Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của Đề tài

Ban hành quyếtđịnhhành chính làmộttrong những phương thức quan trọng trong quản lý hành chính nhànước,là hoạtđộngcơbảncủanềnhành chính. Hoạtđộngban hành quyếtđịnhhành chính khôngchỉlàsựbiểu hiệncủaviệc thực thi quyền hành pháp trong nhà nước pháp quyền, mà hoạt động đó còn tác động trực tiếpđếnđờisốngcủangườidân,đếnhoạtđộngcủacáctổchức. Dođó,việc ban hành quyết định hành chính đòi hỏi phải tuân thủ đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân và thực tiễn quản lý nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể. Quyếtđịnh hành chính được ban hành có chất lượng, đáp ứng đúng yêu cầu quản lý, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sẽ giúp cho bộ máy nhà nước hoạtđộng hài hòa, nhịp nhàng, hiệu lực, hiệu quả. Có thể nói, hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng và hiệu quả của các quyếtđịnh hành chính được ban hành và việc tổ chức thực hiện chúng trên thực tế.

Trong các lĩnhvựcquản lý nhànước,các quyđịnhvềban hành quyếtđịnh hành chính đã được quy định cụ thể trong các đạo luật có giá trị pháp lý cao và có tínhổnđịnh,tạolậpcơsởpháp lý cho việc ban hành các quyếtđịnhhành chính có hiệu lực, hiệu quả.

Trong các quyđịnhđó,mộtsốbiện pháp, hình thức kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính đã được thiết lập để phòng ngừa, hạn chế tới mức thấp nhất việc ban hành các quyết định hành chính chủ quan, duy ý chí, bất hợp pháp và đi ngược với mục tiêu của quản lý nhà nước, chưa bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước và tổ chức, cá nhân. Việc kiểm soát được quá trình ban hành quyết định hành chính sẽ góp phần bảođảmcho hoạtđộngban hành quyếtđịnhhành chínhđượchợppháp,hợplý; cóhiệu lực, hiệu quả; vìlợiích chungcủaNhànước,xãhộivàlợiíchcủatổchức, cánhân; đồng thời góp phần vào việc bảo vệ pháp luật, duy trì và bảo vệ công lý, công bằng trong xã hội. Việc kiểm soát quá trình ban hành quyết định hành chính được quyđịnh trong các văn bản pháp luật dưới hình thức các quy định về thẩm quyền ban hành, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính; quy định về việc công khai và lấy ýkiếncủacácđốitượngcó liên quan trong quá trình soạn thảo, ban hành quyếtđịnh hành chính; quyđịnhvềviệctạolậpcơchếđểđốitượngthi hành quyếtđịnhhành chính được thực hiện quyền khiếu nại, khiếu kiện các quyết định hành chính cũng nhưđặt ra trách nhiệm bồi thường nhà nước đối với các quyết định hành chính gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân. Các quy định này ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ, góp phần kiểm soát tương đối hiệu quả việc ban hành các quyết định hành chính, bảo đảm chất

2

lượng, hiệu lực, hiệu quả của các quyết định hành chính, giảm thiểu những hệ lụy từviệc ban hành các quyết định sai trái, bất hợp lý.

Tuy nhiên, quá trình thực thi quyết định hành chính trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là trong một số lĩnh vực quan trọng, liên quan trực tiếp tới bảo đảm quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều quyết định hành chính chưa phù hợp, gây bức xúc, không cóđược sự đồng thuậntừ ngườithực hiện, dẫntớiviệc khiếu nại, khiếu kiện kéo dài. Nghiêncứucác quyếtđịnhhành chínhbịkhiếu nại, khiếu kiện cho thấy nguyên nhân khiến các quyếtđịnhnàybịkhiếu nại, khiếu kiện kéo dài là do các quyết định đó khi được ban hành chưa tuân thủ đúng quy trình, thủ tục; chưa thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của quyết định hành chính; chưa chú trọng tới các biện pháp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thi hành quyết định hành chính.

Trong khiđó,cơchếkiểm soáttừgiaiđoạnsoạn thảo các quyếtđịnhhành

chính – gọi là cơ chế “kiểm soát trước” – nhằm ngăn ngừa, hạn chế tới mức tối đa việc ban hành những quyết định hành chính kém chất lượng, kém hiệu quả, gây những tácđộng tiêu cực tới tổ chức, cá nhân thì lại chưa được quy định rõ ràng, cụ thể. Quá trình ban hành các quyết định hành chính trong mỗi ngành, lĩnh vực là khác nhau và phần lớnlà doýchíchủquancủacác cơ quan hành chính nhànướcmà chưa tuân theo những quyđịnhtốithiểu về nguyêntắcban hành,uỷquyền ban hành, quy trình ban hành cũng như các cơ chế cụ thể để kiểm soát toàn bộ quá trình ban hành quyết định hành chính. Nhiều nội dung về kiểm soát ban hành quyết định hành chính trong toàn bộquy trình baogồmtừkhâu soạn thảo,đếnban hành và thực thi quyếtđịnhhành chính chưa được đồng bộ; quy định về trách nhiệm của chủ thể ban hành quyếtđịnh hành chính cũng như của các cơ quan nhà nước,ngườiđứngđầu trong việc thiết lập các biện pháp kiểm soát ban hành quyết định hành chính chưa được chú trọng và chưa thực sự hiệu quả.

Bên cạnhđó,pháp luật hiện hànhđãcó những quyđịnhđểcác cơ quan nhànước thực hiện việc kiểm tra, giám sát việc ban hành các quyết định hành chính thông qua cơ chế thanh tra, kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật đối với hoạt động quản lýnhà nước nói chung (trong đó bao gồm hoạt động ban hành các quyết định hành chính của các cơ quan này) và cơ chế phản hồi các quyết định hành chính từ phía đối tượng bịquản lý thông qua việc phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện và trìnhtự,thủ tục giải quyết khiếu nại, khiếu kiện các quyết định hành chính đó. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về các cơ chế “kiểm soát sau” nàyvẫncòn nhiềuvấn đề cầntiếp tục được nghiên cứu để có sự liên thông, thống nhất và hoàn thiện hơn nữa.

3

Đồng thời, so với yêu cầu đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, hiện đại hóa nền hành chính và trong bối cảnh thực hiện cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng, hoàn thiện Nhànướcpháp quyền XHCN Việt Nam thì pháp luậtvềban hành quyếtđịnh hành chính nói chung và pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính nói riêng cũng cho thấy vẫn còn nhiều khoảng trống, nhiều điểm bất cập, hạn chế cầnđược nghiên cứu hoàn thiện. Thời gian vừa qua, nhiều chương trình, đề án và hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về cải cách hành chính hầu hết mới chỉ tập trung vào việcđơn giản hoá thủ tục hành chính hay cải cách về tổ chức bộ máy nhà nước, cải cách thểchế, con người, tài chính công; hoặc mới chỉ hoàn thiệnvề cơ chếban hành văn bản quy phạm pháp luật và các cơ chế để kiểm soát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà chưa chú trọng đúngmứctớiviệcđổimới,cảicáchmộtphương thức thực hiện chức năng quản lý nhànướckhác cũngrấtquan trọngđólà việc ban hành các quyết định hành chính.

Thực tiễn cho thấy, các quy định liên quan đến việc ban hành quyết định hành chínhnằmtrong nhiều vănbảnQPPL khác nhau,ởcác lĩnhvựcvàcấpđộvăn bản khác nhau vàvớisựphong phú, đa dạngcủahệthống quy phạm này thì việc hoàn thiện pháp luậtvềkiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chính thựcsựlàmộtthách thức,đòihỏiphải cóbướcđi và hình thức thích hợp. Tuy nhiên, trongbốicảnhđẩy mạnhđổimớitổchức và hoạtđộngcủabộmáy nhànướcnhằm xây dựngmộtnền hành chính phụcvụliêm chính, công khai, minh bạch thì quá trình hoàn thiện pháp luật để kiểm soát chặt chẽ hoạt động này trở thành một nhu cầu cấp thiết, nhất là trong bốicảnh thực hiện tinh thầncủaHiến pháp năm 2013về “kiểmsoát quyềnlực”đối với các cơ quan thực hiện quyền hành pháp.

Xuất pháttừnhững lý do nêu trên, nghiêncứusinh chọnđềtài“Hoànthiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay” làchủ đề nghiên cứu của luận án tiến sỹ luật học nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ban hành quyếtđịnh hành chính, từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đó ở Việt Nam hiện nay.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

2.1. Mục đích của Luận án

Mục đích của Luận án nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn, từđó đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC ởViệt Nam hiện nay, đáp ứng yêu cầu thực hiện cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích của tổchức, cá nhân.

4

2.2. Nhiệm vụ của Luận án

Trên cơ sở mục đích đã được xác định như trên, Luận án có các nhiệm vụ:

– Nghiêncứulàm sángtỏcácvấnđềlý luậnvềhoàn thiện pháp luậtvềkiểm soát ban hành QĐHC, bao gồm: khái niệm, nội dung, phạm vi, đặc điểm của pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính và xác định các tiêu chí đánh giá mức độhoàn thiện cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hànhQĐHC. Đồng thời, ở một mức độnhất định, nghiên cứu pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHCcủamộtsốquốc gia trênthếgiới vàchỉra những giátrịtham khảo đối với pháp luật Việt Nam.- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC; nhận dạng những bất cập, vướng mắc trong quy định pháp luật dẫn đến những bất cập trong thực tiễn và tìm ra những nguyên nhân của các bất cập, vướng mắcđó. – Trình bày, đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiếm soát ban hành QĐHC ở Việt Nam hiện nay trong bối cảnh cải cách hành chính, chiến lược hoàn thiện pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiêncứucác quyđịnhcủapháp luật thựcđịnhvềkiểm soát ban hành QĐHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về QĐHC và kiểm soát ban hành QĐHC ở Việt Nam hiện nay, pháp luật điều chỉnhvềvấnđềnàyrấtrộng, bao trùm các lĩnhvựcquản lý nhànướcvà trong mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, như trong hoạt động quản lý nhà nước do các cơquan hành chính nhànướcvà các cơ quan,tổchức khácđượcgiao thực hiện chức năng quản lý nhà nước thực hiện, trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, trong hoạtđộng lập pháp, trong hoạt động quản lý hành chính có tính chất nội bộ của các cơ quan nhà nước, của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, các tổ

chức kinh tế…

Trong phạm vi giới hạn của Luận án, với mục đích đóng góp cácđề xuấtcho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước, bảo đảm sựcông khai, minh bạch và trách nhiệm giải trìnhcủacác cơ quan nhànướcđốivới người dân, Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khuôn khổ pháp luật về ban hành QĐHC và kiểm soát ban hành QĐHC là các QĐHCđượcban hànhdướihình thức văn bản, do các cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan, tổ chức được giao thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước ban hành có tác động tới các cơ quan, tổ

5

chức, cá nhân là đối tượng chịu sự quản lý nhà nước. Luận án không đề cập đến việc ban hành QĐHC điều chỉnh trong nội bộ của các cơ quan nhà nước, các QĐHC do các cơ quan tố tụng, cơ quan tư pháp, cơ quan lập pháp ban hành trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình; luận án cũng không xem xét QĐHC do các tổ chức chính trị,tổchức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế ban hành để phục vụ nhu cầu quản trị nội bộ của tổ chức mình.

Về không gian nghiên cứu, Luận án nghiên cứu các QĐHC và việc kiểm soát ban hành QĐHC của các cơ quan hành chính nhànướcởtrung ương vàđịaphương trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

Về thời gian, Luận án tập trung nghiên cứu thực tiễn của pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC trong giai đoạn từ năm 2010 tới nay. Đây là giai đoạn sau hoàn thành

Chương trìnhcảicách hành chính giaiđoạn2001–2010 và chuyển sang giaiđoạn thực hiện Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án nghiên cứu các nội dung thuộc chủ đề dựa trên cơ sở lý luận của Chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nhà nước và pháp luật.

Luận ánsửdụng phương pháp luậncủatriếthọcMác – Lênin, trongđóvận dụng linh hoạt, tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp vớicác phương pháp nghiêncứukhoahọcđãđượcsửdụng phùhợpvớiyêu cầu nghiêncứutừng chương và từngnộidungcủaluận án như phương pháp phân tích, tổng hợp; so sánh pháp luật; thống kê, khảo sát tài liệu, phỏng vấn chuyên gia. Cụ thểnhư sau:

– Phương pháp khảo sát tài liệu được sử dụng để thu thập, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu. Các tài liệu được thu thập bao gồm các nghị quyết, chỉthị, văn bản của Đảng và Nhà nước, các báo cáo, số liệu thống kê của các cơ quan nhànước; các sách, bài báo, tạp chí, luận án, đề tài khoa học về ban hành QĐHC và kiểm soát ban hành QĐHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.

– Phương pháp phỏngvấnchuyên giađượcsửdụngđểthu thập thông tin,ýkiến, bình luận của chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và những cán bộ làm công tác thực tiễn về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu. Việc phỏng vấn được thực hiện thông qua trao đổi, thảo luận làm việc trực tiếp với những người được phỏng vấn hoặc thông qua các trao đổi, thảo luận trong các hội thảo, tọa đàm, các buổi họp.

– Phương pháp tổngkếtthực tiễnđượcáp dụngđểnghiên cứu, quan sát, thu thập và khái quát các vấn đề trong thực tiễn thi hành các chính sách, văn bản pháp luật về ban hành QĐHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở Việt Nam.

6

– Phương pháp thống kê được sử dụng để hệ thống hóa, phân tích các số liệu vềviệc ban hành các QĐHC và các biện pháp để kiểm soát ban hành QĐHC nhằm đánh giá hiệu quả.

– Phương pháp so sánh pháp luật được sử dụng để đối chiếu, so sánh pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về các nội dung liên quan đến hủ đề nghiên cứu từ đórút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC.

– Phương pháp phân tích, tổnghợpđượcáp dụngđểtổng hợp, phân tích các thông tin, số liệu từ kết quả nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn chuyên gia, tổng kết thực tiễn nhằmbảođảmtính logic, khoahọccủacác nhậnđịnh,đánh giá, kiến nghị của luận án.

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tiếp cận chung về hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC ở Việt Nam hiện nay. Luận án có những điểm mới sau:

Thứnhất, trên cơsởkếthừa kếtquảnghiêncứutrướcđó,Luận ánđãnghiên cứu, làm rõ các khái niệm “kiểm soát ban hành QĐHC”, “pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC” để bổ sung vào hệ thống các khái niệm về ban hành QĐHC. Các vấn đềvề lýluậnnhư đặc điểm, nộidung, vai trò của pháp luật và tiêu chí hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC cũng được đề cập đầy đủ trong Luận án trên cơ sởphân tích, nghiên cứu, so sánh với pháp luật của một số nước về vấn đề này.

Luận án cũng đã phân tích và chỉ ra kinh nghiệm của một số nước trong hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC xoay quanh các nội dung của pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC nêu trên.

Thứhai, Luận án phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Namvềkiểm soát ban hành QĐHC trên các phương diện kiểm soát tínhhợppháp,hợplý của QĐHC thông qua các quy định của pháp luật thực định về: kiểm soát trong quy trình ban hành QĐHC và kiểm soát trong tổ chức thực thi QĐHC. Luận án tập trung đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành làm cơ sở cho việc kiểm soát tính hợp pháp củaQĐHC, gồm: (1) nhóm các quyđịnhvềchủthểthực hiện kiểm soát ban hành QĐHC; (2) nhóm các quy định về tiêu chí kiểm soát ban hành QĐHC, bao gồm các tiêu chí về tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC; (3) nhóm các quy định về quy trình, thủtục kiểm soát ban hành QĐHC; (4) nhóm các quy định về biện pháp xử lý được đặt ra trong kiểm soát ban hành QĐHC; (5) nhóm các quy định về trách nhiệm đặt ra cho các chủ thể có liên quan trong hoạt động kiểm soát ban hành QĐHC trong quy trình ban hành QĐHC và trong thi hành QĐHC (thông qua các hoạtđộngkiểm tra, thanh tra,

7

giám sát, khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện hành chính). Trên cơ sở đó, Luận án phân tích một cách có hệ thống và chỉ ra được những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC ở Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, dựa trên các kết quả nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật, nghiên cứu chủ trương và quan điểm của Đảng, các điều kiện kinh tế – xã hội và thực tiễn ban hành QĐHCcủacác cơ quan hành chính nhànướcởtrung ương vàđịa phương, Luận án trình bày hệ thống các quan điểm và đề xuất các giải pháp cơ bản vàtổng thể nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC ở Việt Nam trong tình hình hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

-Vềlý luận,kếtquảnghiêncứucủaLuận án cungcấpthêm các thông tin lýluận hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC trong điều kiện cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

– Về thực tiễn, Luận án là công trình đầu tiên tiếp cận và nghiên cứu chung một cách có hệ thống và toàn diện liên quanđếnpháp luậtvềkiểm soát ban hành QĐHC. Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo đối với các cơ quan có thẩm quyền trong xây dựng, hoạch định chính sách, xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật về ban hành QĐHC, về kiểm tra hoạt động ban hành QĐHC và xử lý các QĐHC sai trái. Luận án còn có thể là tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật hành chính nói chung và pháp luật về ban hành QĐHC nói riêng.

7. Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu thành 04 chương và 13 tiết, gồm:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài.

Chương 2: Cơsởlý luậncủaviệc hoàn thiện pháp luậtvềkiểm soát ban hành quyết định hành chính.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ởViệt Nam.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay.

8

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiên cứu trong nước

Trong thời gian qua, ban hành quyếtđịnhhành chính và kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính được xác định là vấn đề có nội hàm và phạm vi rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực quản lý nhà nước và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạtđộng quản lý nhà nước. Đã có nhiều cơ quan, tổ chức, nhiều tác giả, nhiều đề tài, đềán, bài viết chuyên sâu dưới góc nhìn đa dạng của nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhàquản lý về những khía cạnh khác nhau liên quan đến việc ban hành quyết định hành chính. Các công trìnhđóđãphân tích, đánh giá,đềxuất nhiềunộidung, giải pháp khác nhau dưới các khía cạnh khác nhau của việc ban hành và kiểm soát việc ban hành quyếtđịnhhành chính.Bướcvào giaiđoạnchuyểnhướngmạnhmẽcủanềnhành chính theo hướng phát triển nền hành chính hiện đại, phục vụ, hiệu lực, hiệu quả, đặc biệt trong tiến trình thực hiện cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý hành chính và công ứng dịch vụ công trực tuyến, xây dựng Chính phủ điện tử, thì việc nghiên cứu về ban hành quyết định hành chính và kiểm soát việc ban hành quyếtđịnhhành chínhcầnphải tiếptụcđượcthực hiện,đểbổsung thêm những luận cứ và luận chứng khoa học về mặt lý luận cũng như đáp ứng yêucầu vềmặtthực tiễn trong việc xácđịnhkiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chínhvớitưcách là một biện pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của ban hành quyếtđịnhhành chínhởViệt Nam hiện nay. Tuy nhiên, chođếnnay, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và toàn diện hệ thống pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC mà chỉ cónhững công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này ở những khía cạnh cụ thể.

Qua nghiên cứu, khảo sát các công trình khoa học gồm các sách chuyên khảo, các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu khoa học chuyên ngành, các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ có liên quan đến nội dung nghiên cứu trong Luận án, tác giả Luận án thấy nổi lên một số công trình tiêu biểu sau đây:

1.1.1. Nhóm công trình liên quanđếnquyếtđịnhhành chính và ban hành quyết định hành chính

1.1.2. Nhóm công trình liên quanđếnkiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chính và pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính

1.2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước

1.3. Một số nhận xét về kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến Đềtài và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong Luận án

1.3.1. Nhận xét tổng quan

Từcác công trình nghiêncứucó liên quanđếnquyếtđịnhhành chính và ban hành, kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính nêu trên, cóthểđưaramộtsốnhận xét về tình hình nghiên cứu như sau:

Đối với các công trình nghiên cứu trong nước:

Thứnhất, các công trình nghiêncứuvềquyếtđịnhhành chính, ban hành quyếtđịnh hành chính và kiểm soát ban hành quyết định hành chính có số lượng tương đối nhiều, dưới các hình thức rất đa dạng, phong phú: từ các bài viết, báo cáo chuyên đềđến luận văn, luận án, sách chuyên khảo và các đề tài nghiên cứu khoa học. Điều đóchứng tỏ đây là một chủ đề được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau. Điều đó cũng chứng tỏ chủ đề này thực sự là vấn đề mang tính thời sự trên phạm vi toàn cầu mà Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, và vì vậy, nócũng minh chứng cho tính cấp thiết của đề tài luận án.

Thứ hai, về mặt nội dung, các công trình nghiên cứu đã tìm hiểu nhiều khía cạnh khác nhau của việc ban hành quyết định hành chính và việc kiểm soát ban hành quyếtđịnh hành chính. Điều đó cho thấy đây là một chủ đề có phạm vi rộng, nội hàm phong phú, đa dạng, nhiều khía cạnh có thể được phân tích, mổ xẻ. Nhiều công trình trong sốđó được nghiên cứu trong bối cảnh của cải cách hành chính, gắn với yêu cầu của việcđổi mới căn bản phương thức quản lý nhà nước theo hướng hiện đại hóa, hiệu lực, hiệu quả. Các công trình nghiêncứuđóđãdầntạothànhmộtnềntảng lý luận và những luận cứ khoa học có tính chất hệ thống liên quan đến chủ đề mà đề tài luận án có thểkế thừa và tiếp tục phát triển.

Thứ ba, các công trình nêu trên đã nhận dạng được một số những bất cập trong thực tiễn ban hành các quyếtđịnhhành chính liên quanđếnvấnđềủyquyền hành chính, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính, hiệu lực của quyết định hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính v.v… Tuy nhiên, trong các công trình đó chưa có nghiên cứu nào tập trung, đi sâu vào việc phân tích, đánh giá một cách toàn diện vềkiểm soát ban hành quyết định hành chính trong các công đoạn soạn thảo, ban hành, thi hành quyếtđịnhhành chính,bảođảmtínhhợppháp ban hành quyếtđịnhhành chính.Mộtsốnghiêncứucó nêu các thông tin liên quanđếnviệc xácđịnhtínhhợp

19

pháp của quyết định hành chính được quy định tại một số văn bản pháp luật của một số quốc gia nhưng mới chỉ dừng lại ở việc kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam mà chưa tập trung đi sâu làm rõ yêu cầu bảo đảm tính hợp pháp của quyết định hành chính bằng các tiêu chí, cách thức cụ thể như thế nào.

Thứtư, trongsốcác công trình nghiêncứunêu trên, cómộtđềtàicấpcơsởnghiên cứu chuyên biệt về kiểm soát ban hành quyết định hành chính, tuy nhiên, công trình này mới chỉ dừng ở mức đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn kiểm soát ban hành quyết định hành chính trong một số lĩnh vực. Còn các vấn đề chuyên sâu hơn vềlý luận, về cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của việc đặt ra vấn đề kiểm soát ban hành quyết định hành chính, mục tiêu, phạm vi, yêu cầu, nội dung, biện pháp, trình tự, thủtục để thực hiệnviệc kiểm soát thủ tục hành chính cũng như các giải phápcụ thể vềhoàn thiện pháp luật và các giải pháp bổ trợ khác cho kiểm soát ban hành quyết định hành chính thì chưa có những nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống, toàn diện.

Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài:

Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã đi sâu vào đánh giá, bình luận, giải thích các cơ chế, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính và kiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chính của các nước, phù hợpvớimô hìnhtổchức và hoạtđộngcủanềnhành chính côngcủamỗiquốc gia. Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu của các học giả nước ngoài tập trung vào cơ chế kiểm soát ban hành quyếtđịnh hành chính bằng cơ chế giải quyết tại Tòa án, còn việc can thiệp bằng các biện pháp kiểm soátđốivớithẩm quyền ban hành, trìnhtự,thủtụcban hành quyếtđịnh hành chínhcủacácchủthểthì các công trìnhcủacác tácgiảnướcngoài khôngđềxuất, kiến nghị giải pháp.

1.3.2. Những nội dung nghiêncứu đãsáng tỏ và được luận án kế thừa, phát triển trong nghiên cứu đề tài

Căn cứ tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án, có thể nhận thấy một số nội dung liên quan đến đề tài luận án cần tiếp thu.

Vềmặt lý luận:đặcđiểmvà ý nghĩa của quyếtđịnhhành chính,củaviệc kiểm soát ban hành quyết định hành chính là những vấn đề đã được nghiên cứu cơ bản qua một số nội dung liên quan khi đề cập đến các khía cạnh của việc ban hành quyết định hành chính.

Về mặt thực tiễn: thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về ban hành quyếtđịnhhành chính,mộtsốquyđịnhcó tính chất kiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chính và thực tiễn ban hành đã được các công trình nghiên cứu đưa ra những định hình

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay

cơ bản.; từ đóđã ít nhiều nhận diện được những nguyên nhân của thực trạng pháp luật và thực tiễn ban hành quyết định hành chính hiện nay.

Về một số đề xuất, kiến nghị: phần lớn các công trình nghiên cứu đều quan tâmđến việc tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quyết định hành chính như các giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao nhận thức và tăng cường điều kiện bảo đảm thực hiện.

1.3.3. Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án nhưng chưa được giải quyết thấu đáo hoặc chưa được đặt ra trong các công trình nghiên cứu đã công bố

Về lý luận:

– Khái niệm, đặc điểm của quyết định hành chính đã được nghiên cứu và thống nhất trong các nghiên cứu; tuy nhiên, với quá trình hiện đại hóa nền hành chính, với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, vào việc cung ứng dịch vụcông bằng hình thức trực tuyến nhằm hiện đại hóa nền hành chính, kiểm soát có tính hệ thống và hội nhập quốc tế, thì khái niệm quyết định hành chính và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của quyết định hành chính đang có những biến chuyển theo chiều hướng mở rộng hơn, cần tiếp tục có sự nghiên cứu theo hướng rộng để hoàn thiện khái niệm này.

Về kiểm soát ban hành quyết định hành chính, một số nghiên cứu có nêu những chưa đi vào nghiên cứu các vấn đề lý luận và thống nhất các tiêu chí, đặc điểm, mụcđích, yêu cầu của kiểm soát đối với hoạt động ban hành quyết định hành chính. Kiểm soát trong các nghiêncứuhiện nay cũngmớichỉđượcđềcậpnhưmộtgiải phápđểtăng thêm một khâu, một công đoạn trong quy trình ban hành quyết định hành chính mà chưa được tiếpcận vớitư cách là một vấn đề có ý nghĩa lý luận, một biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ chủ thể có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính thực hiện hiệuquảthẩm quyềntựquyết,tựđịnhđoạtcủamìnhđốivớicác quyếtđịnhhành chính do chính mình ban hành nhằm tăng chất lượng, hiệuquảcủaban hành quyếtđịnh hành chính.

– Việc nhận dạngbảnchấtcủakiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chính, các yêu cầu, phương thức thực hiện kiểm soát ban hành quyết định hành chính cũng chưađượccác công trình nghiêncứuđềcập. Đasốcác công trình nghiêncứumớichỉhướngtớiđềxuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậtvềban hành quyếtđịnh hành chính nói chung, chưa có nghiên cứu, đề xuất chuyên sâu bổ sung việc kiểm soát vào quy trình ban hành QĐHC. Theođó,kiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chính cần được tiếp cận một cách tổng thể bao gồm nhiều biện pháp: hoàn thiện pháp luật trong đó quy định thống nhất về ban hành quyết định hành chính, các biện pháp thực

21

thi pháp luật, nâng cao nhận thức, các biện phápbảođảmthực hiện và phương thức thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính cụ thể trong toàn bộ quy trình ban hành quyếtđịnh hành chính.

– Các nghiên cứu về ban hành quyết định hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay hầu hết chỉ dừng lại ở các chuyên đề, bài viết có tính chất tổng hợp, trong đóchủ yếu tập trung vào một số nội dung pháp luật hiện hành liên quan đến cải cách hành chính và chú trọngđếnviệcđơngiản hoáthủtụchành chính. Việc nghiêncứuhoạtđộng ban hành quyết định hành chính theo hướng đảm bảo tính minh bạch, khách quan của hoạt động hành chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính chưa được quan tâm đúng mức.

Về thực trạng:

Mặc dù thực trạng pháp luật và thực trạng ban hành quyết định hành chính, kiểm soát ban hành quyết định hành chính đã được các công trình nghiên cứu tiến hành đánh giá và một số nguyên nhân cụ thể của thực trạng này đã được nhận diện, nhưng phần lớncác nghiêncứunàymớidừngởmứcđộrà soát, đánh giá khái quát mà chưa cónhững luận giải sâu sắc. Các đánh giá cũngmớidừngởpháp luật thựcđịnh vàthực tiễn ban hành quyết định hành chính trong một số lĩnh vực, do đó cần tiếp tục mở rộng tớicácchủthểkhác có thẩm quyền ban hành quyếtđịnhhành chínhđểcó đánh giátoàn diện hơn.

Về giải pháp, kiến nghị:

Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã đưa ra một số đềxuất có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả ban hành quyết định hành chính và kiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chính. Tuy nhiên,bấtcậplớnnhấtcủacác giải pháp hiện nay là ở chỗ các giải pháp đó thiếu tính hệ thống, chủ yếu tập trung vào giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy trình ban hành quyết định hành chính mà chưa giải quyết thấu đáo, triệt để về kiểm soát ban hành quyết định hành chính.

1.3.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu trong luận án

Xuất phát từ sự phân tích thực trạng tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đềluận án, có thể thấy không gian nghiên cứu dành riêng cho luận án còn rất rộng, bao gồm những vấn đề sau đây:

Mộtlà, làm rõ khái niệm,đặcđiểm,yêucầucủaquyếtđịnhhành chính, khái niệm ban hành quyết định hành chính, khái niệm kiểm soát ban hành quyết định hành chính và phạm vi quyếtđịnhhành chính cần cósựkiểmsoát đểhình thành cơsở lýluận và thực tiễn làm căn cứ cho việc xây dựng và hoàn thiện quy trình ban hành quyết

22

định hành chính theo thẩm quyền của các cơ quan nhà nước. Kết quả nghiên cứu phảiđưa ra được khái niệm dưới dạng các định nghĩa và có căn cứ lập luận khoa học thuyết phục.

Hai là, nghiên cứu, làm sáng tỏ bản chất của việc kiểm soát ban hành quyết định hành chính, cơ sở và các yếu tố pháp lý hình thành nên kiểm soát ban hành quyết định hành chính như: thẩm quyền kiểm soát, phương thức kiểm soát, phạm vi kiểm soát, chủ thể kiểm soát và hậu quả pháp lý của việc kiểm soát. Kết quả nghiên cứu cần phảiđược thể hiện ở mức độ toàn diện và cụ thể.

Ba là, luận giảivềvai tròcủakiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chínhđểkhẳng định đây là biện pháp cần phải đặt ra trong suốt quy trình ban hành QĐHC vàthực thi QĐHC, nhằm tạo cơ chế ngăn ngừa những vi phạm, bất hợp lý có thể xảy ra trong quá trình ban hành quyết định hành chính, nhất là các quyết định hành chính cótác động tới lợi ích cộng đồng, các quyết định gây bất lợi cho đối tượng quản lý, tạo nghĩa vụ hoặc tạo nên gánh nặng cho đối tượng quản lý, đối tượng thi hành và các đối tượng có liên quan trực tiếp tới nội dung của quyết định hành chính; là biện pháp đểbảođảmpháp chế xãhộichủnghĩa trong quá trình quản lý nhànước vànâng caoýthức, trách nhiệm của chủ thể ban hành quyết định hành chính.

Bốnlà, phân tích cácyếutốảnhhưởngtớihiệuquảcủakiểm soát ban hành quyết định hành chính, gắn với thực tiễn và yêu cầu cụ thể của quá trình cải cách hành chính, hiện đại hóa nền hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng Chính phủđiệntửtrong quản lý nhànước,giải quyết các công việc,thủtụcliên quanđến người dân.

Năm là, nghiên cứu các vấn đề chung về pháp luật kiểm soát ban hành QĐHC, gồm khái niệm,nộidung, hình thức của pháp luật kiểm soátthủtục hành chính, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về ban hành QĐHC, làm cơ sở cho việcđánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC hiện nay.

Sáu là, nghiên cứu đánh giá toàn diện tổng thể thực trạng pháp luật về ban hành và kiểm soát ban hành quyết định hành chính qua các giai đoạn, các thời kỳ phát triển của đất nước. Kết quả nghiên cứu phải chỉ ra được những bất cập, vướng mắc về mặt thể chế, về mặt tổ chức, con người (xác định rõ những người có năng lực hành vi hành

chính), cácđiềukiệnbảođảm…Đồngthời, nghiêncứupháp luậtvềkiểm soát ban hành quyết định hành chính của một số quốc gia trên thế giới để từ đó chỉ ra một sốgợi mở cho Việt Nam.

Bảy là, nghiên cứu dự báo tình hình ban hành quyết định hành chính trong thời gian tới và nhu cầu kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của quyết định hành chính.

23

Tám là, nghiên cứu xác định nhu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả của kiểm soát ban hành quyết định hành chính trong quá trình cải cách hành chính, đáp ứng yêu cầuxây dựng và hoàn thiện nhànướcpháp quyền xãhộichủnghĩa.Kếtquả nghiên cứu phải bảo đảm tính thuyết phục hơn về các giải pháp có liên quan đã được các công trình nghiên cứu khác đề cập và luận chứng.

1.4 . Giả thuyết nghiên cứu 1.4.1. Lý thuyết nghiên cứu

Luận ánđượcthực hiện trên cơsởphương pháp duyvậtbiện chứngcủachủ

nghĩa Mác–Lê Nin và tưtưởngHồChí Minhvềnhànướcvà pháp luật. Các quanđiểmcủaĐảngvềphát triển kinhtếthịtrườngđịnhhướng xãhộichủnghĩa,vềhội nhập kinh tế quốc tếvà vềxây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách hành chính, cải cách công vụ nhằm phát triển đồng bộ, toàn diện và bền vững. Các lý thuyết liên quanđếnhành chính công, ban hành quyếtđịnhhành chính và kiểm soát việc ban hành quyết định hành chínhcủaViệt Nam vàcủamộtsố nước tương đồng, khác biệt trên thế giới.

1.4.2. Các giả thuyết nghiên cứu

Mặc dù một số quy định pháp luật về kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính đã được ban hành, nhưng rất nhiều nội dung quan trọng liên quan đến việc ban hành quyếtđịnhhành chính nói chung và việc kiểm soát quy trình ban hànhđónói riêng vẫn chưa được quy định, hoặc tuy đã có quy định nhưng quy định đó chưa thống nhất, đồng bộ, chưa đủ cụ thể, như: các nguyên tắc cơ bản, nền tảng cho việc ban hành quyếtđịnhhành chính và kiểm soát việc ban hành quyếtđịnhhành chính; kiểm soát việc ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; việc bảo đảm công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình của chủ thể ban hành quyết định hành chính; sự tham gia củađối tượng điều chỉnh của quyết định hành chính trong một số trường hợp cần thiết đểbảovệquyềnlợicủamình, các quyđịnhvềkiểm tra trước khi trình ban hành quyếtđịnh hành chính và cơ chế tự xử lý các quyết định hành chính chưa hợp pháp của chủthể ban hành quyết định hành chính; các vấn đề về kiểm soát hiệu lực của quyết định hành chính .v.v…

Bên cạnh đó, về mặt thực tiễn, các quyết định hành chính được ban hành còn cónhiều sai sót, bất hợp lý, thậm chí có khi bất hợp pháp, dẫn tới hiệu lực, hiệu quả chưa cao, gây nên nhiều bức xúc, khiếu nại, khiếu kiện trong xã hội.

Vì vậy, cần nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về ban hành quyết định hành chính nói chung và kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính nói riêng để

24

nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quyết định hành chính và trách nhiệm của người ban hành quyết định hành chính.

Luận án phải chứng minh những vấn đề khoa học, gồm:

– Ban hành quyếtđịnhhành chính làmộttrong những hoạtđộngcơ bản, quan

trọng nhất trong của động quản lý nhà nước – hoạt động áp dụng pháp luật để tạo ra quyền và nghĩa vụ cho các đối tượng chịu sự quản lý nhà nước.

– Thực trạng ban hành quyết định hành chính hiện nay và các quy định pháp luật về ban hành quyết định hành chính là do thiếu quy định, thiếu biện pháp để kiểm soát từ giai đoạn soạn thảo, ban hành và tổ chức thi hành các quyết định hành chính.

– Các biện pháp kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính trong một số lĩnh vực đã cónhưng cònmờnhạt, các biện pháp kiểm soát sau ban hành như khiếu nại, khiếu kiện mặc dù đã phát huy được ý nghĩa của nó trong việc khắc phục những hậu quảdo quyếtđịnhhành chính chưa đúng gây ra, nhưng thường chậmtrễvà nặngvềviệc giải quyết sự vụ, chưa có tính ngăn ngừa, hạn chế những phát sinh tiêu cực ngay từ trong quá trình ban hành cho tới trước khi quyết định hành chính có hiệu lực, do đó, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước. Pháp luật điều chỉnh trong các biện pháp này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định cần phải tiếp tục hoàn thiện để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, khả thi và thống nhất, đồng bộhơn.

– Kiểm soát việc ban hành quyếtđịnhhành chính là biện pháp nhằm can thiệp vào quá trình ban hành quyết định hành chính của chủ thể ban hành một cách tích cựcđể giảm thiểu tối đa những sai sót, bất cập của quyết định hành chính; qua đó hạn chếtối đa những quyết định hành chính gây thiệt hại cho cả hai đối tượng: đối tượng điều chỉnh của quyết định hành chính (gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân) và chủ thể ban hành quyết định hành chính. Các biện pháp kiểm soát này có tính chất bắt buộc nhưng không làm thay đổi thẩm quyền tự quyết của chủ thể ban hành quyết định hành chính.

– Gải pháp để kiểm soát ban hành quyết định hành chính có thể là:

+ Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính trong quá trình ban hành quyết định hành chính theo hướng điều chỉnh các vấnđềsauđâytrong Luật: kiểm soát việc ban hành quyếtđịnhhành chính đúng thẩm quyền, bao gồm cả vấn đề phân công, phân cấp, ủy quyền ban hành quyết định hành chính; trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính trong các trường hợp: ban hành quyết định hành chính có lợi và bất lợi cho đối tượng quản lý; quyết định hành chính tác động tới quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng; bảo đảm công khai, minh bạch trong toàn bộ quy trình xây dựng, ban hành và thi hành quyết định hành chính; kiểm soát việc xác định hiệu lực, thời điểm có hiệu lực, các yếu tố tác động, ảnh hưởng tới

25

xác định hiệu lực của quyết định hành chính; trách nhiệm của các bên có liên quan tới việc ban hành quyết định hành chính và chế tài đối với việc vi phạm các quy định vềban hành quyết định hành chính và hậu quả pháp lý đối với các quyết định hành chính vi phạm.

+ Hoàn thiện pháp luật hiện hành về kiểm soát chặt chẽ việc ban hành quyết định hành chính trong từng lĩnh vực phù hợp với đặc trưng của các lĩnh vực đó để nâng cao chất lượng cho các quyết định hành chính trong các chuyên ngành.

+ Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ban hành quyết định hành chính trong giai đoạn thi hành các quyết định hành chính, bao gồm pháp luật về thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện đối với quyết định hành chính.

+ Đề xuất các biện pháp về nâng cao năng lực, trình độ, ý thức của các chủ thểtham gia vào quá trình ban hành quyết định hành chính để kiểm soát chính năng lực, trách nhiệm của các chủ thể trách nhiệm, chế tài đối với chủ thể ban hành quyết định hành chính.

1. 5. Câu hỏi nghiên cứu

– Câuhỏichínhcủaluận án:đểnâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệuquảcủa quyếtđịnhhành chính, liệu cócầnthiếtlậpcác biện pháp kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính hay không; và nếu cần, thì những biện pháp nào cần áp dụng đểkiểm soát được việc ban hành quyết định hành ?

– Các câu hỏi cần trả lời:

+Đâulà bản chất của việc kiểm soát ban hành quyết định hành chính? Cơsởpháp lý và thực tiễnđểkiểm soát việc ban hành quyếtđịnhhành chính? Biện pháp kiểm soát ban hành quyết định hành chính là gì và những biện pháp đó cần được thực hiện theo phương thức nào? Các yếu tố pháp lý hình thành nên chế định kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính bao gồm những yếu tố nào: kiểm soát quy định về chủthể ban hành quyết định hành chính, hay kiểm soát khâu nào trong quy trình ban hành quyết định hành chính, các biện pháp kiểm soát cụ thể là gì?

+ Pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính và nội dung của pháp luật về vấn đề này bao gồm những khía cạnh nào? Các yếu tố ảnh hưởng tới pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính, mục đích, yêu cầu, các tiêu chí đánh giámức độ hoàn thiện của pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính?

+ Thực tiễn áp dụng pháp luậtvềkiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chính hiện nay có những bất cập, hạnchếgì ? Những điểm phù hợp vàvướng mắccủa hệthống pháp luậtvềkiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chính? Nhucầuhoàn thiện,

26

khắc phục bất cập đó? Các giải pháp cụ thể để khắc phục những bất cập của quy định về kiểm soát ban hành quyết định hành chính là gì?

+ Quanđiểmvềviệc hoàn thiệnhệthống pháp luậtvềkiểm soáy ban hành quyết định hành chỉnh? Các giải pháp tổng thể và cụ thể nào cho các vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính cầnđược thực hiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quyết định hành chính?

27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việc khảo sátvềtình hình nghiêncứulý luận và thực tiễn pháp luậtvềkiểm soát ban hành quyết định hành chínhcủacác cơ quan nhà nước trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước công bố cho thấy, các công trình nghiên cứu đã quan tâm đến các khái niệm, nội dung và phạm vi của ban hành quyếtđịnhhành chính và cácyếutốbảođảmtínhhợppháp,hợplýcủaquyếtđịnhhành chính. Trong số các công trình nghiên cứu cũng đã có một số nội dung đề cập tới kiểm soát ban hành quyết định hành chính để nhằm hướng tới bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý của các quyết định hành chính khi ban hành, tuy nhiên đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về pháp luật kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh tăng cường thực hiện cơ chế kiểm soát việc thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước và đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ, minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhànước. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn pháp luật về kiểm soát ban hành QĐHC làcầnthiếtđểgóp phần hoàn thiệnhệthống lý luận và pháp luật hành chính Việt Nam.

28

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

KIỂM SOÁT BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH

2.1. Nhận thức chungvềquyếtđịnhhành chính và ban hành quyếtđịnh hành chính

2.1.1. Về quyết định hành chính

2.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của quyết định hành chính

Trong hoạt động quản lý nhà nước, các chủ thể quản lý thường xuyên ban hành các loại văn bản quản lý khác nhau, trong đó QĐHC là loại văn bản được sử dụng phổbiến, thường xuyên và chiếm ưu thế. Trong nhiều lĩnhvựcpháp luật, QĐHC cũngđượcđềcậpphổbiến. Tuy nhiên,dướigócđộlý luận và khoahọcpháp lý, còn cónhiều cách lý giải khác nhau về QĐHC. Việc nghiên cứu để tiếp tục làm rõ khái niệm QĐHC làcầnthiết, làm cơsởcho việc xáclậpcác nguyên tắc, biện pháp kiểm soát ban hành QĐHC phù hợp.

Vềphương diện lý luận, trong khoahọcHành chính nói chung và khoa học Luật hành chính nói riêng của Việt Nam, các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều thuật ngữkhác nhau như“quyếtđịnhquản lý nhànước”,“quyếtđịnhquản lý hành chính Nhànước”,“quyếtđịnhhành chính”,“quyếtđịnhhành chính Nhànước”đểchỉnhững quyết định do các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người cóthẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành khi thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Việc sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ những quyết định của các chủ thể nói trên, một mặt là do, khoa học pháp lý và khoa học hành chính của Việt Nam, trong chiều dài lịchsửphát triểncủamình,đãhấpthụvà chịu tácđộngcủa nhiều nền khoa học khác nhau như: của Liên Xô (cũ), của phương Tây đã du nhập vào Việt Nam qua nhiều giai đoạn; mặt khác là do, mục đích, cách tiếp cận của các ngành khoahọc(khoahọcQuản lý nhànước,khoahọcHành chính, khoahọcLuật) khi nghiên cứu đã nhìn nhận vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau17.

Trong khoa học Luật hành chính, quyết định hành chính là khái niệm được xây dựng trên cơsởđánh giá, xem xét cácdấuhiệuđặctrưng cơ bản làkếtquảcủa các hoạt động quản lý hành chính nhà nước diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theođó,QĐHC: (i) làsảnphẩm hoạtđộngcủacácchủthểquản lý hành chính nhà

17 Phạm Hồng Thái, Bàn về khái niệm Quyết định hành chính, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, Tập 29, Số 2 (2013) 35-43.

29

nước có thẩm quyền; (ii) là sản phẩm mang tính quyền lực nhà nước: được hình thành trên cơ sở của việc thực hiện thẩm quyền của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật và được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chếnhà nước trong trường hợp cần thiết; được hình thành trên cơ sở ý chí quyền lực đơn phươngcủacácchủthểquản lý hành chính nhànước,phùhợpvớithẩm quyền màpháp luật đã trao cho các chủ thể này; luôn bao hàm sự điều chỉnh, hay nói cách khác, nó hướng đến việc làm phát sinh những hậu quả pháp lý mang tính chất bắt buộc; (iii) là sản phẩm có tác động pháp lý trực tiếp ra bên ngoài hệ thống của chủ thể có thẩm quyềnđãđưara quyếtđịnh;(iv) làsảnphẩmđượchình thành theo trìnhtự,thủtục, dưới hình thức được pháp luật quy định.

Với cách tiếp cận như vậy, trên cơ sở kế thừa và phát triển định nghĩa về quyếtđịnh hành chính đã được trình bày trong các công trình nghiên cứu trước đây, ở góc độchung, tác giả nhận thấy, quan niệm về quyết định hành chính được các nhà khoa họcđề xuất trên hai dạng chủ yếu: (1) Quyết định hành chính đưa ra các quy phạm pháp luậtđiềuchỉnh cácvấnđềphát sinh trong hoạtđộngquản lý hành chính nhànước (quyết định hành chính quy phạm); (2) Quyết định hành chính đưa ra các mệnh lệnh pháp luật cụ thể, áp dụng đối với một hoặc một sốđối tượng cụ thểnhằm giải quyết những công việc phát sinh trong quản lý hành chính nhà nước (quyết định hành chính cá biệt hay quyết định hành chính áp dụng pháp luật).

Thực tiễn pháp luật của nhiều nước trong đó có Việt Nam cho thấy, quyết định hành chính cá biệt là côngcụđượcsửdụngphổbiến trong quản lý hành chính nhànước.Vì thế, pháp luậtđiềuchỉnh chuyên biệt hoạtđộngban hành quyếtđịnhhành chính đều tập trung vào nhóm các quyết định hành chính cá biệt. Mặt khác, hiện nay các quy định của pháp luật điều chỉnh về ban hành các QĐHC quy phạm, trong đó bao gồm cả các biện pháp để kiểm soát việc ban hành đã được quy định tập trung, thống nhất trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bởi vậy, để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của Luận án, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ bao gồm những vấn đề liên quan đến quyết định hành chính cá biệt.

Theo đó, tác giả đồng ý với khái niệm về quyết định hành chính được xem xét, nhìn nhận dưới góc độ là “kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những người có chức vụ, các tổ chức và cá nhân được Nhànước trao quyền, thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định, có tác động pháp lý trực tiếp đối với cá nhân, tổ chức bên

30

ngoàihệthốngcủachủthểcó thẩm quyền, nhằm giải quyếtmộtvấnđềcụthểliên quan đến một hoặc một số đối tượng cụ thể trong quản lý hành chính nhà nước”18.

Từ khái niệm nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm sau đây của quyết định hành chính:

– Đặc điểm về chủ thể ban hành QĐHC: do nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành, gồm cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những người có chức vụ, các tổ chức vàcá nhân được Nhà nước trao quyền ban hành. Xuất phát từ chủ thể của hoạt động quản lý nhà nước đa dạng, gồm các cơ quan nhà nước, người có chức vụ quyền hạn trong hệthống cơ quan nhà nước, một số tổ chức và cá nhân trong một số lĩnh vực được Nhànướctrao cho thẩm quyền quản lýmộtsốlĩnh vực. Cácchủthểnày khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình sẽ ban hành các QĐHC theo thẩm quyền.

– Đặc điểm về tính chất của QĐHC: là văn bản áp dụng pháp luật, theo đó, các QĐHC được ban hành trên cơ sở áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật hiện hànhđể điều chỉnh một vấn đề cụ thể, không phải là các QĐHC quy phạm pháp luật hoặc mang tính chất định hướng.

-Đặcđiểmvềhình thứccủaQĐHC:thểhiệndướihình thức văn bản. Trong thực tiễn, QĐHC với tính chất là “mệnh lệnh”, có thể được biểu hiện bằng hình thức văn bản hoặc lời nói, ký hiệu, hiệu lệnh v.v… Tuy nhiên, để phù hợp với mục tiêu kiểm soát chặt chẽ việc ban hành QĐHC thì chỉ các QĐHC được ban hành dưới hình thức văn bản mới bảo đảm thiết lập các cơ chế kiểm soát trong quá trình ban hành QĐHC và trong quá trình tổ chức thực thi QĐHC thực chất và hiệu quả.

– Đặc điểm về thủ tục ban hành QĐHC: theo thủ tục do pháp luật quy định. Thủtục ban hành QĐHC phải do pháp luật quy định để bảo đảm sự chặt chẽ, công bằng, công khai minh bạch, cósựkiểm soát trong từng khâu, từngbướcvàđượcáp dụngđồngbộtronghoạt độngquản lý hành chính nói chung và trong từng lĩnh vực.Điều này cũng còn nhằmhạnchếviệc tùy tiện, tùy nghicủachủthểcó thẩm quyền ban hành QĐHC tự đặt ra các thủ tục ban hành QĐHC theo hướng có lợi cho mình mà gây bất lợi, bất cân xứng với các chủ thể khác.

– Đặc điểm về nội dung của QĐHC: QĐHC được ban hành để giải quyết vấn đềcụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, theo đó, nội dung của QĐHC sẽ“tạo quyền” – làm phát sinh quyền và lợi ích cho đối tượng thực thi QĐHC, được gọi là các quyết định có lợi cho đối tượng quản lý. Nội dung của QĐHC cũng có thể “đặt ra nghĩavụ,tráchnhiệm”hoặc thayđổi, hạnchế, chấmdứtquyền, nghĩa vụ,lợiích cho đối tượng thực thi QĐHC, được gọi là các quyết định bất lợi cho đối tượng quản

18 Đại học Luật Hà Nội, đề tài “Hoàn thiện pháp luật về ban hành quyết định hành chính ở nước ta trong giaiđoạn hiện nay”, 2015.

31

lý. Bên cạnh đó, nội dung của QĐHC còn giải quyết vấn đề liên quan đến lợi ích công cộng.

– Đặc điểm về đối tượng điều chỉnh của QĐHC: một hoặc một số đối tượng cụthể trong hoạt động quản lý hành chính bên ngoài hệ thống của chủ thể có thẩm quyền ban hành QĐHC. QĐHC phải có đối tượng điều chỉnh cụ thể, tức là QĐHC đó có giátrị pháp lý đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Theo đó, đối tượng điều chỉnh củaQĐHC là cá nhân,tổchứcđượcxácđịnhcụthểngay trong QĐHC và cácđối tượngnày phảinằmngoàihệthốngtổchứccủachủthểcó thẩm quyền ban hành QĐHC. Ngoài ra, hiện nay còn có các loại QĐHC điều chỉnh một vấn đề cụ thể, làm phát sinh lợi ích hoặc ảnh hưởng trực tiếp tới một cộng đồng, theo đó, đối tượng điều chỉnh của QĐHC còn có thể là một cộng đồng.

– Đặc điểm về việc áp dụng QĐHC: các QĐHC được áp dụng một lần do mỗi QĐHCđượcban hành làđểáp dụng pháp luật nhằm giải quyếtmộtvấnđề,mộtsựviệccụthểtrong hoạtđộngquản lý,điềuhànhcủacơ quan hành chính nhà nước. QĐHC không phải là văn bản quy phạm pháp luật nên chỉ có giá trị áp dụng một lần, không lặp đi lặp lại cho cùng một chủ thể hoặc cho nhiều chủ thể khác nhau.

2.1.1.2. Phân loại quyết định hành chính

Có nhiều tiêu chíđểphân loại QĐHC như phân loại theo phạm vi, theođối tượngquản lý, theomụcđíchđiềuchỉnh, theochủthểcó thẩm quyền ban hành

QĐHC, theo hình thức của QĐHC và theo nội dung của QĐHC v.v… Để phù hợp với khái niệm quyết định hành chính nêu trong Luận án là các quyết định hành chính cá biệt (quyết định áp dụng pháp luật), có đối tượng điều chỉnh bên ngoài hệ thống của chủ thểban hành và biểu hiện dưới hình thức văn bản viết; đồng thời phù hợp với mục đích, yêu cầu của việc kiểm soát ban hành QĐHC, tác giả phân loại các QĐHC gắn với yêu cầu, biện pháp kiểm soát như sau:

Phân loại theo tiêu chí nội dung điều chỉnh: QĐHC gồm quyết định có lợi vàquyết định bất lợi cho đối tượng quản lý. Quyết định hành chính có lợi hay còn gọi làquyết định hành chính tạo quyền bao gồm các quyết định chấp thuận, phê duyệt, cho phép, chứng nhận, cấp phép thông qua đó mang lại lợi ích cho đối tượng. Quyết định hành chính bất lợi hay còn gọi là quyết định hành chính tạo ra trách nhiệm, nghĩa vụcho đối tượng thi hành là các quyết định có nội dung: từ chối việc xác lập, công nhận, chấp thuận;từchối việc cho phépđượchưởngquyền,hưởnglợiíchcụthể; xác lập nghĩa vụ; làm chấm dứt, hạn chế quyền, lợi ích của đối tượng thi hành. Trong QĐHC bất lợi còn có quyết định hành chính bất lợi cho bên thứ ba là quyết định mà việc thi

32

hành quyếtđịnhhành chính đó ảnhhưởngtrực tiếp đếnquyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba.

Phân loại theo tiêu chí chủ thể ban hành: gồm các QĐHC được ban hành bởi tập thểvà các QĐHCđượcban hànhbởicá nhân có thẩm quyền. QĐHC dotậpthểban hành là các QĐHC do cơ quan hoạt động theo cơ chế tập thể biểu quyết thông qua việc ban hành, như Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp. QĐHC do cá nhân có thẩm quyền ban hành là các QĐHC được ban hành bởi người đứng đầu cơ quan, đơn vị hoặc người được pháp luật quy định có thẩm quyền ban hành QĐHC.

Phân loại theo tiêu chí phạm vi,đốitượngđiềuchỉnh: có QĐHCnộibộvàQĐHC tác động ra bên ngoài. Theo đó, QĐHC nội bộ là QĐHC điều chỉnh các vấn đềnộibộthuộc thẩm quyền quản lýcủachủthểban hành QĐHC, tácđộngtớicáctổchức, cá nhân trong nội bộ cơ quan ban hành QĐHC. QĐHC có tác động ra bên ngoài là các QĐHC có nội dung điều chỉnh tác động tới các cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng quản lý ngành, lĩnh vực của các chủ thể ban hành QĐHC. Ngoài ra, trong các QĐHC tác động ra bên ngoài còn có QĐHC liên quan tới lợi ích cộng đồng là quyếtđịnh ban hành hoặc phê duyệt chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch, dự án,đề án v.v… có nội dung tác động đến môi trường, sức khỏe của cộng đồng, trật tự, an toàn xã hội và những vấn đề khác làm ảnh hưởng đến lợi ích công cộng.

2.1.1.3. Vai trò của quyết định hành chính

Cóthểnói quyếtđịnhhành chính chiếmvịtrí trung tâm, vừa là hoạtđộngcơbản, vừa là hoạt động thường xuyên đóng vai trò quan trọng và thể hiện rõ nhất chức năng quản lý hành chính nhà nước. Bởi vậy, QĐHC có các vai trò sau đây:

Thứnhất, quyếtđịnhhành chính là côngcụđiềuchỉnh linh hoạt các yêu cầu phát sinh của thực tiễn hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trong khi các văn bản QPPL điều chỉnh các vấn đề chung nhất, bao quát nhất các lĩnh vực và có tính ổn định lâu dài, thì các QĐHC sẽ điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Trên cơsở áp dụng các quy định của văn bản QPPL, các QĐHC được ban hành để giải quyết các vấn đề phát sinh hàng ngày, hàng giờ trong hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan, tổ chức, đáp ứng kịp thời các nhu cầu hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Thứ hai, quyết định hành chính là công cụ góp phần ổn định trật tự xã hội. Các quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật dưới nhiều hình thức và phương thức khác nhau, trongđóviệcđiềuchỉnh quanhệxãhộithông qua hoạtđộngban hành quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước là phương thức phổ biến nhất, cótác động trực tiếp tới mọi mặt của đời sống xã hội. Với đặc trưng mang tính mệnh lệnh bắtbuộc thực hiện, quyếtđịnhhành chínhđượcbảođảmbằng các biện phápcưỡng

33

chếnhànướcnên hiệuquảthực thi quyếtđịnhhành chính cao hơn nhiều sovớicác biện pháp tác động xã hội khác. Thông qua việc ban hành và chấp hành các QĐHC màtrật tự an toàn xã hội duy trì được sự ổn định và bảo đảm tuân thủ.

Thứ ba, quyết định hành chính có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và điều hành hoạt động của bộ máy hành chính. Việc tổ chức và điều hành hoạt động của bộmáy hành chính nhà nước không chỉ được thực hiện bằng các biện pháp tổ chức trực tiếp mà còn bằng việc ban hành các quyết định hành chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế phối hợp hoạt động, quy trình tác nghiệp của các cơ quan trong bộmáyđó.Do đó, quyếtđịnhhành chính giữ vai trò không thể thiếu trongtổchức,điều hành hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.

Đốivớihoạtđộngquản lýcủaBộ,ngành, trongsốcác nguồn thông tin thìthông tin bằng văn bản có vị trí đặc biệt quan trọng. Trong số các văn bản quản lý nhànước, quyết định hành chính có vai trò quan trọng là cầu nối giữa quy phạm pháp luật và việc tuânthủthi hành pháp luật ngaylậptức(sau khi ban hành quyếtđịnhhành chính)19. QĐHC là cơ sở đưa quy phạm pháp luật, các quyết định, chính sách của cấp có thẩm quyền vào quá trình tổ chức thực hiện các quyết định, chính sách đó nhằm bảođảm cho văn bản, chủ trương, chính sách được thi hành theo trình tự hợp lý, bài bản,đúng định hướng và quy định; tạo cơ sở về tổ chức bộ máy, cán bộ thực thi, trực tiếp giải quyết công việc theo thẩm quyền được giao.

QĐHC còn là cơ sở làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ trong quản lýnhànước.Vídụ,quyếtđịnhcủaBộtrưởng thànhlậpđơnvịcấpphòng, ban; quyếtđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị thuộc Bộ là căn cứ để đơn vị đó hoạtđộng quản lý theo đúng chức năng, nhiệm vụ được phân công; quyết định bổ nhiệm,điều độngcán bộ, công chức là cơ sở để cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ mớiđược phân công; quyết định tổ chức các đoàn kiểm tra, thanh tra là cơ sở để thành lập, tổchức các Đoàn công tác thực hiện nhiệmvụkiểm tra, thanh tra theo thẩm quyền quản lý của cơ quan chủ quản; quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đây là cơ sở đểxác định hình thức trách nhiệm trong quản lý, trong việc ban hành văn bản quản lý nhànước của các cơ quan nhà nước.

2.1.2. Về ban hành quyết định hành chính

Ban hành QĐHC là hoạtđộngthường xuyên,chủđạocủacác cơ quan nhànước. Hoạt động ban hành QĐHC thường được xem xét trong tổng thể, bao gồm các hoạt động của chủ thể có thẩm quyền thực hiện kể từ quy trình soạn thảo đến khi ban hành ra sản phẩm là QĐHC cụ thể. Hoạt động ban hành QĐHC sẽ coi như kết thúc khi

19 Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), “Thực tiễn về việc ban hành quyết định hành chính ở Bộ tư pháp và giải pháp hoàn thiện”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Hà Nội, 2011, tr. 23.

34

một QĐHC cụ thể được chủ thể có thẩm quyền ban hành, ký, đóng dấu và phát hành tới các đối tượng thi hành.

Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của Luận án, tác giả mở rộng phạm vi ban hành QĐHC đến cả giai đoạn tổ chức thi hành các QĐHC, nhưng không nghiên cứu vàxem xét việc tổ chức thi hành QĐHC dưới góc độ là các hoạt động cụ thể để tổ chức thi hành QĐHC trên thựctế,màởgócđộtiếptụctheo dõi, đánh giá, xem xét chất lượng củacác QĐHC trong quá trình thi hành QĐHC để có các biện pháp xử lý kịp thời, nhằm bảo đảm các QĐHC đó thực sự có hiệu lực, hiệu quả, phát huy lợi ích trong hoạt động quản lý. Các biện pháp theo dõi, đánh giá QĐHC trong thi hành QĐHC gắn liền với các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo, từcác hoạt động này mà các QĐHC được kiểm soát bằng các biện pháp cụ thể, kết nối với quá trình bảo đảm chất lượng từ trong giai đoạn soạn thảo, ban hành QĐHC.

Thực tiễn cho thấy, các sai phạm của các QĐHC trong thời gian qua phần lớnđượcphát hiện qua hoạtđộngthanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại,tốcáo, khiếu kiện hành chính. Thông qua các hoạtđộngnày, các QĐHCđãđượcxem xét, đánh giádướicác gócđộbảođảmtínhhợpphápvềchủthểban hành,vềnội dung, hình thức, trìnhtự,thủtục ban hành, về hiệu lực của các QĐHC và cách thức khắc phục hậu quả cũng như trách nhiệm của chủ thể đã ban hành ra QĐHC đó. Việc kiểm soát trong quá trình thi hành QĐHC có vai trò,ýnghĩarấtquan trọngđốivới hoạt động ban hành QĐHC, có tác động trực tiếp tới sự tồn tại, thay đổi hoặc chấm dứt hiệulựccủacác QĐHC. Thông qua kiểm soát trong quá trình này, cácchủthểban hành QĐHC sẽ nhận thức rõ hơn các hạn chế hoặc sai phạm trong quá trình ban hành QĐHC mà do chủ quan hoặc khách quan chưa nhận thức được khi ban hành. Từ đó, các chủ thể sẽ nâng cao ý thức, trách nhiệm trong ban hành QĐHC, thực hiện các biện pháp kiểm soáttrướcchặt chẽ hơn, thường xuyên hơn,bớtchủquan hơnđểkhi ban hành, các QĐHCđócó chấtlượnghơn. Bởivậy, hoàn thiện các quy định của pháp luậtvềkiểm soát ban hành QĐHC trong giaiđoạnthi hành QĐHCsẽlàmộttrong những giải pháp cần thiết, có tính thống nhất,đồng bộvới quá trình kiểm soát trong giai đoạn ban hành QĐHC và xuyên suốt “vòng đời” của QĐHC.

2.2. Khái niệm, đặc điểm, phương thức và tiêu chí kiểm soát ban hành quyếtđịnh hành chính

2.2.1. Khái niệm kiểm soát ban hành quyết định hành chính

Thuật ngữ “kiểm soát”gầnđâyđược sử dụngnhiều khi bàn về các hoạtđộng quản lý, quản trị của các cơ quan, tổ chức. Theo từ điển Tiếng Việt, “kiểm soát” đượcđịnh nghĩa là việc “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định”. Ngoài

35

ra, một nghĩa khác của “kiểm soát” cũng được Từ điển này định là “đặt trong phạm vi quyền hànhcủađốitượngnàođó”20. Trong khoahọcquản lý nói chung, khái niệm “kiểm soát“ được hiểu là “quá trình đo lường kết quả thực hiện, so sánh với các tiêu chuẩn, phát hiện sai lệch và nguyên nhân, tiến hành điều chỉnh nhằm làm cho kết quảcuối cùng phù hợp với mục tiêu đã được xác định”21.

Mụcđíchcủakiểm soát bao gồm: (i)bảođảmviệc thực hiện đúngkếhoạch, chương trình và đạt kết quả thực hiện phù hợp với mục tiêu đã đặt ra; (ii) bảo đảm quátrình tổ chức thực hiện tuân thủ các quy định; (iii) phát hiện những sai lệch, thiếu sót và các nguyên nhân của nó để kịp thời khắc phục; (iv) xử lý các vấn đề phát sinh khi lệch chuẩn; và (v) bảo đảm các nguồn lực được sử dụng một cách có hiệu quả.

Kiểm soát có ý nghĩa, vai trò to lớn trong hoạt động quản lý, nó giúp cho nhàquản lý nắm bắt được tiến độ và chất lượng công việc của các bộ phận, cá nhân trong tổ chức, đơn vị; tạo ra chất lượng tốt hơn cho mọi hoạt động trong tổ chức; giúp cho người quản lý đối phó kịp thời với những thay đổi trong môi trường; tạo thuận lợi cho việc phân công trách nhiệm của các bộ phận, tổ chức, cá nhân trong hệ thống và tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận đó. Kiểm soát còn là một hệ thống phản hồi quan trọng đối với người quản lý, thông qua đó người quản lý biết rõ thực trạng của tổ chức mình, những vấn đề trọng tâm cần giải quyết để từ đó chủ động tìm các biện pháp xửlý phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Trong quản lý hành chính nhà nước, quyết định hành chính là mệnh lệnh điều hành của các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước, nhờ đó, thẩm quyền của chủ thểquản lýđượcxácđịnh.Quyếtđịnhhành chínhđượcban hànhđểthực thi quyền lực nhà nước và có khả năng làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt hoặc phục hồi các quan hệpháp luật hành chínhcụthể.Mộtquyếtđịnhhành chính, khiđượcban hành,sẽtácđộng trực tiếp tới các đối tượng có liên quan từ đó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinhtế,xãhộicủađấtnước.Tuy nhiên,mộtquyếtđịnhhành chínhnếukhôngbảođảm tính hợp pháp, hợp lýcũng sẽ tiềm ẩn khả năng tác động tiêu cực đến sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, tiềm ẩn nguy cơ xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mọi thành viên trong xã hội.

Một quyết định hành chính sau khi được ban hành cần phải được thi hành trong thực tiễn. Nếu một quyết định hành chính không được thi hành có thể sẽ phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có những quyếtđịnh hành chính được ban hành trái pháp luật (không đúng thẩm quyền, vượt quá thẩm

20 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1998. 21 Giáo trình khoa học quản trị.

36

quyền, hoặc nội dung yêu cầu phải thực hiện một việc trái pháp luật) mà – vì tính chất

mệnh lệnh của nó – các tổ chức, cá nhân buộc phải thi hành; điều đó sẽ gây ra những thiệthạinhất định về tài sản, danhdựcho cácđốitượngcó liên quan. Vì vậy, các cơquan nhà nước cần cẩn trọng, nghiên cứu kỹ lưỡng và đánh giá cụ thể, chính xác các tácđộng mà việc ban hành quyết định hành chính của mình gây ra, tuân thủ thẩm quyền vàtrình tự thủ tục theo quy định, tránh tình trạng lạm quyền, tùy tiện trong quá trình ban hành quyếtđịnh,gây thiệthạitớiquyền vàlợiíchhợpphápcủacông dân. Việc ban hành các quyết định hành chính không chỉ cần bảo đảm tính hợp pháp, mà còn cần bảođảmtínhhợplý, tínhkhảthi;bởivậy,cầnphải có cơchếkiểm soát việc ban hành QĐHC để bảo đảm các yêu cầu nói trên.

Vềmặtlý luận, cóthểhiểu kiểm soát hoạtđộngban hành quyếtđịnhhành chính là việc các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tiến hành việc theo dõi, xem xét,đánh giá về tính hợp pháp, hợp lý của hoạt động ban hành quyết định hành chính nhằm bảo đảm, nâng cao tính thống nhất, hiệu quả của quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng.

Hiện nay, trong khoa học hành chính chưa đưa ra khái niệm về kiểm soát ban hành QĐHC. Tuy nhiên, trong thực tiễn, bằng các quy định của pháp luật về ban hành QĐHC trong các lĩnh vực cụ thể và thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện đối với các QĐHC đã thiết lập được cơ chếkiểm soát các QĐHC từ giai đoạn ban hành QĐHC đến thi hành QĐHC. Do đó, qua nghiên cứu các góc độ của việc ban hành QĐHC và yêu cầu kiểm soát việc ban hành QĐHC, có thể đưa ra khái niệm về kiểm soát ban hành QĐHC như sau:

Kiểm soát ban hành QĐHC là toànbộcáchoạt độngxem xét, theo dõi, đánh giá mà thông qua đó có thể ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ ban hành QĐHC sai trái hoặc kịp thời xử lý các QĐHC sai trái, bảo đảm cho các QĐHC được ban hành hợp pháp, hợp lý, khả thi và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước cũng như phục vụ nhu cầu chính đáng của các đối tượng quản lý.

Kiểm soát ban hành quyết định hành chính là nhu cầu tất yếu, khách quan trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước. Thông qua kiểm soát hoạt động ban hành quyếtđịnhhành chính, các cơ quan thực thi quyền lập pháp cóđượcnhững thông tin thực tiễn để xem xét, đánh giá về mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật và hiệu quả tổchức thực hiện pháp luật của nền hành chính quốc gia; từ đó, kịp thời có những điều chỉnh,bổsungcầnthiết nhằmđịnhhướng, khuyến khích vàtạođiềukiện thuận lợi nhất để nâng cao hiệu quả của việc thực thi quyền hành pháp. Bên cạnh đó, thông qua kiểm soát hoạtđộngban hành quyếtđịnhhành chính, các cơ quan thực thi quyền tưpháp có được những thông tin thực tiễn để xem xét, đánh giá về tính hợp pháp của việc

37

thực thi quyền hành pháp; từ đó, củng cố và tăng cường mối quan hệ cân bằng, thống nhất giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp trên cơ sở pháp luật.

Kiểm soát ban hành quyết định hành chính còn là nhu cầu tất yếu, khách quan, nội tại của nền hành chính quốc gia. Do được ban hành để giải quyết các công việc cụthểphát sinh thường xuyên trênmọilĩnhvựccủaquản lý hành chính nhànước,nên các quyếtđịnhhành chính thuộc thẩm quyền ban hànhcủanhiềuchủthểkhác nhau (chủyếulà cá nhân),vớithời gian ban hành tươngđốingắn nên nguy cơ ban hành quyết định hành chính trái pháp luật và không hợp lý dễ xảy ra trên thực tế. Bản thân các chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền nhận thức rõ được điều này. Chính vì vậy, kiểm soát hoạt động ban hành quyết định hành chính, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước đã trở thành nhu cầu tất yếu, khách quan, nội tại của nền hành chính quốc gia.

Đồng thời, kiểm soát hoạt động ban hành quyết định hành chính là nhu cầu tựnhiên, chính đáng để bảo vệ tự do, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội dân chủ.

2.2.2. Đặc điểm của kiểm soát ban hành quyết định hành chính

Ởgócđộchung nhất, kiểm soát ban hành quyếtđịnhhành chính phản ánh những đặc điểm cơ bản dưới đây:

Mộtlà,chủthểkiểm soát ban hành QĐHCrấtđa dạng,gồmchủthểcó liên quan tới việc ban hành QĐHC như: chủ thể có thẩm quyền ban hành QĐHC khi thực hiện các biện pháp tự kiểm soát quá trình ban hành QĐHC của mình; các chủ thể là cơquan cấp trên của cơ quan ban hành QĐHC khi thực hiện các biện pháp kiểm soát hoạtđộng của cơ quan cấp dưới theo thẩm quyền; chủ thể là đối tượng chịu sự điều chỉnh và tổchức thi hành QĐHC khi thực hiện các biện pháp tham vấn ý kiến, phản hồiý

kiến, khiếu nại, tố cáo… về các QĐHC; chủ thể là các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực

hiện quyền phản biện, giám sát, chất vấn, kiến nghị… đối với các QĐHC; chủ thể là

các cơ quan tiến hành thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện các QĐHC…

Hai là, đối tượng kiểm soát ban hành QĐHC là hoạt động ban hành QĐHC của cácchủthểcó thẩm quyền ban hành QĐHC. Hoạtđộngban hành QĐHC bao gồm toàn bộ các hoạt động được thực hiện trong quy trình ban hành QĐHC và quá trình tổchức thi hành các QĐHC,gồmhoạtđộngđềxuất yêu cầu,chủtrương ban hành QĐHC, soạn thảo, trình ban hành QĐHC, tổ chức thi hành QĐHC.

Ba là, được thực hiện thông qua nhiều hình thức, phương pháp với mức độ, yêu cầu đơn giản hay phức tạp và với tần suất, thời điểm khác nhau phù hợp với từng loại QĐHC. Theo đó, đối với các QĐHC tạo quyền, có lợi cho đối tượng áp dụng, thì các

38

hình thức, phương pháp kiểm soát sẽ đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện hơn, tần suất thấp hơn và thờiđiểmthực hiệnchỉtrong giaiđoạnsoạn thảo QĐHC;đốivớicác QĐHC thiết lập nghĩa vụ, trách nhiệm, bất lợi cho đối tượng áp dụng và các QĐHC cótác động, ảnh hưởng tới cộng đồng thì cần phải có hình thức, phương pháp kiểm soát ởmức độ phức tạp hơn, chặt chẽ hơn, tần suất cao hơn và ở nhiều thời điểm, công đoạn khác nhau.

Bốn là, việc kiểm soát có thể trong toàn bộ quy trình ban hành QĐHC hoặc kéo dài tới cả giai đoạn thi hành QĐHC. Kiểm soát ban hành QĐHC được thực hiện xuyên suốt quá trình ban hành QĐHC, từ giai đoạn đề xuất, xin chủ trương ban hành QĐHCđến soạn thảo, trình ban hành và tổ chức thi hành QĐHC. Đây là các biện pháp mà cơquan ban hành QĐHC phải tổ chức thực hiện để kiểm soát từ khâu soạn thảo, ban hành các QĐHC nhằm tạo ra các QĐHC có chất lượng, đápứngcác tiêu chí hợp pháp vàhợp lý. Các biện pháp được áp dụng trong hoạt động kiểm soát này bao gồm: bảo đảm ban hành đúng thẩm quyền,thủtục, thực hiện các biện phápbảo đảmdân chủ, công khai, minh bạch vàsựtham giacủacácđốitượngliên quan vào quy trình ban hành QĐHC, tham vấn ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan bằng các hình thức phù hợp, kiểm tra trongnộibộcủacơ quan ban hành QĐHCđốivớidựthảo QĐHCtrướckhi trìnhngườicó thẩm quyền ban hành. Phương thức kiểm soát trong quy trình ban hành QĐHC thường được gọi là kiểm soát trước hay “tiền kiểm”.

Kiểm soát trong thi hành QĐHC là biện pháp mà các cơ quan có thẩm quyền xem xét, đánh giá các QĐHC sau khi ban hành được tổ chức thi hành có bảo đảm tính hợppháp,hợplý, chất lượng, hiệu quả. Thông thường, phương thức kiểm soát nàyđược thực hiện thông qua các hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, khiếu kiện,tốcáo, thông qua các hoạtđộngnày, các QĐHCsẽđượcxem xét,đánh giá và xử lý nếu có sai trái. Phương thức kiểm soát trong thực thi QĐHC thườngđược gọi là kiểm soát sau hay “hậu kiểm”, gồm:

Hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử: theo dõi, xem xét, đánh giá của các cơ quan dân cử đối về thi hành các văn bản pháp luật của các cơ quan này trong hoạtđộng ban hành quyết định hành chính.

Hoạt động kiểm tra của các cơ quan hành chính nhà nước: việc xem xét, đánh giá của các cơ quan hành chính nhànướcvề tínhhợppháp, hợp lý trong hoạtđộng ban hành quyết định hành chính của cơ quan mình, cá nhân, tổ chức thuộc quyền của mình.

Hoạt động thanh tra nhà nước: xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động ban hành quyết định hành chính.

39

Hoạtđộnggiải quyết khiếunạitrong quản lý hành chính nhànước:xem xét,đánh giá, xử lý của chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về các vấn đề liên quanđếntínhhợppháp,hợplý của các quyếtđịnhhành chính là đốitượng củakhiếu nại theo quy định của pháp luật.

Hoạt động giải quyết tố cáo trong quản lý hành chính nhà nước: xem xét, đánh giá, xử lý của chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo về các vấn đề liên quan đến tính hợp pháp, hợp lý của các quyết định hành chính là đối tượng của tố cáo theo quy định của pháp luật

Hoạt động xét xử hành chính của tòa án: xem xét, đánh giá, xử lý của tòa án cóthẩm quyền áo về các vấn đề liên quan đến tính hợp pháp của quyết định hành chính làđối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của pháp luật.

Năm là, tiêu chíđểkiểm soát ban hành QĐHC: kiểm soát ban hành QĐHCđược thực hiện theo 2 tiêu chí cơ bản là bảo đảm tính hợp pháp, tính hợp lý của QĐHC xuyên suốt quá trình ban hành QĐHC và thực thi QĐHC.

Sáu là, trình tự, thủ tục kiểm soát ban hành QĐHC được quy định chặt chẽ, cụthể, công khai, minh bạch,bảođảmcácchủthểkhi thực thi kiểm soát ban hành QĐHC biết rõ thẩm quyền, cách thức, phạm vi, nội dung, biện pháp được sử dụng đểthực hiện cho đúng và hiệu quả.

Bảy là, giá trị pháp lý của kết quả kiểm soát ban hành QĐHC: kết quả của kiểm soát ban hành QĐHC có tác động trực tiếp tới quá trình ban hành QĐHC và giá trị bắt buộc tuânthủđốivớicácchủthểban hành QĐHC. Theođó,cácchủthểban hành QĐHC phải có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp kiểm soát trong quá trình ban hành QĐHC của mình, chịu sự kiểm soát của các chủ thể khác theo quy định vềhoạt động ban hành QĐHC của mình và tổ chức thực hiện các yêu cầu, đề nghị của các chủthểthực hiện kiểm soát. Ngay trong trườnghợpchủthểban hành QĐHCtựtổchức việc kiểm soát trong nội bộ của mình thì các các kết quả của quá trình kiểm soátđó cũng có giá trị bắt buộc đối với chủ thể ban hành QĐHC (bắt buộc phải tham khảo,

bắtbuộc phải tiếp thu, giải trình…).Điềunày khôngảnhhưởngtớiquyền“tựđịnh liệu” của chủ thể ban hành QĐHC vì mặc dù quyền tự định liệu là sự tự do lựa chọn đểquyết định trên cơ sở phán quyết của chính bản thân chủ thể quản lý hành chính nhànước, nhưng trong nhà nước pháp quyền, việc sử dụng quyền tự định liệu bao giờ cũng nằm trong giới hạn của pháp luật22.

22 TS Nguyễn Văn Quang, “Quyền tự định liệu và kiểm soát việc sử dụng quyền tự định liệu trong hoạt động hành chính nhà nước”, Tạp chí Luật học số 2/2014, tr21.

40

2.2.3. Các phương thức kiểm soát ban hành quyết định hành chính

Việc kiểm soát ban hành QĐHCđượcthực hiệnbởinhiềuchủthể, thông qua hình thức, phương tiệnvớinhữngnộidung và quy trình kiểm soát khác nhauởcác thời điểm khác nhau, có thể giản đơn, có thể phức tạp tùy thuộc vào yêu cầu đối với mỗi loại QĐHC.

Nhìn chung, kiểm soát ban bành quyết định hành chính trong giai đoạn ban hành và trong giaiđoạnthực thi quyếtđịnhhành chínhđềuđượcthực hiệnbởihai phương thức: kiểm soát bằng quyền lực nhà nước và kiểm soát bằng quyền lực nhân dân. Theo đó:

Phương thức kiểm soát bằng quyền lực nhà nước: theo phương thức này, kiểm soát ban hành QĐHCđượcthực hiệnbởicácchủthểmang quyềnlựcnhànướcvàkiểm soát có tính chất bắt buộc tuân thủ trong quá trình ban hành QĐHC. Kiểm soát ban hành QĐHCđượcthực hiệnbởicác cơ quan nhànướclà việc các cơ quan nhànướctựkiểm soát mình và kiểm soátlẫnnhau trong việc ban hành QĐHC, có tác dụng: 1) để giữ các cơ quan nhà nước luôn duy trì được mối quan hệ nội tại với nhau với tư cách là bộ phận của một bộ máy, đảm bảo sự thống nhất về cơ cấu tổ chức, vềmụctiêu hoạtđộngcủacảbộmáy nhànước,giúp chobộmáy nhànướctránhđược những nguy cơ đe dọa phá vỡ tính thống nhất và sự vận hành có hiệu quả cao của cảbộ máy từ những sai lệch có thể xảy ra của mỗi cơ quan, mỗi bộ phận của bộ máy nhànước; 2) để bảo đảm sự hợp lý trong việc phân công về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước sao cho phù hợp với những yêu cầu của quá trình thực hiện quyền lực nhà nước trong bộ máy nhà nước thống nhất; 3) để thực hiện phối hợp vềchức năng, nhiệmvụgiữa các cơ quan nhànướctrong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu chung của cả bộ máy nhà nước nhằm duy trì sự kiểm soát, chếước,phát hiện vàxửlýkịpthời những biểu hiện không đúng, không hiệuquảtrong việc thực hiện quyềnlựcnhànướccủamỗicơ quan, công chức hoặccủacác thiết chế khác khi tham gia thực hiện quyền lực nhà nước. Từ kết quả kiểm soát ban hành QĐHC, các cơ quan nhà nước có thể đưa ra và lựa chọn những phương án tối ưu trong tổ chức và thực hiện việc ban hành QĐHC nhằm đạt được một kết quả tốt nhất.

Phương thức kiểm soát này được thực hiện bởi các chủ thể sau đây:

(1) Hoạtđộngkiểm soát trongnộibộcủacác cơ quan ban hành QĐHC. Hoạtđộng này nhằm kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm của các tập thểvà cá nhân trong các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền ban hành QĐHC, đặc biệt là các cán bộ, công chức có chức vụ, quyềnhạntrong ban hành QĐHC. Trách nhiệm kiểm soát việc ban hành QĐHC trongmỗicơ quan,tổchứctrước hếtthuộcvềngườiđứng đầu và tập thể lãnh đạo. Người đứng đầu không chỉ phải gương mẫu tự kiểm soát việc thực hiện quyềnhạncủachính mình, mà còn phải kiểm soát việc thực hiện ban

41

hành QĐHC của cấp dưới thuộc quyền, chủđộng ápdụngmọibiện phápcầnthiếtđểbảo đảm việc ban hành QĐHC được thực hiện nghiêm quy định của pháp luật, đồng thời chịu trách nhiệm về các hiện tượng lạm quyền, lợi dụng quyền hạn để trục lợi khi ban hành QĐHC.

(2) Kiểm soát ban hành QĐHC được thực hiện bởi các cơ quan cấp trên hoặc cơquan bên ngoài của các chủ thể có thẩm quyền ban hành QĐHC. Các chủ thể này thực hiện việc kiểm soát thông qua các biện pháp kiểm tra, thanh tra, giám sát, giải quyết các khiếu kiện nại, khiếu kiện,tốcáođốivớicác QĐHC sau khiđượcban hành vàđược tổ chức thực thi trong thực tiễn.

Phương thức kiểm soát bằng quyền lực nhân dân: Kiểm soát ban hành QĐHCđượcthực hiện bởi cáctổchức và cá nhân. Phương thức kiểm soát nàyrấthiệuquảtrong nhànướcdân chủ,đượcthực hiện thông qua việc thực hiện giám sátcủaMặt trậnTổquốc Việt Nam và cáctổchức chínhtrị- xã hội.Mặcdù cáctổchức này không trực tiếp thực hiện quyềnlựcnhànước,nhưng nhậnsựủythác chínhtrịcủa nhân dân, đại diện cho nhân dân kiểm soát quá trình thực hiện nhiệmvụ,quyền hạn của các chủ thể ban hành QĐHC. Vai trò và quyền giám sát của nhân dân đối với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước ngày càng được tăng cường và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi Nhân dân là chủ của quyền lực và ủy quyền cho Nhà nước thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước, do vậy, sự giám sát của nhân dân đối với các Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của nhân dân làmột lẽ đương nhiên. Các cơ quan nhà nước phải tự giác đặt mình dưới sự giám sát của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình. Những ý kiến, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân về các QĐHC có dấu hiệu sai trái, xâm hai quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc vì mục đích cá nhân, lợi ích nhóm, tham nhũng cần phải được các cơ quan nhà nước nghiêm túc lắng nghe, tiếp nhận và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Toànbộcác phương thức kiểm soát ban hành QĐHC nêu trênđềuphảiđược pháp luật quyđịnhcụthể, chặt chẽ. Theođó,kiểm soát ban hành QĐHC phảiđược Hiến pháp, luật và các vănbảnquy phạm pháp luật trong từng lĩnhvựcquản lý nhànước quy định. Điều này xuất phát từ nguyên tắc pháp chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, theo đó, nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp và pháp luật là nguyên tắc phổ biến của nhà nước pháp quyền. Tôn trọng và đề cao Hiến pháp, tổ chức thi hành nghiêm chỉnh, đúng đắn tinh thần và lời văn của hiến pháp là điều kiện quan trọng bảođảm tính pháp quyền của chế độ nhà nước, bảo đảm ổn định xã hội, an toàn cho người dân và sự phát triển của đất nước.

42

Các quyđịnhcủaHiến pháp năm 2013vềphân công, phốihợpvà kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước, về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ của các thiết chế quyền lực trong bộ máy nhà nướcvềkiểm soát quyền lực, về quyền tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước của công dân, quyền giám sát, phản biện của các tổ chức chính trị xã hội vào các hoạt động quản lý của nhà nước, về

trách nhiệm báo cáo và giải trìnhtrướcnhândân… vềcơbảncũngđãthểhiện tổng quát vàđầyđủ.Những quyđịnhnày cũngđãđượccụthểhóamộtbướcquan trọng trong quy định của các đạo luật về tổ chức và hoạt động các cơ quan nhà nước và cần tiếp tục được hoàn thiện hơn thành các cơ chế kiểm soát cụ thể, phù hợp với vị trí vàtính chất của từng chủ thể ban hành QĐHC, loại QĐHC, nhằm bảo đảm mọi hoạt động ban hành QĐHCđềuphảiđượckiểm soát.Đồngthời,mỗicơ quan nhànướcphải nhận thức và quán triệt một cách đúng đắn, đầy đủ phạm vi, giới hạn quyền và trách nhiệm của mình, và phải thực thi quyền hạn được giao theo đúng trình tự, thủ tục đãđược pháp luật quy định. Hoạt động theo đúng quyđịnh củaHiến pháp và pháp luật chính là phương cách tốt nhất để kiểm soát việc ban hành QĐHC.

2.2.4. Tiêu chí kiểm soát ban hành QĐHC

Dù kiểm soát trong quá trình ban hành QĐHC hay trong quá trình tổ chức thi hành QĐHC, thì việc kiểm soát cũng nhằm bảo đảm cho QĐHC được ban hành phải bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý. Theo đó, tiêu chí để các chủ thể thực hiện việc kiểm soát ban hành QĐHC chính là các tiêu chíbảođảmtínhhợppháp vàhợplý của QĐHC.

2.2.4.1.Vềtiêu chí kiểm soát việcbảo đảmtínhhợppháp của quyếtđịnhhành chính

Bảođảmtínhhợppháp là yêucầubắtbuộc trongmọihoạtđộngcủacác cơquan nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theođó, việc ban hành QĐHC của các cơ quan nhà nước là một trong những hoạt động cơbản của quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cũng đòi hỏi phải bảo đảm tính hợp pháp và là yêu cầu bắt buộc đối với mọi QĐHC. Tính hợp pháp của QĐHC được hiểu là sự phù hợp của quyết định với các quy phạm pháp luật về hình thức quyết định, thẩm quyền ban hành, thủ tục xây dựng, nội dung quyết định và sự vi phạm những quy định đó có thể ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị pháp lý của QĐHC23.Với đặc trưng là các văn bản áp dụng pháp luật, tính hợp pháp của các QĐHC được thể hiện rõ ở việc phải được ban hành trên cơ sở pháp luật và được thực

23TS. Bùi Thị Đào (sách chuyên khảo), Tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, 2015, tr.50.

43

thi cũng tuân theo các quyđịnhcủapháp luật. Dođó,việc kiểm soátđểcác QĐHC bảo đảm tính hợp pháp trong cả quá trình ban hành và thi hành là rất cần thiết và luônđược chú trọng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Để xem xét tính hợp pháp của QĐHC cần căn cứ vào các tiêu chí đánh giá cụthể. Thực tiễn pháp luậtcủamỗiquốc gia cho thấy, dù truyền thống pháp luật hành chính có khác nhau nhưng đều chú trọng và đề cao tính hợp pháp của các QĐHC vàtrong quan niệm cũng như các yếu tố cấu thành tính hợp pháp về cơ bản là tương đồng nhau, chỉ có sự khác biệt trong các tiêu chí đánh giá, kiểm tra tính hợp pháp. Ở một sốquốc gia, khái niệm tínhhợpphápđượcgắnvớikhái niệmđượcgọilà“căncứđểkiểm tra, đánhgiá”là những căncứđểkhởi kiện yêucầuhủybỏQĐHCtạitòa ánđược thực hiện. Những căn cứ này khá hạn chế ở giai đoạn trước đây nhưng cũng đãđượcmởrộng vàbổsung trong thời giangầnđâykhi nguyên tắc pháp quyền ngày càng được coi trọng. Trong khi đó, pháp luật của một số quốc gia khác không thực sựcó khái niệm “căn cứ để kiểm tra, đánh giá” vì (về lý thuyết) việc vi phạm bất kỳ quyđịnh nào trong việc ban hành hoặc do nội dung của quyết định hành chính làm quyếtđịnh đó bất hợp pháp đều có thể dẫn đến việc phải hủy chúng (pháp luật Đức là một ví dụ điển hình)24.

Việc xác định các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính cóý nghĩa rất quan trọng. Trước tiên, đây sẽ là cơ sở để các chủ thể có thẩm quyền ban hành QĐHC làm căn cứ ban hành QĐHC hợp pháp. Mặt khác, đây cũng là cơ sởđểđối tượng chịu sự tác động của quyết định hành chính căn cứ vào đó để bảo vệ quyền vàlợiíchhợpphápcủamình thông qua việc thực hiện khiếu nại, khiếu kiện nếu QĐHC đó vi phạm các tiêu chí hợp pháp. Quan trọng hơn cả, các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của QĐHC giữ vai tròmấuchốt trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính. Khi xem xét lại QĐHC theo thủ tục hành chính (thủ tục giải quyết các khiếu nại hành chính) và thủ tục tư pháp (tố tụng hành chính), các tiêu chí này sẽ là căn cứ quan trọng để Tòa án và những người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính đưa ra các cách thức xử lý phù hợp.

Từ yêu cầu chung, có tính bao quát và tổng thể về sự phù hợp của quyết định hành chính với pháp luật, tác giả Luận án đồng quan điểm với các nghiên cứu của các tác giả đã đưa ra và lý giải các tiêu chí để xem xét, đánh giá tính hợp pháp của QĐHC như sau:

24 Dr.Thomas Schmitz, Các yêu cầu về tính hợp pháp của quyết định hành chính trong pháp luật Đức và ChâuÂu, tham luận tại Hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp và Cộng hòa liên bang Đức về ban hành quyết định hành chính và các vấn đề có liên quan”, Hà Nội, 7/2013.

44

Thứ nhất, quyết định hành chính được ban hành đúng thẩm quyền: QĐHC phảiđược ban hành phù hợp với thẩm quyền của cơ quan đã ban hành ra nó. Thẩm quyền ban hành QĐHCđượcxem xétởhai gócđộ:thẩm quyềnvềmặthình thức và thẩm quyền về mặt nội dung. Thẩm quyền về hình thức thể hiện ở gó độ khi cần ban hành QĐHC,mỗicơ quanchỉđược sử dụng loạiquyết định hành chính mà pháp luật quyđịnh cơ quan đó được quyền ban hành, không được ban hành loại QĐHC của cơ quan khác cũng như tự mình sáng tạo ra một loại QĐHC riêng25.

Thẩm quyền về nội dung được thể hiện ở chỗ chủ thể nào (cơ quan, tổ chức, cánhân nào) được ban hành QĐHC và mỗi chủ thể đó được ban hành QĐHC để quy định về vấn đề gì, với tính chất và mức độ điều chỉnh như thế nào. Việc xác định chủ thểnàođượcban hành QĐHC làrấtquan trọng,bởimộtquyếtđịnhđượcban hành bởi chủ thể không có thẩm quyền sẽ là một quyết định hành chính vô hiệu. Trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước có rất nhiều cơ quan, đơn vị và cả cá nhân được thực hiện các hoạt động công vụ và có thẩm quyền ban hành văn bản. Tuy nhiên, việc xác định rõ chủ thể nào được ban hành QĐHC để điều chỉnh vấn đề cụ thể là cần phải được quyđịnh rành mạch để làm các cơ quan đó có đủ cơ sở cho việc ban hành QĐHC.

Xuất pháttừviệc ban hành QĐHC là quá trình cácchủthểđang thực hiện quyền lực nhà nước để thực thi công vụ trong hoạt động quản lý nhà nước, do đó, việc ban hành QĐHC phải được dựa trên các quy định cụ thể của pháp luật. Theo đó, mỗi chủ thể có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính chỉ được ban hành quyết định hành chính quy định,điềuchỉnhvềnhững vấn đề nhấtđịnhvới tính chấtvà mức độquy định, điều chỉnh phù hợp với khả năng quản lý nhà nước của cơ quan đó đã được pháp luật quy định, không được ban hành quyết định trái thẩm quyền, vượt quá quyền hạn của mình hoặc cố ý không ban hành QĐHC để lẩn tránh trách nhiệm. Có thể nói, việc QĐHCphải đượcban hành đúng thẩm quyền là một tiêu chuẩnbắtbuộc và chỉkhi quyết định hành chính được ban hành đúng thẩm quyền thì quyết định đó mới cóhiệu lực và được thi hành trên thực tế. Để xác định việc ban hành QĐHC đúng thẩm quyềncủamỗichủthểđượcthuận lợi, yêucầuvềviệc phân quyền, phân cấp, phân công nhiệm vụ, quyền hạn và giới hạn về nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi chủ thể phải rấtrành mạch, không cósựchồng chéo, mâu thuẫn, không cósựtùy nghiđể lạm quyền, lộng quyền hoặc lẩn tránh thẩm quyền. Với các giới hạn phạm vi thẩm quyền rành mạch như vậy, mỗi cơ quan khi ban hành QĐHC, đều phải tuân thủ đúng giới hạn thẩm quyền do pháp luật quyđịnh.Ngoài ra,từyêucầuvềhiệuquảhoạtđộngcủa từng cơ quan, thẩm quyền của mỗi chủ thể được pháp luật quy định còn phụ thuộc vào

25 TS. Bùi Thị Đào, sdd, tr 53.

45

khả năng hoạt động thực tế của từng chủ thể đó có thể quản lý được lĩnh vực nào với tính chất, mức độ ra sao phù hợp với mục đích quản lý chung của Nhà nước. Pháp luật không thể quy định thẩm quyền cho một cơ quan vượt quá khả năng sử dụng của nó. Vì vậy, ban hành QĐHC trái thẩm quyền có thể ảnh hưởng đến sự hài hoà, thống nhất trong thực hiện quyền lực của bộ máy nhà nước và có thể không đảm bảo chất lượng về nội dung của văn bản.

Một vấn đề rất quan trọng, gắn kết chặt chẽ với việc bảo đảm tính hợp pháp của QĐHC là vấn đề ủy quyền trong ban hành QĐHC. Đây là chếđịnhpháp lý thể hiện mốiquanhệhành chính trong/giữa các cơ quan nhànướcđểbảođảmtínhkịpthời, liên tục, tránhsựtùy tiệncủahoạtđộngquản lý nhànước.Việcủyquyền ban hành quyếtđịnhhành chính thườngđượcthực hiện bằng hai hình thức:Ủyquyền thẩm quyền ban hành quyếtđịnhhành chính; vàủyquyền ký ban hành quyếtđịnhhành chính. Dù làdướihình thức nào, việcủyquyền ban hành QĐHC hay ký ban hành QĐHC cũng phải tuân thủ các yêu cầu về bảo đảm tính hợp pháp của QĐHC do mình ban hành và chỉ được ban hành văn bản trong phạm vi được ủy quyền. Theo pháp luật các nước, vi phạm về ủy quyền là một nguyên nhân để văn bản bị tuyên bố là vô hiệu do vi phạm ủy quyền chính là vi phạm về thẩm quyền ban hành QĐHC.

Ngoài ra, quyền tự định liệu cũng là một nội dung cần được bàn luận sâu ở căn cứ này. Quyền tự định liệu của các chủ thể có thẩm quyền được hiểu là việc được phép chủđộnglựachọn và quyếtđịnhcác cách thức, biện pháp giải quyết công việc phùhợp trong phạm vi quyền năng chung đã được trao. Pháp luật không ấn định cụ thể, chi tiếtđểxácđịnhthếnào là phùhợpmàđiềunày tùy thuộc vàosựlựachọn và quyếtđịnhlinh hoạtcủacácchủthểđượctrao quyền. Pháp luật và thực tiễnđãchứngtỏrằng việc trao quyền tự định liệu cho các chủ thể có thẩm quyền đặc biệt là các chủ thểquản lý hành chính nhà nước là điều hiển nhiên và cần thiết26. Điều này xuất phát từ lýdo căn bản là quản lý hành chính nhà nước không thể thực hiện được hiệu quả nếu nhưchủ thể có thẩm quyền không có sự chủ động, sáng tạo và linh hoạt. Tuy nhiên, trong một nhà nước pháp quyền, việc thực hiện quyền tự định liệu không thể tiến hành tùy tiện mà phải tuânthủnhiều yêucầupháp luật khác nhau.Đặcbiệt, việc thực hiện quyền này chịu sự kiểm soát chặt chẽ của quyền lực tư pháp. Những yêu cầu này được ghi nhận trong pháp luật và thực tiễn của nhiều nước và để có cơ sở đánh giá việc thực hiện quyền tự định liêụ có hợp pháp hay không pháp luật đã xác định nhiều căn cứ cụ

26 TS. Nguyễn Văn Quang, Quyền tự định liệu và kiểm soát tư pháp việc sử dụng qyền tự định liệu trong hoạtđộng hành chính nhà nước, Tạp chí Luật học số 2/2014.

46

thểđểđánh giánộidung này27. Nói cách khác,vềmặthình thức, pháp luật không lượnghóa các chuẩnmựcliên quanđếnsựphùhợp(hợp lý)củaquyếtđịnhhành chính. Tuy nhiên, pháp luật luôn kiểm soát sự hợp lý về nội dung của các quyết định hành chính. Trong thực tiễn xét xử hành chínhcủanhiềunước,yêu cầuhợplý (phùhợp) về nội dung của quyết định hành chính được coi là tiêu chuẩn của sự hợp pháp; quyết định hành chính vi phạm yêu cầu này được coi là bất hợp pháp28.

Thứ hai, quyết định hành chính có nội dung áp dụng đúng pháp luật

QĐHC là vănbảnáp dụng pháp luật,bởivậy, yêucầuvềbảođảmtính hợp phápcủaQĐHC chú trọngtớibảođảmviệc áp dụng đúng pháp luật.Nộidung của QĐHC là sự cụ thể hóa các QPPL tương ứng vào trường hợp cụ thể29, do đó, cùng với yêu cầu phải được ban hành đúng thẩm quyền, tính hợp pháp về nội dung còn đòi hỏi nội dung quyết định hành chính phải phù hợp với QPPL được chọn để áp dụng. Yêu cầu này được cụ thể thành các tiêu chí như: (1) Quyết định hành chính phải được ban hành đúng căncứpháp lí; (2)Nộidungcủaquyếtđịnhhành phải phùhợpvớiquyđịnhcủapháp luật; (3) Quyếtđịnhhành chính phảiđượcban hành cóđầyđủcơsởthực tế. Mặc dù, các quy định của pháp luật là cơ sở pháp lý để xác định nhu cầu ban hành QĐHC nhưng trong nhiều trường hợp, việc xácđịnhnhucầuban hành QĐHC cònphụthuộcrấtnhiều vào đánh giácủachủthểquản lý,vềsựcầnthiết ban hành QĐHC dưới góc độ thực tiễn. Có thể nói, tiêu chí hợp pháp về mặt nội dung là tiêu chíquan trọng nhất,ảnhhưởngtrực tiếpđếnhiệuquảquản lý hành chính nhànướcvàquyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Vi phạm tiêu chí về mặt nội dung thì chắc chắn quyết định hành chính đó sẽ bị hủy bỏ.

Liên quanđếncơsởthựctếđểban hành QĐHC, theo pháp luậtcủamộtsốnước,chẳnghạnĐức,mộtQĐHC cóthểbịcoi là trái pháp luậtnếunhư quyếtđịnh hành chínhđóđược ban hành dosựgian dối,lừađảo hoặc qua đe dọa, hốilộ,hoặcđơngiản là do cơ quan ban hành QĐHC khôngđủthông tin, thông tin không chính xác.

Thứ ba, quyết định hành chính ban hành phải đúng thủ tục

Để một QĐHC hợp pháp, một yêu cầu đặt ra đối với ban hành quyết định hành chính là tuân thủ thủ tục. Tiêu chí này đặt ra yêu cầu tuân thủ trong toàn bộ quá trình ban hành QĐHC và là cơ sở để xem xét tính hợp pháp của QĐHC khi thực thi. Thủ tục

27 Ví dụ: theo quy định của Luật quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) của Australia, việc thực hiện quyền này không được ‘tính đến những yếu tố không phù hợp’ , thực hiện với ‘ dụng ý xấu’ hoặc ‘không hợp lý’ (Điều 5(2) và Điều 6(2)), TS Hoàng Ly Anh.

28 TS. Nguyễn Văn Quang, Căn cứ đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, Hội thảo “Tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính”, Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), Hà Nội, 2013.

29 TS. Bùi Thị Đào, sđd, tr.62.

47

ban hành QĐHC được quy định phù hợp với từng loại QĐHC và thẩm quyền ban hành của từng chủ thể sẽ tạo ra sự thống nhất trong ban hành QĐHC, thể hiện sự thận trọng trong các bước nhằm loại trừ hoặc hạn chế tới mức thấp nhất những sai sót có thể xảy ra, tạo ra sự dân chủ, minh bạch trong toàn bộ quy trình xây dựng nội dung quyết định. Chất lượng của quyết định hành chính khi được ban hành đúng trình tự, thủ tục không chỉ minh chứng cho tính đúng đắn của nền hành chính mà còn giảm khiếu nại và khiếu kiện hành chính. Việc không tuân thủ các quy định về thủ tục hành chính là một trong những căn cứ để xác định tính bất hợp pháp của các quyết định hành chính và đây làđiều được thừa nhận chung trong hệ thống pháp luật hành chính của hầu hết các nước trên thế giới30.

Về nguyên tắc, việc ban hành quyết định hành chính phải tuân thủ các bước từchuẩn bị xây dựng, soạn thảo, lấy ý kiến, kiểm tra trước và ký ban hành. Đây là quy trình cơbảnđểbảođảmmộtquyếtđịnhhành chínhđượcban hành đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích của các đối tượng chịu tác động của quyết định hành chính. Trong đó, lấy ý kiến là khâu đặc biệt quan trọng vì liên quan đến quyền, nghĩa vụ của cácchủthểvà là khâubảođảmtính công khai, dânchủtrong ban hành quyếtđịnh hành chính.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *