Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam

Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam

Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Các Đại hội gần đâycủaĐảngCộng sản Việt Namđãđềra chủtrương đổi mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta. Đại hội X đã cụthể hóa và tiếp tục phát triển đường lối đổi mới đó. Trong lĩnh vực nhà nước và pháp luật, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng xây dựng và hoàn thiện một hệthống pháp luật sao cho xứng đáng là côngcụquản lý xãhộicủa Nhànước. Nhưng nếu chỉdừng lại ởđóthì chưa đủ, cho dù chúng ta có một hệthống pháp luật tốt, thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cũng như phản ánh được những nhu cầu khách quan của đời sống xã hội thìpháp luật đóvẫnchỉnằmtrên giấy, chưa phát huy hết được tác dụng trong việc điều chỉnh hành vi của con người. Mục đích điều chỉnh của pháp luật chỉcó thểđạt được khi pháp luật được cácchủthểthực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế. Nói cách khác, pháp luật “trên giấy” phải được chuyển hóa vào đời sống thực tế bằng hành vi của con người – khi đó pháp luật được thực hiện.

Trongsốcác hình thức thực hiện pháp luật, ADPL là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, là hoạt động phổ biến của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các chức năng của mình. Đâylà vấn đềcóýnghĩa to lớnvềmặt lý luận và thực tiễn. Trong điều kiện xây dựng một NNPQ XHCN, tất cảnhững hoạt động nhằmbảođảm cho phápluật được thựchiện, trong đó bao gồm cả ADPL có tầm quan trọngđặc biệt.”Suy cho cùng, pháp luật chỉ phát huy được hiệu lực, chính sách và đường lối của Đảng và Nhà nước chỉ có thểđược thực hiện khi mà pháp luật, đường lối và chính sáchđóđược thểhiện trong hoạt động thực tếcủa bộmáy nhà nước, trong đời sống hàng ngày, hàng giờ của mọi công dân” [186, tr. 108]. Là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt mang tính tổ chức và quyền lực nhà nước, ADPL do các cơ quan nhànước thực hiệnđểbảođảmcho pháp luậtđượcthi hành mà không phụthuộc vào tính tự giác, tự thực hiện của các chủ thể khác trong xã hội. Thông

3

qua hoạt động ADPL, các quy phạm pháp luật tìm thấy sự liên kết vững chắc với đời sống xã hội để chuyển hóa những yêu cầu chung vào những quan hệxã hội cụ thể. Chính vì vậy, hoạt động ADPL nói chung có những ảnh hưởng vàtác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội. Đối với xã hội, hình ảnh thực tế của pháp luật được nhìn thấy thông qua chính các hoạt động ADPL cụ thể.

Trongsốcác hoạt động ADPL, hoạt độngáp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không giống như trong các lĩnh vực khác củađời sống xã hội, hoạt độngáp dụng PLHS thoạt nhìn dườngnhư không có những tác độngxã hội rộnglớnbởi nóchỉliên quan từng cá nhân cụ thể. Tuy nhiên, không phải mọi giá trị đều được bảo vệ bằng PLHS. PLHS chỉ bảo vệ những giá trị mà nhà nước coi là quan trọng nhất đối với sự phát triển chung của xã hội. Chính vì vậy, là hoạt động chuyển hóa các quyđịnh củaPLHS, hoạt động áp dụng PLHS thực sựlại có những tác động xã hội sâu sắc. Việc áp dụng PLHS đúngđắn một mặt bảo đảm việc trừng trị đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm cho tính toàn vẹn của những giá trị lớn lao mà PLHS bảo vệ, mặt khác, có ý nghĩa giáo dục và răn đe chung đối với toàn xã hội. Ngược lại, việc áp dụng PLHS không đúngđắn khôngchỉảnh hưởngtrực tiếp đếnnhững quyền cơbảnnhất của công dân, của con người mà còn làm xói mòn niềm tin của mỗi người dân vào tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật. Cũng chính vì vậy mà trong số các hoạt động ADPL, áp dụng PLHS luôn được đặt trong những giới hạn khắt khe nhất về nội dung và thủ tục.

Trong những năm qua, hoạt động áp dụng PLHS đã có những đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ sự phát triển bình thường của xã hội trước sự tấn công của các hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh kếtquảđạtđược, nhiều hạn chế vẫn còn tồn tại và chậm được khắc phục. Nỗi lo lắng trước thực tế vẫn còn những kẻ phạm tội chưa bị trừng trị và câu chuyện của những người bị oan sai là sự nhắc nhở thường trực về trách nhiệm phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án.

4

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu đó là một trong những nội dung được thểhiện rất rõ nét trong Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của BộChínhtrịvềmột sốnhiệmvụtrọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của BộChính trị về chiến lược CCTP đến năm 2020. Xuất phát từ lý do nêu trên màviệc đảm bảo chohoạt độngáp dụng PLHS có hiệu quả luôn là một yêu cầu mang tính thời sự, đòi hỏi phải thường xuyên được nghiên cứu sâu sắc cả vềlý luận và thực tiễn.

Hiện nay, những công trình nghiên cứuchuyên khảovềlý luận cũng như thực tiễnvềhoạt độngáp dụng PLHS củaCQĐT, VKS và Tòa án còn hạn chế, nhất là những công trình nghiên cứu có tính chất tổng hợp từ góc độnghiên cứu lý luận liên ngành lý luận, lịch sửnhànước vàpháp luật và luật hình sự cho nên cách đặt vấn đề nghiên cứu của luận án là hết sức cần thiết. Với lý do đó, tôi chọn đề tài “Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu

Đâylà một đềtài mà nội dung có tính liên ngành, quá trình nghiên cứu cho thấy đề tài này không trùng lặp với bất cứ đề tài nào do cá nhân thực hiện từ trước đến nay, cũng như do các cơ quan, tổ chức thực hiện ở các cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, đề tài có thể tham khảo được nhiều công trình khoa học có liên quan, đãđượccông bố. Đó lànhững công trình dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đã đề cập đến hoạt động áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án ở những khía cạnh khác nhau.

Từ khía cạnh lý luận về hoạt động ADPL nói chung và áp dụng PLHS nói riêng có các công trình khoa học như bài viết củatác giảNguyễn Minh Đoan (2002) “Áp dụng pháp luật – Một số vấn đề cần quan tâm” trên Tạp chíLuật học, Luận án tiến sĩ “Cơ chế điều chỉnh pháp luật Việt Nam”của Nguyễn Quốc Hoàn bảo vệtại Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Luận án tiến sĩ

5

“Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Xuân Thân, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2004); Từ góc độ liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan TPHS nhằm thực hiện chức năng điều tra, truy tố, xét xử có các công trình như tác giảTrần Huy Liệuvớiluận án “Đổivớitổchức và hoạtđộng của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam“, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), cuốn sách chuyên khảo của TSKH Đào Trí Úc chủ biên năm 2002 “Hệ thống tư pháp và cải cách tưpháp ởViệt Nam hiện nay“,Đềtài KX.04.06 thuộc Chương trình khoa học cấp nhà nước do TS. Uông Chung Lưu làm chủ nhiệm (2006) về “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả vàhiệu lực xét xử của Tào án trong NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân”. Bên cạnh đó là các công trình khoa tiếp cận từng nội dung cụ thể của đề tài từgóc độ luật hình sự như Giáo trình lý luận chung về định tội danh của tác giả VõKhánh Vinh do Nxb Công an nhân dân xuất bảnnăm 2003, tác giảDương Tuyết Miên (2004) với cuốn sách“Địnhtội danh và quyết định hình phạt” của Nxb Công an nhân dân, bài viết “Một số vấn đề về quyết định hình phạt quyđịnhtrong Bộluật hìnhsự1999” của Tác giảĐinh Văn Quếtrong TạpchíTAND năm 2005, sách “Tội phạm và cấu thành tội phạm” của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa do Nxb Công an nhân dân xuất bản năm 2006. Một số công trình khoa học khác lại tập trung nghiên cứu các vấn đềvềTTHS nhằm tìm kiếm những giải pháp hoàn thiện những trình tự, thủtụccủa việc áp dụng PLHS như gần đây (2008) tác giả Nguyễn Đức Mai có bài viết “Hoàn thiện thủ tục rút gọn đáp ứng yêucầucải cách tư pháp” trong Tạp chí TANDsố15, bài “Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” của TS. Nguyễn Thái Phúc trong Tạp chí Nhà nước và

pháp luật số 244… Ngoài ra còn có các giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Giáo trình Luật hình sự, Giáo trình Luật TTHS của các cơsởđào tạo như Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội,Trường Đại học Luật

Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân… mà trong nội dung đã đề cập nghiên

6

cứu từng mảng, từng vấn đề cụ thể liên quan đến ADPL nói chung và áp dụng PLHS nói riêng của các CQĐT, VKS và Tòa án ở Việt Nam. Quá trình thực hiện đề tài cho thấy còn rất nhiều những công trình khác của các tác giả đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật đã công bố, nghiên cứu từ góc độ lịch sử, lý luận và thực tiễn, liên quanđếnnhững khía cạnh khác nhau của nội dung đề tài.

Những công trình nói trên đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động động áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và đặc biệt là Tòa án nước ta, phúc đáp những yêu cầu bức xúc của cuộc sống. Trong số đónhiều kiến giải, luận điểm khoa học đã được vận dụng vào thực tiễn và thu được những kết quả khả quan, như: chế định bổ nhiệm Thẩm phán, cơ cấu hội đồng xétxử củacác Tòa án thayđổitheo hướng tăng tỷlệThẩm phán cao hơn Hội thẩm nhân dân, thẩm quyền xétxửcủaTòa áncấphuyệntừng bướcđược mở

rộng, sửa đổi một số quy định pháp luật TTHS nhằm tăng tính tranh tụng trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự; kiến nghị để BLHS được sửa đổi, bổ sung theo hướng nâng cao kỹ thuật lập pháp (về xây dựng CTTP, sửa đổi khung hình phạt và các quyđịnhliên quanđếnQĐHP, áp dụng các hình thức TNHS khác…).

Tuy nhiên, vì các lý do khác nhau nên những công trình nghiên cứu trên chưa giải quyết một cách triệt để, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễnvềhoạt độngáp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án nướcta trong điều kiện CCTP hiện nay. Thực tế cũng cho thấy mặc dù đã được các kỳĐại hội Đảng trong giai đoạnđổi mới (từnăm 1986đếnnay) luôn đềcập nhưng so với những cải cách trong lĩnh vực lập pháp và hành pháp thì CCTP vẫn còn đang chậm, kết quả còn hạn chế, nhiều sai lầm đáng tiếc vẫn xảy ra làm giảm lòng tin của người dân vào hệ thống các cơ quan tư pháp. Tình hình này có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân là do những vấnđề lý luận và thực tiễn về hoạt động áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS vàTòa án chưa đượcgiải quyết triệt để, có tínhhệthống. Trên cơsởkếthừa

7

những kếtquảcủa các công trình nghiên cứu khoa học nói trên, cũng nhưnhiều bài viết trong các tạp chí và sách chuyên khảo luật (trong danh mục tài liệu tham khảo) và nghiên cứuthực trạng hoạtđộngADPL hình sựcủacác CQĐT, VKS và Tòa án từ năm 1945 đến nay, luận án đã tiếp cận nghiên cứu đề tài một cách toàn diện về cả lý luận và thực tiễn.

3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu * Mục đích

Mục đích nghiên cứu tổng quát của luận án là xây dựng cơ sở lý luận, đánh giá thực tiễn vàđềxuất các giải pháp cơbảnđảmbảo hiệu quảhoạtđộng áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án ởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với các yêu cầu, đòihỏi của công cuộc CCTP của Đảng và Nhà nước ta.

* Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nói trên, luận án có nhiệm vụ:

+ Trên cơsởlý luậnvềhoạtđộng ADPL làm rõvềmặt lý luận vàthực tiễn về khái niệm, đặc điểm, nội dung, nguyên tắc của hoạt động áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án Việt Nam.

+ Phân tích các giai đoạn của quá trình áp dụng PLHS và sự tham gia của các CQĐT, VKS và Tòa án trong quá trình đó để thực hiện các chức năng của mình.

+ Xây dựng khái niệm hiệu quả áp dụng PLHS, chỉ ra các tiêu chí đánh giá hiệu quảvà các yếutốcó ảnh hưởng, tác độngđếnhoạt độngáp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án.

+ Đánh giá thực trạng hoạt động áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay. Qua đó, tìm ra những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.

8

+ Xác định yêu cầu của chiến lược CCTP hiện nayởnước ta trong việc nâng cao hiệu quả áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp định hướng đảm bảo hiệu quả áp dụng PLHS của các cơ quan này, đáp ứng yêu cầu của CCTP.

* Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án Việt Nam. Bản thân áp dụng PLHS là hoạt động có nội dung rộng, có sự tham gia của nhiều chủ thể. Tuy nhiên, Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động áp dụng PLHS của ba cơ quan là CQĐT, VKS và Tòa án khi thực hiện chức năngđiềutra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Những hoạt động áp dụng PLHS trong giai đoạn thi hành án hình sự không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án.

Về thực tiễn, luận án giới hạn việc nghiên cứu thực tiễn ADPL hình sựcủa các cơ quan nói trên từkhi thành lập nước năm 1945 đến nayđểtìm ra những điểmđặc trưng trong thực tiễn đó. Tuy nhiên, do nguồndữliệu được lưu trữđôichỗkhông thống nhất nên nhiều giai đoạn lịch sửcóthểkhuyết thiếu dữ liệu, đặc biệt là giai đoạn ngaysau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Sốliệu thực tiễn được thống kêcụthểtrong giai đoạn10 nămtrởlại đây (1997 – 2007).

4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu * Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh; các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chốngtộiphạm trong các giai đoạnlịch sử; các thành tựucủakhoa học pháp lý như lịch sử nhà nước và pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật TTHS; những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết

9

đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học pháp lý chuyên ngành ở Việt Nam và nước ngoài.

* Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơsởphương pháp luận củaphép duy vật biện chứng vàchủnghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp như:

lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, quy nạp và diễn dịch…

Bằng phương pháp phân tích và tổng hợp, luận án đãnghiên cứu hệthống các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước và những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của thực tiễn điều tra, truy tố và xét xửthuộc lĩnh vực PLHS do TANDTC và của các cơ quan chức năng ban hành cóliên quan đến hoạt động áp dụng PLHS. Đặc biệt với phương pháp thống kê, lịch sử, so sánh, luận án đãnghiên cứu và rút ra những kết luậntừnhững nguồn dữ liệu lịch sử lưu trữ của Thư viện quốc gia. Những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của ngành Tòa án và ngành kiểm sát, tài liệu vụ án hình sự trong thực tiễn xét xử, cũng như những thông tin trên mạng internet và các sách báo pháp lý chuyên ngành cũng được phân tích, tổng hợp, thống kê, quy nạp và diễn dịch. Từ đó tác giả đã luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận án.

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Đềtài là công trình chuyên khảo có tính chất liên ngành trong khoa học pháp lý Việt Nam nghiên cứu toàn diện, cóhệthống, đồngbộcơsởlýluận và thực tiễn về hoạt động ADPL hình sự của các CQĐT, VKS và Tòa án ở cấp độ một luận án tiến sĩ luật học, thể hiện là:

– Trên nền tảng lý luận chung về ADPL, đề tài đã luận giải được cơ sởlý luận về hoạt động áp dụng PLHS giới hạn trong phạm vi hoạt động của các CQĐT, VKS và Tòa án, qua đó phân tích bản chất và nét đặc trưng của hoạt

10

động áp dụng PLHS và thấyđược sựkhác biệt giữa hoạt độngnày và hoạtđộng ADPL trong các lĩnh vực phi hình sự khác.

-Đềtài phân tích vàchỉra những mối liên hệbiện chứng giữa hoạtđộng áp dụng PLHS và hoạt động thực hiện các chức năng điều tra, truy tố vàxét xửcủa các CQĐT, VKS và Tòa án Việt Nam, đồng thời luận giải vềsựtham gia của từng cơ quan này trong hoạt độngáp dụng PLHS khi thực thi quyền lực nhà nước.

Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam
Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam

– Đề tài phân tích mối quan hệ giữa pháp luật thủ tục và pháp luật vật chất trong việc hình thành các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động áp dụng PLHS vàphân tích nội hàm của từng nguyên tắc.

– Khái quát một bức tranh toàn cảnh về thực trạng hoạt động áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòa án Việt Namtừsau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, qua đóđưa ra những nhận xét, đánh giá có cơsởkhoa học và thực tiễn (mà không trình bày theohướngliệt kê), tìm ra những hạn chế và phân tích nguyên nhân của những hạn chế trong thực trạng này.

– Trên cơ sở xác định yêu cầu của chiến lược CCTP hiện nayở nước ta trong việc đảmbảo hiệu quả áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Tòaán, đề tài đã luận giải và đưa ra các giải pháp có căn cứ khoa học, có tính khảthi, phù hợp với yêu cầu của CCTP.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án * Ý nghĩa lý luận

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảođồngbộđềcập một cách có hệ thống và tương đối toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn vềhoạt động áp dụng PLHS của các CQĐT, VKS và Toà án ở cấp độ một luận án tiến sĩ luật học với những đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên. Ngoài ra, tác giả đã công bố những kết quả nghiên cứu trong các tạp chí khoa học pháp lý mà danh mục một số công trình khoa học này ở phần cuối luận án.

11

* Ý nghĩa thực tiễn

Luận án góp phần vào việc xác định đúng đắn những nội dung cụ thểcủa hoạt động áp dụng PLHS trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các CQĐT, VKS và Tòa án cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm PLHS và TTHS ở khía cạnh lập pháp và thực tiễn áp dụng. Những giải pháp mà luận án đưa ra có tính định hướng cho thực tiễn hoạtđộng của các CQĐT, VKS và Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng PLHS của các cơ quan này đáp ứng những yêu cầu của chiến lược CCTPđến 2020.

Ngoài ra, luận án còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các nhà khoa học pháp lý, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học viên cao học và nghiêncứusinh chuyên ngành lý luậnvềnhànướcvà pháp luật, TPHS, cũng như phụcvụcho công tác lập pháp và hoạtđộng thực tiễn áp dụng PLHS trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như giáo dục, cải tạo người phạm tội ở nước ta hiện nay.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án

Chương 2: Thực trạng hoạt độngáp dụng pháp luật hình sựcủa các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp đảm bảo hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật hìnhsựcủa các Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

CỦA CÁC CƠ QUAN ĐIỀU TRA, VIỆN KIỂM SÁT VÀ TÒA ÁN

1.1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

1.1.1. Áp dụng pháp luật – hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt Các kiểu pháp luật trong lịch sửdù khác nhauvềbảnchất và hình

thức thểhiện, đều làsựphản ánh quyền lực nhànước vàsựthực hiện pháp luật luôn là thước đohiệu quả hoạt động của bộmáy nhà nước. Đặt ra pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhà nước nào cũng đều mong muốn và đòi hỏi những quyđịnhcủa pháp luật trở thành xửsựcụ thể của các chủthể trong đời sống thực tiễn. Ở đây, nếu có khác nhau thì đó là hình thức vàbiện pháp tiến hành. Nếu như XDPL là quá trình phản ánh bằng pháp luật các yêu cầu khách quan củađời sống xã hội theoýchí nhànướcthì thực hiện pháp luật là quá trình biến những đòi hỏi của nhànước thểhiện trong nội dung pháp luật thành hoạt động thực tế của các chủ thể.

Là một trong những khái niệm cơbảncủa khoa học pháp lý, vềmặt thuật ngữ, ADPL là một hoạt động, một quá trình tách ra khỏi hoạt động XDPL và gắn với giải quyết các yêu cầu thực tế. Về lý luận, ADPL và XDPL là hai quá trình độc lập với nhau.

Trong khoa học, có nghiên cứu cho rằng, ADPL là quá trình diễn ra ngay sau quá trình XDPL, bao gồm “toàn bộ những việc làm, những hoạt động, những phương thức nhằm thực hiện những yêucầuđặtra trong pháp luật trong việcđiều chỉnh các quan hệ xã hội” [185, tr. 227]. Với quan điểm này, ADPL theo đóbao gồm cả việc cụ thể hóa pháp luật bằng những văn bản có tính hướng dẫn chi tiết của Chính phủ, các Bộ, và Tòa án v.v… Việc ADPL do đó sẽ được thể hiện thông qua những hình thức và phương pháp như: (1) tuân thủ pháp luật, (2) thi hành

13

pháp luật và (3) vận dụng, sử dụng pháp luật. Quan điểm ở đây còn chứa đựng mâu thuẫn. Bản thân pháp luật hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất cũng như giá trị thực tế mà nó mang lại không thể chỉ giới hạn một cách hạn hẹp trong các văn bản làđạo luật. Một quan điểm hợp lý về ADPLtrước tiên cần phải được bắt đầu từ cơsở có tính nhận thức mà nội dung căn bản phải giải quyết được hai vấn đề:thứnhất đó là quan hệ giữa XDPL (hoặc pháp luật nói chung) với thực hiện pháp luật và thứ hai là quan hệ giữa thực hiện pháp luật và ADPL.

1.1.1.1. Quan hệ giữa xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật Quá trình XDPLđược đặc trưng bởi tính phản ánh và chịu sự chi phối

trước tiên và cơ bản nhất của quy luật về mối liên hệ phổ biến giữa cơ sở hạ

tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong số các yếu tố của kiến trúc thượng tầng, pháp luật là nơi phản ánh một cách rõ nét nhất sự tác động, ảnh hưởng ngược trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng. Điều này được thể hiện ởchỗsựphản ánh của pháp luật được thểhiện thành những quy tắc xửsự(hay những khuôn mẫu) cho các quanhệxãhộivận độngtheo một định hướng xác định phù hợp với lợi ích của nhànước và của xã hội nói chung. Theo C. Mác: “Những quanhệpháp luật cũng như hình thức Nhà nước, không thểtựbảnthân nó mà giải thíchđược, cũng không thểtừtrong quátrình phát triển chung của tinh thần con người mà giải thích được. Tóm lại nócó nguồn gốc trong quan hệsinh hoạt vật chất” [93, tr. 433]. Mặc dù pháp luật có mục đích tự thân là điều chỉnh các quan hệ xã hội nhưng bản thân nóchưa thể tự chi phối được hành động của con người. Ảnh hưởng của pháp luậtđối với đời sống hiện thực xã hội được thông qua một hệ thống phức tạp với những yếu tố cấu thành khác nhau. Kết quả của quá trình này là việc vật chất hóa pháp luật vào đời sống xã hội, làm cho pháp luật thực tế chi phối được các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Nói cách khác, đây là quá trình làm cho pháp luật được thực hiện. Thực hiện pháp luật là một đòi hỏi xuất phát từ bản chất củanhànướcvà pháp luật, là việcđưapháp luật vàđờisống xã hội. Vềlýthuyết cũng như thực tiễn, thực hiện pháp luật là một quá trình tiếp theo và

14

diễn ra ngay sau quá trình XDPL. Ở đây diễn ra sự cọ xát giữa pháp luật với những quan hệxã hội mà nóđiềuchỉnh nhằm mục đích chuyển hóa những quy tắc xử sự mang tính phổ biến thành những hành vi thực tế của các chủ thểpháp luật. Thực hiện pháp luật và XDPL (có quan điểm gọi là “sáng tạo pháp luật” [98, tr. 423], hoặc là “xác lập trật tự sáng tạo pháp luật” [139, tr. 37]) làhai quá trình độc lập với nhau. Thực hiện pháp luật rõ ràng là một quá trình năng độngchịusựchi phốibởitính đặcthù, sựphong phú của các chủthểthực hiện pháp luật cũng như của các quanhệxã hội. Quá trình này cho ta thấy đời sống thực tếcủapháp luật trong sự vận động không ngừng của các quan hệ xã hội.

Do pháp luật là tổng thể những quy phạm có nội dung rất phong phúnên việc thực hiện những quy phạm pháp luật khác nhau hoặc những nhóm quy phạm pháp luật khác nhau cũng được diễn radưới những hình thức và biện pháp khác nhau. Nộidung và hình thức của thực hiện pháp luật được quyếtđịnh bởi chính pháp luật. Việc thực hiện pháp luật là sự thống nhất của nhiều nội dung tương ứng với những yêu cầu phong phú mà pháp luật đã đặt ra.

1.1.1.2. Quan hệ giữa thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật

Các quy phạm pháp luậtrấtphong phú và đa dạng cho nên hình thức thực hiện chúng cũng khác nhau. Vềmặtlý luận, bất cứmột hệthống pháp luật nào dù chịu ảnh hưởng của những điều kiện khác biệt nhau về kinh tế – xãhội thì về cơ bản nộidung cũng bao gồm những một số loại quy phạm nhất định.

Trước hết là loại quy phạm ngăn cấm (hay cấm đoán). Tương ứng với yêu cầu của loại quy phạm này, việc thực hiện pháp luật được tiến hành dưới hình thứcgọilà tuânthủpháp luật. Loại quy phạmthứhai là những quy phạm mà nội dung đòi hỏi các thủ thể pháp luật phải thực hiện một số hành vi nhất định. Đây là loại quy phạm nghĩa vụ vì trong khoa học pháp lý, một chủthể phải thực hiện một hành vi nào đó được xem là nghĩa vụ của họ. Tương

15

ứngvới yêu cầu củaloại quy phạm này, việc thực hiện pháp luật được tiến hành dưới hình thức gọi là thi hành pháp luật. Loại quy phạm thứ ba là những quy phạm quy định về quyền của các chủ thể pháp luật, các chủ thể pháp luật sử dụngquyền chủ thể của mình được xác định trong các quy phạm nói trên phù hợp với lợi ích của mình. Tương ứng với yêu cầu của loại quy phạm này, việc thực hiện pháp luật được tiến hànhdưới hình thức gọi làsửdụng pháp luật.

Tuy nhiên, trong thực tế không phải mọi loại quy phạm pháp luật đều có thể được thực hiện bằng những hình thức nêu trên. Còn một bộ phận tương đối lớn các quy phạm pháp luật mà các chủ thể pháp luật không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụmà nội dung quy phạmđềra. Những quy phạm pháp luật thuộc nhóm này thông thường là các quy phạm nghĩa vụ. Trong các trường hợp như vậy, việc thực hiện pháp luật của các chủ thể phải thông qua một hình thức đặc biệt, trong đó có sự tham gia của nhà nước với tư cách là tổ chức quyền lực công, ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện. Nói cách khác, đó là hình thức mà pháp luật được “thực hiện trong cuộc sống thông qua hoạt động củacơ quan nhànước” [184, tr. 272-273]. Hình thức này được gọi làADPL.

ADPL là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt trong đó nhà nước thông qua các thiết chế của mình tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quyđịnh của pháp luật. Sự đặc biệt ở đây không phải chỉ thể hiện ở sự tham gia cótính bắt buộc của nhà nước (mặc dù đôi khi nhà nước cũng có thể ủy quyền cho một tổ chức xã hội ADPL) mà còn nằm ở chỗ ADPL cùng một lúc có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Trongmốiquanhệgiữa nhànướcvà pháp luật, nhànước vừa là chủ thể ban hành pháp luật đồng thời là chủ thể phải thực hiện một cách nghiêm chỉnh pháp luật.Tổchức thực hiện pháp luật (nói cách khác làADPL) nhưvậyvừalà quyềnvừalà nghĩavụcủanhànước.Trong hình thức thực hiện pháp luật này, nhà nước vừa thi hành pháp luật vừa sử dụng pháp luật. Trong mối quan hệ với các chủ thể khác, hoạt động này có tính chất là áp đặt ý

16

chí của nhà nước được thể hiện trong pháp luật vào hành vi cụ thể của các chủthể pháp luật. Chẳng hạn, bằng việc xét xử người đã thực hiện một tội phạm, nhànước thông qua Tòa án buộc người đó phải chịu hình phạt (tức là thực hiện nghĩa vụ của họ).Và như vậy, chỉ trong mối quan hệ này, ADPL mới thực sự tồn tại một cách rõ nét nhất như một hình thức thực hiện pháp luật thứ tư.

1.1.1.3. Các trường hợp áp dụng pháp luật

Nhà nước sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhưng không phải mọi trường hợp đều cần đến sự can thiệp của nhà nước để đưa các quy phạm pháp luật do nhà nước đã ban hành vào cuộc sống – tức là cần đến hoạt độngADPLcủacác cơ quan nhànước có thẩm quyền. ADPLchỉxuất hiện trong những trường hợp khi mà những chủ thể của pháp luật không thể

tựmình thực hiện các quy phạm pháp luật. Trong khoa họcpháp lý, quanđiểmđược thừa nhận tương đối rộng rãi hiện nay là chia thành bốntrường hợpADPL [98, tr. 420], [124, tr. 499-500], [188, tr. 351-352]. Các trường hợp đó phản ánh tương đối phổ biến và đầy đủ của việc ADPL. Tuy nhiên, xét đến cùng dù được chi tiết hóa thành các trường hợp khác nhau thì về bản chất chung nhất, ADPL xuất hiện trong những trường hợp: Khi mà quyền và nghĩa vụpháp lý của các chủthểpháp luật: (1) không mặc nhiên phát sinh hoặc (2) không mặc nhiên được thừa nhận hay thực hiện nếu thiếu sự can thiệp của nhànước với tư cách là một tổ chức quyền lực công.

Trên cơ sở những phân tích trên đây, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về ADPL là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, là một hoạt động thực tiễn pháp lý nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợptương ứngđối với các chủthểpháp luật cụthể, mang tínhtổchức – quyền lực do nhà nước thông qua những thiết chế của nó thực hiện.

1.1.2. Đặc điểm của áp dụng pháp luật hìnhsự

1.1.2.1. Áp dụng pháp luật hình sự – một dạng của áp dụng pháp luật

17

Là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt nên áp dụng PLHS cónhững đặc điểm chung của bất cứ dạng ADPL nào,những đặc điểm đó là:

Trước hết, làsựtham gia của nhànướcvới tư cách là một tổchức quyền lực công nên điều này làm cho hoạt động áp dụng PLHScó đặc điểm là hoạt động mang tính tổ chức – quyền lực. Khác với các hình thức thực hiện pháp luật khác có thể do các chủ thể pháp luật khác tiến hành, áp dụng PLHS chỉcóthểdo nhànước thông qua những cơ quan có thẩm quyền tiến hành. Pháp luật quy định mỗi một loại cơ quan nhà nước nhất định (như Chính phủ, các Bộ, VKS hay Tòa án, v.v…) được tiến hành hoạt động ADPL trong những lĩnh vực nhất định. CQĐT, VKS và Tòa án là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng PLHS và những cơ quan này còn được biết đến là các cơ quan tiến hành TTHS nếu như xem xét hoạt động áp dụng PLHS là một quá trình từkhi bắt đầuđến khi ra đượcvăn bản áp dụng PLHS. Xem xét mối tương quan giữa nhà nước – pháp luật – và ADPL sẽ thấy một mặt, pháp luật là công cụ, phương tiện để nhà nước thực hiện các chức năng của mình, mặt khác, nhànước bằng việc ADPLđểthực hiện những mục tiêu mà pháp luật đặt ra. Chính vì đặc điểm này mà có ý kiến đã coi “áp dụng pháp luật không chỉ làhình thức thực hiện thực tếcác quy phạm pháp luật mà còn làmộtphương

tiện để tổ chức thực hiện các quy phạm pháp luật trong đời sống…….” và “áp

dụng pháp luật như là hình thức pháp luật thứ hai để quản lý xã hội” [98, tr. 422].

Đặc điểm này còn được thể hiện ở chỗ về nguyên tắc, áp dụng PLHS tiến hành theo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việcáp dụng PLHS chỉ diễn ra theo quy định của pháp luật, theo một trình tự, thủtục pháp luật được quyđịnh một cách chặt chẽ, không thểtựý thayđổi hay

chấm dứt theo ý chí của bất kỳ ai, trừ trường hợp pháp luật đã quy định trước một cách rõ ràng.

18

ChủthểADPL làchủthểcó thẩm quyền, làđại diện cụthểcho tính tối cao của quyền lực nhà nước. Về nguyên tắc, các chủ thể này thực hiện việc ADPL một cách đơn phương, không bị phụ thuộc vào ý chí của đối tượng bịáp dụng [188, tr. 353]. Tuy nhiên, khi phát sinh quan hệ PLHS, việc áp dụng PLHS không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của các chủ thể ADPL. Mặc dùlà các chủ thể có thẩm quyền nhưng các chủ thể ADPL không nhân danh ý chíchủ quan của mình mà nhân danh ý chí của nhà nước đã được quy định trong pháp luật. Trong mối quan hệnày, pháp luật mang tính khách quan ngaycảđối với những chủ thể có thẩm quyền áp dụng nó. Đứng trước nghĩa vụ pháp lý khách quan đó, quyền của chủ thể áp dụng PLHS bị giới hạn đến mức tối thiểu. Họ chỉ có một quyền duy nhất – không được lựa chọn – là phải chuyển hóa một cách chính xác các quyđịnh củaPLHS vào từng quan hệ xã hội cụthể. Các chủ thể cũng không được thay đổi hay chấm dứt việc ADPL theo ýchí của mình hay của bất kỳ ai, ngoại trừ các trường hợp đã được quy định rõtrong pháp luật.

Đặc trưng này khác so với những gì diễn ra trong việc ADPL thuộc các lĩnh vực tư như kinh tế hay dân sự. Trong các lĩnh vực này, ý chí chủ quan của cácchủthểcó vai trò quan trọng, quyếtđịnhđếnviệc ADPL.Vềnguyên tắc, việc ADPL trong các lĩnh vực kinh tế hay dân sự được thực hiện theo yêu cầu của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật kinh tế hay dân sự. Thậm chí ngay cả khi có tranh chấp đã đưa ra tòa để nhờ đến sự can thiệp của nhà nước, các chủthể vẫn có thể chấm dứt việc tranh chấp bất cứ lúc nào để tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình mà không cần đến hoạt động ADPL của Nhà nước.

Thứhai, là hoạt độnggiải quyết trực tiếp với những vấn đềthực tếnên áp dụng PLHS là sự điều chỉnh cá biệt, cụ thể các quanhệ xã hộikhi cósựkiện phạm tội.Đãnói đến ADPL là nói đếntínhcụthể. Áp dụng PLHS cũng vậy, chỉ diễn ra trong những trường hợp rất cụ thể, trong những quan hệpháp luật cũng rất cụ thể. Khi PLHS được vật chất hóa vào đời sống xã hội thìnó luôn có tính xác định vềmặt chủthể- tức là áp dụngđối với ai,vềmặt

19

khách thể – tức là áp dụng cho quan hệ xã hội nào, về mặt không gian – tức làáp dụng ở đâu, về mặt thời gian – tức là áp dụng khi nào,và cả về mặt cơ sởpháp lý – tức là áp dụng quy phạm nào của hệ thống PLHS.

PLHS được xây dựng dưới hình thức là những quy phạm pháp luật ngăn cấm, tức là mô hình hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà nhà nước cấm bằng pháp luật – những hành vi đó là tội phạm. Ở góc độ này, nếu hiểu PLHS theo nghĩa là các quy phạm cấm thì việc thực hiện PLHS còn có thể thông qua hình thức tuân thủ pháp luật, ở sự tự kiềm chế của công dân không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS coi là tội phạm [139, tr. 37]. Đó là sựthể hiện các chức năng phòng ngừa, giáo dục của mình. Tuy nhiên, bên cạnh đó, PLHS có chức năng quan trọng là bảo vệ, được thực hiện bằng việc truy cứu TNHS những chủ thể đã vi phạm những điều ngăn cấm nói trên. Truy cứu TNHS là quá trình các cơ quan nhànướccó thẩm quyền thực hiện việc áp dụng PLHS đối với chủ thể vi phạm cụ thể.

Đặc điểm này là ranh giới có thể là mờ nhạt giữa áp dụng PLHS với các hoạt độngcó tính chấtcụthể hóa PLHS nhưng thuộc vào hoạt động xây dựng PLHS. Nói đến cụ thể hóa pháp luật là nói đến quá trình tiệm cận dần dần của pháp luật như là một mô hình lôgic, trừu tượng của những quan hệ mà nó điều chỉnh đến chính sự tồn tại thực tế của những quan hệ ấy. Ở những vănbản cụthể hóa mà giá trị pháp lý càng thấp bao nhiêu thì ở đó, pháp luật càng gần với thực tế bấy nhiêu. Tuy nhiên, ở đây vẫn không diễn quá trình chuyển hóa pháp luật vàođờisống hiện thực màđiềunàychỉcóthểcóđượckhi pháp luậtấyđượcthực hiện bằng những hình thức khác nhau trongđócó ADPL và phải trong những quan hệ cụ thể. Ở một khía cạnh nhất định có thể coi áp dụng PLHS cũng là một hoạt động đặc biệt nhằmcụthểhóa pháp luật. Tuy nhiên hoạt động này không tạo ra các quy phạm PLHS mới mà là sự cá biệt hóa những yêu cầu mà PLHSđãđặt ra, là tiếp tục sựđiềuchỉnhcủaquy phạm PLHS trong những quan hệxác định. Ví dụ, khi xét xửvụán hình sựđểxem xét việc một bịcáo nào đócó phạm tội cướp tài sảnhay không, hoạt độngáp

20

dụng PLHS không nhằmtrảlời câu hỏi thếnào làtội cướp mà nhằmtrảlời cho câu hỏi bị cáo có phạm tội cướp hay không, nếu có họ phải chịu TNHS như thế nào và vì sao?

Thứba, áp dụng PLHS là một hoạt độngđược tiến hành với những thủ tục được quy định chặt chẽ bởi pháp luật TTHS. Điều này có nghĩa là việcáp dụng PLHS khôngthểtiến hành một cách tùy tiện mà phải được diễn ra trên những cơ sở, trong những điều kiện và theo những thủ tục nhất địnhdo pháp luật quy định, đó là thủ tục TTHS.

Về mặt lịch sử, thủ tục hay các trình tự về việc áp dụng PLHS lúc đầu ítđược các nhà nước quan tâm. Sự xuất hiện của thủ tục trong những quy định của pháp luật trong lịchsửkhông gắn liền với sự rađờicủapháp luật. Những đạo luật đầu tiên xuất hiện trên thế giới ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc và Ấn Độkhông có khái niệm gì về thủ tục. Trong suốt một thời gian dài, pháp luật đã chỉquan tâm đến việc thể hiện thái độ của nhà nước đối với những tiến trình xã hộiđể bảo vệ lợi ích của nhà nước và giai cấp thống trị mà không quan tâm đến bản thân tiến trình chuyển hóa của pháp luật vào việc điều chỉnh những quan hệ xãhội. Việc triển khai pháp luậtđượctiến hànhphụthuộc vàosựsángtạocủa những người có quyền và điều này đã dẫn đến việc tùy tiện trong việc thực hiện và ADPL. Việc thực hiện pháp luật trong điều kiện như thế vẫn sàng lọc và đúc rút ra những tập quán về thủ tục mà những thành tựu đầu tiên được ghi nhận lànhững tập quán về thủ tục trong việc xét xử của những quan tòa tồn tại dưới hình thức là những lễ nghi bắt buộc. Tuy nhiên, những thủ tục tồn tại dưới dạng tập quán đó rất dễ bị xâm phạm bởi những chủ thể có thẩm quyền và nó có khả năng bóp méo việc chuyển hóa pháp luật vào đời sống xã hội. Tiến trình phát triển của xã hội theo chiều hướng dân chủ từ phong kiến đến tư sản với động lực thúc đẩy là giai cấp tư sản đã nhận thức được sâu sắc tầm quan trọng của thủ tục và hiểm họa của việc xâm phạm thủ tục nếu như nó không được thể chế hóa thành pháp luật. Sự ra đời của những quy phạm pháp luật quy định về trình tự thực hiện vàADPL đã dẫn đến việc phát triển những khái niệm mới về pháp luật trong khoa

21

học pháp lý. Pháp luật được phân chia thành hai loại khác nhau: loại thứ nhất là pháp luật nội dung (hay còn gọi là luật vật chất) và loại thứ hai là pháp luật thủ tục (hay còn gọi là luật hình thức).

Khái niệm thủ tục trong khoa học pháp lý thôngthường được sử dụng ở khía cạnh thực hiện những quy định của pháp luật nội dung. Nói cách khác, pháp luật về nội dung phải được thực hiện thông qua pháp luật về thủ tục. Với tư cách là hình thức sống của đạo luật và luật vật chất,thủtục đượchiểu làtrình tự thực hiện những hoạt động nhất định nhằm đạt tới những hệ quả pháp lýdựkiến của pháp luật nội dung. Những quy định pháp luậtvề thủtục chi phối việc thực hiện toàn bộhệthống pháp luật vật chất và thông qua đó chi phối đến hoạt động của các cơ quan nhà nước. Do hoạt động của các cơ quan nhà nước khác nhau có phạm vi khác nhau nên trong mỗi lĩnh vực, pháp luật về thủ tục có sự khác biệt. Trong tư pháp xét xử, những thủ tục này được gọi là thủ tục tố tụng và trong lĩnh vực hình sự là thủ tục TTHS.

Trong khoa học, khi đánh giávềmối quan hệcủa các quy phạm vật chất và quy phạm thủ tục của pháp luật trong mối quan hệ với ADPL có quan điểm cho rằng, việc ADPL chỉ được tiến hành cho những quy phạm vật chất còn những quy phạmthủtục chỉvạch ra cho cácchủthểADPL biếtđược trình tựmàhọphải tuân theo [76, tr. 334]. Nhưvậycó nghĩa là không xuất hiện việc ADPL trên cơ sở những quy phạm thủ tục. Tuy nhiên, xét đến cùng, việc chuyển những quy phạm quyđịnhmột trìnhtự,thủtụcnàođóthành những hành vi cụ thể của các chủ thể pháp luật trong trường hợp các chủ thểkhông tự thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình hoàn toàn thỏa mãn các dấu hiệu của một hoạt động ADPL. Chẳng hạn, các chủ thể tiến hành TTHS căncứvào pháp luật TTHS ra các quyếtđịnhnhư: Quyếtđịnhkhởitốvụán hình sự, Quyết định khởi tố bị can, Quyết định đình chỉ vụ án, Quyết định bắt bị can… Đó đều là những quyết định ADPL nhưng là áp dụng pháp luật TTHS mà không phải là áp dụng PLHS. Pháp luật trao cho các chủthểcó thẩm quyền áp dụng PLHS những phương tiện, côngcụpháp lý (mang tínhcưỡng

22

chế) để có thể thực hiện hiệu quả việc truy cứu TNHS, đấu tranh xử lý tội phạm. Các cơ quan tiến hành TTHSđượcphépsửdụng nhằm làm sángtỏcác cơsởpháp lý, thực tếđểlàm căn cứcho việc có hay không áp dụng PLHS và áp dụng như thế nào.

Như vậy, trong mối quan hệ với luật nội dung, sự thực hiện những quy phạm của luật hình thức chỉđược biết đến với tư cách là một đặc điểmcủa hoạt độngáp dụng PLHS và là một đặc điểm hết sức quan trọng bởi lẽ sự thực hiện không đúng, không đầyđủnhững trìnhtự,thủtục TTHS đãđượcquyđịnhsẽlà nguyên nhân làm cho quá trình áp dụng PLHS cóthểtrởnên vôhiệu hoặc chấm dứt.

Thứtư, trong khoahọcpháp lý, bên cạnh những đặcđiểmnêu trên, ADPL còn có đặc điểm là một hoạt động sáng tạo [124, tr. 503], [188, tr. 374]. Vì vậy, áp dụng PLHS cũng đòi hỏi sự sáng tạo của các chủ thể trong quá trìnháp dụng. Khi mà PLHS mang tính khái quát cao còn thực tế thì phong phú vàđa dạng nên khi chuyển hóa những quy định pháp luật vào đời sống, bản thân các chủ thể ADPL phải sáng tạo (trong khuôn khổ của pháp luật) vận dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh. ADPL tương tựlà một giải pháp mang tính sáng tạo của hoạt động ADPL (đã từng tồn tại trong lịch sử nhưng hiện nay không còn tồn tại trong lĩnh vực TPHS nữa). Mặt khác,

nếu xem xét dưới góc độ của quá trình vật chất hóa các quy phạm pháp luật vào đờisống thìbảnthânởcác hình thức thực hiện pháp luật khác cũng cóđặcđiểm này. Nói cách khác, ở phạm vi rộng, sáng tạo là thuộc tính chung của việc thực hiện pháp luật. Bởithực hiện pháp luật nói chung (áp dụng PLHS nói riêng) là hoạtđộng tích cựccủacácchủthểpháp luật chuyển hóa pháp luật thành các xử sự cụ thể nên ở những chủ thể khác nhau, việc chuyển hóa do vậy cũng khác nhau nhưng vẫn trong khuôn khổ mà pháp luật cho phép.

Thứ năm, áp dụng PLHS được thực hiện dựa trên cơ sở thực tế và cơsở pháp lý cụ thể. Các đặc điểm phân tích trên của áp dụng PLHS đã phản ánh một cách đầy đủ cơ sở của việc áp dụng PLHS. Ở các lĩnh vực khác, nếu như

23

pháp luật cóthểthực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau (khôngchỉbằng cách ADPL) thìcầnnhấn mạnh rằng, không tồntại những cơsởriêng của ADPL mà chỉ tồn tại những cơ sở chung của thực hiện pháp luật. Bất cứ một hình thức thực hiện pháp luật nào khi được tiến hành cũng đều dựa trên hai cơsở là cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế.

PLHSđược coi là cơsởpháp lý của việc áp dụng PLHS. Các quy phạm PLHS được nhà nước ban hành đã hình thành một hành lang, một khuôn khổ, một giới hạn cho sự vậnđộngcủacác quan hệ xã hội, cho xửsự củacác chủ thể pháp luật. Điểm khác biệt so với các lĩnh vực pháp luật khác là nếu nhưở các lĩnh vực khác đó là ranh giới/hành lang hay khuôn khổ hướng dẫn xử sựcho con người thì ở đây đó là ranh giới ngăn cấm xử sự, nó yêu cầu, đòi hỏi các chủ thể phải tự kiềm chế mình, không vi phạm vào những điều cấm đó. Các quyđịnh PLHS có thể mang tính đơn lẻ hoặc được pháp điển hóa, nó có thể là đạo luật hình sự hoặc một văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp hoặc tư pháp ban hành. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố (chính trị, văn hóa, truyền thống vàkinh nghiệm lập pháp…) Ở nước ta, cơ sở pháp lý của việc áp dụng PLHS được thể hiện rõ trong Điều 2 của BLHS hiện hành quy định về cơ sở của TNHS “chỉngười nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự“. Như vậy hệ thống các quy phạm PLHS là cơ sở pháp lý cho việcáp dụng PLHS. Những quy định đó có thể nằm trong một văn bản là BLHS (nhưhiện nay) hoặc có thể nằm rải rác trong các văn bản đơn lẻ (như trước đây). Đólà những quy định pháp luật phản ánh nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội vàtrong mối quan hệ với thực hiện pháp luật, nó lại có tính khách quan bởi nội dung của nó không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể thực hiện pháp luật.

Những trường hợp và những quan hệ xã hội cụ thể xuất hiện trongđời sống làcơ sở thực tếcủa thực hiện pháp luật (bao gồm cả ADPL). Thực hiện pháp luật là “vật chất hóa” các quy phạm pháp luật vào đờisống thực tế, làquá trình chuyển hóa các yêu cầu khách quan được mô hình hóa thành những

24

hành vi thực tế của các chủ thể pháp luật cho nên phải đồng thời dựa trên cơsởpháp luật và dựa trên cơsởthựctếlà những quanhệxãhộicụthểxuất hiện trong đời sống phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Trong thực tiễn, một hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người cóđủ năng lựcPLHS thực hiện, vi phạm vào những điều cấm mà quy phạm PLHS đã dự liệu là cơ sở thực tiễn để áp dụng PLHS đối với người đã thực hiện hành vi đó.

Thứ sáu, hình thức thể hiện phổ biến và chính thức của hoạt động áp dụng PLHS là văn bản áp dụng PLHS. Về mặt lý luận, văn bản ADPL là một mắt xích quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật trong những trường hợp phải cósựđiềuchỉnh bổsung cá biệt. Đólà văn bản pháp lý cá biệt, mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền ban hành trên cơ sở những quy phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật [124, tr. 505].

Văn bảnáp dụng PLHS là một dạngcụthểcủa văn bản PLHS (bên cạnh văn bản quy phạm PLHS) được thể hiện ở tính cưỡng chế thi hành của quyền lực nhànước.Trong hệthống pháp luật thực định mới có những quyđịnh về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật và nhắc đến thuật ngữ ADPL chứchưa có quyđịnhnào nói vềkhái niệm văn bản ADPL. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và sau này được sửa đổi, bổ sung năm 2002 đã quy định các loại văn bản qui phạm pháp luật của các cơ quan trong bộmáy nhà nước. Trong các văn bản nói trên chúng ta không gặp thuật ngữ”văn bảnáp dụng pháp luật” nhưng cóthểthấy rằng, việc không xác định những văn bản cá biệt vào văn bản quy phạm pháp luật cũng đã đáp ứng được phần nào những yêu cầu phân loại rõ ràng các văn bản pháp luật. Các văn bản ADPL luôn thểhiện như là nhân tốbảo đảmcho pháp luật được thực hiện trong đời sống, là sự tổ chức thực hiện pháp luật và giải quyết các “trục trặc” trong quá trình tổ chức thực hiện, là sự “nối dài” tiếp tục của quy phạm pháp

25

luật vào bối cảnh cụ thể thông qua việc tiếp tục xác định hoặc tái khẳng định quyền và nghĩa vụ của chủ thể nhất định trong các trường hợp mà quy phạm pháp luật tựnó không thểđi vào cuộc sống hoặc do có tranh chấp hay vi phạm pháp luật mà một số trường hợp khác đòi hỏi phải có việc ADPL [143, tr. 8-15].

Trong thực tế, dựa vào nội dung và nhiệm vụ của văn bản ADPL người ta có thể chia thành hai loại cơ bản là: (1) văn bản xác định quyền và nghĩa vụpháp lý theo hướng tích cực và (2) văn bản bảo vệ pháp luật. Văn bản áp dụng PLHS là văn bản thuộc dạng bảo vệ pháp luật, với hình thức thể hiện là bản án, quyết định. Trong đó bản án, quyết định do Tòa án ban hành còn VKS vàCQĐT ban hành quyết định.

1.1.2.2. Những đặc điểm riêng của áp dụng pháp luật hìnhsự

Trong hệ thống pháp luật, tính chất nghiêm khắc đặc trưng của PLHS làđiềukhôngcầnphải bàn cãi. Tiềmẩntrong các quyđịnhcủaPLHS làkhảnăng về những hậu quả pháp lý nặng nề có thể làm thay đổi toàn bộ cấu trúc các quyền và nghĩa vụpháp lý của cácđối tượng bịáp dụng. Là một hoạt động ADPL nên bên cạnh nhữngđặc điểmchung đãphân tích ởtrên, áp dụng PLHS có những đặc điểm riêng so với dạng ADPL trong các lĩnh vực khác:

Thứnhất, hoạt động áp dụng PLHS có nội dung làsựáp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất của nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị PLHS cấm (tội phạm). Việc làm rõ bản chất của ADPL nói chung ở trên đã mang đến sự đơn giản tương đối trong việc xác địnhnội hàm của khái niệm áp dụng PLHS. Áp dụng PLHS theo đólàmột dạng thức riêng của ADPL mà tính chất riêng của nó được quy định bởi chính pháp luật mà nó có trách nhiệm phải chuyển hóa vào đời sống hiện thực – PLHS.

Cũng như pháp luật nói chung, PLHS là những mô hình pháp lý mang tính chất chung, phổ quát được hình thành trên cơ sở những thúc đẩy của cuộc

26

sống hiện thực từ những dạng quan hệ xã hội cụ thể nhất định. Khi tác động trở lại đời sống hiện thực, PLHS được sức mạnh của quyền lực nhà nước đưa trở

lại, vào từng quan hệ xã hội và xác lập ở đó những quyền và nghĩa vụ cụ thể cho những chủ thể tham gia. Những gì mà hoạt động áp dụng PLHS tạo ra trong đời sống hiện thựcvềnguyêntắcchính là hìnhảnhthực tếcủa PLHS nhưngđãđược làm cho phong phú hơn và trở nên cụ thể bởi sự bổ sung của nhữngyếu

tốriêng, đặc thùđược tiếp nhận thêm từ chính đời sống hiện thực. Nói cách khác, PLHS quy định nội dung gì thì áp dụng PLHS sẽ chuyển hóa nội dung đó vào hiện thực trong những quan hệ xã hội cụ thể.

Nhìn một cách tổng quát, hệ thống PLHS có nội dung phức tạp với hệthống quy phạm và nhiều những mối liên hệ nội tại chặt chẽ. Tuy nhiên, bản chất củatính phức tạp đóchỉlàkếtquảcủa quá trình phát triển của PLHS nhằmtốiưu hóa hainộidung cơ bản nhất củanó, đólàtộiphạm và hình phạt. Các nội dung khác của PLHS được biết đến sau này như: thời hiệu, hiệu

lực, các biện pháp tư pháp, án tích và xóa án tích… không có ý nghĩa trong việc quyết định bản chất của PLHS mà chỉ nhằm làm rõ các vấn đề liên quan đến việc xác định tội phạm, hình phạt cũng như các hậu quả pháp lý khác của việc thực hiện tội phạm. Chính vì hai nội dung cơ bản này mà đối tượng điều chỉnh của PLHS về cơ bản được xác định là các quan hệ xã hội tiêu cực xuất hiện khi có sự kiện phạm tội của một bên là người phạm tội, và do đó sẽ hình thành quanhệvới bên kia là nhànước.Đólà quanhệTNHS mà việc thực hiện nó chỉ có thể thông qua hoạt động áp dụng PLHS.

Về mặt lịch sử, hai nội dung cơ bản của PLHS được hình thành không mang tính ngẫu nhiên, cục bộ mà là sự tiếp nối khách quan của quá trìnhđiều chỉnh xã hội đã có từ trước khi có nhà nước và pháp luật. Khi đó, các quy tắc đạo đức và các tín điều tôn giáo đã được hình thành và trở thành những chuẩn mực thiêng liêng cho hành vi ứng xử của cộng đồng xã hội. Các tín ngưỡng – tôn giáo sơ khai nhất đã được con người sáng tạo ra cách đây khoảng từ 8 đến 9 vạn năm cùng với khi họ biết tổ chức thành một cộng đồng xã hội tương đối ổn định như

27

các thị tộc, bộ lạc hay dân tộc [171, tr. 114-115]. Trong một bối cảnh như thế, những giá trị và tâm thức tôn giáo đã tác động trực tiếp đến tính chất của pháp luật, làm cho pháp luật thuở ban đầuđãlàsựtiếp nối các giới luật và pháp lệnh của thượng đế và mang tính trừng trị bằng hình phạt – tính chất điển hình của luật hìnhsựchođếntậnngày nay. Cóthểlúc đóchưa có khái niệmvềluật hình sự một cáchđầyđủnhưng các khái niệmvề”Tội phạm” và “Hình phạt” đã được sử dụng một cách rất phổ biến. Trong tiếng La tinh cổ, người ta không tìm thấy thuậtngữluật hìnhsựnhưng lại tìm thấy hai thuật ngữrất quan trọng khác có giá trị tương đương, đó là: Crimen – Luật về Tội phạm vàPoena – Luật về Hình phạt [12, tr. 142]. Ở Trung Quốc, thuật ngữ “Hình pháp”

từ thời nhà Chu mặc dù có ý nghĩa chủ yếu là về hình phạt nhưng rõ ràng rất gần gũivới”Hình luật” hay luật hìnhsựngày nay. Hình phạtđượcsửdụng trong những hệ thống pháp luật đầu tiên hoàn toàn khởi phát từ những ý niệm tôn giáo về sự đền tội bằng những đau đớn về thể chất và tinh thần mà kẻ phạm tội phải gánh chịu.

Ngày nay, hình phạt là hình thức trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất của nhà nước được áp dụng đối với chủ thể vi phạm vào những điều cấm của PLHS. Hoạt động áp dụng PLHS theo đó chính là việc nhà nước chuyển hóa hình thức TNHS được dự liệu trong quy phạm PLHS vào thực tiễn thông qua việc chủ thể vi phạm thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước do họđã thực hiện tội phạm. Tất nhiên trong thực tiễn không phải mọi trường hợp người đã thực hiện tội phạm đều bị áp dụng hình phạt (vì có thể họ thỏa mãnđiều kiện để hưởng một hình thức TNHS khác có tính chất nhẹ hơn hình phạt) nhưng cần phải khẳng định rằng hình phạt chỉ được áp dụng đối với duy nhất trường hợp người thực hiện tội phạm mà thôi.

Thứ hai, áp dụng PLHS là hình thức duy nhất để thực hiện PLHS khi phát sinh quan hệ PLHS.

28

Về bản chất, các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể trong lĩnh vực hình sự không tự nhiên phát sinh/ thừa nhận hay thực hiện nếu thiếu sự can thiệp nhànước.Là côngcụquyềnlựcnghiêm khắc nhấtcủanhànước,PLHSlạikhông thể tự mình chuyển hóa vào đời sống hiện thực để trở thành các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể có liên quan. Việc thực hiện PLHS luôn gắn liền với vai trò của nhà nước, lúc đầu là của các thủ lĩnh hay nhà vua, sau đó dần dần được chuyển giao cho các quan tòa và cuối cùng được chia nhỏ nữa cho các cơ quan chuyên biệt thực hiện chức năng điều tra hay công tố. Điều đó có thểmangđến ýnghĩa là việc thực hiện PLHS chỉcóthểthông qua hình thức ADPL.

Tuy nhiên khi đãphát sinh quan hệPLHS thì việc thực hiện PLHS không đơn giản như trước nữa. Quan hệ PLHS phát sinh ngay từ khi hành vi phạm tội được thực hiện mà không phụ thuộc vào việc hành vi đó đã bị phát hiện haybịđưa xét xửhay chưa. Đóhoàn toàn không đơn giản là quanhệgiữa người phạmtộivới ngườibịhại màđólà quanhệgiữa nhànướcvới người đãthực hiện hành vi bịcoi là tội phạm và quyđịnhtrong PLHS. Khi đó, mô hình PLHS ngay lập tức có khuynh hướng phải được chuyển hoá vào quan hệ PLHS để cụ thể hóa thành các quyền và nghĩa pháp lý thông qua việc xác định tội phạm và hình phạt. Trong trường hợp này, việc thực hiện PLHS rõ ràng chỉ có thể thông qua hình thức ADPL với sự can thiệp của nhà nước. Nói cách khác, khi đãphát sinh quan hệPLHS thì ADPL là hình thức duy nhất để thực hiện PLHS. Người phạm tội không thể tự mình đi đến trước vành móng ngựa để nhận tội và chịu hình phạt. Hoạt động áp dụng PLHS của các cơ quan công quyền chuyên biệt khi đólà hình thức duy nhất đểđưa PLHS vào cuộc sống. Đặc điểmnày tạo ra sựkhác biệt căn bản giữa việc áp dụng PLHS với việc ADPL trong các lĩnh vực pháp luật tư như kinh tế hay dân sự. Khi phát sinh các quan hệpháp luật trong các lĩnh vực kinh tếhay dân sự, trong nhiều trường hợp, cácchủthểhoàn toàn vẫn có khả năng tự thực hiện các quyền và nghĩa pháp lý của mình.

29

Thứ ba, áp dụng PLHS là một hoạt động thực tiễn pháp lý tồn tại rất sớm và đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnh pháp luật.

Như phân tích ở trên, ADPL được coi là quá trình độc lập với XDPL, diễn ra sau quá trình XDPL để chuyển hóa các mô hình pháp lý của pháp luật vào các trườnghợpcụthể và cho các chủthểcụthể. Tuy nhiên vềmặt lịch sử, việc áp dụng PLHS thuở ban đầu không đơn giản như vậy và không có sựtách bạch rõ ràng như vậy. Ở những hệ thống pháp luật đầu tiên xuất hiện trên thếgiới, việc XDPL và áp dụng PLHS cósựđan xen, không tách rời nhau, thậm chí có khi việc áp dụng PLHS còn diễn ra trước khi có PLHS thành văn và đóng vai trò như là nguồn quan trọng của PLHS. ỞLưỡng Hà,Bộluật Hammurabi nổi tiếng có nguồn gốc từ những pháp điển của người Sumer (cưdân ở đây gọi theo tên cổ của vùng đất phía nam Babylonia) [140, tr. 14], haytừnhững quyết định của vua Hammurabi cũng như các phán quyết của tòa án lúc bấy giờ [165, tr. 30]. Mỗi thành phố của người Sumer đều là một nhà nước vàthường xuyên giao tranh với nhau để tranh giành đất đai và quyền lực. Trong bối cảnh đó, các pháp điển mang tính hình sự của người Sumer đã được hình thành và phát triển để phục vụ cho việc cai trị của các nhà nước trong các quốc gia – thành phố. Đến khi vua Hammurabi cai trị vương quốc Babylonia cổ đại, các pháp điển này vẫn tiếp tục được sử dụng để điều chỉnh xã hội. Như vậy, trước khi cóBộluật Hammurabi, việc áp dụng các biện pháp hìnhsựđãđượctiến hành mặc dù có thể chưa có luật hình sự thành văn, và đồng thời chính thực tiễn ADPL của nhà vua và các phán quan sau nàyđãtrởthành nguồn quan trọng của pháp luật. Ở Trung Quốc hay ở Việt Nam, hình pháp nhà Chuthếkỷ12 trước công nguyên hay CSHS đầu tiên thời kỳ Ngô, Đinh, tiền Lêthếkỷ 10 cũng không được biết đến một cách chắc chắn như là các đạo luật thành văn mà vẫn thường được hiểu là việc ADPL hay áp dụng các biện pháp trừng phạt đặc trưng của hình luật [159, tr. 95-96]. Hoạt động áp dụng PLHS đồng nhất với PLHS hay nói rõ hơn PLHS chỉ được nhìn thấy thông qua hoạt động áp dụng nó là đặc trưng cơ bản của hoạt động áp dụng PLHS thời kỳ đầu.

30

Ngày nay, PLHS và đặc biệt là thực tiễn áp dụng nó vẫn được xem lànơi thể hiện một cách tập trung nhất sức mạnhcưỡngchế của quyền lực nhànước. Tronghệthống pháp luật, PHLS làbộphận chủyếu tạonên sựkhác biệt căn bản giữa hệ thống các quy tắc xử sự của pháp luật với các quy tắc đạo đức hay các quy phạm xã hội khác, làsựbảo đảmviệc thực hiện một cách tuyệt đối ýchícủanhànước khi đãđược”đềlên thành luật”. Bên cạnhđặc trưng được thểhiện trong quá trình lịch sửnhưđãnêu trên, việc áp dụng PLHS còn có những đặc trưng riêng do những điều kiện và hoàn cảnh lịch sửcụ thể quy định. Trong một số hệ thống pháp luật đương đại (Ănglô – Sắcxông), thực tiễn hoạt động áp dụng PLHS vẫn tiếp tục được xem như là nguồn quan trọng của PLHS. Những phán quyết của các quan tòa khi được hệ thống hóa theo một trình tự xác định sẽ trở thành án lệ, mang tính quy phạm và sẽ tiếp tục được đemra áp dụng trong các trường hợp tương tự khác. Trong khi đó, ởnhững hệ thống pháp luật khác (Châu Âu lục địa), hoạt động áp dụng PLHS lại không phải là nguồn của PLHS. Những phán quyết của tòa án trong những trường hợp cụ thể chỉ có giá trị pháp lý đối với chính trường hợp cụ thể đó màkhông trở thành quy phạm để áp dụng tương tự cho các trường hợp khác.

Thứ tư, chủ thể của hoạt động áp dụng PLHS là các cơ quan tiến hành TTHS bao gồmCQĐT, VKS và Tòa án. Trong đó, Tòa án làchủthểtrung tâm. Là hoạt độngchủ độngcủa nhà nước, do vậy, về nguyên tắc nhà nước làchủ thể duy nhất ADPL thông qua các cơ quan của nó. Đối với hoạt động áp dụng PLHS, chủ thể là các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự – các cơ quan tiến hành TTHS. Tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể vànhững khác biệt về văn hóa, các cơ quan này có thể được tổ chức khác nhau ởnhững giai đoạnkhác nhau hoặc ởnhững nướckhác nhau. Tuy nhiên, dùđược tổ chức theo bất cứ hình thức nào thì chúng cũng xoay quanh một trục chính được xác định bởi ba chức năng chủ yếu là điều tra, truy tố và xét xử. Trong đó, xét xử làchức năng được hình thành sớm nhất, có lịchsửlâu đời nhất và có tính phổbiến nhất. Các chức năng nàyđếnlượt mình lại lànội

31

dung của “quyền lực tư pháp” một trong ba nhánh chủ yếu của quyền lực nhànước.

QLTP là quyền lực xétxửdựatrên cơsởcủa pháp luật đốivới các hành vi vi phạm pháp luật cũng như đối với những tranh tụng phát sinh trong đời sống xã hội. Như vậy, việc thực hiện QLTP có bản chất là hoạt động ADPL của nhà nước thông qua bộ máy tư pháp. Do thuở ban đầu, pháp luậtđều mang tính hình sự và điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng cách quyđịnh về

tội phạm về hình phạt nên QLTP lúc đầu cũng mang tính chất hình sự và có bản chất là hoạtđộngáp dụng PLHS.Dầndầnvềsau này, khi pháp luậttrởnên phong phú hơn do phải thíchứng đểđiềuchỉnh các quan hệ xãhộingày càng phứctạphơn thì trongbảnthânhệthống pháp luậtbắtđầuxuất hiệnsựphân chia thành các ngành luật và ly khai khỏi PLHS. QLTP do vậy cũng được mởrộng sang các lĩnh vực pháp luật khác chứ không phải chỉ trong lĩnh vực hình sự.Điều đó có nghĩa là quyền lực xét xử của tòa được trải rộng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội cùng với quá trình mở rộng và phân chia trong nội tại của

hệthống pháp luật. Trong các lĩnh vực pháp luật vềkinhtế,dân sự, hành chính hay lao động…, tòa án chỉlà một trong các chủthểcủabộmáy nhànước có thẩm quyền ADPL chỉ khi để xét xử khi phát sinh những tranh chấp hay vi phạm. Bộmáy hành pháp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ADPLđểhướngdẫncho việc thực hiện pháp luật của cácchủthểcó liên quan. Tuy nhiên trong lĩnh vực hình sự, vai tròcủatòa áncó vịtríđặc biệt. Tòa án tập trung trong tay gần như toàn bộ quyền lực để áp dụng PLHS. Tất cảcác hoạt động nhưđiều tra, công tố… trong lĩnh vực hìnhsựđều nằm trong một hệ thống thống nhất dẫn đến hoạt động áp dụng PLHS của Tòa án. Tất nhiên, mỗi cơ quan tham gia vào hoạt động áp dụng PLHS ở phạm vi vàmức độ khác nhau, có vai trò khác nhau (sẽ được nghiên cứu rõ ở phần sau) nhưng nếu tiếp cận trên phương diện lịch sử có thể thấy từ xa xưa Tòa án là cơquan duy nhất nắm giữ QLTP – một trong ba nhánh quyền lực cơ bản của Nhànước. Sau này, do sự phát triển của xã hội, khi đề cập đến các cơ quan tư pháp

32

hình sự, người ta còn nhắc đến những cơ quan khác như CQĐT, cơ quan công tố

(VKS)…

Tóm lại,từnhững phân tích trên cóthểrút ramộtđịnhnghĩa khoa học về áp dụng PLHS mà theo đó, áp dụng PLHS là một hoạt động thực tiễn pháp lý, là quá trình nhằm cá biệt hóa những quy phạm PLHS vào các trường hợp cụ thể đối với người đã thực hiện hành vi mà nhà nước coi là

tội phạm, mang tính tổ chức – quyền lực nhà nước và được thực hiện theo một trình tự đặc biệt do pháp luật tố TTHS quy định.

1.2. NỘI DUNG CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

Là hoạt động nhằm vật chất hóa những quy định của PLHS, nội dung của áp dụng PLHS phụthuộc vào chính PLHS. Mộtcách khái quát và đơn giản thì điều đó có nghĩa là PLHS quy định điều gì thì việc áp dụng PLHS sẽcá biệt hóa những quy định đó trong những quan hệ xã hội cụ thể và cho các chủ thể cụ thể. Từ lúc được hình thành cho đến ngày nay, PLHS đã khác xa so với trạng thái sơ khởi banđầu.

Những thành tựu trong quá trình phát triển của lịch sử đã làm thay đổi nội dung, cấu trúc, phạm vi củanhững quanhệxã hội được bảovệbằng PLHS. Tuy nhiên, về bản chất vốn có, PLHS vẫn giữ nguyên là quy định vềhai vấn đề, đólà tội phạm và hình phạt. Những nội dung khác nếu cóđược quyđịnhtrong PLHS thì cũng chỉnằmtrong quan hệvới tộiphạm và hình phạt mà nếu thiếu chúng, PLHS chỉ thiếu đi tính chính xác.

Như vậy, khi được chuyển hóa vào thực tế, việc áp dụng PLHS cũng chính là việc chuyển hóa hai nội dung vềtội phạm và hình phạt vào các trường hợp cụ thể thành hai nội dung tương ứng là định tội danh và QĐHP.

1.2.1. Định tội danh

Định tội danh là một trong những nội dung cơ bản của áp dụng PLHS. Định tội danh là việc chủ thể áp dụng PLHS xác định hành vi nguyhiểm cho xã

33

hội đã được thực hiện có phù hợp với mô hình pháp lý của một tội nào đó trong BLHS hay không. Mặc dù việc xác định có tội hay không có tội được thể hiện một cách rõ nét nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là việc định tội danh chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử. Định tội danh là hoạt động được diễn ra trong tất cả các giai đoạn của TTHS. Trong khoa học pháp lý hình sự,khái niệmđịnh tộidanh có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng về cơ bản đều thống nhất đó là hoạt động áp dụng PLHS [191, tr. 12].

Hoạtđộng ADPL nói chung và áp dụng PLHS nói riêng được quyđịnh bởi chính pháp luật được áp dụng. Tội phạm bao giờ cũng được xem là cótrướchình phạt. Ngaycảnhững quanđiểmcho rằng hình phạt làmộttrong những dấu hiệu của tội phạm cũng thừa nhận hình phạt không phải là một đặcđiểm nằm trong bản thân tội phạm mà là hậu quả pháp lý của tội phạm [163, tr. 49-50]. Trên cơ sở lý luận ấy, PLHS được xây dựng theo tính có trước của tội phạm và tính phái sinh của hình phạt – tức là toàn bộ các quy định của PLHSđều là sự mô tả tội phạm trước khi mô tả hình phạt hoặc mô tả hình phạt như làhệquả tấtyếucủatộiphạm trongmộtmốiquanhệcó tính nhân quả và biện chứng. Logic này được chuyển hoá một cách trực tiếp vào hoạt động áp dụng PLHS. Do vậy, định tội danh là bước thứ nhất của quá trình chuyển hóa những quy định của PLHS vào việc giải quyết nhữngvụ án cụ thể.

1.2.1.1. Cơ sở của định tội danh

Với tính chất là việc chuyển hóa nội dung quy định về tội phạm của luật hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, định tội danh trước hết là việc xem xét sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa hành vi đã xảy ra trên thực tếvới một mô hình tội phạm cụ thể nào đó được quy định trong BLHS. Xuất phát từ đặc điểm của tội phạm là “được quy định trong Bộ luật hình sự” hay còn gọi là “tộiphạm là hành vi trái pháp luật hìnhsự” [11, tr. 107] nên việcđịnhtội danh phải dựa vào BLHS như là cơ sở pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất. Điềuđó có nghĩa là quá trình vật chất hóa pháp luật trong việc định tội danh chỉ có thểlà việc vật chất hóa những quy định của BLHS mà trước hết là về tội phạm cụ thể.

34

Ngay cả trong trường hợp có một hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội xảy ra trên thực tế thì các chủ thể ADPL cũng không thể định tội danh cho người đã thực hiện hành vi đó nếu như nó không đồng nhất với bất cứ một mô hình pháp lý vềtội phạm cụ thể nào được BLHS quyđịnh. Mọimô hình tội phạm đã được xácđịnh trong BLHS, còn các văn bản quy phạm PLHS khác chỉ là sự tiếp tục của BLHS. Đây là sự đảm bảo cho việc áp dụng PLHS được thống nhất [191, tr. 63]. Tuy nhiên,địnhtộidanh không phảichỉchuyển hóa nhữngnộidungcủađiều luật quy định về tội phạm cụ thể. Mỗi mô hình pháp lý về tội phạm cụ thể của PLHS thông thường không phản ánh đầy đủ các đặc điểm, các dấu hiệu của tội phạm, vì vậy tự bản thân nó chưa thể là một cơ sở đầy đủ cho việc định tội danh. Về mặt cấu trúc, các tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS chỉ là sự mô tảvề cơ bản những dấu hiệu thuộc về khách thể và mặt khách quan của tội phạm – tức là chỉ mô tả hành vi và xác định quan hệ xã hội mà tội phạm xâm phạm. Đôi khi tội phạm cụ thể được mô tả giản đơn đến mức chỉ là việc nêu tên tội phạm mà không kèm theo bất cứ một sự mô tả nào (ví dụ, trong BLHS năm 1999, Điều 93 quy định Tội giết người, Điều 136 quy định Tội cướp giật tài sản, Điều 138 quy định Tội trộm cắp tài sản). Những dấu hiệu về chủ thể và mặt chủ quan nhưlỗi hay năng lực TNHS của người phạm tội… thường ít được quyđịnh hoặc được coi làhệquảđương nhiêncủahành vi phạm tội (vídụ,tạiĐiều93củaBLHS năm 1999, trong Tội giết người, lỗi cố ý không được mô tả nhưng được hiểu làđương nhiên). Như vậy nếu chỉ căn cứ vào tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS để định tội danh là hoàn toàn không đầy đủ. Bản thân chế định tội phạmđược ghi nhận trong BLHS ở cả hai phần: Phần chung và Phần các tội phạm cho nên khiđịnhtộidanh, cácchủthểADPL phảidựavào các quyđịnhởcảhai phần đó. Mặt khác trong thực tế, tội phạm có thể được thực hiện do một người (tội phạm đơn lẻ) hoặc cũng có thể do nhiềungườicùng cốý(Điều 20 BLHS 1999 –Đồng phạm), các tội phạm được thực hiện một cách cố ý có thể dừng lạiở một giai đoạn nhất định vì những lý do nào đó (chuẩn bị phạm tội – Điều 17, phạm tội chưa đạt – Điều 18 hay tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội – Điều 19). Việc định tội danh trong những trường hợp này phải căn cứ vào Phần chung

35

của BLHS vì mô hình pháp lý về các tội phạm cụ thể được quy định trong Phần các tội phạm cụ thể chỉ mô tả hành vi của người trực tiếp thực hiện tội phạm (gọi là người thực hành) và tội phạm mà họ thực hiện ở giai đoạn đã hoàn thành. Nhưvậy khi tiến hành định tội danh một hành vi nguy hiểm cho xã hội ngoài việc cần căn cứ vào cả quy phạm PLHS ở phần chung lẫn phần các tội phạm, phải viện dẫnchính xác vàđầyđủđiều,khoản haymộtsốđiềuluật liên quan, bao quátđược toàn bộ hành vi nguy hiểm cho xã hội được nêu trong phần các tội phạm của BLHS và cũng đặc biệt lưu ý tới hiệu lực về không gian, thời gian của điều khoản được viện dẫn. Có như vậy thì việc định tội danh mới đảm bảo có đủ cơsở pháp lý để truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi đó [191, tr. 67-68].

Trong khoa học pháp lý hình sự, một hành vi nguy hiểm cho xã hội đượcđịnh tính là tội phạm là tổng thể biện chứng hàng loạt những dấu hiệu khác nhau về khách quan cũng như chủ quan gọi là cấu thành tội phạm. CTTP là”tổng hợpnhững dấuhiệu đượcquyđịnh trong luật hình sự,đặctrưng cho một loại tội phạm cụ thể” [142, tr. 55]. Cụ thể hơn, CTTP baogồmmô hình pháp lý về tội phạm cụ thể và những nội dung khác của PLHS quy định về tội phạm và những vấn đề có liên quan. Khoa học pháp lý hình sự Việt Namđều thống nhất khi nghiên cứutội phạmvềmặt cấu trúcđược hợpthành bởi những yếu tốnhất định, tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể phân chiađược trong tư duy và do vậy có thể nghiên cứu độc lập với nhau [162, tr. 63].Đó là:

– Khách thểcủatội phạm: Là những quan hệxã hội được Nhànước xác định bảo vệ bằng các quy phạm PLHS và bị tội phạm xâm hại. Thông qua việc tác độngvào một đối tượng cụthể nào đó, người phạm tội đãgây thiệt hạihoặc đedọagây thiệt hại cho quanhệxã hội là khách thể. Khách thểlàyếu tố không tách rời khỏi tội phạm vì tội phạm bao giờ cũng xâm phạm đến một hoặc một số quan hệ xã hội mà PLHS bảo vệ.

36

– Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan củatội phạm bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Trong một số trường hợp nhất định những yếu tố thuộc về mặt khách quan như thời gian,địa điểm, hoàn cảnh phạm tội… cũngđượcxem làdấuhiệubắtbuộcđểđịnhtộidanh. Hành vi nguy hiểm cho xã hội là xử sự cụ thể của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định (hành động hoặc không hành động)xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm một cách trái pháp luật đến những quanhệxã hội được PLHS bảovệ(khách thể). Việc một người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội là những thiệt hại về vật chất, thể chất, tinh thần hoặc thiệt hại khác.

– Chủ thể của tội phạm: là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực TNHS và đạt một độtuổi nhấtđịnh theo quy định của BLHS. Hiện nay, BLHS Việt Nammới chỉ dừng lại ởviệc quy định chủ thể của tội phạm là cá nhân. Trong khi đó PLHS của một sốnước trên thế giới đã quy định chủ thể của tội phạm là các cơ quan, đơn vị, tổchức (pháp nhân) (Trung Quốc, Pháp, Nhật…) [8, tr. 7; 24].

– Mặt chủ quan của tội phạm: Mặt chủ quan của tội phạm là thái độ tâm lýcủa người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội bao gồm lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội.

Như vậy, với tư cách là khái niệm của khoa học pháp lý (mà không phải là một quy phạm hay chế định của pháp luật thực định) nên tự bản thân CTTP không thể là cơsởpháp lý đểđịnhtội danh. Mặc dù trong thực tế áp dụng PLHS để định tội danh, các chủ thể ADPL đều phải dựa vào BLHS nhưng theo sự định hướng của các yếu tố CTTP bởi khái niệm CTTP trong luật hình sự được dùng để chỉ sự mô tả tội phạm trong luật. Và vì thế, CTTP được hiểu làhình thức phản ánh tội phạm trong luật [69, tr. 112]. Trong mối quan hệ với việc áp dụng PLHS, CTTP là cơ sở khoa học của việc định tội danh [9, tr. 24].

37

Những yếu tốcủa CTTP mặc dù không được quyđịnh trực tiếp nhưmột phạm trù độc lập trong BLHS nhưng lại được chuyển hóa một cách gián tiếp thành đối tượngchứng minh được quyđịnh tạiĐiều63 “Những vấn đềphải chứng minh trongvụán hìnhsự“củaBLTTHS năm 2003,bởithực chấtđịnhtộidanh chính là quá trình chứng minh hành vi nguy hiểm cho xãhộiđãxảyra trên thựctếcóđồngnhấtvớimộtCTTPcụthểnàođóhay không.Đối tượng chứng minh là một phạm trù được xác định bởi phạm vi CTTP bao gồm

tất cả những sự kiện tương ứng và thuộc các yếu tố CCTP nhưng lại liên quanđến thực tế nhiều hơn. Điều đó có nghĩa là việc chứng minh chủ yếu tập trung vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự trên phương diện thực tếtheosựhướngdẫncủaCTTP. Liên quanđếnvấnđềđịnhtộidanh,Điều63 BLTTHS quy định các đối tượng chứng minh sau đây:

– Có hành vi phạm tội xảyra hay không, thời gian,địa điểmvà các tình tiết khác của hành vi phạm tội; hậu quả của hành vi phạm tội. Mặc dù ởđây, pháp luật không quy định trực tiếp phải chứng minh các yếu tố thuộc vềkhách thể của tội phạm – tức là hướng những quan hệ xã hội được luật hình sựbảo vệbịxâm phạm nhưng khái niệm hành vi phạm tội (chứ không phải làhành vi nguy hiểm cho xã hội) đã bao gồm cả khách thể của tội phạm (khách thể và mặt khách quan của tội phạm).

– Ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có năng lực TNHS hay không (chủ thể của tội phạm, được hiểu bao gồm cả điều kiện đạt đủ tuổi).

– Có lỗi hay không có lỗi, lỗi cố ý hay vô ý (mặt chủ quan của tội phạm). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, việc xác định một hành vi là nguy hiểm cho

xã hội là tội phạm còn phụ thuộc vào những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xãhộivà tính trái pháp luậtcủahành vi. Trong những trườnghợpnhất định, những hành vi nguy hiểm cho xã hội có bề ngoài giống với một tội phạm nhưng

lại thỏa mãn một số điều kiện khác được quy định trong BLHS nên không được coi là nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật hình sự nữa. Trong khoa học pháp lý hình sự, người ta gọi đó là những trường hợp loại trừ TNHS [11, tr. 241-272]

38

hoặc những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi [10, tr. 165-167]. Điển hình nhất của các trường hợp này là Phòng vệ chính đáng (Điều 15 BLHS 1999) và Tình thếcấp thiết(Điều16 BLHS 1999). Việc thực hiện hành vi trong những trường hợp này gắn liền với việc gây ra (hoặc cũng có thể là đe dọa gây ra) một thiệt hại nào đó đến những lợi ích được PLHS bảo vệ trong trường hợp bình thường nhưng để nhằm bảo vệnhững lợi ích khác của Nhànước, của tập thể, của công dân. Hành vi được thực hiện trong phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

Theo quyđịnhcủa BLHS, do CTTP không đượcquyđịnhtrực tiếp nên vấn đềphân loại CTTP cũng khôngđược đặt ra. Tuy nhiên, vềmặt lýluận, CTTP được khoa học pháp lý hình sựphân thành các loại khác nhau theo những căn cứnhất định. Theo mức độnguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà CTTP mô tả, khoa học pháp lý hình sự chia CTTP thành: cấu thành cơ bản, cấu thành giảmnhẹvà cấu thành tăng nặng. Khiđịnh tội danh phải căn cứ vào CTTP cơ bản với tư cách là những dấu hiệu đặc trưng, điển hình của một loại tội phạm cụ thể. Các loại CTTP tăng nặng hay giảm nhẹ không có vai trò định tính một hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm mà chỉ phảnánh các trường hợp phạm tội nặng nhẹkhác nhau. Bên cạnh cách phân chia nói trên, căn cứ vào đặc điểm về cấu trúc của CTTP, khoa học pháp lý hình sựcòn phân chia thành cấu thành vật chất và cấu thành hình thức. Ngoài hai cách phân loại chủ yếu như trên, trong khoa học còn có thể chia ra thành CTTP của những người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội (người thực hành) và CTTP của những người đồng phạm khác; hoặc là chia thành CTTP của hành vi thực hiện ở giai đoạn hoàn thành và CTTP của hành vi ở giai đoạn chuẩn bị phạm

tội và phạm tội chưađạt và còn nhiều cách phân loại khác [69, tr.117-129] [196, tr. 354]. Mỗi một cách phân loại đó đều hợp lý và nhằm một mục đích nhất định, phụ thuộc vào cách tiếp cận vấn đề của chủ thể phân loại.

39

Như vậy, một cách chung nhất CTTP của một loại tội phạmcụthểđược tạo thành bởi tổng hợp các dấu hiệu khách quan và chủ quan đặc trưng cho khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm là cơ sởkhoa học pháp lý để định tội danh.

Những phân tích trên cho thấy định tội danh có bản chất pháp lý là quátrình chuyển hóa nội dung quy định tội phạm của BLHS bằng cách xác nhận sựphù hợp (đồng nhất) đầy đủ và chính xác giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội cụthể đã được thực hiện trong thực tế với các dấu hiệu của một CTTP cụ thể tương ứng được quy định trong Phần các tội phạm của BLHS và trong những trường hợp cần thiết phải xác định sự phù hợp với các quy định trong Phần chung của BLHS. Định tội danh là một hoạt động nhận thức.

1.2.1.2. Ý nghĩa của định tội danh

Định tội danh là việc chuyển hóa nội dung quy định về tội phạm của luật hình sự vào đời sống xã hội thông qua việc giải quyết những vụ án hình sự, từkhi khởi tố(mở) vụán chođến khi rađược bản án (có hiệu lực pháp luật).Đâylà hoạtđộng đượcthực hiệnởtấtcảcác giai đoạncủaTTHS. Trong đó, định tội danh ở giai đoạn xét xử của Tòa án giữ vị trí trung tâm, cótính chất quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan. Điều dễ nhận thấy là việc định tội danh trong những giaiđoạntốtụngtrướckhi xétxửmặcdù cóthểdẫntớiviệc áp dụng những biện pháp cưỡng chếnhất định như hạn chếmột sốquyền hoặc quyđịnhmột sốnghĩa vụcho các chủthểpháp luật có liên quan (ví dụ như các CQĐT, VKS áp dụng các biện pháp ngăn chặn của TTHS) nhưng những thayđổi về quyền vànghĩavụpháp lý nàychỉcó tính chất tạm thời và chỉ nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án hình sự. Việc định tội danh trong hoạt động xét xử của Toà án một quyếtý nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý to lớn. Một người được Tòa án xác địnhlà vô tội có nghĩa làhọđược khôi phục toàn bộ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, kể cả những quyền đãbịhạnchếtrong quá trình xét xửvà tiền xét xử.Ngược lại, một

40

người bịTòa án xác địnhlà cótộicó nghĩa làhọsẽphải chịu TNHS vềtội phạm mà họ đã thực hiện.

Như vậy, về mặt chính trị-xã hội, định tội danh đúng là biểu hiện của thực hiện đúng CSHS của Đảng và Nhà nước được thể hiện trong công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, loại trừ khả năng kết án oan người vô tội. Định tội danh không đúng sẽ góp phần xuyên tạc bức tranh thực tế của tình hình tội phạm, tác động tiêu cực đến việc soạn thảo và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Định tội danh đúng là một đảm bảo cho việc làm sáng tỏ một cách có căn cứ khách quan tình trạng, mức độ và khuynh hướng của tình hình tội phạm cũng như tình hình các loại tội phạmcụthểtrên các vùng lãnh thổ cũng như trên phạm vi toàn quốc. Về mặt pháp lý, định tội danh đúng là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết TNHS với người thực hiện tội phạm, là một bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN, tạo cơ sở pháp lý cho việc quyết định một hình phạt cũng như áp dụng các biện pháp pháp lý hình sựkhác công bằng. Sai lầmtrong định tội danh làm cho việc quyết định hình phạt không phù hợp với hành vi đãthực hiện, làm cho bị cáo phải gánh chịu những hậu quả pháp lý không đáng phải gánh chịu thì sai lầmđó đãvi phạm một cách thô bạo các lợi ích hợp pháp của người bị kết án[190, tr. 148].

1.2.2. Quyết định hình phạt

QĐHP làmộtgiaiđoạnrấtquan trọng trong hoạtđộngáp dụng PLHS thể hiện qua thực tiễn xét xử của Tòa án, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong BLHS tươngứngvới mộtCTTP cụ thể đểáp dụng đối vớingười phạmtộithểhiện trongbảnán buộctội[72, tr. 42]. Tiếpcậntừkhía cạnh pháp lý hìnhsự,cách hiểu trên được các nhà khoa học gọi là tiếp cận theo nghĩa hẹp. Còn theo nghĩa rộng thìviệc QĐHP có nội dung là cả việc áp dụng các biểu hiện khác của TNHS, chứ

41

không đơnthuầnchỉlà hình phạt [100, tr. 69-70]. Từkhía cạnh bản chất làhoạt độngáp dụng PLHS thì QĐHP đượchiểu ởnghĩa rộng và cóthểđược gọi bằng một tên khác là áp dụng hình phạt.

1.2.2.1. Cơ sở của quyết định hình phạt

QĐHP là việc chuyển hóa nội dung quy định của PLHS về hình phạt vào việc xét xửnhữngvụán cụthểnên cơsởpháp lý của hoạt động này làBLHS. Chỉ có BLHS mới quy định về tội phạm và hình phạt. Trong thực tế, người ta cóthểbắt gặp những văn bảnhướng dẫn củacác cơ quan có thẩm quyền liên quan đến vấnđềQĐHP đối với những tội phạmcụthể cũng nhưliên quanđến địnhtộidanh [65, tr.167-175]. Tuy nhiên, những văn bản này không có thẩm quyền và không baogiờsáng tạo ra những hình phạt, khung hình phạt mới hay những tội phạm mới mà chỉ có ý nghĩa hướng dẫn việc áp dụng những quyđịnh vềtội phạm và hình phạt của BLHS cho phù hợp với mục đích đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm trong những giai đoạn cụ thể.

Cơ sở của QĐHP không chỉ bao gồm cơ sở pháp lý mà còn bao gồm cả cơ sở thực tế. Với bản chất là một hoạt động ADPL, cơ sở thực tế là yếu tốbắt buộc phải được xác định vì nó trả lời cho câu hỏi hình phạt sẽ chuyển hóa vào trường hợp nào và cho ai. Giới hạn của cơ sở thực tế cần phải được xác định để QĐHP cũng được quy định ngay trong luật hình sự. Tuy nhiên, trong thựctế,việc xácđịnhcơsởthựctếvà cơsởpháp lýcủaQĐHP cũng cóđặcđiểm giống như đối với định tội danh. Những giai đoạn tương đối độc lập về mặt lý luận nàycủaADPLlạirấtkhó cóthểphân biệtmộtcách rành mạnh trong việc QĐHP. Khoa học pháp lý có một thuật ngữ riêng để chỉ cơ sở của QĐHP đólà căn cứQĐHP. Theo Điều 45 BLHS năm 1999, khi quyết địnhhình phạt, Tòa án phải căn cứ vào các yếu tố cụ thể sau đây:

Thứnhất, căn cứvào các quyđịnh củaBLHS: Căncứvào BLHS làmộtcăn cứđầutiên khi QĐHP và định hướng cho việcvậndụng các căn cứtiếp theo [68, tr. 88]. Đứng về mặt cấu trúc, một quy phạm PLHS trong phần các

42

tội phạm cụ thể luôn luôn có một hoặc một hệ thống các hình phạt khác nhau đi kèmđượccoi là hình thức TNHS chongườiđãthực hiệntộiphạmđượcquy phạm PLHS mô tả. Chính vì vậy, việc QĐHP trước hết là quá trình chuyển hóa, tức là phải căn cứ vào khung hình phạt tương ứng với một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS thành TNHS cụ thể đối với người đã thực hiện tội phạmđó.Khi QĐHPđốivớingườiphạm tội, Tòa ánchỉđượctuyênmộthình phạt chính và có thể tuyên kèm theo một hoặc nhiều hình phạt bổ sung. Tòa án phải

lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt tương ứng với tội phạm cụ thể để áp dụng.

Tuy nhiên, nội dung vềhình phạt của BLHS không đơn giản chỉlàhình phạt hayhệthống những hình phạt tương ứng vớimột tội phạmcụthểđược mô tả trong điều luật thuộc phần các tội phạm cụ thể. Hình phạt có nội dung xuyên suốt toàn bộ BLHS từ phần chung đến phần các tội phạm và tạo thành một hệ thống có tính quy định chặt chẽ. Như vậy, căn cứ để QĐHP còn bao gồm cả những quyđịnhthuộc phần chung của BLHS. Nhìn chung, những quy định thuộc phần chung của BLHS là căn cứ có tính chất địnhhướngcho việc QĐHP bao gồm: mục đích của hình phạt, TNHS và các giaiđoạn phạm

tội, đồng phạm, phạm nhiều tội, nội dung và điều kiện áp dụng từng loại hình phạt, miễn TNHS, miễn hình phạt… [68, tr. 88].

Thứ hai, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện. Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là thuộc tính khách quan của tội phạmđượcquyết định chủyếubởi ýnghĩa vàtầmquan trọng của bịtội phạm xâm hại. Như vậy, ởmột chừng mực nhất định, tính chất nguy hiểm cho xã hội phản ánh sựkhác nhau giữa các nhóm tội phạmđược quy định trong BLHS. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được quy định bởi tổng thể các dấu hiệu của CTTP phản ánh sự khác nhau về lượng ở những tội phạm có cùng tính chất nguy hiểm cho xã hội. Nói cách khác, đólà đại lượng đánh giá sự khác nhau về mức độ nguy hiểm cụ thể của một loại tội phạm cụ thể được thực hiện trong những trường hợp khác nhau hoặc giữa

43

các tội phạmcụthểkhác nhau trong cùng một nhóm. Một cách cụthểhơn, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được cân nhắc dựa trên việc xem xét những yếu tố khách quan và chủ quan của tội phạm đã thực hiện.

Thứ ba, căn cứ vào nhân thân người phạm tội. Những người phạm tội có những đặc điểm nhân thân rất khác nhau. Nhân thân người phạm tội là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau [203, tr. 101]:

nhưng trong khoa học luật hình sự, nhân thân người phạm tội là tổng hợp nhữngđặc điểmmang tính chất xã hội của người phạm tội, có ảnh hưởng đến việc cáthể hóa TNHS và hình phạt hoặc miễn TNHS, hình phạt. Việc làm sáng tỏ nhân thân và áp dụng yếu tố này làm căn cứ QĐHP đối với người phạm tội mang ýnghĩa là việc làm sáng tỏ khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội để trên cơsở đó lựa chọn được loại và mức hình phạt phù hợp theo quy định của pháp luật. Đây cũng đồng thời là một biểu hiện của nhân đạo, công bằng, của cá thểhóa hình phạt được thể hiện như những nguyên tắc của luật hình sự và được thực tiễn khẳng định. Nhân thân người phạm tội là tổng thể các khía cạnh xãhội đặc trưng của người phạm tội có ý nghĩa giải quyết đúng đắn TNHS, bao gồm những đặc điểm, đặc tính mang tính chính trị – xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh lý thể hiện tính cá biệt, tính không lặp lại của người thực hiện tội phạm. BLHS quy định một số đặc điểm về nhân thân người phạm là căn cứ để quyết định hình phạt bao gồm: Phạm tội lần đầu, tiền án, tiền sự, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, ngoan cố, tự thú, hối cải, lập công chuộc tội, người chưa thành niên phạm tội, trình độ lạc hậu, có con nhỏhoặc đang mang thai… Trên cơ sở đó, khoa học pháp lý có sự phân loại nhân thân người phạm tội theo các nhóm khác nhau [125, tr. 41-46], [182, tr. 120].

Khi căn cứ vào các đặc điểm nhân thân của người phạm tội để QĐHP, mộtmặtkhôngđượctách nó ra khỏitộiphạm màngườiđóđãthực hiện, mặt khác cũng không được chỉ xuất phát từ tội phạm. Mặc dù đều gắn với một con ngườicụthểnhưngchủthểcủatộiphạm và nhân thânngườiphạmtộilà hai khái niệm khác nhau. Chủ thể của tội phạm là một trong 4 yếu tố CTTP, là cơ sở

44

của việc định tội danh còn nhân thân người phạm tội là cơ sở của việc QĐHP. Do đó, trong những trường hợp các đặc điểm của người phạm tội được luật quyđịnh là dấu hiệu bắt buộc để định tội thì không được cân nhắc chúng (với tính chất là nhữngđặcđiểmvềnhân thân) khi QĐHP [190, tr. 181-182].Điềunày xuất phát từ nguyên tắc “Một tình tiết không dùng nhiều lần với nhiều tác dụng khác nhau để cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [125, tr. 42].

Thứ tư, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS. Các tình tiết giảmnhẹvà tăng nặng TNHSđược quyđịnhtại Điều 46 và 48 BLHS. Các tình tiết này “chỉ làm thayđổimức độnguy hiểm trong phạm vi một CTTP chứ không làm thay đổi tính chất của tội phạm ấy” [122, tr. 8]. Nghiên cứu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS chúng ta thấy những tình tiết này hoặc là những tình tiết ảnh hưởng đáng kể đến mức độ nguy hiểm của hành vi (tăng lên, giảm xuống) hoặc là những tình tiết phản ánh khảnăng giáo dục, cải tạo của người phạm tội hoặc phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm

tội. Và như vậy những tình tiết này có sự trùng lặp (về nội dung và hình thức) với những tình tiết được xem xét ở căn cứ 2, 3. Pháp luật không quy định cụthể mối liên hệ ảnh hưởng một cách trực tiếp và rõ ràng giữa các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS với QĐHP mà điều này tùy thuộc vào việc ADPL của Tòa án trong từng vụán vàđối với từngbịcáo cụthể. Nhìn chung các tình tiết giảmnhẹvà tăng nặng hình phạt đượcquyđịnh trong BLHS có một bộphận lớn mô tả về các đặc điểm nhân thân của người phạm tội cũng có nghĩa làđồng nhấtvới việc căncứvào nhân thân người phạm tội. Tuy nhiên, một bộ phận khác lại có tính khách quan như hoàn cảnh phạm tội, đối tượng phạm

tội… Chính vì vậy khi vận dụng những tình tiết này cần chú ý:

– Những tình tiết đã làyếutốđịnh tộihoặc địnhkhung hình phạt thìkhông được coi là tình tiết tăng nặng (hoặc giảm nhẹ);

– Xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự và mục đích cải tạo giáo dục người phạm tội của hình phạt mà BLHS cho phép Tòa án được

45

coi những tình tiết khác ngoài những tình tiết luật đã quy định là tình tiết giảm nhẹ (khoản 2 Điều 46). Tuyệt đối không áp dụng trường hợp này đối với tình tiết tăng nặng. Mặt khác, trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ (có ít nhất từ hai tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được BLHS quy định trở lên), Tòa án cũng có thể quyết định một hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS (Điều 47). Nhưng những tình tiết thuộc loại này trong cả hai trường hợp trên phải được nêu rõ lý do và ghi vào bản án.

– Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ phải được đánh giá tổng hợp trong mối liên hệ thống nhất của toàn bộ vụ án.

Như vậy, các căn cứ QĐHP như đã trình bày là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do BLHS qui định buộc Tòa án phải tuân theo QĐHP đối với người thực hiện tội phạm. Trong mọi trường hợp, Tòa án không được đề cao căn cứ này, hạ thấp căn cứ kia và ngược lại mà phải tuân thủ đồng thời các căn cứđómớiquyếtđịnhđượcloại vàmứchình phạt đúng pháp luật, công bằng, hợplýđối với ngườiphạm tội. Các mục đích của hình phạt do đómới đạtđược.

1.2.2.2. Ý nghĩa của quyết định hình phạt

Giữa QĐHP và việc nâng cao hiệu quả của hình phạt có mối quan hệchặt chẽ vớinhau. Hình phạt đạt đượchiệu quả hay không (hay mức độđạtđược mục đích của hình phạt đến đâu) điều đó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:

đó là những yếu tố thuộc về xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật về hình phạt, những yếu tốthuộcvềáp dụng những quy phạm pháp luậtđóvàcảnhững yếu tố thuộc về chấp hành hình phạt…, trong đó yếu tố QĐHP giữ vai tròđặcbiệt quan trọng. Bởi lẽcác yếu tốthuộc vềxây dựng hệthống pháp luật chỉcóýnghĩa trên thực tiễn khi hình phạt được quyết địnhđúng. Mặt khác, hình phạt đã được quyết định đúng thì những các yếu tố thuộc về chấp hành hình phạt mới phát huy được tác dụng của nó.

46

Như vậy có thể thấy rằng, QĐHP đúng là cơ sở quan trọng để có thểnâng cao hiệu quả của hình phạt. Việc QĐHP đúng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Với tư cách là một nội dung quan trọng trong quá trình áp dụng PLHS và là một hoạt độngđặc thù, riêng cócủaTòa án nên việc nhận thức đúng những vấn đềliên quanđến QĐHP cóýnghĩa đối với thực tiễn xét xửcủa Tòa án. Xuất phát từmục đích của hình phạt, việc QĐHP là hoạt độngáp dụng PLHS, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng xét về mặt chính trị, pháp lý. Hình phạt đã tuyên, một mặt phải thể hiện được đó là sự trừng trị cần thiết của Nhànước, phản ánh được thái độ của Nhà nước đối với người đã có hành vi phạm

tội, răn đe, kìmchếngăn ngừa họ phạmtộimới. Mặt khác, cóthểgiáo dục, động viênđược đôngđảoquần chúng nhân dân tham gia tích cựcvào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm. Khi quyết định một hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý đối với người phạm tội thì đó sẽ là tiền đề, làđiều kiện choviệc đạt được mục đíchcủa hình phạt, tức là có tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, ngăn ngừa người đóphạm tội mới vàgiáo dục những người khác. Ngược lại, khi Tòa án QĐHP không đúng pháp luật, không công bằng và không hợp lý thì những mục đích nói trên sẽ không thể đạt được. Một hình phạt như vậy, hoặc sẽ là quá nhẹ, hoặc sẽ là quá nặng so với hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Và trong cảhai trường hợp đều dẫn đến những hậu quả không tốt đối với người phạm tội, với nhữngngườikhác vàvớitoàn xã hội nói chung, làm giảm đi ýnghĩa phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt. Như vậy, việc nhận thức đúng vềmục đích của hình phạt là cơsởđầu tiên giúp chúng ta nhận thức đúng những căn cứ QĐHP và từ đó Tòa án có thể quyết địnhmột hình phạt đúng đắn, công bằng và hợp lý đối với người phạm tội.

Do hình phạt là hậu quả pháp lý đối với người đã thực hiện tội phạm nên về nguyên tắc, việc QĐHP diễn ra sau quá trình định tội danh. Về mặt lýluận nếu định tội danh là việc chuyển hóa nội dung quy định về tội phạm của luật hình sự thì QĐHP là quá trình chuyển hóa nội dung quy định về hình phạt

47

của luật hình sự. Và như thế, vềlôgíc các bước tiến hành thì ngay sau khiđịnh tội danh, Tòa án cần phải xác định xem có áp dụng TNHS đối với bị cáo không? Bị cáo có được miễn TNHS không? Có áp dụng hình phạt hoặc biện pháp hình sự khác như biện pháp tư pháp thay thế cho hình phạt hay không? Có được miễn hình phạt không? Nếu áp dụng hình phạt thì đó là hình phạt gì? Mức cụ thể là bao nhiêu? Có cần phải tổng hợp hình phạt không và cuối cùng là quyết địnhbiện pháp chấp hành hình phạt đó(chẳnghạncó cho bịcáo

hưởngán treo không?)… Từ đây, có thể nhận thấy trong quá trình để có thểQĐHP đối với bị cáo sẽ bao gồm cả việc xem xét áp dụng các biện pháp khác của TNHS đối với bị cáo.

1.2.3. Định tội danh và quyết định hình phạt – nội dung cơ bản của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự

Định tội danh và QĐHP là hoạt động áp dụng PLHS của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chuyển hóa những quy định về tội phạm, hình phạt và những vấn đề có liên quan của BLHS thành những quyền và nghĩa vụ cụ thểcủa các chủ thể là đối tượng bị áp dụng PLHS. Bản chất pháp lý của hoạt động này rõ ràng là không tạo nên những quy phạm pháp luật mới – tức là không sáng

tạo ra tội phạm và hình phạt – mà là áp dụng những quy định về tội phạm và hình phạt của BLHSđể địnhtínhmộthành vi nguy hiểm cho xã hộiđãxảyra trên thực tế có phải là tội phạm hay không và định lượng trách nhiệm pháp lý đối với người đã thực hiện tội phạm đó. Điều này cho thấy, định tội danh và QĐHP cóbản chất là một hoạt động ADPL và luật được áp dụng ở đây là luật nội dung – luật hình sự. Mặc dù, “trong lý luận hình sự, việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự được hiểu là một quá trình đa dạng và phức tạp được tiến hành qua các giaiđoạn nhất địnhnhư: giải thích pháp luật hình sự, xác định hiệu lực của văn bản pháp luật về không gian, thời gian, định tội danh, quyết định

hình phạt, xóa án tích…”[72, tr. 39]. Tuy nhiên,từkhía cạnh bảnchất của hoạt động ADPL, từ luật được áp dụng thì có thể nhận thấy rằng, xét đến cùng

48

việc định tội danh và QĐHP là nội dung cơ bản nhất. Những hoạt động khác có chăng chỉ nhằm mục đích làm sáng tỏ hoặc hỗ trợ cho hai nội dung này.

Là nội dungchủyếucủa hoạt độngáp dụng PLHS, định tội danh vàQĐHP được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành TTHS. Trong đó, chủ thể cóthẩm quyền định tộidanh là CQĐT, VKS và Tòa án còn chủthểcó thẩm quyền QĐHP thìchỉcó Tòa án là cơ quan có thẩm quyền duy nhất. Nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn, bên cạnh định tội danh, việc áp dụng chế tài pháp lýhình sự (không chỉ có hình phạt) có thể do các CQĐT, VKS thực hiện (ví dụ, quyết địnhbiện pháp miễn TNHS, quyết địnhbiện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh…). Nhưng phải khẳng định rằng, nội dungchủyếu của hoạt động áp dụng PLHS là định tội danh và QĐHP.

1.3. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

Với bản chất là một hoạt động ADPL nên áp dụng PLHS là một quá trình gồm các giai đoạn khác nhau. Trong thực tế nói chung, hoạt động ADPL được thểhiện hết sức phong phú và đa dạng. Nó có thể diễn ra rất nhanh như việc xử phạt các vi phạm giao thông và cũng có thể là một quá trình lâu như việc xét xử các vụán hìnhsự,dânsựcủaTòa án. Trong nhiều trường hợp, hoạtđộngADPL diễn ra nhanh đến mức làm người ta cảm thấy nó chỉ tồn tại trong một thời điểm nhất định. Tuy nhiên, cũng như mọi sự vật và hiện tượng khác của thế giới khách quan, hoạt động ADPL nói chung và áp dụng PLHS nói riêng cũng có sự phát sinh, tồn tại và chấm dứt, là một quá trình thống nhất bởi các giai đoạn kế tiếp nhau.

Nghiên cứu áp dụng PLHS là một quá trình gồm các giai đoạn xuất phát từchỗxem xétbảnthân hoạtđộngADPL nói chung khiđượctriển khai trên thực tế sẽ trải qua các giai đoạn khác nhau, dù luật được áp dụng là luật nào vàchủ thể có thẩm quyền áp dụng là ai và trình tự, thủ tục được pháp luật quy định có khác biệt.Trong khoa học pháp lý, có quan điểmkhông phân chia ADPL thành các giai đoạn mà nêu lên một cơ chế ADPL được mô tả cũng bao gồm “các khâu” khác nhau như “ra văn bản áp dụng pháp luật, cụ thể hóa các quy

49

địnhcủa điềuluật, thực hiện những quy định trong phần quyđịnh và phần chế tàicủa điều luật” [185, tr. 232]. Các khâu này được trình bày rõ ràng làcó tính kế tiếp nhau về mặt thời gian. Theo đó bao hàm cả những hoạt động có tính chất XDPL như việc cụthểhóa pháp luật, ban hành các văn bản hướng dẫnv.v… Điều này cóthểdẫn đến chỗkhông phân biệt đượcADPL với XDPL.

Về mặt lý luận, việc phân tích áp dụng PLHS như một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau không phải là kết quả của suy luận thuần túy mà làsự phản ánh khách quan bản chất của hoạt động này dù được xem xét ở bất cứkhía cạnh nào. Hoạt động áp dụng PLHS là một quá trình gồm các giai đoạn nhưng cóthểmức độtham gia củacác chủthểcó thẩm quyền vào các giai đoạncóthểkhông giống nhau. Nội dungchủyếucủa hoạtđộng áp dụng PLHS là hoạt động định tội danh và QĐHP, một mặt nó phù hợp với những yêu cầu của BLHS trong việc xác định một hành vi nguy hiểm cho xã hội là

tội phạm và quyđịnh TNHS, mặt khác lại tuân theo những trình tự, thủtục được quyđịnhtrong BLTTHS.Điều này cho thấy việc từkhía cạnh là hoạtđộng ADPL nói chung thì ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụán hìnhsựcủa các cơ quan tiến hành TTHS cũng là việc áp dụng cùng lúc quyđịnh của hai “hệthống” quy phạm pháp luật khác nhau nhưng cùngtồn

tại trong một thể thống nhất. Quy phạm pháp luật TTHS quy định trìnhtự, thủtụcđểADPL nội dung nên các CQĐT, VKS và Tòa án sẽ tham gia vào quá

trình giải quyết vụ án hình sự theo trình tự, thủ tục đó và mức độ tham gia vào khác nhau. Giai đoạn áp dụng PLHS và trình tự, thủ tục áp dụng PLHS là hai phạm trù khôngđồng nhất với nhau. Giai đoạn áp dụng PLHS là thuộc tính vốncó của một hoạtđộngADPL, phản ánh các bước được tiếpnối nhau vềmặt thời gian trong quá trình áp dụng PLHS. Trình tự, thủ tục áp dụng PLHS là các giai đoạncủa quá trình áp dụng PLHS được quy định trong pháp luật TTHS. Trong khi các giai đoạn áp dụng PLHS không quan tâm đến chủ thể cụthể thực hiện hoạt động ADPL thì trình tự, thủ tục TTHS quy định chặt về các

50

chủ thể có thẩm quyền ADPL. Các giai đoạn áp dụng PLHS không phụ thuộc vào pháp luật TTHS.Thếnhưng, khi pháp luật TTHS thayđổi,trình tự, thủ

tục cũng thay đổi theo. Chính vì vậy, vấn đề cần làm rõ ở đây là: (1) Các giai đoạn áp dụng PLHS xét về mặt bản chất của một hoạt động ADPL bao gồm các bước như thế nào (?) và (2) Sự tham gia của từng chủ thể có thẩm quyền (CQĐT, VKS, Tòa án) vào các giai đoạn của quá trình áp dụng PLHS ra sao (?)

1.3.1. Giai đoạn áp dụng pháp luật hình sựxétvềbảnchất hoạtđộng áp dụng pháp luật

Với bản chất là một dạng hoạt động ADPL nên khi tiến hành (bởi bất cứcơ quan có thẩm quyền nào), ADPL là một quá trình bao gồm các bước sau đây.

1.3.1.1. Phân tích thực tế

Điều dễ nhận thấy là hoạt động áp dụng PLHS không mặc nhiên diễn ra trên cơ sở các yêu cầu của các quy phạm PLHS. Các quy phạm PLHS chỉ đi vàođờisống thựctếthông qua những quanhệpháp luật. Nói cách khác, áp dụng PLHS chỉ có thể xuất hiện khi thực tế xuất hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, bịPLHS cấm đòi hỏi phải có hoạt động ADPL để triển khai các quyền và nghĩa vụcủacácchủthểtham gia. Phân tích thựctếlà giaiđoạnnhằm xácđịnhcơsởthực tế của áp dụng PLHS, là việc nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện sựviệccụthể.Từđóđánh giá, xem xét những tình tiếtđãcấu thành nênsựkiện thực tế (hành vi nguy hiểm cho xã hội) cũng như những sự kiện pháp lý có liên quan. Phân tích thực tế không chỉ là việc làm sáng tỏ nội dung của sự việc cụ thểđang xem xét mà còn là việc xácđịnhđặctrưng cũngtầmquan trọngvềmặt pháp lý của nó. Điều này có nghĩa là áp dụng PLHS cũng như dạng ADPL khác chỉcóthểđượctiến hànhđốivới nhữngsựviệccó đặctrưng pháp lý [188, tr. 378] và có tầm quan trọng pháp lý nhất định.

1.3.1.2. Lựa chọn và phân tích quy phạm pháp luật

51

Phân tích và lựa chọn quy phạm PLHS là giai đoạn nhằm xác định cụthể cơ sở pháp lý của ADPL. Việc lựa chọn và phân tích quy phạm PLHS đểáp dụng đối với những sự việc cụ thể trước hết để làm sáng tỏ sự tồn tại hay không tồn tại những quy phạm PLHS điều chỉnh nó. Đứng trước một hệ thống pháp luật đồ sộ thường xuyên có những thay đổi, không chỉ các chủ thể pháp luật thông thường mà bản thân các cơ quan nhà nước cũng không thể biết hết những quy định của nó.

Việc phân tích và lựa chọn quy phạm PLHS cũng phải được tiến hành mộtcách toàn diện vàđầyđủ. Điềunày cóthể dẫn đếnkếtquảlà trong nhiều trường hợp, một sự việc cụ thể có thể xác định được sự tồn tại không phải của một mà của nhiều quy phạm PLHS khác nhau cùng điều chỉnh. Trong lịch sử,đã từngxảyra trường hợp khi xác định rằngkhông có quy phạm PLHS nàođiều chỉnh quan hệ đang diễn ra trên thực tế thì nguyên tắc ADPL tương tự sẽđược vận dụng.

Việc xác địnhsựtồn tại của những quy phạm PLHS điềuchỉnh một hành vi nguy hiểm cụ thể là cơ sở cho việc lựa chọn quy phạm thích ứng đối với trường hợp áp dụng PLHS thông thường cũng như cho việc lựa chọn quy phạm tương tựhoặc nguyên tắc chung củapháp luậtđối với trường hợpáp dụng PLHS tương tự.Tuy nhiên thựctếthấy rằng việc lựa chọn quy phạm pháp luật tươngứng để áp dụngđối với một sự việc cụ thể là việc làm không đơngiản nếunhư không xác định được nộidung của những quy phạm ấy. Chính vì vậy, việc lựa chọn quy phạm PLHS cần phải tiến hành cùng lúc với việc làm sáng tỏnộidung tư tưởng của quy phạm PLHS hoặc nguyên tắc pháp luật được lựachọn. Khoa học pháp lý gọi đây là trường hợp giải thích pháp luật với mục đích đảmbảo cho sựnhận thức và thực hiện pháp luật nghiêm minh, thống nhất [52, tr. 9-12]. Đặc biệt đối với Tòa án, khi tiến hành giải thích các văn bản PLHS thành văn (bao gồm cả các đạo luật), điều mà họquan tâm tìm kiếm không phải là những gì mà các nhà làm luật muốn nói màchính là ý nghĩa của những gì họ đã nói [99, tr. 101].

52

Như vậy hai bước đầu của hoạt động áp dụng PLHS ở đây nhằm xác định và đánh giá cơ sở thực tế – tức là các tình tiết, sự kiện cấu thành nên vụán hình sự và xác định cơ sở pháp lý cụ thể – tức là những quy phạm pháp luật hình sự. Về mặt lý luận, xác định cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý là hai giai đoạn khác nhaucủamộtquá trình ADPL, tuy nhiên trong việcđịnhtộidanh vàQĐHP, hai giai đoạn này hầu như rất khó có thể phân biệt với nhau. Tuy nhiên, do logic khách quan của một vụ án hình sự là được bắt đầu bởi sự xuất hiện một hành nguy hiểm cho xã hội xảy ra trên thực tế xâm phạm đến những quan hệ xãhội được PLHS bảo vệ nên việc xác định cơ sở thực tế – một cách tương đối -được tiến hành trước. Do việc xác định cơ sở thực tế xét đến cùng cũng để phục vụ cho việc định tội danh và QĐHP nên giới hạn của cơ sở thực tế là những tình tiết, dấu hiệu được mô tả trong CTTP cũng như được mô tả trong những căn cứ để QĐHP. Điều đó có nghĩa là việc xác định và phân tích cơ sở thực tế của định tội danh và QĐHP luôn luôn phải bám sát vào những quy định của BLHS.

Theo quy định của pháp luật, cơ sở thực tế và việc xác định cơ sở thực tếđểđịnhtộidanh và QĐHPđượcchuyển hóa thành hainộidunghếtsứcquan trọng của TTHS đó là chứng cứ và đối tượng chứng minh. Chứng cứ là toàn bộnhững tài liệu thực tế được các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để làm sáng tỏsự thật khách quan của vụ án hình sự. Chứng cứ bao gồm: vật chứng, lời khai, kết luận giám định và biên bản về hoạt động điều tra, xét xử cà các tài liệu khác (Điều 64 BLTTHS). Chứng cứ được xem là phương tiện hợp pháp duynhất đểchứng minhsựthật khách quancủavụán hìnhsự.Tuy nhiên, xuất pháttừnguyên tắc xác định sự thật khách quan của việc áp dụng PLHS nên bản thân các chứng cứ được sử dụng cũng phải được xác định tính xác thực của chúng. Các chứng cứ của vụ án hình sự là những bộ phận đơn lẻ phản ánh những mặt, những thuộc tính khác nhau của sự thật khách quan trong vụ án hình sự và những mặt, những thuộc tính của sự thật khách quan được chứng cứ phản ánh được gọi là đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự (Điều 63 BLTTHS).

53

Việc xácđịnhcơsởpháp lývềmặtlý luậnđượcxem là diễn ra sau nhưng trên thực tế nó được tiến hành song song với việc xác định cơ sở thực tếcủa áp dụng PLHS. Có thể thấy rằng, cơ sở pháp lý là giới hạn cho việc xác định cơ sở thực tế của vụ án hình sự. Điều đó có nghĩa là việc xác định cơ sở thực tếchỉ là việc xác định sự tồn tại hay không tồn tại của những tình tiết, sự kiện liên quan đến những yếu tố CTTP và những căn cứ QĐHP mà luật hình sự đã mô tả.

1.3.1.3. Đối chiếu cơ sở thực tế với cơ sở pháp lý

Đâylà giai đoạn kiểm tra CTTP và những căn cứQĐHP trong mối liên hệ với từng sự kiện, tình tiết của vụ án. Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình định tội danh và QĐHP bởi lẽ được tiến hành dựa vào các yếu tốcủa CTTP và được bắt đầu lần lượt từ khách thể, mặt khách quan, chủ thể vàmặt chủquan của tộiphạm và các căn cứliên quan đến việc QĐHP. Ởmột chừng mực nhất địnhcóthểcoi giai đoạn này là giai đoạnxem xét sựđồng nhất giữa cơ sở thực tế – tức là sự thật khách quan của vụ án hình sự – với cơsở pháp lý – tức những quy định cụ thể nào đó của luật hình sự về tội phạm vàhình phạt.

Về mặt lý luận do việc QĐHP diễn ra sau việc định tội danh nên trong các giai đoạn ADPL, logic này cũng được chuyển hóa một cách trực tiếp thành việc kiểm tra cácyếutốCTTPsẽđượcdiễn ratrướcviệc kiểm tra các căncứQĐHP trong sự phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án đã được xác định.

1.3.1.4. Ra quyết định áp dụng pháp luật hình sự

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ CỦA CÁC CƠ QUAN ĐIỀU TRA, VIỆN KIỂM SÁT VÀ TÒA ÁN VIỆT NAM

Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *