Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Luận án:
Sự hỗ trợ được hiểu là “Sự giúp đỡ nhau, giúp thêm vào”1. Sự hỗ trợ thường được thực hiện cho những đối tượng yếu hoặc chưa đủ mạnh ở một gócđộ nào đó. Việc hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhiệm vụ quan trọng của các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương và cáctổchức đại diện cho doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Nhiệm vụ này lại càng quan trọng hơn khi hiện nay, tuyệt đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam
lại là doanh nghiệp nhỏ và vừa (trong số hơn 624.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động hiện nay thì 97,7% là doanh nghiệp nhỏvà vừa, nhiều doanh nghiệp nhỏvà siêunhỏ2). Mặc dù, Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất có thể hỗ trợ nói chung và hỗ trợ pháp lý nói riêng cho doanh nghiệp (còn có các thiết chế khác như các hiệp hội doanh nghiệp,
câu lạc bộ, luật sư…cũng cóthểthực hiện công việc nàymộtcáchđộc lậphoặc cùng Nhà nước thực hiện hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp) nhưng Nhà nước luôn phải đóng vai trò chính trong hoạt động này.
Ở Việt Nam, trên thực tế, nhu cầu cần hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp trong việc giải quyết các khó khăn pháp lý trong kinh doanh ở Việt Nam luôn được xếp ở vị trí cao hơn cả nhu cầu tìm kiếm mặt bằng kinh doanh phù hợp, nhu cầu tìm kiếm nhà cung cấp
và nhu cầu tìm kiếm công nghệ…3 vì thực tiễn doanh nghiệp Việt Nam cho thấy, nhận thức về vai trò, ý nghĩa pháp luật của nhiều chủ sở hữu, người quản lý doanh nghiệp còn hạn chế; nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc thực hiện pháp luật do ít được sửdụng tư vấn pháp luật miễn phí và hoạt động của các tổchức đại diện cho doanh nghiệp còn nhiều bất cập; các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin pháp luật.
Từ năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (sau đây viết tắt là Nghị định 66/2008/NĐ-CP), thiết lập cơ chế thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, quy định cụ thể hình thức, nội dung hỗtrợpháp lý và trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban
1 Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998, trang 835. 2 Báo cáo số 150/BC-TCTK ngày 27/9/2019 của Tổng Cục Thống kê,Bộ Kế hoạch và Đầutư.
3Kết quả Điềutra Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2016 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
nhân dân cấp tỉnh trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; điều kiện bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số585/QĐ-TTg ngày 05/5/2010 phê duyệt Chương trình hỗtrợpháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giaiđoạn2010-2014,địnhhướng đến năm 2020(được sửađổi,bổsung bằng Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 28/11/2014). Bộ Tư pháp và Bộ Tài chínhđã ban hành Thông tư liên tịch số157/2010/TTLT-BTP-BTC ngày 12/10/2010 hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước dành cho công tác hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp. Đến năm 2017, lần đầu tiên, cơ chếhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp được Luật hóa trong LuậtHỗtrợcho doanh nghiệp nhỏvàvừa (khoản 3 Điều 14) và ngày 24/6/2019, Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (sau đây viết tắt là Nghịđịnh số 55/2019/NĐ-CP) (thay thế Nghị định 66/2008/NĐ-CP). Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật như đã nêu trên, kết quả, tính đến ngày 31/12/2019 đã có 17/22 Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (trong đó, có 03 Bộ ban hành Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp); 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành kếhoạch hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp (trong đó, có 20/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp)4.
Các quyđịnhvềhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp đượcban hành và hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về mặt pháp lý ngày càng tăng của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, sau quá trình triển khai thực hiện đã bộc lộkhông ít những hạn chế, bất cập, vướng mắc, khó khăn như: nhiều quy định vềhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp có nội dung còn chưa rõ ràng, cụthể, chưa đảm bảo tính đồng bộvà tính hiệu lực chưa cao; việc thực hiện hoạt động hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp ởcác Bộ, ngành và địa phương còn chưa được thường xuyên, có tính đồng bộvà tính hệthống nên hiệu quảchưa cao; nhân lực, kinh phí dành cho hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp chưađược quan tâm đúng mức; cơ chế phối kết hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương và các tổchức đại diện cho doanh nghiệp trong việc hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp còn chưa thực sự hiệu quả, việc xác định nhu cầu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong từng giai
4 Báo cáo số 319/BC-BTP ngày 28/12/2018 của Bộ Tư pháp tổng kết 10 năm thi hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
đoạn chưa thực sựsát với nhu cầu cần hỗtrợcủa doanh nghiệp; việc thực hiện hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp của một số Bộ, ngành và địa phương còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, chưa thu hút được sự quan tâm của doanh nghiệp thụ hưởng các hoạt động hỗ trợ pháp lý của Nhà nước. Bên cạnh đó, có thể nhận thấy, các hoạt động hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức, thực hiệnchủyếu theo kinh nghiệm thực tiễn Việt Nam, chưa được đầu tư nghiên cứu một cách cơ bản về lý luận, chậm tổng kết đánh giá thực tiễn. Nói cách khác, loại hình hỗ trợ pháp lý này chưa thu hútđược nhiều sựquan tâm, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, trong khi đó nhucầuhỗ trợpháp lý của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp sáng tạo và nhất là các doanh nghiệp trongbối
cảnh dịch bệnh Covid – 19 toàn cầu như đã diễn ra lại được đặt ra một cách cấp bách.
Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu toàn diện, cơ bản về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là việc làm rất cần thiết. Thành công của Luận án chắc chắn không chỉ sẽgóp phần quan trọng vào việc giải quyết những vấnđềlý luận và thực tiễn đặt ra mà còn phục vụ cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hỗ trợ nói chung và pháp luật về hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp nói riêng. Với lý do đó, tác giảchọn vấnđề: “Hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành” làm đề tài Luận án tiến sĩ luật học của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án * Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứucủa Luận án chủ yếu là các chính sách của Đảng và Nhànước về hỗ trợ pháplý cho doanh nghiệp; các văn bản pháp luậtcủa Nhà nước về hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp; thực tiễn thi hànhhoạt động hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp trong thời gian qua; các hình thức, biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (đặc biệt làcác Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành và Chương trình hỗ trợ pháp lý của Bộ, ngành và địa phương); kinh nghiệm nước ngoài về hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và các bàihọckinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện và thực hiện các hình thức hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp sáng tạo.
* Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, thực tiễn triển khai và việc hoàn thiện nó là những vấn đề rất phức tạp không những về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực tiễn. Vì vậy, trong khuôn khổ giới hạn của một Luậnán tiến sĩ, việc nghiên cứu các vấn đề nêu trên sẽ giới hạn ở các phạm vi dưới đây:
Về nội dung: khi nghiên cứu đề tài đã lựa chọn, tác giả luận án tập trung làm rõnhững vấn đề lý luận cũng như thực trạng các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như việc thực hiện các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; việc xây dựng và thực hiện các chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; trách nhiệm của bộ, ngành và địa phương trong công táchỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; vấnđềnguồn lực, kinh phí trong công tác hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp; vấn đề kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
Về đối tượng: Việt Nam quan tâm đến tất cả các chủ thể kinh doanh, trong đó cócả các hợp tác xã, các cá nhân kinh doanh vì các chủ thể kinh doanh này cũng có nhu cầu lớn về hỗ trợ pháp lý. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu nhu cầu hỗ trợ pháp lýcủa một số đối tượnglà các doanh nghiệp,đặc biệt làcác doanh nghiệp nhỏvà vừa, trong đó có cảcác doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp sáng tạo.
Về không gian: luận án tập trung nghiên cứu các quy định củapháp luật trong nước; tuy nhiên, cósựphân tích, bình luận và so sánh với một số quy địnhcủapháp luật nước ngoàivề cùng vấn đề đểrút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết cho quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở Việt Nam.
Về thời gian: luận án tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hànhđể đánh giáchính xác thực trạng pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Song đểđảm bảo tính khả thi của các kiến nghị, luận án cũng nghiên cứu quá trình vận động và phát triển của các quy định pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp giai đoạn trước khi có Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 55/2019/NĐ-CP.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án * Mục đích nghiên cứu của Luận án
Xuất pháttừthực tiễn vàchủtrương hoàn thiệnthểchếcủanềnkinhtếthịtrường nhằm đáp ứng nhữngđòi hỏi củamột nền kinh tế mở và nhucầu hộinhập của các doanh nghiệp, mục đích của luận án là trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề
lý luận về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, thực tiễn thi hành hoạt động trong thời gian qua để nhận diện được những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi hoạt động hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệpởViệt Namđểđềxuất phươnghướngvà các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao chấtlượngvà hiệu quả hoạtđộng hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp hiện nay và trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
Để đạt đượcmục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết một số nhiệm vụchủyếu sau đây:
– Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp như khái niệm, đặc điểm, vai trò, sự cần thiết của công tác hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp và ý nghĩa của công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam;
– Nghiên cứu các quy định pháp luật và tình hình thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam;
– Nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài liên quan đến hoạtđộng hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp;
– Tìm ra được các giải pháp nhằm triển khai hiệu quả hoạtđộnghỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian tới, đặc biệt là đề xuất các kiến nghị liên quanđến việc xây dựng pháp luật và thực thi hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏvà vừa.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận án * Phương pháp luận của Luận án
Khi nghiên cứu đề tài của Luận án – một đề tài thuộc khoa học xã hội, tác giả luậnán sửdụng phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảngvà Nhà nước về phát triển kinh tế và xây dựng đất nước trong thời kỳđổimới, trong đó, hướng tới chủ trương“Chính phủ phục vụ”, “Chínhphủđồng hành cùng doanh nghiệp”. Luận án kế thừa kết quả của các công trình mà các tác giả đi trước đã nghiên cứu về nhiều vấn đề có liên quan đến các hình thức hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung và hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng ở Việt Nam.
* Phương pháp nghiên cứu của Luận án
Trên cơsở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, khi giải quyết các vấn đề thuộc nội dung nhiệm vụ của luận án, người viếtsửdụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp là quy nạp, phân tích, tổng hợp, so sánh…
Ở Chương 1 và Chương 2, tác giả dùng phương pháp quy nạp để nghiên cứu sựcần thiết, xây dựng các định nghĩa; sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu sựra đời, khái niệm, đặc điểm, vai trò, tình hình hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, ưu điểmcủahỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam; phương pháp so sánh luậthọc được ápdụng khi tìmhiểu vấn đề này ở mộtsố nước trên thế giới và đối chiếu với pháp luật Việt Nam.
Tác giả sử dụng phương pháp nổi bật và so sánh luậthọcnhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước khácvềhỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, trên cơ sở đó tham khảo để hoàn thiện pháp luật về hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
Tại Chương 4, về cơ bản, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợpđể đưa raphương hướng và các giải pháp có căn cứkhoa học,đútkết quá trình nghiên cứu thực tiễnđểđề xuất, góp phần hoàn thiện pháp luật và thực hiện có hiệu quả pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới.
5. Những đóng góp mới của Luận án
Thông qua việc nghiên cứu có hệ thống các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài này, so với các công trình đã được công bố của các tác giả khác, Luận án dựkiến sẽ có những đóng góp mới sau đây:
– Làm rõ tính tất yếu khách quancủa sựra đời và quá trình phát triển của chếđịnh hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam;
– Làm rõ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp không phải đơn thuần là một chính sách nhất thời mà là một công việc lâu dài, thể hiện chức năng kinhtế của Nhà nướcta;đồng thời phản ánh bản chất đây là một loại hình dịch vụ công mà Nhà nước phải thực hiện đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa;
– Làm rõ khái niệm, nội dung của nhiều khái niệm khoa học liên quan đến pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
– Tiếp cận và nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về hỗ trợ cho doanh nghiệp và kinh nghiệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệpcủa mộtsốnước có nền kinh tếphát triển (Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan, Hoa Kỳ, Anh, Pháp…)dưới góc độso sánh với pháp luật Việt Nam; trên cơ sở đó, rút ra những bài học nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
– Nghiên cứu, làm rõ nguyên nhân của những thiếu sót, bất cập của pháp luật cũng như của hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian qua.
– Đề xuất địnhhướng cũng như các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp, công tác thực thi pháp luậthỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp một cách đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độnghỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp phù hợp với thực tiễn hiện nay và trong thời gian tới.
6. Kết cấu của Luận án
Ngoài Mục lục,mởđầu, kết luận, phụ lục minh chứng kết quả nghiên cứu của tác giả, Danh mục tài liệu tham khảo,luận án được kết cấuthành các Phần và Chương nhưsau:
Phần Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết đề tài.
Chương 1: Những vấnđề lýluận về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp.
Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
PHẦN TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài Luận án
Hoạtđộnghỗtrợcho doanh nghiệp nhỏvà vừa (trongđó cóhỗtrợpháp lý
cho doanh nghiệp, thông tin pháp lý cho doanh nghiệp…) trên thế giới đãđược thực hiện từ rất sớm, ở Hàn Quốc từ năm 1979, ở Anh từ những năm 1980đãtập trung xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có hỗ trợ thông tin pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừađểmụctiêu giải quyết tình trạng thất nghiệp. Hoặc như ở Pháp, việc cung cấp thông tin là nghĩa vụ của cơ quan nhànước phải thực hiện: APEC (Agence Pour la Creation d’Entreprise) là cơ quan cung cấp các thông tin về thị trường, bảo hiểm xã hội, thuế và hệ thống pháp luật tại Pháp. Chính vì vậy, cũngđãcó các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến Đềtài luận án về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là việc nghiên cứu về các chính sáchhỗtrợdoanh nghiệp nhỏ và vừa. ỞViệt Nam,từ những năm 2001 (thờiđiểm Nghị định số90/2001/NĐ-CP ngày 23/01/2001 của Chính phủvề trợgiúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa) đến nay cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu vềthực trạng công táchỗtrợdoanh nghiệp nhỏ và vừa và nhất là từ năm 2008 (thờiđiểm Nghị định số 66/2008/NĐ-CP được ban hành) có khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâuvề hoạtđộng hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp (đây là một trong 07 hình thức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừađượcquy định trong LuậtHỗtrợdoanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 hiện nay).
1.1. Các nghiên cứu về vấn đề lý luận liên quan đến hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
1.1.1. Các nghiên cứuvề khái niệm,đặc điểm, vai trò của hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp
1.1.2. Các nghiên cứu về hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
1.2. Các nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài Luận án 2.1. Một số vấn đề liên quan đến Đề tài Luận án đã được nghiên cứu
Trên thực tế, ở Việt Nam, các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên và là trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh lẫn các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu chuyên sâu, khoa học có hệ thống về hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam cho đến nay vẫn chưa nhiều, đặc biệt là chưa có công trình nào ở cấp độ tiến sĩ luật học.
Qua tìm hiểu về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận án như đã nêu ởtrên, tác giả đưa ra đánh giá bước đầu như sau:
Thứ nhất,về sựcần thiết, khái niệm, đặc điểm, vai trò của hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp. Dưới góc độ lý luận, ở mức độ nhất định, các tác giả đã xây dựng được những luận cứbanđầu về sựcần thiết cũng như khái niệm,vai trò, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên cơ sở kết quả nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới, thực tiễn quy định pháp luật và thực tế triển khai công tác này ở Việt Nam trong thời gian qua.
Thứ hai, về hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Các tác giả đã phân tích nhiều đến hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu đềcập đếncác hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo Nghị định số 66/2008/NĐ- CP mà hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ về các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong pháp luật hiện hành (Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, Nghị định số 55/2019/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số
157/2010/TTLT-BTC-BTP…) cũng như các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung, kết quả, hạn chế, khó khăn và giải pháp thực hiện.
Thứ ba, thực trạng pháp luật về hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp. Các tácgiả đãphân tích và đánh giá khá rõ thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Song, các công trình trên nghiên cứu pháp luật vềhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp trong điều kiện chưa ban hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 55/2019/NĐ-CP nên các kết quả nghiên cứu đó cũng có tính chất tham khảo một phần đối với việc nghiên cứu Đề tài mà Nghiên cứu sinh đã lựa chọn.
Thứ tư, các tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vềhỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên, các giải pháp vẫn chủ yếu tập trung vào việc khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật thực định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung, cụ thể là sửa đổi, bổ sung Nghị định số 66/2008/NĐ-CP mà chưa chú ý đến các giải pháp khắc phục lâu dài và toàn diện các quy định pháp luật vềhỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới.
2.2. Những vấn đề liên quan đến Đề tài Luận án chưa được nghiên cứu
Từ việc phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án có thể rút ra một số đánh giá sau đây:
Thứ nhất, vềmục tiêu củaviệchỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung vàdoanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng. Xác định mục tiêu của hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp không chỉ có vai trò quyết định trong việc làm sáng tỏ các khác biệt trong pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam với các nước khác mà còn trong việc xácđịnhphạm vi, hìnhthức hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp. Trong khi đó, trong nhiều nghiên cứu về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở trong và ngoài nước, vấn đề mục tiêu của hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn nhiều ý kiến
khác nhau, chưa được nghiên cứu có tính hệ thống trongmộtchuyên đề luận án Tiến sĩ. Ở Việt Nam, những phân tích về mục tiêu thực sựcủa hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ. Qua việc nghiên cứu các quyđịnhcủa pháp luậtvề hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp (Nghịđịnhsố 66/2008/NĐ-CPtrướcđây và Nghịđịnhsố55/2019/NĐ-CP hiện nay cùng với Luật Hỗtrợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017,
Thông tư liên tịch số 157/2010/TTLT-BTC-BTP…) cho thấy, chưa có đủ cơ sở để xác định rõ mục tiêu của chính sách hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hiện nay ở nước ta là gì.
Thứ hai, khái niệmhỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp chưa được định nghĩa rõràng. Thuật ngữ này được đề cập nhiều trong những năm gần đây, nhất là kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và Thủtướng Chính phủ ban hành các Quyết định phê duyệt các Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp; các Bộ, ngành và các địa phương ban hành các kế hoạch/Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong lĩnh vực và địa bàn nhất định. Tại Việt Nam, Nghị định số 66/2008/NĐ-CP trước đây và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏvà vừa năm 2017 (khoản 3 Điều 14) không đưa ra định nghĩa về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mà chỉ đưa ra nội dung, hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Khái niệm hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định tại Nghị định số 55/2019/NĐ-CP cũng chưa thật sựbao quát, khoa học, rõ ràng so với các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được quy định và triển khai ở Việt Nam hiện nay. Các công trình nghiên cứu trong nước trong thời gian qua cũng chưa thựa sựdành nhiều thời gian nghiên cứu sâu việc xây dựng kháiniệm hoạt động hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp để làm nền tảng lý thuyết cho việc phân tích nội dung và hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Vì vậy, đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà luận án sẽ hướng tới giải quyết.
Ngoài ra, hiện nay, các công trình nghiên cứu cũng chưa làm rõ trên các khía cạnh sựgiống nhau vàsựkhác nhau giữa“hỗ trợpháp lý cho doanhnghiệp”với “trợ giúp pháp lý”và “tư vấnpháp luật”. Vì vậy, luận án cũng nghiên cứuđể trả lời chovấnđề còn bỏ ngỏ này.
So với “trợ giúp pháp lý”, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp có sựkhác biệt căn bản về đối tượng thụ hưởng và loại vấn đề được trợ giúp. Đối tượng trợ giúp pháp lý là các cá nhânvớitư cách là nhữngngườiyếuthế hoặc có côngvới tổquốc, trong khi đó,
đối tượngđược hỗ trợ pháp lýlại là các doanh nghiệpnhỏvà vừa thuộc mọi thành phần kinh tế.Vềnội dung, trợ giúp pháp lý bao gồm nhiềuvấnđề liên quan đến pháp luật mà cá nhân được trợ giúp quan tâm11; trong khi đó, nội dung (phạm vi) hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp lại chỉ bao gồm một số vấn đề về chính sách, pháp luật12liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
So với hoạt động “tư vấn pháp luật”13mà luật sư thực hiện thì hoạt động hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp có sựkhác biệt, đó là hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là hoạt động dịch vụ công, do Nhà nước thực hiện hoặc đảm bảo thực hiện nhằm hỗ trợ miễn phí cho các doanh nghiệp, trong khi đó, hoạt động tư vấn pháp luật là loại dịch vụ tư và có thu phí theo quy định của Luật Luật sư.
Thứ ba, việc xác định đối tượng được Nhà nước hỗ trợ pháp lý đã có nhưng chưa thật sự hợp lý và khoa học. Các quốc gia sử dụng các tiêu chí khác nhau để hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp. Tuy nhiên, tiêu chí về quy mô doanh nghiệp (doanh nghiệp nhỏ vàvừa) là tiêu chí phổbiến nhất đểthực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế – xã hội của các nước là khác nhau nên tiêu chí để xác địnhdoanh nghiệp nhỏ và vừa ở các quốc gia là khác nhau. Thực tế cho thấy,đến nay, hầu hết các quốc gia trên thếgiới đều chưa có một định nghĩa hoặc tiêu chí thống nhất về doanh nghiệp nhỏ và vừa, song có điểm chung là căn cứ vào doanh thu và số laođộng, đượcchia thành 3 mức độ quy mô: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ vàdoanh nghiệp vừa trong 3 lĩnh vực của nền kinh tế như: (1) nông lâm nghiệp, thủy sản;
(2) công nghiệp và xây dựng; (3) thương mại và dịch vụ.
Việc xác định đúng tiêu chí doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm giúp xác định rõ đối tượng cần được Nhà nước hỗ trợ, quađó đảm bảo việc hỗtrợđược hiệu quả, đúng đối tượng. Nghị định số 66/2008/NĐ-CP xác địnhđối tượng hỗ trợ pháplý của Nhà nước làdoanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh (Điều 1); Nghị địnhsố 55/2019/NĐ-CP thay thế Nghịđịnhsố66/2008/NĐ-CPđã xác địnhđối tượng hỗ trợpháp lý hẹp hơn, chỉbao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, các chủ thể kinh doanh khác cũng có thểđược áp dụng các hình thức hỗ trợ pháp lý dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và điều này đượcquyếtđịnh tùy thuộc vào nguồn lực của cácbộ,ngành và chính quyềnđịa
11Điều10 Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 (Luật số 69/2006/QH11).
12Điều 5 đến Điều 9Nghị định số 55/2019/NĐ-CP (Từ Điều 7 đến Điều 12 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP trước đây). 13Điều22 Luật Luật sư năm 2006, đượcsửa đổi,bổ sung năm 2012.
phương cấp tỉnh (Điều 19 Nghị định số 55/2019/NĐ-CP). Hiện nay, các công trình nghiên cứu trong nước đã tập trung nghiên cứu và phân tích sự cần thiết hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp nhỏ và vừa với tư cách là chủ thể kinh doanh chủ yếu ở nước ta. Đây là hướng nghiên cứu dự trên pháp luật thực định hiện nay, tuy nhiên, để phản ánh chính xác nhu cầu cần được hỗ trợ về mặt pháp lý của các chủ thể kinh doanh khác đang hoạt động trong nền kinh tế nước ta, có khả năng tác động đến nền kinh tế trong tương lai, trong đócó các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, vấn đề xác địnhđối tượng cần được sựhỗ trợpháp lý của Nhà nước trở thànhvấn đề cầnđược tiếp tục nghiên cứu, làm rõ.
Thứ tư, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạtđộng hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp chưa được nghiên cứu đểxác định đầyđủ, hợp lý. Các văn bản pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa đối tượng thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mà chỉ liệt kê các đối tượng thực hiện công tác này. Việc liệt kê thườngdẫn tớihậuquảlà bỏ sót đối tượngthực hiện công táchỗtrợpháp lýcho doanh nghiệp trên thực tế. Một số nghiên cứu đã dựa trên cáchoạt độnghỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhằm xây dựng khái niệm đối tượng làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Nghị định số 66/2008/NĐ-CP trước đây cũng như Nghị định số55/2019/NĐ-CP và Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp và các Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở các Bộ, ngành và địa phương hiện nay cũng lựa chọn cách liệt kê và mô tả các đối tượng thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thay vì xây dựng một khái niệm mang tính bao quát và xác định thẩm quyền của các cơ quan có liên quan trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Như vậy, về mặt lập pháp cũng như về mặt nghiên cứu khoa học pháp lý, cần quan tâm đến vấn đềnghiên cứu này.
Thứ năm, các vấn đềliên quanđếnkinh phí dành cho hoạt động hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp chưa được quan tâm nghiên cứu. Như trên đã phân tích, pháp luật Việt Nam xác định các đối tượng thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo hướng liệt kê và môtảhành vi, đồng thời cũng chưa xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, do đó, việc nhận diện đối tượng và thẩm quyền thực hiện hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp chưa thực sự thống nhất dẫnđến việc xác địnhtrách nhiệm và tập trung nguồn lựckinh phí cho công tác này chưa

thực sựđược quan tâm. Việc phân tích cácđặc điểm và nhận dạng được bản chất của hành vi hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là hết sức cần thiết trong việc quyết định nhiều vấn đề,trong đó cómột vấnđềquan trọnglà bốtrí kinh phí dành cho hoạtđộng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần được lấy từ nguồn ngân sách nhà nước là chủ yếu hay từcác nguồn khác ngoài nhà nướclà chủ yếu. Các công trình trong nước hiện nay cũng chưa dành nhiều sự quan tâm thích đáng cho việc nghiên cứu vấn đề này và vì vậy, nó trở thành một nhiệm vụ quan trọng của Nghiên cứu sinh.
Thứ sáu, các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tuy đã được ghi nhận trong pháp luật nhưng chưa được nghiên cứu một cách khoa học, có hệ thống. Các công trình nghiêncứu đềucho rằng, các hìnhthức hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp mặc dù rấtđa dạng nhưng đều hướng tới mục tiêu làtạochuyển biến căn bản về nhận thức pháp lý, nâng cao ý thức pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; tạo lập cácđiều kiện cần thiết đểgiúp doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả; phòng chốngrủiro pháp lý và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, có thể xếp các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thành 2 nhóm cơ bản. Đó là nhóm hình thức hỗtrợtrực tiếp và nhóm hình thức hỗ trợ gián tiếp. Việc phân biệt các hình thức hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp như vậy là cần thiết do chúng có đối tượng áp dụng khác nhau và nội dung cũng khác nhau. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không phân loại các hìnhthức hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đềvề sựcần thiết phải phân nhóm hình thức hỗ trợ pháp lý và tiêu chí của việc phân nhóm này cũng cần phải được đặt ra để nghiên cứu một cách thấu đáo, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này trong thực tiễn.
Thứ bảy, các bước trong việc thực hiện hoạt độnghỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp chưa được nghiên cứu một cách chính thống; các cơ quan có thẩm quyền chưa quan tâm đến việc đánh giá kết quả và tổng kết hoạt độnghỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp. Hỗ trợ pháp lý là một hoạt động bao gồm nhiều công đoạn, nhiều hành vi, có sựtham gia của nhiều chủ thể khác nhau. Do đó, để hoạt động này đạt hiệu quả cao thì một vấn đềquan trọngđặtra là làm sao nghiên cứu để thiết lậpđượcmột trìnhtự, thủ tụchỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp vừa đơn giản, vừa hiệu quả, không mất nhiều thời gian và công sức của các chủ thể tham gia. Trong khi đó, pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể vềvấn đềnày và các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý cũng chưa quan tâmđến việcgiảiquyết vấn đề này. Vì vậy, đây là vấnđề mà Nghiên cứu sinh sẽ quan tâm
nghiên cứu, giải quyết. Ngoài ra, thực tiễn thi hành hoạt độnghỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp thời gian qua cũng cho thấy việc tổng kết hoạt động này hầu như không được mấy quan tâm. Tình trạng này ít nhiềuảnh hưởng đến chất lượng của hoạt độnghỗtrợ pháp lýcho doanh nghiệp. Vì vậy, việc đánh giákếtquả hoạt độnghỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp và việc tiếp nhận các phản hồi của doanh nghiệp về hoạt động này cũng cần được quan tâm giải quyết trong thời gian tới.
Thứ tám, chưa nghiên cứu một cách hệ thống và làm rõ nội dung và các nguyên tắc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Trong một thời gian dài, hệ thống pháp luật Việt Nam có xu hướng mặc nhiên coi việc thực thi pháp luật là trách nhiệm của doanh nghiệp
(nhất là giai đoạn trước năm 2008– thờiđiểm chưa ban hành Nghịđịnhsố66/2008/NĐ- CP), do đó, doanh nghiêp phải tự tìm hiểu pháp luật vàtựxửlý các vấn đề pháp lý trong kinh doanh; Nhà nước không có trách nhiệm gì trong việc thực thi pháp luật của doanh nghiệp. Xu hướng này đang dần dần có sự thay đổi ở nước ta. Từ những năm sau 90, việc quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với doanh nghiệp đã được bắt đầu ghi nhận trong các văn bản pháp luật dựa trên khía cạnh kinh tế nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam. Lần đầu tiên, vào năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ghi nhận ngày doanh nhân Việt Nam 13/10 hàng năm và cũng lần đầu tiên Nhà nước chuyển hướng xácđịnh doanh nghiệp từđối tượng “bị quản lý”sang đối tượng được Nhà nước “phục vụ”. Đặc biệtlà cùng với việc ban hành Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP ngày 28/4/2016về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số35/2016/NQ-CP ngày 16/5/2016 vềhỗtrợphát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp phải dựa trên các nguyên tắc như các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được áp dụng cho mọi loại hình chủ thể kinh doanh, không phân biệt hình thức sở hữu, quy mô kinh doanh vàlĩnh vực hoạt động nhưng phải lấy doanh nghiệp nhỏ và vừa làm đối tượng chủ yếu; các biện pháp hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần bảo đảm nguyên tắc Nhà nước không làm thay công việc của doanh nghiệp, mặt khác cũng phải bảo đảm việc hỗ trợ của Nhà nước không làm hạn chế sự phát triển của thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý nói chung và thịtrường dịchvụ tưvấn pháp lý cho doanh nghiệp nói riêng; nội dung của các biện pháp hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp được quy định trên cơsởcó tính đến điều kiện kinh tế, xãhội cụthểcủa từng ngành, từngđịaphương trong từng thờikỳ,bảođảm sựhài hòa giữa
trách nhiệm hỗ trợ vớinguồn lực thực tế về tài chính, nhân sự của các cơ quan quản lýnhà nước ở Trung ương và địa phương; tăng cường đầu tư, đổimới các hình thức, phương thức hỗ trợ pháp lý theo hướng xã hội hóa, huyđộngsức mạnh của các tổ chức xã hội, đoàn thể các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp và công tác hỗ trợ pháp lý.
Có thể kết luận là, các công trình nghiên cứu trong nước bước đầu, trong một giaiđoạn nhấtđịnhmớichỉ dừng lạiở mức độnghiên cứu nhất định (1) kết quả thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; (2) xác định nhu cầu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và (3) giới thiệu về các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mà chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện, có hệ thống, tổng thể khoa học các vấnđề cóliên quan để từ đó đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới như (i) việc hoàn thiện pháp luật vềcác hình thức hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp; (ii) hoàn thiện tổchức bộ máy, nâng cao nănglực củacán bộ thực hiện hoạtđộng hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp; (iii) tăng cường nguồn lực thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; và (iv) tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương, giữa các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong quá trình tổ chức các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Tuyvậy, những gì đã đạt được nhưđã trình bày ở phần trênvẫn được coi là những tài liệu nghiên cứu quan trọng và Nghiên cứu sinh sẽ tham khảo, tiếp thu khi thực hiện việc nghiên cứu đề tài luận án của mình.
3. Lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 3.1. Lý thuyết nghiên cứu
– Lý thuyết về chức năng kinh tế của Nhà nước, đặc biệt là Nhà nước Xã hội Chủnghĩa, theo đó:
+ Nhà nước có chức năng kinhtế;
+ Khái niệm vànộidung củachức năng kinhtế(một trong những biểu hiện của chức năng kinh tế của Nhà nước là Nhà nước tạo môi trường pháp lý dễ dàng, bình đẳng, thuận lợi để mọi doanh nghiệp hoạt động. Do đó, hỗ trợ pháp lý rất được Nhà nước quan tâm vàđólà một trong những công việc quan trọng thể hiện chức năng kinh tế của Nhànước).
– Lý thuyết về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là một loại dịch vụ công mà Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo phải thực hiện cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏvà vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, sáng tạo.
Lý thuyết vềcác đặc điểm của dịch vụcông trong công tác hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp như xét về chủ thể cung cấp, đối tượng thụ hưởng, quy trình, thủ tục cung cấp dịch vụ, cơ chế kiểm soát, bảo đảm chất lượng dịch vụ công của Nhà nước.
– Lý thuyết về sự nâng đỡ (hoặc bảo vệ) bên yếu thế trong nền kinh tế thị trường:
+ Bình đẳng trong kinh doanh là yêu cầu của kinh tế thị trường;
+ Muốn bình đẳngthì Nhà nước phải có biện pháp bảo vệbên yếu thế, tạo điều kiện để làm cho bên yếu thế (doanh nghiệp nhỏ và vừa là bên yếu thế trên thương trường) có được khảnăng tốt hơn trong quan hệvớicác chủthểmạnh lớnhơn. Do đó, hỗtrợpháp lý cũng là biện pháp mà Nhà nước phải dành cho doanh nghiệp nhỏvà vừa trong khi vềnguyên tắc Nhànước vẫn phải bảo đảm sựtrung gian, vô tư, khách quan trong quan hệ với mọi chủ thể sản xuất, kinh doanh, không phân biệt quy mô kinh doanh, lĩnh vực đầu tư, hình thức sở hữu, thành phần kinh tế.
3.2. Một số câu hỏi nghiên cứu
Luận án được triển khai với những câu hỏi nghiên cứu sau đây:
Thứnhất, sựcần thiết của công tác hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay và trong tương lai? khái niệm, đặc điểm, đối tượng (đối tượng thực hiện;đối tượngthụ hưởng), mục tiêu, các nguyên tắc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhưthếnào? Pháp luật và các hình thức, nội dung hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp?việc hỗ trợnên hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung hay chỉ doanh nghiệp nhỏ và vừa? đối tượng khác ngoài doanh nghiệp nhỏvà vừa như doanh nghiệp lớn, các nhà đầutưnước ngoài, hợp
tác xã, hộ kinh doanh… có phải có chính sách hỗ trợ pháp lý hay không?
Thứ hai, hiện nay hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp có phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế chung của thế giới không? Có đáp ứng được nhu cầu và mục tiêu của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hay không và mục tiêu của nhà nước khi thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp?
Thứba, định hướng cơ chếhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian tới nên như thế nào? kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc hỗ trợ pháp
lý cho doanh nghiệp nói chung và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng như thế nào, có vận dụng được ở Việt Nam không?
Thứtư, với những những kết quảđạt được nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập như nghiên cứu của luận án thì cần phải có những phương hướng và giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật và các giải pháp như thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hiện nay và trong thời gian tới?
3.3. Giả thuyết nghiên cứu
Thứ nhất, sự ra đời của cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp chưa được luận giải một cách khoa học trong mối quan hệ với trách nhiệm của Nhà nước đối với doanh nghiệp.
Thứhai, xuất phát từquan điểm cho rằng, thực thi pháp luật là trách nhiệm của doanh nghiệp và Nhà nước không có trách nhiệm gì trong việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm này nên đã dẫn đến nhiều khó khăn, vướng mắc và tính không hiệu quả của việc triển khai hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong thời gian qua. Do vậy, cầnnhìn nhận việc hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa (nhất là vấn đề thông tin pháp luật) là trách nhiệm của các cơ quan nhànước, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp.
Thứ ba, pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cũng nhưhoạt động hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp về cơ bản là đầy đủ nhưng chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn nên cần phải nghiên cứu làm rõ hơn nữa nội dung của quy định pháp luật hiện hành, phát hiện những vướngmắc, bất cập, thiếu sótđểlàm cơ sởcho việc hoàn thiện pháp luật vềhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp cũng như tăng cường tính hiệu quảcủa công tác này trong thực tiễn.
Thứtư, quanđiểm,định hướng hoàn thiện quy định pháp luật vềhỗtrợpháp lýcho doanh nghiệp theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đảm bảo đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp thụ hưởng các hỗtrợpháp lý của nhà nước, nâng cao hiệuquảhoạt độnghỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN
Từviệc hệthống hóa các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau có liên quanđến đề tài luận án đã được công bố trong và ngoài nước trong thời gian qua, tác giả có thểđưa ra một số nhận định như sau:
1. Hầu hết các tài liệuđều sửdụng mộtsốphương pháp nghiên cứu như phương
pháp luận khoahọcduy vật biện chứng, duy vật lịchsửcủaChủnghĩa Mác–Lê Nin; phương pháp thu thập, phân tích số liệu, xử lý thông tin, chắt lọc thông tin (từ thông tin xã hội đến thông tin các bài báo, đề tài, luận văn, bài viết, các quan điểm của Đảng, các
văn bản quy phạm pháp luật…); phương pháp tổng hợp, phân tích, bình luận, thống kêcũng được áp dụng khá nhiều để đưa ra những đánh giá về quan điểm, cách tiếp cận, nhìn nhận vấn đề cần nghiên cứu làm rõ của từng tác giả đã thực hiện các công trình nghiên cứu. Đây là những phương pháp chính đượcnhiều tác giảsửdụng nhất khi nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Đối với các nghiên cứu do các tác giả nước ngoài thực hiện, phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp định lượng, phương pháp khảo sát thực tiễn, phương pháp phỏng
vấn các doanh nghiệp nhỏvà vừa… chính vì vậy, các sốliệu thu thập được, các nhận định có độ tin cậy cao cho công trình nghiên cứu.
2. Vềnội dung nghiên cứu, các công trình nghiên cứu mặc dù được tiếp cận theo các cách thức khác nhau nhưng những công trình nghiên cứu đều thể hiện quan điểm của các tác giả về những vấn đề nghiên cứu, bình luận. Đi sâu vào các công trình nghiên cứu như đã hệ thống hóa, có thể thấy một số vấn đề chú ý sau:
Một là, các công trình bước đầu đã làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp ởnước ta. Đặc biệt là, ởmột mức độnhất định, có một số công trình đã nhận định được một cách đúng đắn rằng, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là trách nhiệm của nhà nước, là cách thức, thông qua đó, Nhà nướcthực hiện được chức năng kinh tế của mình.
Hai là, có nhiều công trình ở tầm luận văn thạc sĩ nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, khoa học liên quan đến khái niệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và các vấn đềxã hội xoay quanh khái niệm hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp. Cụthểlà, bước đầu phân biệt giữa hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của Nhà nước với các dịch vụ hỗ trợ pháp
lý của các tổ chức dịch vụ pháp lý, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các công trình mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những định nghĩa, khái niệm về hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp mang tính truyền thống của Việt Nam trên cơsởtiếp cận quyđịnh pháp luật thực địnhvà thực tiễn diễn ra trong thời gian qua. Hầu hết các tác giả nghiên cứu trong nước đều cho rằng, công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là một nhiệm vụcủa nhànước.Ngoài ra, các công trình nghiên cứu trước đây cũng đã cho thấy nội hàm của pháp luật về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là một tập hợp các quy phạm pháp luật quy định về đối tượng, nội dung, hình thức và trách nhiệm của các bộ, ngành vàđịa phương trong việc thực hiện các hoạt động hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan nên nhìn chung, các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ.
Ba là, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào ở cấp nghiên cứu sinh Tiến sĩ đưa ra các định hướng, các giải pháp một cách tổng thể, lâu dài nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện cũng chỉ mang tính chất cục bộ, chắp vá và liên quan đến từng khía cạnh, từng nội dung về khách thể, chủ thể, hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mà chưa nghiên cứu một cách tổng thể các vấn đề có liên quan.
Tóm lại, có khá nhiều công trình nghiên cứu như đã kể trên nghiên cứu về vấn đềhỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp từ mặt lý luận cho đến thực tiễn thực hiện các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau. Vì vậy, các công trình nghiên cứu trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, làm cơ sởquan trọng đểLuận án nghiên cứu và tham khảo phát triển những kiến nghị mới, đầy đủ, toàn diện và xác đáng hơn. Đặc biệt là những nội dung còn bỏngỏhoặc chưa được giải quyết triệt đểsẽlànhững gợi mở quan trọng để tác giải định hướng cho những vấn đề nghiên cứu tiếp theo mà tác giả sẽ thực hiện.
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝCHO DOANH NGHIỆP
VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP
Trong tổngsố624.000 doanh nghiệp Việt Nam14 thì 97,7% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ. Nghị định số 66/2008/NĐ-CP xác định rõ đối tượnghỗ trợ pháp lý là doanh nghiệp, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp quy định tại Nghịđịnh nàyđượcthực hiện đối vớimọi doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức tổ chức, quy mô kinh doanh và lĩnh vực hoạt động (khoản 1Điều3). Doanh nghiệp theo Nghịđịnh số66/2008/NĐ-CP đượchiểu là doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân kinh doanh (Điều 1).
Pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đến Nghị định số 55/2019/NĐ- CP đượcban hành (thay thế Nghị định số66/2008/NĐ-CP)mặcdù tên gọi là Nghị định về hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưngtạiĐiều19 Nghị định quy định hỗtrợpháp lý chođối tượngkhông phải là doanh nghiệp nhỏvà vừa, cụthể như sau:“Tùythuộc vào nguồn lực, các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh, tổ chức đại diện cho doanh nghiệp có thể quyết định áp dụng các quy định về hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đểhỗtrợpháp lý chotổchức, cá nhân kinh doanh không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Trên thực tế từ năm 2008 (năm ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP)đến nay (khi ban hành Nghị định số 55/2019/NĐ-CP) công táchỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp vẫn thực hiện hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp nói chung (tùy thuộc vào nguồn lực) không phân biệt hình thức sở hữu và quy mô hoạt động, nhưng tập trung nguồn lực hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của Luận án, Nghiên cứu sinh vẫn sử dụng thuậtngữ “hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp”là chủyếu, tuy nhiên, các hiểuởđâylà hỗtrợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung, trongđó tập trung vào hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.1. Những vấn đề lý luận về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
14 Tính đến hết năm 2019.
1.1.1.1. Khái niệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Việc hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏvà vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, sáng tạo trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước trên thếgiới. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, do vẫn còn cónhững quan điểm khác nhau về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp này nên chưa có một khái niệm chính thức về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung trên thế giới trong phạm vi hiểu biết của tác giả và ngay tại Việt Nam cũng có những quan điểm còn khác nhau.
Quan điểm thứ nhất15 của một số nước trên thế giới và ngay tại Việt Nam cũng cóý kiến cho rằng, doanh nghiệp phải tự thân thực hiện pháp luật, Nhà nước không được hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp vì hànhđộng này có thểlàm ảnhhưởng đến sựphát triển của thịtrường dịch vụpháp lý tại Việt Nam, có thểgây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp với nhau.
Quan điểm thứhai16 của một sốnước và Việt Nam đã được ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật thì cho rằng, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, sáng tạo là một loại dịch vụ công, là một chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước đối với doanh nghiệp. Việc hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp nhỏ và vừa là hợp lý, cần thiết, không mâu thuẫn với nguyên tắc bìnhđẳng giữa các loại hình doanh nghiệp và không vi phạm các cam kết quốc tếcũng nhưthực tiễn ở nhiều nước trên thế giới (hầu hết các nước thuộc Cộng đồng chung Châu Âu coi việc thông tin và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ vàvừa nói riêng là trách nhiệm của Nhà nước. Tại Cộng hòa Pháp, năm 1978 đã ban hành Luật số 78-753 quy định cơ quan nhà nước có trách nhiệm trả lời chính xác mọi câu hỏi của cá nhân và doanh nghiệp có liên quan đến các quy định pháp luật17. Tại nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan… bên cạnh việc hỗ trợtrực tiếp về tài chính, kỹ thuật, cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đang
15TrầnHữuHuỳnh, Trưởng ban Pháp chế của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tại Hội thảo ngày 9/8/2007 do Bộ Tư pháp tổ chức tại Hà Nội.
16Trương Thanh Đức (2010), Doanh nghiệp mong gì từ hỗ trợ pháp lý”,Tạp chí dân chủ và pháp luật.
PGS-TS. Dương Đăng Huệ (2/2012), Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp năm 2013 vàđịnh hướng hoạt động năm 2014, Tạp chí dân chủ và pháp luật.
17 Nguồn: Báo cáo của Chương trình hỗ trợ kỹ thuật của EC cho Việt Nam (ETV2) tại Hội thảo: “Kinh nghiệm một số nướcvề trợ giúp pháp luật cho doanh nghiệp và nghiêncứuvậndụng tại Bộ Tài chính” ngày 15/11/2007.
được vận hành hiệu quả, đặt trọng tâm vào các giải pháp phòng tránh rủi ro pháp lý trong kinh doanh, hỗ trợ cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, qua đógiúp doanh nghiệp tại các quốc gia này tránh những thua thiệt không đáng có, ngày càng khẳng định vịthếkhôngchỉtạithịtrường nộiđịa mà ngày càng phát triển vững bền trên trường quốc tế). Việc hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp không những không ảnh hưởng đến thị trường dịch vụ pháp lý mà còn là biện pháp thúcđẩy thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam phát triển.
Loại quan điểm thứ ba18 của một số nước và ở Việt Nam vẫn có một số quanđiểm vẫn cho rằng, hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là trách nhiệm của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp. Các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp phải là tổ chức nòng cốt và chủ yếu trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thành viên; Nhà nước chỉđóng vai trò quản lý nhà nước đối với công tác này.
Mỗi loại quan điểm nêu trên đều có những cơ sở, lý lẽ riêng, tuy nhiên, theo tác giả, việc hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp, nhất là cho doanh nghiệp nhỏvà vừa trongđiều kiện kinh tế- xã hội củaViệt Nam hiện nay và trong thời gian tớivẫn cần phải được coi là một nhiệm vụ (chức năng) quan trọng của Nhà nước ta với các lý do như: (1) nhận thức về pháp luật của nhiều chủ sở hữu, doanh nghiệp còn hạn chế (97,7% doanh nghiệp Việt Nam là vừa và nhỏ, nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ)19; (2) nhiều doanh nghiệp vẫn còn khó khăn trong việc thực hiện pháp luật (kể cả việc tiếp cận thông tin pháp luật và thuê dịch vụtưvấnpháp luật). Trong khi đó, các công chức, cơ quan quản lý nhànước chưa thực sựquan tâm, làm tròn trách nhiệm trong việc thông tin, hướng dẫn, tổchức thi hành pháp luật cho doanh nghiệp20; nhiều thắc mắc, ý kiến phản hồi của doanh nghiệp về các quy định pháp luật chưa được giải đáp kịp thời và chưa tiếp thu hiệu quảcác ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật, nhất là các quy định pháp luật trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
18Luật gia Vũ Xuân Tiền – Giám đốc Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam tại Hội thảo ngày 9/8/2007 do Bộ Tư pháp tổchức tại Hà Nội.
19 Báo cáo số 150/BC-TCTK ngày 27/9/2019 của Tổng Cục Thống kê,Bộ Kế hoạch và Đầutư.
20 Báo cáo số 319/BC-BTP ngày 28/12/2018 của Bộ Tư pháp tổng kết 10 năm thi hành Nghị định số 66/2008/NĐ- CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
Trên thực tế, từ năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 vềhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp, trong đó đã thiết lập cơ chếthực hiện các hình thức, nội dung củahoạt động hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp và trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện hoạt động này với một số vấn đề khác có liên quan. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số585/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014, định hướng đến năm 2020 (Quyết định số2139/QĐ-TTg ngày 28/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện và điều chỉnh các hoạt động Chương trình hỗtrợpháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010- 2014), Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 157/2010/TTLT- BTP-BTC ngày 12/10/2010 hướng dẫn lập, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí dành cho hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương đã ban hành các Chương trình hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi Bộ, ngành và địa phương nhưBộGiao thông vận tải,BộQuốc phòng,Ủyban nhân dân TP. Hà Nội, TP. HồChí Minh, Sóc Trăng, Bình Phước, Phú Thọ, Quảng Ngãi…Đặc biệt, ngày 12/6/2017, Quốc hội khóa XIV tạikỳhọp thứba ngày 12/6/2017đã thông qua LuậtHỗtrợdoanh nghiệp nhỏvàvừa năm 2017, trong đó, tạiĐiều14đã quyđịnhvềhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa21. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 vềhỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm thực hiện khoản 3 Điều 14 của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nêu trên.
Bên cạnhđó,Chính phủ đã ban hành các Nghị quyếtvề hỗtrợdoanh nghiệp như:
Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, theo đó, Chính phủ cam kết đổi mới môi trường kinh doanh cũng như đưa ra nhữngđích đến rất cụ thể cho doanh nghiệp Việt Nam như xây dựng doanh nghiệp Việt Nam cónăng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, phấn đấu đến năm 2020cả nước có 1 triệu
21Điều14 Luật Hỗtrợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quy định như sau: “…2.Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xây dựng mạng lưới tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (sau đây gọi là mạng lưới tư vấn viên). Doanh nghiệp nhỏ vàvừađược miễn, giảm chi phítư vấn khi sử dụng dịchvụtư vấn thuộc mạng lưới tư vấn viên. 3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện các hoạt động sau đây để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: a) Xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác vàsử dụng cơ sởdữ liệuvềpháp luật; b) Xây dựng và
tổchức thực hiện các chương trình hỗ trợ pháp lý để cung cấp thông tin, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tư vấn pháp luật. 4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.
doanh nghiệp22 hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lực mạnh; Nhà nước kiến tạo, lấy doanh nghiệp là đốitượng phục vụ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh và phát triển; xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện những quy định của pháp luật liên quan đến doanh nghiệp; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độchuyên môn và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để đảm bảo có đủphẩm chất, năng lực thực hiện tốt nhiệm vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Ngày 28/4/2016, Chính phủ cũng đãban hành Nghị quyếtsố 19-2016/NQ-CP trong đóđã xác định cụ thể các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2016 – 2017 và định hướng đến năm 2020.
Các chính sách trên cùng với sự ra đời của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và đặc biệt là việc triển khai các Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong thời gian qua đã thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước, theo đó, cần phải coi hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp là một chức năng của Nhà nước, có tính chất lâu dài chứkhông phải nhất thời như một số người đã từng quan niệm.
Như vậy, hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp nhỏvà vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp sáng tạo) đã và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, khái niệm hỗ trợ pháp lý cho
doanh nghiệp chưa được hiểu một cách thống nhất. Từ điển Luật học – Nhà Xuất bản Từđiển Bách Khoa, Nhà Xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2006, chưa đưa ra được khái niệm về “Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp”. Đề tài khoa học của Bộ Tư pháp năm 2008 về “Nghiên cứu cơ chế hỗ trợ pháp lý đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và việc mởrộng thịtrường dịch vụpháp lý trong điều kiện hội nhập kinh tếquốc tế” cũng chưa làm rõ khái niệm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mà chủ yếu nghiên cứu vềcác hình thức và cơ chế hỗ trợ pháp lý đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Theo Đạitừđiển tiếng việt, do Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nộixuất bản năm 1998 cũng định nghĩa khái niệm “hỗ trợ”, theođó, hỗ trợ được hiểu là “Sự giúp đỡ nhau, giúp thêm vào”23. Sự hỗ trợ theoĐại từ điển tiếngviệt cho thấy thường được thực hiện khi đối tượng hỗ trợ yếu hoặc chưa đủ mạnh ở một góc độ nào đó. Việc hỗ trợ
22Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ: đặt mục tiêuđếnnăm 2020 Việt Namđạt1 triệu doanh nghiệp. Tuy nhiên, năm 2020 mới đạt 624.000 doanh nghiệp (đặt 62,4% tỷ lệ mục tiêu đã đề ra).
23Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuấtbảnVăn hóa thông tin, Hà Nội, 1998, trang 835.
pháp lý cho doanh nghiệp là một trong những biện pháp do Nhà nước thực hiện, thông
qua đó mà tác động tích cực vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhiệm vụ này lại càng quan trọng hơn khi hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đang thiếu kiến thức, hiểu biết pháp luật. Tuy nhiên, Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất có thể hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, mà còn có các thiết chế khác như các hiệp hội
doanh nghiệp, câu lạc bộ, luật sư, luật gia… Các chủ thể này cũng có thể cùng Nhà nước thực hiện hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhưng Nhà nước luôn phải đóng vai trò chỉđạo.
Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 không đưa ra định nghĩa “hỗ trợdoanh nghiệp nhỏ vàvừa” là nhưthế nào nhưng trong các nội dung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa như: (1) hỗ trợ tiếp cận tín dụng; (2) hỗ trợ thuế, kế toán; (3)hỗ trợ mặt bằng sản xuất; (4) hỗ trợ công nghệ; hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; (5)hỗ trợ mở rộngthị trường; (6) hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý; và (7) hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực. Thì hỗ trợ pháp lý (nội dung hỗ trợ thứ 6)được đánh giá là nội dung hỗ trợ xuyên suốt trong 6 nội dunghỗ trợ còn lại được quy định trong Luật.
Theo quy định của Nghị định số 55/2019/NĐ-CP (khoản 1 Điều 3) thì hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là việc bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh thực hiện các hoạt động xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật cơ sởdữliệu vềpháp luật24; xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ pháp lý25 nhằm nâng cao hiểu biết, ý thức và thói quen tuân thủ pháp luật, hạn chế rủi ro, vướng mắc pháp lýtrong hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa bao hàm như sau:
– Theo đó, theo quy định của pháp luật hiện hành thìhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp là một lĩnh vực hoạt động của cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương mà
24Bao gồm: (1) cơ sở dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật; (2) cơ sở dữ liệuvề vụ việc, vướng mắcpháp lý; (3) dữ liệuvề bảnán, quyết định của tòa án; phán quyết của trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; quyết định xử lý vi phạm hành chính liên quan đến doanh nghiệp; (4) dữ liệuvề văn bản trả lời của cơ quan nhànướcđối vớivướng mắcpháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa; (5) dữ liệu về văn bản tư vấn pháp luật của mạng lưới tư vấnviên pháp luật và thủ tục hỗ trợ chi phí tư vấn pháp luật.
25 Bao gồm: Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành; Chương trình hỗ trợ pháp lý bộ, ngành và Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phạm vi địa phương.
nội dung cơ bản của nó là xây dựng chương trình, kế hoạch; triển khai chương trình, kếhoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thông qua việc áp dụng các hình thức, nội dung hỗtrợ; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kếhoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp26.
– Nói cách khác, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được hiểu là việc các cơ quan nhànướccó thẩm quyền (cácBộ,ngành,Ủyban nhân dâncấptỉnh và cácSở,ban, ngành…) thực hiệnmộtsốcông việc do pháp luật quyđịnhnhằm nâng cao tri thức pháp luật cho doanh nghiệp, hình thành ở họ ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần phòng ngừa, hạn chế tranh chấp, vi phạm pháp luật, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tóm lại, theo quan điểm của Nghiên cứu sinh, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp làviệc Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ của mình để triển khai đồng bộ các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhằm tạo chuyển biến căn bản về nhận thức pháp lý, ýthức pháp luật và thói quen tuân thủpháp luật của doanh nghiệp;tạolập cácđiều kiện cần thiết phục vụ hoạt động thực thi pháp luật để giúp doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả; phòng chống rủi ro pháp lý và tăng cườngnănglựccạnh tranh của doanh nghiệp; góp phần nâng cao công tác quản lý nhànước bằngpháp luật đối với doanh nghiệp27.
Nhà nước phải ban hành pháp luật để quy định mọi vấn đề liên quan đến hình thức hỗ trợ pháp lý quan trọng này, từ đối tượng được hỗ trợ pháp luật, nội dung, hình thức, phương thức trợ giúp pháp lý, mức độ trợ giúp, trách nhiệm của các chủ thể có liên quan
đến hoạt động trợgiúp, chếtài do vi phạm nghĩa vụnày… tất cảcác quy định đótạo thành pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của pháp luật về hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung.
1.1.1.2. Đặc điểm của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
26PGS.TS. Dương Đăng Huệ, tham luậnvề “Xác định vai trò, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhànước vàcác tổchức đại diệncho doanh nghiệp trong việc thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp” tại Hội thảo ngày 14/9/2017 tại Hà Nội do Bộ Tư pháp phối hợp JICA (Cơ quanHợptác Quốc tế Nhật Bản) tổ chức.
27 Về định nghĩa khái niệm, nhiều khái niệm quan trọng không thể định nghĩa trong luật hay luật học. Ví dụ, giới luật học đã tranh luận hàng trăm năm về khái niệm thương mại nhưng không có khái niệm chính xác nên trong Luật mẫu của UCITRAL về trọng tài thương mại đã chọn phương pháp liệt kê nhưng vẫn bỏ ngỏ theo
cách “bao gồm… nhưng không giới hạn”. Đây là cách được sử dụng khá nhiều và tùytừng trường hợp cụ thể sẽdo thẩm phán và trọng tài viên giải thích.
Qua nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn triển khai hoạt động hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp và tham khảo các công trình nghiên cứu về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cho thấy, công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứnhất,hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp nhỏvà vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp sáng tạo) là một hoạt động phản ánh chức năng kinh tế của nhà nước.
Hỗ trợ nói chung và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói riêng được nhiều nước trên thế giới quan tâm thực hiện không chỉ như một hoạt động bình thường, nhất thời màlà một công việc mang tính bản chất, thuộc chức năng của Nhà nước. Đó là vì: (1) Nhànước có nhiệm vụthiết lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho mọi doanh nghiệp thuộc mọi quy mô kinh doanh; (2) để thực hiện được nhiệm vụ này của mình thì Nhà nước nào cũng phải có chính sách ưu tiên nhất định cho các doanh nghiệp nhỏvà vừa. Nói cách khác, hỗtrợnói chung và hỗtrợpháp lý nói riêng là một trong các biện pháp mà Nhà nước cần phải thực hiện đểđảm bảo sựbình đẳng trên thực tếgiữa các doanh nghiệp có quy mô kinh doanh khác nhau.
Chức năng kinh tế của Nhà nước là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận Nhà nước và pháp luật, gắn liền với những phạm trù bản chất, nhiệm vụ, hình thức và phương pháp hoạtđộngcủa Nhà nước… vì mụcđích phát triển kinh tế. Theo từ điển tiếng Việt,“chức năng”là từ gốc Hán bao gồm hai thành tố“chức”và “năng”. Thànhtố “chức”trong cáctừ “chức phận”, “chức trách”, “chức vụ”. Thànhtố “năng”trong cáctừ “bản năng”, “nănglực”, “khảnăng”. Chức năngđượchiểu với hai sắcthái nghĩa là“hoạtđộng, tác dụng bìnhthường” và“vai tròbình thường hoặc đặc trưng”. Như vậy, chức năng kinh tế Nhà nướcđượchiểu nhưlà hoạt động, khả năng vốn có của Nhà nước trong việc điều hành và phát triển kinh tế.
Theo cách hiểu truyền thống, chức năng kinh tế của Nhà nướclà những phương diện (những phương hướng, mặt, dạng, loại) hoạtđộngchủyếucủa Nhànướcnhằm thực hiện những nhiệm vụkinh tế đặtratrướcNhà nước;chức năng kinh tế Nhà nướclà sự thể hiện vai trò của Nhà nướcđối với phát triển kinh tế, xãhội, là biểu hiệncụthể năng lực của Nhà nước;chức năngcủaNhà nướcchính là
những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể… Trongđiềukiện hiện nay, đểgóp phần phản ánh rõ nét chức năng kinh tế của nhànước trong hoạtđộnghỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp, theo quan điểm của Nghiên cứu sinh cần tiếp cận phạm trù chức năng nhànướcgắn liền với bản chất và vai trò của Nhànướcđối với đờisống xã hội, đồngthời trong mối quan hệ chặt chẽ với chức năng kinh tế, chức năng chính trị của Nhà nước. Như vậy, từ phạm trù chức năng của Nhà nướcthể hiện vai trò của Nhà nướcđối vớiđời sống xã hội có thể hình thành nên khái niệm chức năng kinh tế của Nhà nướcnhư là một bộphận của khái niệm chức năng nhà nước, cũng như chức năng xã hội, chức năng chính trị của Nhà nước. Từđó có thể hiểuhỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp là một hoạt động phản ánh chức năng kinh tế của NhànướcCộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam (hay chức năngtổchức và quản lý kinh tế) đượchiểu là những hoạtđộngchủyếu, quan trọng nhất mang tính thường xuyên, liên tụcthể hiện bản chất của Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế (thông quahỗ trợđểphát triển doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp sáng tạo).
Thứ hai, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa) làmột loại dịch vụ công mà nhà nước có trách nhiệm đảo bảo thực hiện.
Dịchvụcông là những hoạtđộngphụcvụcác nhu cầu cơ bản, thiếtyếucủangười dân vì lợi ích chung của xã hội, do nhànước chịutrách nhiệm trước xãhội(trực tiếpđảmnhận hayủyquyền vàtạođiềukiện cho khu vực tư thực hiện) nhằmbảođảmổnđịnhvà công bằng xã hội. Theo GS. TS Lê Chi Mai28 trong nghiêncứu vềdịchvụcông códẫnchứng quanđiểm
nghiên cứu dịchvụcông mà Chínhphủcung ứng có baogồm:…các hoạtđộnglậpquy thi
hành pháp luật; cung cấp thông tin tư vấn… (theo GS. Jim Armstrong về các dịch vụ công mà Chính phủ cung ứng)29.
Dịchvụcông có các đặc trưng: (1)đólà các hàng hóa, dịchvụphụcvụcho lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩavụcơbảncủacáctổchức và công dân; (2) do nhànước
28“Cải tiến việc cung ứng dịch vụ công, một giải pháp quan trọng đểđạt được mụctiêu cải cách hành chính”. Tác giả: GS. TS. Lê Chi Mai. Tạp chí Thanh tra, số 3, 2001.
29https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/05/24/d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-
cng/#:~:text=D%E1%BB%8Bch%20v%E1%BB%A5%20c%C3%B4ng%20l%C3%A0%20nh%E1%BB%AFng,nh%C6%B0%20%C4% 91i%E1%BB%87n%2C%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%20sinh%20ho%E1%BA%A1t%E2%80%A6 (truy cập ngày 11/9/2020).
chịu trách nhiệm trước xãhội(trực tiếp cung cấp hoặcủynhiệm việc cung cấp). Ngaycảkhi nhà nước chuyển giao dịchvụnày cho tư nhân cungcấpthì nhànước vẫncó vai tròđiềutiếtđặcbiệt nhằmbảođảmsựcông bằng trong phân phối các dịchvụnày và khắc phục các khiếm khuyếtcủathịtrường; (3) là các hoạtđộngcó tính chất phụcvụtrực tiếp,đápứng các nhu cầu, quyền lợi hay nghĩavụcụthểvà trực tiếp của cáctổchức và công dân; (4)bảođảm tính công bằng và tính hiệu quả trong cungcấpdịch vụ.
Ở Việt Nam, tập trung nhiều hơn vào chức năng phục vụ xã hội của nhà nước, màkhông bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngoại
giao,… qua đó nhấn mạnh vai tròchủ thể củanhà nước trong việc cung cấp các dịchvụcho cộng đồng. Điều quan trọng là Việt Nam phải sớm tách hoạt động dịchvụcông (lâu nay gọi là hoạt động sự nghiệp) ra khỏi hoạt động hành chính công quyền như chủ trương của Chính phủ đã đề ra nhằm xóa bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải cho bộ máy nhà nước, khai thác mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội và nâng cao chất lượng của dịch vụ công phục vụ người dân. Khoản 1 Điều 39 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2019) quy định: “Bộ, cơ quan ngang bộlà cơ quan của Chínhphủthực hiện chức năng quản lý nhà nước về một hoặc một số ngành, lĩnh vực và dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc.”. Điều này không có nghĩa là nhà nước độc quyền cung cấp các dịch vụ công mà trái lại nhà nước hoàn toàn có thể xã hội hóa một số dịch vụ, qua đó trao một phần việc cung ứng một phần của một số dịch vụ kể cả hoạtđộnglập
quy thi hành pháp luật; cung cấp thông tin tư vấn… cho khu vực phi nhà nước thực hiện.
Có thể thấy rằng khái niệm, đặc điểm và phạm vi các dịch vụ công cho dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, chúng đều có tính chất chung là nhằm phụcvụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội; bảođảmtính công bằng và tính hiệuquảtrong cungcấpdịchvụ.Các hoạtđộnghỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp nhỏvà vừa) mangđầyđủđặcđiểmcủadịch vụcông (xétvềmặtchủ thể cung cấp,đốitượng thụhưởng, quy trình,thủ tụccungcấpdịchvụ,cơchếkiểm soát,đảmbảo chất lượng dịchvụ
công…), ngoài ra,yếutốhỗtrợpháp lý miễn phí cho doanh nghiệp làđặcđiểmquan trọng củadịchvụhỗtrợnày.
Thứ ba,đối tượng thụ hưởng hoạt độnghỗ trợ pháp lý là các doanh nghiệp nhỏvà vừa thuộc mọithành phần kinh tế, không phân biệt hình thức sởhữu và mô hìnhtổchức.
Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 (Điều 2 và Điều 14), Nghịđịnh số 55/2019/NĐ-CP (Điều 2), việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thực hiện đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp, sáng tạo. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: (i) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷđồng; (ii) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ30.
Đồng thời vớiviệc ghi nhận nguyên tắcNhà nước chỉhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nghị định số 55/2019/NĐ-CP cũng có quy định mang tính mở, đó là, tùy thuộc vào nguồn lực, các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh,tổchức đại diện cho doanh nghiệp có thể quyết định áp dụng các quy định về hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp nhỏ và vừa để hỗ trợ pháp lý cho tổ chức, cá nhân kinh doanh không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa (Điều 19). Đây là đặc thù của công tác hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, lại không phải là ưu điểm mà là hạn chế vì về nguyên tắc (thông lệ quốc tế) các nước chỉ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏvà vừa mà không hỗ trợ cho doanh nghiệp lớn.
Thứ tư,hoạt độnghỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thực hiện thông qua các hình thức và nội dung hỗ trợ do pháp luật quy định phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.
Nội dunghỗtrợpháp lý tập trung vào những vấn đềpháp luật mà doanh nghiệp gặp phải trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Hình thức hỗ trợ pháp lý là những phương thức hoạt động của chủthểhỗtrợ, qua đó, việc hỗtrợđược thực hiện, mang lại lợi ích
30Điều4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa.
cho đối tượng được hỗ trợ. Nội dung và hình thức hỗ trợ được pháp luật quy định rõ ràng, cụ thể.
Được hỗ trợ pháp lý là một nhu cầu của doanh nghiệp và việc đáp ứng nhu cầu này là nghĩa vụ của Nhà nước. Tuy nhiên, do nhu cầu hỗ trợ thì nhiều, khả năngđáp ứngcủa Nhà nước lại có hạn nên công tác hỗ trợ (nội dung và hìnhthức hỗtrợ) luônđược Nhànước xác định theo từng thời kỳ và phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong từng giaiđoạn, từng địa bàn.
Thứ năm, hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thực hiện trên cơsởphối hợp giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp.
Phối hợp là mối quan hệ giữa hai hay nhiều chủ thể khác nhau trong quá trình triển khai, thực hiện một công việc nào đó nhằm đạt mục đích chung. Nói cách khác, phối hợp là sựlàm việc cùng với nhau của từít nhất hai chủthểtrởlên, hành động theo một kếhoạch chung nhằm đạt được mục tiêu chung. Phối hợp trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là việc các chủthểcó chức năng hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp cùng nhau bàn bạc, xây dựng và thực hiện các hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm đạt được mục đích chung là nâng cao tri thức pháp luật vàýthức tôn trọng, chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, góp phần bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh, phòng ngừa, hạn chếtranh chấp và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhànước với các tổchứcđại diện cho doanh nghiệp trong hoạt độnghỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp là rất cần thiết vì hoạt động củadoanh nghiệp là rấtđa dạng, liên quan đếnchức năng quản lý nhà nước của nhiều Bộ,ngành, địa phương và chức năngđại diện của nhiều hiệp hội doanh nghiệp. Mỗi cơ quan quản lý nhà nước cũng như mỗi tổ chức đại diện cho doanh nghiệp đều cóchức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng biệt. Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước cũng như chức năng đại diện cho doanh nghiệp là hoàn toàn độc lập với nhau. Do vậy, đểđạt được sự thống nhất trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và cùng hướng đến một mục tiêu chung, các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức có liên quan cần phải phối hợp với nhau, tránh việc chồng chéo và trùng lắp trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
1.1.2. Sự cần thiết hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Trong thời gian qua, Nhà nước ta đãban hành nhiều đạo luật quan trọng như:
Hiến pháp, Bộluật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Hợp tác xã, Luật
Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Sởhữutrí tuệ, Luật Phá sản… và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các văn bản pháp luật này đãtạo nên một khung pháp lý tương đốiđầy đủvà thuận tiện cho các doanh nghiệp hoạt động. Trên thực tế, so với thời kỳ trước đổi mới, các doanh nghiệp vàcác chủthểkinh doanh khác được thành lậpngày càng nhiều vềsốlượng, đa dạng vềquy mô và hình thức hoạt động(tínhđến ngày 31/12/2019, tổngsốdoanh nghiệp đang hoạtđộngởViệt Nam là 624.000 doanh nghiệp)31. Kết quảhoạt động của lực lượng doanh nhân này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, theo đánh giá của BộTư pháp, hoạt động của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó có việc thực hiện pháp luật32. Trình độ hiểu biết luật pháp và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận chủ sở hữu và người quản lý chưa cao; một số doanh nghiệp còn làm ăn không trung thực, cố tình vi phạm quy định pháp luật; quản trịnội bộdoanh nghiệp còn yếu, chưa minh bạch;… Sựhạn chếtrong việc thực hiện pháp luật của doanh nghiệp là do những nguyên nhân từhai phía gây ra: phía doanh nghiệp và phía Nhànước.
Về phía doanh nghiệp, có những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, nhận thức về vai trò, ý nghĩa của pháp luật của nhiều chủ sở hữu, người quản lý doanh nghiệp còn hạn chế (Kết quả điều tra của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014 cho thấy trongsố1237 doanh nghiệp đượckhảo sát thì cókhoảng 70đến 80% sốdoanh nghiệp không hiểu hoặc hiểu khôngđầyđủcác quyđịnh pháp luật cơ bản về kinh doanh; có nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức vềpháp luật.)33. Tình trạng doanh nghiệp không chú ý tới việc tìm hiểu và thực hiện pháp luật là phổ biến. Nhiều doanh nghiệp chưa ý thức được tầm quan trọng của dịch vụ
31 Báo cáo ngày 31/12/2019 của Tổng cục Thống kê – Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố chỉ số phát triển doanh
nghiệp đối với các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương năm 2019.
32Báo cáo của Bộ Tư pháp về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp năm 2014.
33 Báo cáo số 319/BC-BTP ngày 28/12/2018 của Bộ Tư pháp tổng kết 10 năm thi hành Nghị định số 66/2008/NĐ-
CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
pháp lý, chưa có thói quen sử dụng tư vấn pháp luật để áp dụng, thi hành pháp luật vàphòng, chống rủi ro trong kinh doanh.
Nghị quyếtsố11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trungương 5 Khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhận định:xây dựng và hoàn thiện thểchếkinh tếthịtrường là nhiệm vụchiến lược, khâu đột phá quan trọng, tạo động lực đểphát triển nhanh và bền vững, trong khi đó, “Năng lực thực thithểchếcòn nhiều bất cập, chưa theo kịp với sựphát triển của nền kinh tế thị trường” (điểm 1 phần I Nghị quyết).
Theo kếtquảkhảo sát năm 2016 của Phòng Thươngmạivà Công nghiệp Việt Nam đốivới doanh nghiệp thì doanh nghiệp đánh giá vềtầm quan trọng của dịchvụpháp lý như sau:
Nguồn: Khảo sát về dịch vụ Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (GIZ, Swisscontact và VCCI) năm 2016.
Kết quảkhảo sát trên cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đánh giávềtầmquan trọng của dịch vụ pháp lý mới xếp thứ 5 (chiếm 62%), sau tầm quan trọng của các dịch vụ khác như quảng cáo và khuyến mại (77%), dịch vụ thông tin trên internet (76%), dịch vụ kế toán và kiểm toán (74%) và dịch vụ máy tính (65%).
Thứhai, nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong thực hiện pháp luật do ítđược sửdụng tưvấnpháp luật miễn phí và hoạtđộnghỗtrợcủacác hiệp hội doanh
nghiệp về vấn đề này còn nhiều bất cập34. Thực tế này khó giải quyết vì tuyệt đại đa sốcác doanh nghiệp hiện nay là nhỏ và vừa, tiềm lực tài chính eo hẹp.
Kết quả khảo sát năm 2016 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Namvềnhững vướngmắc, khó khăn của doanh nghiệp nói chung, trong đócó khó khăn trong
thực hiện pháp luật (thực hiện các thủ tục hành chính, pháp lý…) như sau:
Kết quả Điều tra PCI 2016 trên cho thấy, thực hiện các thủ tục hành chính, pháp lý đứng thứ 4 và chiếm 25% tỷ lệ doanh nghiệp được điều tra, khảo sát, xếp thứ tự sau khó khăn hàng đầu của doanh nghiệp là về tìm kiếm khách hàng (65%), sau đó đến tìm kiếm nguồn vốn (44%) và tìm kiếm nhân sự thích hợp (31%).
Khó khăn về pháp lý được xếp cao hơn cả tìm kiếm mặt bằng kinh doanh phù hợp
(20%), tìm kiếm nhà cung cấp (20%) và tìm kiếm công nghệ phù hợp (14%)… Nhiều doanh nghiệp cho rằng, nếu khó khăn về pháp lý được giải quyết thì các khó khăn sau đó
(tìm kiếm mặt bằng kinh doanh, tìm kiếm nhà cung cấp…) cũng có thể được giải quyết, qua đấy đánh giá được các khó khăn của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.
Thứba, các doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận với thông tin pháp luật. Theo báo cáo của Bộ Tư pháp năm 201635 thì có khoảng 25% doanh nghiệp được thốngkê cho rằng, việc tiếp cận với văn bản pháp luật là khó hoặc không thể. Điều này đã ảnh hưởng đến sựhiểu biết củangười quản lý doanh nghiệp vềhệthống pháp luật kinh doanh của nhà nước ta và do đó, cũng gây khó khăn cho họ trong việc thực thi pháp luật.
34Cáctổchứcđạidiện cho doanh nghiệp hiện nay chỉ có 30% đang hoạt động tốt, số còn lại hoạt động cầm chừng, không hiệu quả (Báo cáo năm 2018 của Bộ Nội vụ về công tác hội).
35 Báo cáo số 187/BTP-PLDSKT ngày 15/01/2017 của Bộ Tư pháp về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
Kết quảkhảo sát PCI năm 2016 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy, việc tăng cường khả năng tiếp cận thông tin pháp lý cho doanh nghiệp có dấu hiệu chững lại vì doanh nghiệp vẫn chưa thuận lợi trong việc tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật chính thống như văn bản hướng dẫn của các cơ quan Trungương, công báo tỉnh, biểu mẫu thủ tục hành chính. Doanh nghiệp càng khó khăn hơn khi tiếp cận các thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, ngân sách nhà nước, các dự
án đầu tư xây dựng hạ tầng, các chính sách ưu đãi đầu tư…
Vềphía Nhà nước, việc thực thi pháp luật của các doanh nghiệp gặp khó một phần cũng do một số nguyên nhân từ phía Nhà nước, trong đó có hai nguyên nhân chủyếu là:
Thứ nhất, nhiều cơ quan quản lý nhà nước chưa thực sự quan tâm đến việc thông tin, hướng dẫn, tổ chức thi hành pháp luật cho doanh nghiệp36. Theo Luật Tổ chức Chính phủ thì Chính phủ có nhiệm vụ bảo đảm việc thi hành pháp luật của tổ chức, cá nhân nói chung và của doanh nghiệp nói riêng37. Luật Doanh nghiệp năm 1999, năm 2005 và năm 2014 (và nay là năm 2020) cũng có các quy định, theo đó, việc thông tin, phổ biến và tổchức thi hành các văn bản pháp luật là một trong các nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp38. Trách nhiệm của Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc hướng dẫn, tổchức thực hiện pháp luật cũng đã đượcquy địnhtại Nghịđịnh số86/2002/NĐ-CP ngày 5/11/2002 của Chính phủvềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Bộ, cơ quan ngang Bộ(được thay thếbằng Nghịđịnh số178/2007/NĐ-CP, Nghịđịnh số 36/2012/NĐ-CP và nay là Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016)39 và Nghị định số 171/2004/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 29/9/2004 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (được thay thếbằng Nghịđịnh số13/2008/NĐ-CP và nay là Nghịđịnhsố24/2014/NĐ-CP ngày 4/4/2014)40. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động củacác cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh vực này được đánh giá là còn nhiều bất cập. Các doanh nghiệp nhỏ và
36 Báo cáosố319/BC-BTP ngày 28/12/2018 của BộTư phápvề việc tổng kết 10 năm thi hành Nghị địnhsố66/2008/NĐ-CP.
37Điều6 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015.
38Điều208 và Điều 209 Luật Doanh nghiệp năm 2014. 39Điều6 Nghị định số 123/2016/NĐ-CP.
40Điều4 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP.
vừa, nhất là tại các địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận với pháp luật, thông tin pháp luật và thực thi pháp luật;
Thứ hai, nhiều thắc mắc của doanh nghiệp về nội dung các quy định pháp luật vàviệc áp dụng pháp luật chưa đượccác cơ quan Nhànướccó trách nhiệm giải đáp kịp thời, do đó, cũng làm cho việc thực thi pháp luật của doanh nghiệp gặp khó khăn41. Thực tế thời gian qua cho thấy, tình trạng doanh nghiệp yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước giải đáp pháp luật nhưng không nhận được trả lời, hoặc trả lời không kịp thời còn phổ biến. Những bất cập này đãkhông tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện tốt pháp luật nhằm giảm thiểu rủi ro và kinh doanh có hiệu quả.
Các nguyên nhân từ hai phía được nêu và phân tích trênđây đãlàm cho việc nắm bắt và việc thực thi pháp luật của doanh nghiệp trởnên kém hiệu quả. Pháp luật được ban hành nhưng chưa được tổchức thi hành tốt đã ảnh hưởng tới việc xây dựng môi trường kinh doanh, đầu tư thuận lợi, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.Đốivới doanh nghiệp, cùng với những hạn chếvềvốn, công nghệ, kinh nghiệm, thịtrường…, việc hiểu biết pháp luật hạn chếđã làm cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam đã thấp lại càng thấp hơn, gây bất lợi cho doanh nghiệp nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay42. Vì vậy, sự hỗ trợ về mặt pháp lý cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa là một việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu các cam kết quốc tế, nhất là các cam kết quốc tếtại các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã tham gia, việc hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung, trong đó cóhỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp nhỏvàvừa trong giai đoạn hiện nay) không vi phạm các cam kết quốc tế do Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đề ra43, hay Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hay các hiệp định thương mại tựdo khác. Đặc biệt, việc hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp,
41Điều8 Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ vàvừa quy định trách nhiệm giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp của các cơ quan nhà nước.
42Thực tế cho thấy, trong 10 năm (2007-2017) gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới được cải thiện đáng kể, tuy nhiên sức cạnh tranh của doanh nghiệp vẫncòn thấp, độ ổn định chưa cao. Nguồn: Trang tin Bộ Ngoại giao.
43 Trong Báo cáo của Ban Công tác về Việt Nam gia nhập WTO ngày 31/01/1995, tại đoạn 78 và 79 nêu rõ: Việt Nam đã cam kết tất cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay do nhà nước kiểm soát và các doanh nghiệpđượchưởng độc quyền, đặcquyền sẽ thực hiện mua bán hàng hóa trong thương mại quốc tế chỉ dựa trên các tiêu chíthương mại, nghĩa là theo cơ chế thị trường.
nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng không vi phạm các nguyên tắc thị trường, vì các quy định không có quy định đến việc hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp bằng tiền, không thực hiện bao cấp để doanh nghiệp ỷ lại, không chịu lớn để nhận được các chính sách ưuđãi của Nhà nước.
Hoạt độnghỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (trong đó có một phần là hỗ trợ thông tin pháp lý, hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp, hỗtrợtư vấn pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa) đã được nhiều quốc gia trên thế giới Luật hóa nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đối mới, sáng tạo, phát triển, hạn chế rủi ro pháp lý trong kinh doanh và cạnh tranh bìnhđẳng với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đóng góp vào sự phát triển của nền kinh
tế. Tại Hàn Quốc, việc bảo vệ và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được ghi nhận trong Hiến pháp44.
1.1.3. Vai trò của hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh thì được Nhà nước hỗ trợ. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quyđịnhcác hình thức hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm: (1) hỗ trợ tiếp cận tín dụng; (2) hỗ trợ thuế, kế toán; (3) hỗ trợ mặt bằng sản xuất; (4) hỗ trợ công nghệ; (5) hỗ trợ mở rộng thị trường: (6) hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý; và (7) hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực. Hỗtrợpháp lý được Luật Hỗtrợdoanh nghiệp nhỏvà vừa năm 2017 dành riêng một điều là Điều 14 và đã được cụ thể hóa tại Nghị định số 55/2019/NĐ- CP và các văn bản hướng dẫn khác có liên quan.
Như trên đã trình bày, Nhà nước thực hiệnsựhỗtrợcủa mình đối vớidoanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua nhiều hình thức khác nhau như hỗ trợ về thuế, mặt bằng sản
xuất, về tín dụng, về nguồn nhân lực… Các hoạt động hỗ trợ này muốn được thực hiện đều phải được pháp luật hóa, tức là phải được pháp luật quy định một cách chặt chẽ, đầy đủ về hình thức, nội dung, trình tự, thủ tục thực hiện (triển khai) các hoạt động hỗ trợ này trên thực tế.Nói cách khác, không có pháp luật thì các hình thức hỗtrợmà Nhànước cam kết thực hiện (áp dụng) đối với doanh nghiệp nhỏvà vừa đều không thểthực hiện được.
44 Báo cáo số 145/BTP-PLDSKT ngày 16/12/2013 của Bộ Tư pháp về kết quả khảo sát kinh nghiệmnướcngoài về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.
Đối với hỗtrợ pháp lý cũng vậy, Nhà nước phải ban hành pháp luật để quy định mọi vấn đề liênquan đến hình thức hỗ trợ quan trọng này,từ đối tượng được hỗ trợ pháp luật, nội dung, hình thức, phương thức trợ giúp pháp lý, mức độ trợ giúp, trách nhiệm của
các chủ thể có liên quan đến hoạt động trợ giúp, chế tài do vi phạm nghĩa vụ này… tất cảcác quy định đó tạo thành pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của pháp luật về hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏvà vừa nói chung.
Hoạt độnghỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp có vai trò quan trọng thể hiện ở nhữngđiểm như sau:
Thứnhất, hoạtđộng hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp góp phần nâng cao nhận thức về vai trò và tác dụng của pháp luật, qua đó tạo lập thói quen tôn trọng và tuân thủpháp luật của doanh nghiệp. Đa số doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, sáng tạo hiện nay tham gia vào thương trường không chỉ với nguồn lực, công nghệ yếu kém mà còn vớikiến thức pháp luật hạnchế. Vì vậy, hơn ai hết, các doanh nghiệp này rất cần nhận được sự hỗ trợ về mọi mặt của Nhà nước, trongđó có sự hỗ trợ về mặt pháp lý. Thông qua các hình thức hỗ trợ pháp lý, đặc biệt là các chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành, các doanh nghiệp sẽ biết được tác dụng to lớn của
pháp luật đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình và chính vì vậy, nhận thức được vai trò, ý nghĩa to lớn này của pháp luật mà doanh nghiệp sẽ quan tâm nghiên cứu, nắm bắt pháp luật đồng thời tạo lập cho mình thói quen và ý thức tuân thủ pháp luật. Tóm
lại, tác dụng đầu tiên của hoạt động hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp là góp phần nâng cao tri thức pháp lý (kiến thức pháp lý) cho các doanh nghiệp.
Thứ hai, hoạt động hỗ trợ pháp lý tạo lập các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động thực thi pháp luật đểgiúp doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Thông qua các hình thức, nội dunghỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp, hoạt động hỗtrợpháp lý cho doanh nghiệp sẽ nâng cao kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp có đủnăng lực để sử dụng pháp luật như một công cụ pháp lý quan trọng và hiệu quả trong việc
giải quyết các vấn đềphát sinh mà doanh nghiệp gặp phải trong hoạt động sản xuất –kinh doanh của mình.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP – PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp – Pháp luật và thực tiễn thi hành

49
50
