hơn để chuẩn bị kỹ càng cho các quyết định của QH; bổ sungmộtsốquy trình, thủ tục nhƣtổ chức điều trần, tổ chức đoàn khảo sát củaHội đồng,Uỷban [46, tr.170, 185].

Tronghoạt độnggiám sát VBQPPL, có ý kiếnđề nghịcần thànhlậpmộtỦy bancủaQHvớichức năng chính là giám sát việc ban hành các văn bảndƣớiluật, pháp lệnh do các cơ quan nhà nƣớc ở trung ƣơng ban; xây dựng thiết chế tài phánđối với các VBQPPL códấuhiệu không bảo đảm tính thống nhất đối với hệ thống pháp luật [44, tr.112, 119]. Các giải pháp bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật này tiếpcậntừgócđộ cơcấutổchứccủacácỦyban nói riêng và QH nói chung.

Hƣớng tới việc nâng cao năng lực giám sát của Hội đồng, Ủy ban, liên quanđếnvấnđề cơcấutổ chức,có ý kiến đề nghịcầnthành lập mới Ủy ban giám sát, Ủy ban dân nguyện và nghiên cứu xây dựng mô hình Thanh tra QH [25, tr.408-411].

Liên quan đến việc đổi mới hoạt động giám sát, có ý kiến đề nghị cần xác định rõ tính chất, vai trò của hoạt động giám sát của HĐDT, các Ủy ban; Hội đồng, Ủy ban cần xây dựng chƣơng trình giám sát khoa học, khả thi; tăng cƣờng hoạt động giám sát của Hội đồng, Ủy ban thông qua phƣơng thức xem xét báo cáo; cải tiến cách thức giám sát chuyên đề; bảo đảm tính bắt buộc và hiệu lực của nghị quyết sau giám sát; cần cócơ chế phối hợp giữa Hội đồng, Ủy ban với các đoàn ĐBQH, Thƣờng trực HĐND vàcác Ban của HĐND để tránh chồng chéo trong giám sát [34, tr.161-165].

Về vấn đề nghiên cứu, xác lập quyền chất vấn của HĐDT, các Ủy ban, cùng với chủ trƣơng của Đảng về nghiên cứu vấn đề giao quyền chất vấn cho Hội đồng, Ủy ban, thời giangầnđây,mộtsốcông trình nghiên cứu,ýkiếncủamộtsốvịĐBQH (Trần Ngọc Vinh, Huỳnh Nghĩa, v.v…) đề nghị cần mở rộng hoạt động chất vấn, bổ sung cơchếchấtvấntạicác phiênhọpHĐDT, cácỦyban [119], [55], [73, tr.275-276]. Báo cáo tổngkếthoạtđộng nhiệmkỳQH khóa XIIđãchỉra phƣơnghƣớngđổimớitổ chức và hoạtđộngcủa QH, trongđócó nêu “nghiêncứugiao quyền chấtvấncho HĐDT và các Ủy ban của QH” [66]; v.v…Với những định hƣớng, gợi mở từ thực tiễn đó, trong một công trình nghiên cứu gần đây, đã có những kiến nghị bƣớc đầu về xác lập quyền chất vấn [18, tr.154-155]; về cơ chế thực hiện thẩm quyền này của HĐDT, các Ủy ban [80]; hay gợi mở về việc thực hiện thí điểm và tiến tới triển khai thực hiện

thƣờng xuyênhoạt độngchất vấn tại HĐDT, các Ủy ban [72, tr.183], tức quan niệm

24

Hội đồng,Ủy ban là nơi diễn ra các hoạt động chất vấn của ĐBQH, tƣơng tự nhƣ tại kỳ họp QH và phiên họp UBTVQH…Điểm chung của nhữngđề xuấttrong các công trình nghiên cứu nêu trên là mới dừnglạiở mức độ nêuý tƣởng là chủ yếu, chƣa đi sâu nghiên cứu các nội dung cụ thể của phƣơng án đƣợc đề xuất. Bên cạnh đó, cũng có tác giả khẳng định việc trao quyền chất vấn cho HĐDT, các Ủy ban là không phù hợp cả vềlý luận và thực tiễn [31].

Trong việc thực hiện quyền kiến nghị: cơ chế bảo đảm thực hiện những kết luận, kiến nghị của Hội đồng, Ủyban cũng là vấn đềthu hút nhiều sựquan tâm, trong đó có cả các Ủy ban của QH cũng nhƣ các nhà khoa học. UBPL khóa XII đềnghị cần có cơ chế bảo đảm thực hiện những kết luận, kiến nghị sau giám sát, trongđó xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện, cơ quan cótrách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, hay có cơ chế bảo đảmcho Ủyban thực hiện tốt quyền kiến nghị độc lập của mình [96, tr.11]. Về phía các nhà khoa học, TS. Bùi Ngọc Thanh cho rằng cần có “chế tài” đủ mạnh để chủ thể đƣợc giám sát thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh các kiến nghị xác đáng [70]; hay ý kiến đề nghị cần quyđịnh về thủtục xem xét và đôn đốc giải quyết kiến nghị giám sát…của HĐDT, các Ủy ban [46, tr.185]; v.v…Tuy nhiên, cho đến hiện nay, cơ chế, chế tài cụ thể cũng chƣa đƣợc làm rõ.

Liên quan đến phương thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban, đã có những kiến nghị đề cập đến nhữngkhía cạnh khác nhau về phƣơng thức hoạt động củaHộiđồng, Ủyban. Vềphiên họp toàn thểHội đồng, Ủyban, PGS.TS. Lê Văn Hòe

(1995) nhấn mạnh cần “thực hiện nguyên tắc không đủ thành viên tham dự không tổchức phiên họp thẩm tra, trừ trƣờng hợp có lý do chính đáng” [28, tr.132]; đồng thời cần duy trì chặtchẽ chế độ làm việcvà quyết định tập thể trong các phiên họp thẩm tra; đồngthời, tăng cƣờng trách nhiệm củaThƣờng trực Hộiđồng, Ủyban [29, tr.136]. Tƣơng tự, TS. Hoàng Văn Tú (2004) cũng cho rằng về lâu dài, cơ quan chủtrì thẩm tra vẫn nên áp dụng hình thức phiên họp toàn thể hoặc họp liên tịch với Ủy ban tham gia thẩm tra để thẩm tradựán luật, pháp lệnh [88, tr.140]. Liên quan đến nội dung này, Ths. Nguyễn Thị Phƣơng Thảo (2004) [71, tr.81] nhấn mạnh hơn yêu cầu việc tham gia thẩm tra, dù đƣợc tiến hành riêng rẽ hay cùng phối hợp với cơquan chủ trì thẩm tra thì vẫn phải bảo đảmnguyên tắc hoạt động tập thể và quyếtđịnh theo đa số. Ths. Đoàn Thu Huyền (2010) mặc dù cóđề xuất tƣơng tựtheo

hƣớng này, song đề nghị quyđịnh cụ thể một ngoại lệ là trong trƣờng hợp không thể họp toàn thể Ủy ban, thì Thƣờng trực Ủy ban tham gia thẩm tra có trách nhiệm

25

họp, chuẩn bị ý kiến và cử đại diện tham dự phiên họp của Ủy ban chủ trì thẩm tra và trình bày ý kiến của Thƣờng trực Ủy ban [32, tr.61-62].

Về đoàn giám sát, đoàn công tác của Hội đồng, Ủyban, có ý kiến đề xuất cần quy định chặt chẽ hơn điều kiện thành lập Đoàn giám sát của Hội đồng, Ủy ban

[34, tr.147-148]. Ở khía cạnh nội dung, TS. Trần Thị Quốc Khánh (2013) đề nghịcần nâng cao chất lƣợng các đoàn giám sát của Hội đồng, Ủy ban [34, tr.163-164].

Về hoạt động của thành viên Hội đồng, Ủyban, Ths. Đặng Đình Luyến (2006) đề nghị cần quy định rõ tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng, Ủy ban: phải cóphẩm chấtđạođức tốt,có trìnhđộ lýluận, có trình độ chuyên môn phù hợp với lĩnh vực Hội đồng, Ủyban phụ trách; am hiểu pháp luật và thực tiễn xã hội, đời sống của nhân dân [45, tr.91].

Về chế độ hoạt độngcủa thành viên Hội đồng, Ủy ban, trong thời gian trƣớc mắt,cầnthực hiện ngay một sốgiải pháp tăngsốlƣợng ĐBQH hoạtđộngchuyên trách tại HĐDT, các Ủy ban. Đây cũng là nhu cầu thực tế và là đề xuất khi kết thúc nhiệmkỳcủacácỦyban của QH khóa XII nhƣ UBTP [102, tr.729]; UBKT [100, tr.137]…Vềmức độ tăngtỷlệ ĐBQH chuyên trách nói chung,ýkiến cũngrấtkhác nhau: theo ĐBQH Trần Du Lịch thì trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc tăng số ĐBQH chuyên trách là cần thiết; về số lƣợng, theo ông, “trong 500 đại biểu nên có 200đạibiểu chuyên trách” [135]. Trong khiđó,UBPL kiến nghị“tăngsố

lƣợng thành viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban lên khoảng 1/3 tổng số thành viên”[97] (tức là khoảng 12 ngƣời-NCS). Trong những công trình nghiên cứu gần đây, cóýkiếnđềnghịvềlâu dàicầnbảođảm 100% thành viên HĐDT, cácỦy ban hoạtđộngchuyên trách [73, tr.282]; sốlƣợngcác thành viênHộiđồng,Ủy ban có thể ít hơn, nhƣng tất cả các thành viên Hội đồng, Ủy ban đều phải làm việc

thƣờng xuyên [9, tr.330]. Ngƣợc lại, có ý kiến đề nghị chỉ áp dụngchế độ hoạt động chuyên trách 100% này đối với một số Ủy ban nhƣ UBPL, UBKT [43, tr.127].

Vềbảođảm và tăng cƣờng sựlãnh đạo của Đảngtrong hoạt động của HĐDT, các Ủy ban, TS. Trần Thị Quốc Khánh (2013) đề nghị cần đổi mới sự lãnhđạo củaĐảngđoàn QHđối với tổ chức và hoạt độngcủaHĐDT, các Ủy ban thông qua công tác tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ của Hội đồng, Ủy ban; vận động, thuyết phục thành viên ngoài Đảng làm theo đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách và nghị quyết của Đảng[34, tr.170-171]; một số công trình nghiên cứu khác cũng đi theo hƣớng này [45, tr.100]. Theo cách thức tiếp cận khác, trong công trình “Hoàn thiện cơ chế Đảng lãnhđạo đối với QHtrong hoạt động lập pháp và quyết định các

26

vấn đề quan trọng của đất nƣớc”, có đề xuất phƣơng án thànhlập Đảng bộ Thƣờng trực HĐDT, các Ủy ban; theođó,dƣới Đảng đoàn QH, sẽ có 02 đảng bộ bộ phận làĐảng bộ cơ quan VPQH (trong đó có các chi bộ của các đơn vị giúp việc Hội đồng,Ủyban) và Đảng bộThƣờng trực HĐDT, các Ủyban (trong đócó các chi bộ

Thƣờng trực HĐDT, các Ủy ban; cùng với 02 đảng bộ này là một số chi bộ thuộc Đảng đoànlà chi bộ của các cơ quan thuộc UBTVQH [57, tr.127-128]. Tuy nhiên, trong mô hình tổ chức này có điểm đáng lƣu ý là chƣa gắn kết trực tiếp với sự tham gia, vai trò, trách nhiệm của các đảng viên khác là thành viên của Hội đồng, Ủy banđang hoạt động theo chếđộkiêm nhiệm và vẫn đang chiếm đa sốtrong cơ cấu thành viên Hội đồng, Ủy ban hiện nay.

Về bộmáy giúp việc của HĐDT, các Ủy ban và các điều kiện bảođảm:có nhiều kiến nghị liên quan trong các công trình nghiên cứugần đây, trongĐềtài nghiên cứu đã đề cập, TS. TrầnThịQuốc Khánh (2013) đã có những đề xuất, song cũng có nhiềunội dung ở mức độkhái quát về bộ máy giúp việc của Hội đồng,Ủy ban với trọng tâm đổi mới, nâng cao chất lƣợng hoạt động giúp việc của các chủ thểnày, tập trung vào các khía cạnh về cơ cấu tổ chức, bổ sung nhân sự, việc thuêchuyên gia củaHộiđồng, Ủy ban; việc tăng cƣờng cơ sở vật chất, kỹ thuật, nguồn

lực tài chính cho hoạt động của bộ máy giúp việc…[34, tr.166-170]. Ngoài ra, một số nội dung khác có liên quan còn đƣợc đềcập trong các công trình nghiên cứu khác, các bài viết, tham luận tại cáchộinghị, hội thảo do VPQH, các cơ quan của QH tổ chức trong thời gian gần đây.

1.1.4. Những vấn đề Luận án cần tiếp tục giải quyết

Kế thừa và phát triển những kết quả nghiên cứu về hoạt động của HĐDT, cácỦy ban, trong đó có quan điểm coi HĐDT, các Ủy ban là những trụ cột quan trọng trong hoạt động của QH, trêncơ sở cố gắng nhận diện đầy đủ,đúng đắn những nội dung cần tiếp tục làm sáng tỏ cả trên các khía cạnh lý luận và thực tiễn về hoạt động của HĐDT, các Ủyban, xuất phát từnhu cầu thực tế, Luận án tiếp tục giải quyết những nội dung sau đây:

Thứ nhất, về mặt lý luận, để góp phần giải quyết những vấn đềcòn để ngỏ về mặt lý luận liên quan đến hoạt động của HĐDT, các Ủy ban, Luận án tiếp tục phân tích, làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm hoạt động; phƣơng thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban; luận giải và minh định một cách sát hợp hơn các yêu cầuđặt ra đối với hoạt động của HĐDT, các Ủy ban trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở nƣớc ta hiện nay.

27

Thứ hai, từ những tiền đề lý luận, Luận án đánh giá toàn diện hơn thực trạng hoạtđộngcủaHĐDT, cácỦyban hiện nay;tậptrungchủyếuvào việc nhận diện, phân tích làm rõ đƣợc những hạn chế trong hoạt động của các cơ quan này để có cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng quan điểm, đề xuất các giải phápcụthể.

Thứ ba, trình bày các quan điểmvà giải pháp kiện toàn hoạt động của HĐDT, các Ủyban. Trên cơ sở nhấn mạnh vai trò của Hội đồng, Ủyban với đặc điểmlà thiết chế hoạtđộng thƣờng xuyên, có chuyên môn sâu nhằm khắc phục những hạn chếmang tính tựthân gắn với mô hình QH hoạt động không thƣờng xuyên, với đa số ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm ở nƣớc ta, các kiến nghị của Luậnán hƣớng tới việc góp phần minh định chức năng, vị trí, vai trò của HĐDT, các Ủy ban ởcấp độ Hiến pháp; nhận diệnđầyđủ các nguyên tắchoạt động; việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hoạtđộngcủa HĐDT, các Ủy ban. Nhấn mạnh và tập trung hơn tăngcƣờngvai trò, trách nhiệm của tập thể HĐDT, các Ủyban theo

hƣớng để mọi công việc trƣớc khi trình ra QH thảo luận, biểu quyết thông qua phải

đƣợc chuẩn bị kỹ lƣỡng tại HĐDT, các Ủy ban.

Ở phần giải pháp, Luận ánđềxuất các kiến nghịcụthểhoàn thiện hoạtđộngcủaHộiđồng,Ủyban, chú trọngđếnviệcđềxuất các kiến nghịmới(cảởkhía cạnh nội dung và phƣơng thức hoạt động). Bên cạnh đó, đối với các phƣơngán đề xuất ở mức độ gợi mở, nêu vấn đề, Luận án chú trọng đến những vấn đề còn tồn đọng để đề xuất các nội dung cụ thể củaphƣơng án, với những nội dung còn sựkhác biệtvềphƣơng án thì thống nhấtlựachọn và luận giải phƣơng án phùhợp. Đồng thời, so với những công trình nghiên cứu khác, Luận án chú trọng gắn các nội dung này với bối cảnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013.

Nhƣ vậy, với vị trí là các cơ quan của QH, có vai trò tham mƣu cho QH trong

từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể, có thể nói việc nghiên cứu về hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban là công việc khá phức tạp, với phạm vi nội dung rất rộng, có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Mặc dù vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án đƣợc tác giả mạnh dạn thực hiện với mục đích góp phần vào việc phát huyđầyđủ vai trò, trách nhiệm của HĐDT, các Ủy ban trong hoạt động của QH, cùng với ĐBQH, thực sự trở thành những “trụ cột” quan trọng trong hoạt động của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay.

1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu

Để hƣớng tới thực hiện mục tiêu nghiên cứu của Đề tài, trên cơ sở tình hình nghiên cứu đề tài, NCS xác định một số câu hỏi nghiên cứu chính mang tính chất xuất phát điểm cho việc nghiên cứu của Luận án, cụ thể nhƣ sau:

28

Thứnhất, yếutốnào lànềntảng cho hoạtđộngcủaHĐDT, cácỦyban của QH? Hoạtđộng của Hộiđồng, Ủybanđƣợchiểu nhƣthếnào? Hoạtđộngcủahệ thốngỦybancủaQHở Việt Nam cóđặcđiểmgì? Trong điềukiện xây dựng Nhà

nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, những yêucầu nào đặtra đối với hoạt động của HĐDT, các Ủy ban?

Thứ hai, hoạt động của HĐDT, các Ủy ban nhìn từ phƣơng diện chức năng, nhiệm vụ và trong thực tiễnđã thực sựbảo đảmđể Hội đồng, Ủy ban làm tốt và đầyđủ vai trò là những “trụ cột” quan trọng trong hoạt động của QH? Những dữliệu nào để đánh giá điều này?

Thứ ba, làm thế nào để nâng cao, bảo đảm ngày càng tốt và đầy đủ hơn vị trí, vai trò “ trụ cột”, là chỗ dựa tin cậy trong hoạt động của QH nói chung của HĐDT, các Ủy ban? Quan điểm và giải pháp hoàn thiện hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam?

1.2.2. Lý thuyết nghiên cứu

Việc nghiên cứu thực hiện Luận án dựa trên cơ sởhọcthuyết Mác-Lênin, tƣ

tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớcvà Pháp luật, các chủ trƣơng, định hƣớngcủaĐảng Cộng sản Việt NamvềNhànƣớc và Pháp luật, về đổi mới tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nƣớc nói chung và QH, HĐDT, các Ủy ban nói riêng.

Quá trình thực hiện Luận án cũng cósựnghiêncứutham khảo những lý thuyết có liên quan về tổ chức và hoạt động của QH, chẳng hạn các quan niệm về vai trò của các Ủy ban trong hoạt động của QH (nhƣ quan niệm Ủy ban là “công

xƣởng”, quan niệm Ủy ban là những “cột trụ” trong hoạt độngcủaQH, các quan điểm lý luận về việc “phân loại ” các hệ thống Ủy ban. Trong điều kiện bối cảnh bên ngoài đang có nhiều biến đổi, Việt Nam trên thực tế với chính sách đối ngoại vàhợptác quốctếrộngmở,việc nghiêncứutìm hiểuvềcác quốc gia trênthếgiới, trong đó có các nội dung về tổ chức bộ máy nhà nƣớc, QH, các Ủy ban của QH làmộtyêucầukhách quan. Việc tham chiếu nàyđƣợcđặttrongbốicảnh cụ thể của Việt Nam.

Thông qua đó, NCS xác định chủ thuyết làm nền tảng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình nghiên cứu thực hiện Luận án là đề cao vai trò, trách nhiệm tham mƣu,

tƣvấnmang tính chất “trụ cột” thông qua hoạt động của HĐDT, các Ủy ban đối với hoạt động của QH, nhấn mạnh nguyên tắclàm việc theo chế độ tập thể và quyếtđịnh theo đa số, nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Hội đồng, Ủy ban; nhấn mạnh tính thƣờng xuyên, chuyên sâu về chuyên môn của các Ủy ban nhƣ

29

là một trong những giải pháp quan trọng để bù đắp, vƣợt qua những thách thức vềphạm vi thẩm quyền rộng lớn của QH, những giới hạn về chuyên môn trong điều kiện đa số ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm, do chế độ hoạt động “không thƣờng xuyên” của QH có thể tạo ra.

1.2.3. Các giả thuyết nghiên cứu

Thứ nhất, trong điều kiện xuất phát từđặc điểm của QHnƣớcta là hoạt động không thƣờng xuyên, đa số ĐBQH hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, thì tính chất

thƣờng xuyên, tính chất chuyên môn sâu của HĐDT, các Ủy bantừthực tế và yêu cầu khách quancần đƣợc coi là đặcđiểm có tính nổi bật; hoạt động của HĐDT, cácỦy ban có ảnh hƣởng trực tiếp, có vai trò không thể thiếu vắng trong hoạt động của QH, UBTVQH. Trongđiều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam, các yêu cầu đối với hoạt động của HĐDT, các Ủy ban nhƣ thế nào cũngcần

đƣợc làm rõ.

Thứ hai, trên cơ sở một nền tảng pháp lý ngày càng mở rộng, thực tiễn hoạt động củaHĐDT, các Ủy ban trong thời gian qua đã có những đóng góp tolớnvào hoạt động của QH; song cũng còn bộc lộ những hạn chế, xét cả về khía cạnh khuôn khổ pháp lý và thực tiễn hoạt động.

Thứ ba, nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm tham mƣu, tƣ vấn mang tính chất “trụ cột” thông qua hoạt động của HĐDT, các Ủy ban, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhànƣớcpháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, Luận án xácđịnh cầnphải hoàn thiện mạnh mẽ hơn nữa hoạt động của HĐDT, các Ủy ban với các nhóm giải phápcụthểtrên các phƣơng diện hoạtđộngcơbảncủaHĐDT, cácỦyban cũng nhƣvề

phƣơng thức hoạt động của các cơ quan này.

Để có thể tham mƣu, tƣ vấn giúp QH thực hiện các chức năng, nhiệm vụ to lớn, liên quan đến toàn bộ các vấn đề quốc kế dân sinh của đất nƣớc,từ yêu cầu để

khắc phục những thách thức, yêu cầu về chuyên môn, từ đặc điểm hoạt động không

thƣờng xuyên, đa số ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm của QHnƣớc ta, thì việc tăng

cƣờngvịtrí, vai trò, bảo đảm các nguyêntắclàm việc,bảođảm tính thƣờng xuyên, tính chất chuyên môn sâu trong hoạt động là những vấn đề xuyên suốt trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụcủaHĐDT, các Ủy ban của QH ở nƣớc ta hiện nay.

30

Kết luận Chƣơng 1

1. Kể từ năm 1946 cho đến nay, QH nƣớc ta đã trải qua 13 nhiệm kỳ. Mặc dùcó lịch sử hình thành và phát triển chƣa đầy thế kỷ, nhƣng quãng thời gian qua gắn liền với những dấu ấn vĩ đại trong lịch sử đất nƣớc, QH nƣớc ta đã đồng hành cùng dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập, chống ngoại xâm, thống nhất đất

nƣớc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng nhƣ trong quá trình đẩymạnh toàn diện công cuộcĐổimớiđấtnƣớc hiện nay. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, nhắc đến hoạt động của QH cũng đồng thờiphải nhắc đếnhoạt động của HĐDT, các Ủy ban với vị trí, vai trò là cơ quan của QH, có nhiệm vụ tƣ vấn, tham mƣu cho QH. Nếu tính

từkhi chính thức đƣợc định danh trong Hiến pháp (Hiến pháp năm 1959), Hội đồng, Ủyban của QH Việt Namđã trải qua hơn 55 năm hình thành và phát triển.Đây là quãng thời gian không phải là dài nếu so sánh với lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm của thiết chếnghị việnở các nƣớc phƣơng Tây, song cũng không phải là quá ngắn nếu so sánh với lịchsửhình thành và phát triển của một quốc gia, dân tộc. Do điều kiện lịch sử của đất nƣớc, trong lĩnh vực khoa học pháp lý, việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc cũng nhƣvề hoạtđộng củaHĐDT, các Ủyban của QH thực ra mớichỉ đƣợc quan tâm nhiều từnhững nămđầu củathập kỷ90 của thếkỷXX trở lạiđây, gắn với công cuộcĐổi mới; song có thể nói việc nghiên cứu một cách toàn diện về hoạtđộng củacác cơquan này còn chƣa đƣợc đề cập nhiều trong các công trình gần đây. Bên cạnh đó, mặc dù một số khía cạnh lý luận về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban đã đƣợc quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên, vẫn còn có những nội dung còn để ngỏ cần đƣợc nghiên cứu làm rõ; việc QH thông qua Hiến pháp năm 2013 cũng đặt ra những vấn đề mới trong hoạt động của HĐDT, các Ủy ban…cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ.

2. Qua khảo sát, có thể thấy hoạt động của hệ thống Ủy ban là chủ đề đƣợc quan tâm trong lĩnh vực nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của cơ quan lập pháp ở nhiều

nƣớc trên thế giới. Phần lớn các nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài đều xác định vai trò mang tính thiết yếu của hệ thống Ủy ban trong hoạt động của QH. Bên cạnh đó, một số công trình do Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) chủ trì, hỗ trợ gần đây cũng có sự quan tâm phân tích, làm rõ hơn về hoạt động của hệ thống Ủy ban, tiếp cận ở cấpđộkhuvựcvàthếgiới, màchủyếuliên quanđếntrách nhiệmcủahệthốngỦyban trong hoạt động giám sát của cơ quan lập pháp. Lý luận về hoạt động của hệ thống Ủy ban của cơ quan lập pháp đƣợc nhiều ngƣời biết đến là các công trình của các tác giả

31

nghiên cứu về QH Mỹ, trong đó có nhiều công trình đã đƣợc dịch ra Tiếng Việt kể từnăm 2001 cho đến nay. Những công trình nghiên cứu này chủ yếu phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của hệ thống Ủy ban ở các quốc gia có nền dân chủ nghị viện lâu đời, nhƣ các nƣớc châu Âu, Hoa Kỳ, Australia, v.v… Mặc dù hầu

nhƣ chƣa ghi nhận đƣợc việc có công trình nghiên cứu của các học giả nƣớc ngoài vềhoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH Việt Nam (ngoại trừ 01 công trình nghiên cứu đã đề cập ở trên), song nội dung các công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạtđộng của hệ thống Ủyban của QH các nƣớc phản ánh một xu hƣớng thực tế là ngày càng có sự gia tăng về vai trò của hệ thống Uỷ ban trong hoạt động của QH. Với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời của thiết chế nghị viện ở nhiều nƣớc, việc nghiên cứu tham khảo các kinh nghiệm tiến bộ có liên quan đến sự vận động, phát triển của hệthống Ủyban nghị viện cácnƣớclàvấnđềcầnquan tâm trongđiềukiện Việt Namđang đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế hiện nay.

3. Thông qua việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quanđến chủ đề Luận án, cho thấy nhiệmvụ củaLuận án là trên cơsở kếthừa những thành tựu nghiêncứu đãđạt đƣợc, cần tập trung vào việc nghiªn cøu những vấn đềlý luËn cònđểngỏ, nhƣ về khái niệm hoạt động, các loại hình hoạt động, đặc điểmhoạt độngcủa HĐDT, các Uỷban; phƣơng thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban; phân tích, làm sáng tỏ các yêu cầu đặtra đối với hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban trongđiềukiện xây dựng Nhà

nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam; nghiên cứu, đánh giá, phân tích thực trạng hoạtđộng của HĐDT, các Ủy ban hiện nay. Từ đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện hoạt động của các cơ quan này trong thời gian tới.

32

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC,

CÁC UỶ BAN CỦA QUỐC HỘI

2.1. VỊTRÍ, VAI TRÒ, KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂMHOẠTĐỘNGCỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

2.1.1. Vị trí, vai trò của HĐDT, các Ủy ban

2.1.1.1. HĐDT, các Ủy ban với vị trí là các cơ cấu bên trong của Quốc hội Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, cho đến nay, Nghị viện

(Quốc hội) đã trở thành một trong những thiết chế quan trọng bậc nhất trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nƣớc của hầu hết các quốc gia. Tuyệt đại đa số thành viên nghịviện các nƣớc trên thế giới đều hình thành qua con đƣờng bầu cử, thông qua sự lựa chọn trực tiếp của ngƣời dân và đây là một trong những lý do Nghị viện đƣợc các nhà nghiên cứu quan niệm nhƣ là “trái tim” của thiết chế dân chủ đại diện. Ở nhiều

nƣớc, không phải ngẫu nhiên mà nghị viện đƣợc coi là biểu tƣợng của nền dân chủ. Lấy cảm hứng từ thực tiễn cuộc đấu tranh kéo dài giữa Nghị viện và Hoàng gia Anh trong lịch sử, một sốhọc giảphƣơng Tây mong muốn “cơ quanlậppháp sẽlà cơquan lập sách tối cao và là bức tƣờng thành chống lại các nhà hành pháp chuyênchế”

[68, tr.8]. Từ cội nguồn tƣ tƣởng đó, mặc dù trong điều kiện một Nhà nƣớc Liên bang mà việc áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực một cách khá mạnh mẽ nhƣ ở Hoa Kỳ, James Madison, trong tác phẩm NgườiLiên bang vẫn nhận định: “Trong chính thể cộng hòa, quyền lập pháp nhất thiết phải có vị thế nổi trội” [68, tr.8]. Thực tiễn lịch sửnhững năm sauđó cũng cho thấy, QH Hoa Kỳvẫn là một trong sốkhông nhiều QH trên thếgiới có thẩm quyền và năng lực mạnh mẽtrong việc soạn thảo một cách chi tiết những luật mà cơ quan này thông qua chứ không đơn thuần chỉ làphê chuẩn các phƣơng sách do cơ quan hành pháp nắm quyền soạn thảo [68, tr.8]. Vịtrí nổi trội của Nghị viện còn đƣợc thểhiện ởnhiều quốc gia khác, nhƣ trong

trƣờng hợp của Nhật Bản. Theo quy định của Hiến pháp Nhật Bản, quyền lập pháp thuộc vềQH, quyền hành pháp thuộc vềChính phủ, quyền Tƣ pháp thuộc vềTòa án, song điều thú vị là trong ba nhánh quyền lực đó, Hiến pháp Nhật Bản đã khẳngđịnh rõ “QH(Diet) là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nƣớc và cũng là cơ quan nhà nƣớc duy nhất có quyền lập pháp” (Điều41 Hiến pháp Nhật Bản năm 1947),

tức là cũng khẳng định tính “nổi trội” về vị trí, vai trò của QH so với cơ quan nắm

33

giữ quyền hành pháp (chính phủ) và cơ quan nắm giữ quyền tƣ pháp (tòa án). Ở các

nƣớc theo đƣờng lối xã hội chủnghĩa (nhƣ Trung Quốc, Việt Nam… hiện nay), trong Hiến pháp, vị trí của QHthƣờng đƣợc nhấn mạnhở các khía cạnh là cơ quanđại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất của đất nƣớc, cơ quan có vai trò chính trong việc thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nƣớc.

Trên thực tế, mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội rất đa dạng và phong phú, tùy thuộc vào mô hình tổ chức nhà nƣớc, thể chế chính trị, trìnhđộ phát triển về kinh tế-xã hội, các yếu tốlịch sử, văn hóa, mức độ phát triển nền dân chủ,đặcthù thậm chí làcảtôn giáo… của từng quốc gia. Theo thời gian, với phạm vi và mức độ khác nhau, thiết chế Nghị viện đã ngày càng khẳng định đƣợc vịtrí, vai trò trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn to lớn của mình trong các lĩnh vực lập pháp, giám sát, các vấn đề quan trọng khác của quốc gia nhƣ ngân sách, chính sách đối ngoại, nhân sự…Ở mỗi một quốc gia, QH là một tập hợp các thành viên do cửtri trong cảnƣớc bầu ra, song QHđó không thểvận hành nếu chỉđơn giản là phép cộng của từng cá nhân đại biểu. Sự phát triển của Quốc hội trong thếgiới hiện đại đã cho thấy hoạt động của thiết chế này ngày nay đã đến độ ngày càng hoàn thiện, xét cả về khuôn khổ pháp lý và sự vận hành của các cơ cấu tổ chức bên trong. Trong bối cảnh thế giới và trong nƣớc luôn cósự vận động,phát triển, Quốc hội sẽ khó có thể thực hiện đƣợc tốt các thẩm quyền, trách nhiệm to lớn của mình nếu thiếu vắng sựtồntại, vận hành của các cơ cấu bên trong mà nòng cốt là hệthống các Ủy ban.

Hệ thống các Ủy ban là bộ phận không thể thiếu khi đề cập đến tổ chức và hoạt động của thiết chếnghị viện. Vậycác Ủyban đƣợc hiểu nhƣthếnào? Trong các công trình nghiên cứu về QH ở trong nƣớc và ngoài nƣớc cho đến nay, có thểnói hầu nhƣ không tồn tại sự khác biệt đáng kể trong quan niệm về các Ủy ban nghịviện. Nếu toàn thể QH, hay Nghị viện, là một nhóm ngƣời đƣợc lựa chọn thông qua bầu cửđểtrởthành thành viên QH, Nghị viện, thì các Ủyban là những nhóm, bộphận nhỏ hơn của các thành viên QH đƣợc thành lập, tổ chức trong hệ thống nghịviện. Hệthống các Ủyban cho phép nghị viện thực hiện các chức năng củamình một cách liên tục, cung cấp các cơ hội cho việc điềutra và thảo luận chi tiết hơn

trƣớc khi những kết quảnày của các phiên họp Ủyban đƣợc giới thiệu, trình bày trong các báo cáo của Ủyban đểchuyển tới QHđểthảo luận và quyết định. Hệthống Ủy ban Nghị viện là các bộ phận đƣợc tổ chức trong cơ quan lập pháp theo đó

34

cho phép các nhóm nghị sỹ xem xét các vấn đề về chính sách hay xem xét các dựthảo luật một cách thực sự kỹ lƣỡng hơn so với toàn thể nghị viện [146]. Tƣơngtự

nhƣ vậy, trong nghiên cứu gần đây(2012) của Riccardo Pelizzo và Frederich Stapenhurst, thì các Ủy ban là các cơ cấu về chuyên môn của QH, có số lƣợng thành viên nhất định với phạm vi thẩm quyền cụ thể; các Ủy ban đƣợc gọi là “phòng kỹthuật” của cơ quan lập pháp, nơi diễn ra các cuộc thảo luận sâu và mang tính chuyên môn [126, p.32]. Walter J. Oleszek (2014) quan niệm cácủyban thƣờng trực là các chủthể(cơ quan) của QH, có nhiệmvụchuẩn bịvềmặt lập pháp cho hoạt độngcủa QH (Thƣợng viện, Hạviện) hoặc thực hiện các nhiệm vụđiều tra theo hƣớng dẫn của QH [128, p.445, 453]. Trong một báo cáo nghiên cứu của UNDP, thì hệ thống các Ủy ban trong Nghị viện một số nƣớc thƣờng là nhóm nhỏcác nghị sỹ cùng nhau xem xét có tính phản biện đối với các vấn đề liên quan đến những đối tƣợng nhất định trong phạm vi thẩm quyền, hoặc xem xét dự án luật cụthể [144]. Việc hiểu khái niệm Ủy ban theo hƣớng này cũng tƣơng tự nhƣ cách định nghĩa về Ủy ban của nghị viện đƣợc sử dụng trong giảng dạy ở Việt Nam hiện nay [87, tr.92], theo đó, các Ủy ban của nghị viện là các cơ quan gồm các nhóm nghị sỹdo nghị viện thành lập, có nhiệm vụ giúp nghị viện xem xét, cân nhắc kỹ lƣỡng vềlĩnh vực, vấn đề nào đó thuộc thẩm quyền của nghị viện.

Về các loại hình Ủy ban, có nhiều tiêu chí khác nhau trong việc phân biệt các loại hìnhỦyban. Dựa vào thời gian tồntạivà mức độhoạt động, tính chất các nhiệm vụ, quyền hạn đƣợc trao, có thể phân loại các hình thức tổ chức Ủy ban đang

tồn tại một cách khá phổ biến trong QH, nghị viện các nƣớc hiện nay, nhƣ: các ủy ban thƣờng trực; các ủy ban đặc biệt, hay có thể còn đƣợc gọi là ủy ban tạm thời, ủy ban lâm thời…Ngoài các loại hình ủy ban nêu trên, các loại hình ủy ban khác nhƣủy ban hỗn hợp, ủy ban hội nghị thƣờng đƣợc tổ chức ở những nơi QH (hay nghị viện)

đƣợc tổchức theo mô hình lƣỡng viện, với thành viên là nghịsỹcủa cảhai viện, báo cáo kết quả hoạt động của ủy ban đƣợc trình ra cả hai viện. Mô hình ủy ban hỗn hợp, ủyban hội nghịđƣợc vận hành trong hoạt độngcủa nghị viện các nƣớcnhƣQH Hoa Kỳ [86, tr.811], Nghị viện Australia v.v…

Hệthống các ủyban thƣờng trực là mô hìnhtổchức các ủyban đƣợc hình thành một cách khá ổn định xét cả về mặt cơ cấu tổ chức và thẩm quyền, thƣờng làkéo dài và có vai trò liên tục xuyên suốt một hoặc nhiều nhiệm kỳ QH. Việc tổ chức mô hình Ủy ban của QH theo cách thức này có thể quan sát đƣợc ở QH nhiều nƣớc,

nhƣởCHND Trung Hoa, CHXHCN Việt Nam, CHDCND Lào, QH Hoa Kỳ(bao

35

gồm cả Thƣợngviện và Hạ viện), QH CHLB Đức (Điều 54 Nội quy QH Liên bang của QH CHLB Đức quy định thẩm quyền của QH Liên bang trong việc lập ra cácỦy ban thƣờng trực để chuẩn bị cho các kỳ họp), v.v… Về mặt thẩm quyền, các ủy ban thƣờng trực thƣờng đƣợc trao một số nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu mang tính chất tham mƣu, tƣ vấn, chuẩn bị về chuyên môn cho Nghị viện trong hoạt động lập pháp và giám sát. Ở một số nƣớc, một Ủy ban có thể đảm nhiệm đồng thời các các nhiệmvụliên quan đến hoạt động lập pháp và giám sát (nhƣ các ủyban của QH Hoa Kỳ); trong khi đó, ởmộtsốquốc gia khác, có những ủyban thƣờng trực chuyên về lĩnh vực lập pháp, trong khi ủy ban khác lại gắn với việc thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực giám sát. Chẳng hạn, nhƣ William McKay and Charles W.Johnson [129, p.359] đã chỉ ra, ở Nghị viện Anh, không giống nhƣ QH Hoa Kỳ, mặc dù sự chồng chéo về chức năng giữa các loại hình Ủy ban này bắt đầu xảy ra ngay từ khi đƣợc thành lập song nhìn chung các Ủy ban điều tra hoặc giám sát có sựphân biệt, khác biệt so với các Ủy ban lập pháp.

Ởmứcđộkhái quát, nghiêncứucủaUNDP cho thấyhệthống cácỦyban Nghị viện có một số điểm chung: là các nhóm thành viên Nghị viện đƣợc thành lập bên trong hệ thống nghị viện (thuộc cơ cấu của nghị viện);là điểmtrung tâm trong các hoạt động lập pháp, giám sát… của Nghị viện; Ủy ban không phải là một thiết chếra quyết định, trừ một số trƣờng hợp cụ thể liên quan đến phạm vi quy trình, thủ tục bên trong của Nghị viện; các báo cáo, kết luận của Ủy ban từ kết quả công việc của Ủy ban trình Nghị viện thƣờng đi kèm với các khuyến nghị Nghị viện về việc đƣa ra các quyết định nhất định [144]. Đây là những ghi nhận hữu ích khi nghiên cứu hoạt động của hệ thống Ủy ban nghị viện ở một quốc gia cụ thể. Mặc dù vậy, cũng phải thấy rằng ở từng quốc gia, mô hình tổ chức và thẩm quyền của hệ thống các Ủy ban

thƣờng trực củacơ quanlậppháp lại khá đa dạng, cóthểđƣợcthiếtkếtheo hƣớng

tƣơng ứng với cơ cấu tổ chức chínhcủangành hành pháp, hay cóthể đƣợc thiếtkếnhằm vào việcđápứngnhững yêu cầu, nhiệmvụcủa QH; hay kết hợp, cósựpha trộncủacảhaiyếutốnày. Chẳng hạn, trong trƣờnghợpcủa QH CHLBĐức,việc thành lập các Ủy ban thƣờng trực nhằm vào việc đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụcủa QH; Điều 54 Nội quy QH Liên bang của QH CHLB Đức đã khẳng định rõ việc lập ra các Ủy ban thƣờng trực là để chuẩn bị cho các kỳ họp QH. Trong trƣờng hợp của QH Hoa Kỳ, việc thiết lập một số Ủy ban thƣờng trực và thẩm quyền của các ủy ban này vừa có nét tƣơng ứng với tổ chức của nhánh hành pháp (nhƣ Ủy ban Quân lực có thẩm quyền nói chung gắn với lĩnh vực của Bộ Quốc phòng, hay Ủy ban Năng

36

lƣợng và Thƣơng mại có thẩm quyền đối với việc quản lý chung của Bộ Năng lƣợng,Ủy banvềAn ninhnội địa có thẩmquyềnđối với Bộ Anninh nội địa… songđồng thời, nhiều Ủy ban khác đƣợc thành lập lại có các nhiệm vụ quyền hạn dựa trên các vấn đề đối tƣợngchungđƣợc quy địnhmột cách khá cụ thể, chứ không dựa vào cơ cấutổchứccủangành hành pháp [129, p.397]…Từnhững thựctếtrên, cho thấy không có nguyên mẫunào đƣợc áp dụng chung cho tất cả hệ thống Ủyban thƣờng trực, mà có nhiều cách thức tổ chức và hoạt động khác nhau, tùy thuộc vào nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nƣớc, mà nhất là sự vận hành của quyền lực chínhtrị và tổchức vàhoạt độngcủa QHở từngquốc gia.

Ở nƣớc ta, HĐDT, các Ủy ban là những bộ phận cấu thành tổ chức của QH,

đƣợc quy định trong Hiến pháp và có sự định danh cụ thể, rõ ràng hơn trong các văn bản pháp luật, nhất là các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của QH. Với vịtrí là các cơ quan của QH, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc QH, trong thời gian QH không họp thì báo cáo công tác trƣớc UBTVQH, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mang tính xuyên suốt của các cơ quan nàyđƣợc thểhiện qua 3

phƣơng diện hoạt động cơ bản là thẩm tra, giám sát, kiến nghị. Hiện nay, pháp luật quyđịnh Chủtịch HĐDT, Chủnhiệm Ủyban của QH do QH bầu; Phó Chủtịch HĐDT, Phó Chủ nhiệm Ủy ban, thành viên khác của HĐDT, Ủy ban do UBTVQH phê chuẩn (Điều 67 Luật TCQH 2014).

Xét về cơ cấu tổ chức, thì từ giai đoạn 1946-1959, Hiến pháp năm 1946 và các văn bản pháp luật chƣa có quy định việc thành lập các Ủy ban. Đến Hiến pháp năm 1959,lầnđầutiên việc thànhlậpcácỦyban đểgiúp QH hoạtđộngđãđƣợcthực hiện.Vớiviệc ban hành và thực hiện Hiến pháp năm 1980, HĐDT và 7Ủybanđã

đƣợcthànhlậptrong cơcấutổchứccủaQH. Sau khi Hiến pháp năm 1992, nay là Hiến pháp năm 2013, Luật TCQH năm 2014 đƣợc ban hành, cơ cấu tổ chức các cơ quan này có sự gia tăng. Trong nhiệm kỳ QH khóa XIII, QH thành lập HĐDT và 9 Ủy ban: UBPL, UBTP, UBKT, UBTC-NS, UBQPAN, UBVHGDTNTNNĐ, UBCVĐXH, UBKHCNMT, UBĐN. Nhìn chung, cácỦybanđƣợctổchức theo nhóm ngành, lĩnh vực quản lýnhà nƣớc đối với đời sống xãhội.

Là mộtcơ quan của QH, cóvịtrí, vai trò cơ bảnnhƣ các Ủyban, song HĐDT còn đƣợc Hiến pháp, pháp luật quy định có những nét nổi trội hơn. Theo đó, Chủ tịch HĐDT đƣợc mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc; khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủphải lấy ý kiến của HĐDT (Điều 75 Hiến pháp năm 2013)…Là một đất nƣớc với sự

37

đa dạng về dân tộc (trên 50 dân tộc anh em), phải đối mặt với nhiều âm mƣu chia rẽgiữa các dân tộc củacác thếlực thùđịch,việc thiếtlậpvà vận hành cơ quan này trong lịch sử hoạt động của QH thể hiện tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, sự coi trọng chính sách đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt quan tâm đến dân tộc ít ngƣời trong thực tiễn đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệTổ quốc. Nếu vị trí cácỦy ban cơ bản gắn với nhóm ngành, lĩnh vực thì vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc lại có thể bao trùm, nảy sinh trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về cơ cấu đại biểu là thành viên HĐDT mang tính đại diện khá cao, phản ánh cơ cấu dân tộc của nƣớc ta. Những điểm này có thể lý giải vì sao lại gọi là “Hội đồng”, thay vì tên gọi “Ủy ban”. Trong khi vẫn nhấn mạnh vị trí đặc thù hơn của HĐDT xét ở góc độý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, việc gọi chung Hội đồng, Ủy ban là các “Ủy ban thƣờng trực” đƣợc lý giải bởi sự tồn tại, vận hành ổn định qua nhiều nhiệm kỳ của các thiết chế này cũng nhƣ để phân biệt với “Ủy ban lâm thời”.

2.1.1.2. Vai trò của HĐDT, các Ủy ban

Thiết chế Ủy ban có vai trò quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Nghịviện các nƣớc. Xuất phát từxu hƣớng vậnđộng phát triển của nền dân chủvànhững bƣớc phát triển thực tiễn về thẩm quyền ngày càng to lớn của Nghị viện, thìnhu cầu về việc phân công lao động trong hoạt động nội tại của nghị viện là mang tính khách quan. Bởi với một tập thể thành viên gồm hàng trăm con ngƣời, lại phải đối mặt với phạm vi rộng lớn vềnhiệm vụ, quyền hạn ngày càng đòihỏi tính chuyên môn sâu, một thực tế đã đƣợc John Stuart Mill chỉ ra là “một Quốc hội đông

ngƣời khôngmấythích hợp cho công việc trực tiếp của cảlập pháp lẫn chính quyền” và không thểthực hiện tốt công việc của mình nếu không có những cách thức tổ chức công việc phù hợp, trừ phi có mô hìnhủy ban đểthực hiện nhiệm vụtham mƣu, tƣ vấn vềchuyên môn cho QH [33, tr.188, 192]. Hệthống các Uỷban

thƣờng trực trong QH nhiều nƣớc ra đời và phát triển trong bối cảnh đó.

Khởi đầu, sự cần thiết của một định chế tƣơng tự nhƣ hệ thống Ủy ban ngày nay có thể quan sátđƣợc từ khásớm trong lịch sử, bắt đầu ở nền Dân chủ Athens. Vào thời kỳphát triển mạnh mẽnhất của nó, Đại hội Quốc dân (Ecclesia) có thểthông qua các sắc lệnh (Psephisms-phần nhiều là các sắc lệnhvề những vấn đề đơn lẻ của chính sách), song các đạo luật đúng nghĩa chỉ có thể đƣợc soạn thảo hay sửa đổi bởi một Ủy ban khác ít ngƣời hơn, đƣợc thành lập mới lại hàng năm, đƣợc gọi là Nomothetae, Ủy ban này có trách nhiệm xem xét lại toàn bộ cácđạo luật vàbảo đảmsựthống nhất giữa các văn bản này [33, tr.194]. Có thểnói đâychính là một

38

biểu hiện đầu tiên thể hiện vị trí, vai trò của mô hình Ủy ban của thiết chế nghị viện trong lịch sử nhân loại.

Nhìn chung, quá trình hình thành, phát triển của hệthốngỦyban thƣờng trực ởQH một sốnƣớc cho thấy,đối với các QH khi mới đƣợc thành lập thì môhình ban đầu của các Ủy ban thƣờng là những nhóm (ủy ban) lâm thời, đƣợc thành

lập để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể và đƣợc giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ; các hình thức tổ chức và hoạt động ban đầu này đã tạo cơ sở cho việc thiết lập và vận hành hệ thống các Ủy ban thƣờng trực của QH. Chẳng hạn ở Anh, quốc gia có Nghị viện hình thành và phát triển sớm nhất ở Châu Âu, cách đây từ hơn 4 thếkỷ, trong Hạ viện Anh, các Ủy ban với thành phần bao gồmnhững nhóm hạn chếcác thành viên đƣợc thành lập để thực hiện một số nhiệm vụ và báo cáo kết quả hoạt động của mình tới Hạ viện [129, p.360]. Trong những năm đầu của thế kỷ XIX, vai trò, ý nghĩa hoạt động của các tiểu ban (ủy ban) của nghị viện cũng phần nào có thểnhận thấyđƣợc qua nhận định của C.Mác đềcập khi nghiên cứu vềvấn đềsựchuyển hóa của lợi nhuận siêu ngạch thành địa tô: “Những công trình nghiên cứu của các tiểu ban của Nghị viện có nhiệm vụđiều travềmức tiền công, và đƣợc thành lập ởAnh trƣớcngày thông qua các đạo luật vềlúa mì-cho đến nay những công trình nghiên cứu đó vẫn là một sựcống hiến quý giá nhất, và hầu nhƣ chƣa

đƣợc ai khai thác, vào lịch sử tiền công thế kỷ XIX, và đồng thời đó là một đài kỷniệm nhục nhã mà giai cấp quý tộc và giai cấp tƣ sản Anh đã tựdựng lên cho

chúng…”[5, tr.259-260]. Ở Hoa Kỳ, ngay từ thế kỷ thứ XVIII, trong nhiệm kỳ QH khóa 3 (1793-1795), để giải quyết những đề nghị về luật, 350 Ủy ban lâm thời (đặc biệt) đã đƣợc thành lập, mỗi Ủy ban có nhiệm vụ xử lý một dự án luật cụ thể. Tuy nhiên, khi phạm vi hoạt độngcủa QH ngày càng rộng hơn thì việc phải thƣờng xuyên lựa chọn các ủyban lâm thời đã bộclộtính không hiệu quả. Do đó, đến khoảng năm 1816, QH Hoa Kỳ (đầu tiên là Thƣợng viện và sau đó là Hạ viện) đãthành lập một hệ thống các ủy ban hoạt động thƣờng xuyên, hay còn gọi là Ủy ban

thƣờng trực [68, tr.132]. Trong điều kiện thực tếvàbốicảnh chính trịcụthểcủa

nƣớc Mỹ, mặc dù gần 80% luật đƣợc thông qua đều xuất phát từ ngành hành pháp [49, tr.137], song các Ủy ban có “vị trí là các chủ thể trung tâm” [121, p.4]; hay cácỦy ban “là cơ sở hạ tầng của Quốc hội” [86, tr.664].

Ở bình diện chung, việc thiết lập và vận hành hệ thống Ủy ban thƣờng trực làphát triển tất yếu của QH khi phải xử lý với một khối lƣợng lớn các công việc nặng nề, phức tạp [49, tr.82]. Các Ủy ban đóng vai trò to lớn trong hoạt động của QH. Việc thiết lập và vận hành hệ thống các Ủy ban trên thực tế đã làm thay đổi đáng kể cách thức

39

hoạt động và cũng là cách thức thực hiện quyền lực của QH. Hầu nhƣ tất cả các hoạt động của QH đều có vai trò can dự của các Ủy ban. Không phải ngẫu nghiên mà có ýkiến quan niệm các Ủy ban chính là “tai, mắt, tay, và nhất là não” của QH [68, tr.312]. Vị trí, vai trò ngày càng gia tăng của hệ thống Ủy ban trong hoạt động của QH là một thực tế khách quan, phản ánh mức độ chuyên môn hóa, phân công lao động trong quá trình phát triển của thiết chế Nghị viện.

Nhìn lại quá trình ban hành các bản Hiến pháp của Nhà nƣớc ta, có thể thấy Hiến pháp năm 1946 không quyđịnh vềviệc thành lập HĐDT, các Ủyban của Nghị viện hoặc một cơ quan chuyên môn tƣơng tựcủa nghị viện. Sang đến Hiến pháp năm 1959, các cơ quan tham mƣu giúp QH và UBTVQH trong các lĩnh vực quan trọng, nhất là công tác xây dựng pháp luật; quyết định kế hoạch và ngân sách nhà nƣớc bắt đầu đƣợc hìnhthành. Điều 57 Hiến pháp 1959 quyđịnh: “QHthành lập Ủy ban dự án pháp luật, Ủy ban kế hoạch và ngân sách, và những Ủy ban khác mà QH xét thấy cần thiết để giúp QH và UBTVQH”. Hiến pháp năm 1980 quy định HĐDT có quyền nghiên cứu và kiến nghị với QH và Hội đồng Nhà nƣớc về những vấn đề dân tộc; giúp QH và Hội đồng Nhà nƣớc giám sát việc thi hành chính sách dân tộc(Điều91). Các Ủyban đƣợcxácđịnh là cơ quan “thƣờngtrực” của QH. Nhiệm vụ của các Ủy ban thƣờng trực là nghiên cứu, thẩm tra những dự án luật, dựán pháp lệnh, dự án khác hoặc những báo cáo; kiến nghị với QH và Hội đồng Nhà

nƣớc những vấn đềthuộc phạm vi hoạt động của Ủyban; giúp QH và Hội đồng Nhà nƣớc thực hiện quyền giám sát. Khi xét thấy cần thiết, QH và Hội đồng Nhà

nƣớc có thể thành lập các Ủy ban lâm thời để làm những nhiệm vụ nhất định (Điều 92). Kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp năm 1992 (đãđƣợc sửa đổi, bổsung năm 2001), xuất pháttừtính chất, tầm quan trọng vàsựcoi trọngvấnđềdân tộc của Đảng và Nhà nƣớc ta, Hiến pháp năm 2013 (Điều 75) quy định HĐDT có những nhiệm vụ, quyền hạn mang tính đặc thù, nhƣ thẩm quyền nghiên cứu vàkiến nghị với QH về công tác dân tộc; quyền giám sát việc thi hành chính sách dân

tộc, chƣơng trình, kếhoạch phát triển kinh tế-xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Chủ tịch HĐDT đƣợc mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn vềviệc thực hiện chính sách dân tộc; khi ban hành quyđịnh thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủphải lấyý kiến của HĐDT. Ngoài ra, HĐDT cũng có những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhƣ các Ủyban.Vềnhiệm vụ, quyền hạn của các Ủy ban, cơ bản kế thừa các quy định trong Hiến pháp năm 1992, tại Điều 76 Hiến pháp năm 2013 quy định các Ủy ban có nhiệm vụ “thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật,

40

dựán khác và báo cáo đƣợc QH hoặc UBTVQH giao; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị về những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban”.

Trong dòng chảy chung, sự hình thành, phát triển về số lƣợng, cơ cấu tổ chức và xuthếngày càng mở rộng về phạmvi nhiệm vụ, quyền hạn của HĐDT, cácỦy ban của QH là những minh chứng thực tiễn về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của các cơ quan này trong hoạt động của QH nƣớc ta. Xét đến cùng, ĐBQH về bản chất mớithựcsựlà trung tâm trongmọihoạtđộngcủa QH, nhƣng từng cá nhânđơnlẻĐBQH khi phải đối diện với bề bộn các vấn đề quốc gia đại sự và cần phải phát biểu, cần phải biểu quyết, quyết định nếu thiếu vắng, không có kết quả tham mƣu, tƣ vấn của Hộiđồng,Ủyban thìsẽđƣađếnnhữnghệquảnhƣthếnào?Mặtkhác,mộttrong những lý do để QH thành lập các Ủy ban là nhiệm vụ, quyền hạn của QHnếu đƣợc giải quyết bằng cách tập trung tất cả các ĐBQH thì nhiều khi không những không có hiệu quả cao mà còn tốn kém [9, tr.235]. Về khía cạnh thực tế, với số lƣợng khoảng 500 đại biểu nhƣ những năm gần đây, thì rõ ràng, nhƣ có ý kiến đã nhận định: một đại biểu thì quá ít, mà cả QH thì lại quá nhiều. Đó là nguyên nhân vì sao các Ủy ban là hình thức hoạtđộnghiệuquảởQH trong trƣờnghợpliên quanđếnchuyên môn [110, tr.162].

Nhƣ thế, có thể nói việc xác lập và vận hành các cơ cấu, tổ chức bên trong QH hay bất kỳ một thiết chế nào khác là nhu cầu có tính quy luật, phát huy đƣợc trí tuệ, kinh nghiệm của các nhóm ĐBQH về những lĩnh vực chuyên môn cụ thể. HĐDT, các Ủy ban chính là những công cụ, phƣơng thức tổ chức để QH thực hiện đƣợc một cách cóhiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình. Tiếp cận từ khía cạnh này, xét về vị trí, vai trò, về cơ bản, HĐDT và các Ủy ban là cơ quan chuyên môn do QH lập ra, giúp QH về một số lĩnh vực để QH thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình. Do đó, là các cơ quan của QH, với tính chất là cơ quan chuyên môn, Hội đồng, Ủy ban không phải là các “QH thunhỏ”,không quyết định thay QH, không quyết định thay từng ĐBQH trong việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu, mà về bản chất, chỉ cung cấp cho các ĐBQH những thông tin, phân tích, đánh giá mang tính chuyên môn sâu, các kiến nghị,đềxuất…để QH xem xét, quyết định. Nhƣ vậy, vị trí, vai trò tham mƣu, tƣ vấn về chuyên môn trong hoạt động của HĐDT, các Ủy ban có tính khách quan, là hệ quả của việc phân công lao động trong hoạt động của QH.

Những nhiệm kỳ QH gần đây, có thể quan sátđƣợc sự pháttriển ngày càng năng động của HĐDT, các Ủy ban trong hoạt động của QH. GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, TS. Nguyễn SỹDũng nhấn mạnh việc cần phải “nhìn nhận các Ủyban vàHội đồng nhƣ là những công xƣởng của QH, nơi rèn dũa, sửa đổi mọi dự thảo trƣớc

41

khi đƣợc QH thông qua” [9, tr.459]. Trong khi đó, GS.TS. Trần Ngọc Đƣờng quan niệm khi coi các Ủy ban là “công xƣởng” là nhấn mạnh tới khía cạnh phƣơng thức hoạt động của Ủy ban, còn các Ủy ban cần đƣợc xác định là một trong hai cột trụ

(Hội đồng, các Ủy ban và ĐBQH) quan trọng trong tổ chức và hoạt động của QH; Hội đồng, Ủy ban là chỗ dựa cho ĐBQH xem xét, thảo luận, thông qua dự án luật, chỗ dựa đó có vững chắc thì ĐBQH có định hƣớng đúng đắn để bày tỏ quan điểm của mình [73, tr.265]. Theo NCS, trong khi về bản chất, vị trí, vai trò của Hội đồng,Ủy ban là các cơ quan có nhiệm vụ tham mƣu, tƣ vấn về các lĩnh vực chuyên môn cho QH không thay đổi, thì các quan niệm trên đây có thể cho phép hình dung một cách đầy đủ hơn về hai khía cạnh chính trong vị trí, vai trò tham mƣu, tƣ vấn vềchuyên môncủaHĐDT, Ủy ban: (i) khíacạnh vềphƣơng thức hoạtđộng, ởchỗHĐDT, Ủy ban phải là nơi chuẩn bị kỹ lƣỡng toàn bộ các vấn đề về chuyên môn

trƣớckhi trình QH xem xét, quyết định; (ii) khía cạnhvềnộidung chuyên môn, hoạt động của HĐDT, Ủy ban phải thực sự là chỗ dựa tin cậy, là “trụ cột” để QH có thể dựa vào đó xem xét, quyết định các vấn đề thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

2.1.2. Kháiniệm, đặc điểm hoạt động củaHĐDT, các Ủy ban 2.1.2.1. Khái niệm hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

Vậy hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban nên đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Về gócđộ ngônngữ, hoạt động có thểđƣợc hiểu là:“Làm những việc khác nhau với mục đíchnhất địnhtrongđời sốngxã hội”, là “vận động, vận hành để thực hiện chức năng nào hoặc gây tácđộngnào đó” [130]; hay hoạt động là việc “thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể”, “tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằmmộtmụcđích chung, trong một lĩnhvựcnhất định”[60, tr.583]. Trong hoạt động của QH nói chung, nhƣ đã đề cập ở trên, hoạt động của HĐDT, các Ủy ban cóthểlà toàn bộcác hoạt động do các cơ quan này thực hiện trên cơsởchức năng, nhiệm vụ đƣợc pháp luật quy định; hoạt động này phản ánh đặc thù của HĐDT, Ủy ban với vị trí là các cơ cấu đƣợc thành lập bên trong Quốc hội.

Ở Việt Nam, về mặt thời gian, thiết chế Nghị viện, nay là QH có lịch sử phát triển nhìn chung còn khá mới mẻ nếu so sánh với thiết chế Nghị viện hay QH các

nƣớc. Tƣơng tự nhƣ vị trí, vai trò nhƣ hệ thống Ủy ban trong QH các nƣớc, vị trí, vai trò của HĐDT, Ủy ban của QHnƣớc ta cũng chủyếu đƣợc nhìn nhận và thểhiện thông qua hoạt động của các cơ quan này trong lĩnh vực lập pháp, giám sát. Bên cạnh đó, HĐDT, các Ủy ban còn thực hiện thêm hoạt động kiến nghị, mặc dù

42

trên thực tế hoạt động này phần lớn gắn liền, phái sinh từ hoạt động lập pháp, giám sát của HĐDT, Ủy ban. Ngoài ra, hoạt động của hệ thống các cơ quan trong cơ cấu tổ chức của QH ở Việt Nam còn đƣợc thể hiện ở đặc thù trong lĩnh vực dân tộc, với việc thành lập và hoạt động của HĐDT. Trong khi hoạt động của HĐDT candự tới hầu nhƣ tất cả các hoạt động liên quan đến chính sách dân tộc của QH, Chính phủ, thì hoạt động của các Ủy ban có xu hƣớng phát triển theo ngành, lĩnh vực. Quá trình phát triển của QHnƣớc ta cho thấy, trong khi HĐDT là một thiết chếtồn tại khábền vững, thì số lƣợng các Ủy ban có chiều hƣớng ngày càng gia tăng, từ 02 Ủy ban theo quy định tại Điều 57 Hiến pháp năm 1959, Điều 35, Điều 36 Luật TCQH năm 1960 đến 9 Ủy ban theo quy định tại Điều 66 Luật TCQH 2014 hiện nay, theo đó, hoạt động của các Ủy ban của QH nƣớc ta tiếp tục chia nhỏ, mang tính chuyên môn hóa sâu hơn trong các lĩnh vực cụthể: pháp luật; tƣ pháp; kinh tế; tài chính, ngân sách; quốc phòng và an ninh; văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; về các vấn đề xã hội; khoa học, công nghệ và môi trƣờng; đối ngoại. Đó là chƣa kểđến những đề xuất gần đây về việc thành lập Ủy ban dân nguyện, hay việc chia tách một số Ủy ban có phạm vi phụ trách rộng, bao quát nhiều lĩnh vực nhƣ hiện nay.

Ngoài các phƣơng diện hoạtđộngmang tính chấtgắnbó, phụcvụtrực tiếp cho hoạt động của QH, HĐDT, các Ủy ban còn thực hiện một số hoạt động khác theo quy định của pháp luật, nhƣ đề nghị QH, UBTVQH về việc lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp, ĐBQHvềdựán luật,dựán pháp lệnh,dựthảo nghị quyết hoặcvềvấnđềquan trọng khác;đềnghịđƣavấnđềthuộc lĩnhvựcmìnhphụtrách ra thảo luận tại phiên họp của UBTVQH hoặc kỳ họp QH; quyết định và tổ chức thực hiện

chƣơng trình hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế hàng năm của mình; kiến nghịvới cơ quan hữu quanvề các vấn đề tổ chứcvà hoạt động đối ngoại thuộc lĩnh vực Hộiđồng, Ủybanphụtrách; tiến hànhhợptácvớicơ quanhữuquan của QH các

nƣớc, cơ quan hữu quan khác của nƣớc ngoài, tổ chức quốc tế (Điều 37, Điều 38 Quy chế hoạt động củaHĐDT và các Ủy ban của QH đƣợc ban hành kèm theo Nghị quyết số 27/2004/QH11 của QH khóa XI); thực hiện hoạt động mang tính chất hành chính, quản lý nội bộ nhƣ ban hành quy chế hoạt độngcủa Hội đồng,Ủy ban, xây dựng báo cáo công tác, báo cáo tổng kết hoạt động nhiệm kỳ…của Hội đồng, Ủyban…Từ đó, có thể hiểu hoạtđộngcủa HĐDT, cácUỷban của QH là việc các cơ quan này tiến hành các công việc cụ thể nhằm thực hiện chức năng thẩm tra, giám sát, kiến nghị đã

đƣợcpháp luật quyđịnh,vớimụcđích tham mƣu, tƣvấnvềchuyên môn cho QH, UBTVQH hoặc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác đƣợc pháp luật quy định.

43

2.1.2.2. Các loại hình hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Hoạt động của Hội đồng dân tộc các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hoạt động của Hội đồng dân tộc các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hoạt động của Hội đồng dân tộc các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hoạt động của Hội đồng dân tộc các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hoạt động của Hội đồng dân tộc các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hoạt động của Hội đồng dân tộc các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *