Hệ thống cơ quan của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý dolựa chọn đề tài
Tháng 4 năm 2001,Đại hộiĐại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam họp vào thờiđiểmcó ý nghĩa trọng đại, kết thúc thế kỷ XX, bước
vào thế kỷ mới – thế kỷ XXI, Đảng, Nhà nước ta đứng trước những thách thức trong thời kỳ mới, cần đề ra những quyết sách để phù hợp, nhằm nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạtđộng của Bộ máy nhà nước. Trong bối cảnh đó, Nghịquyết Đại hộiIX củaĐảng đãđưara nhiều chính sách quan trọng trên các lĩnh vực nhằm đáp ứng những đòihỏitrong tình hình mới. Đặc biệt là Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.”
Trong Nghị quyết 48- NQ/TƯ vềhoàn thiệnhệthống pháp luậtcủaViệt Nam đến năm 2010,định hướng đến năm2020,đã đề cập đến mộtnộidung vô cùng quan trọng, muốn “xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật”, nộidung cơ bản cần đặtra đó là “xây dựng và hoàn thiện pháp luậtvề tổ chức và hoạtđộng của các thiết chế trong hệ thống chính trị phùhợpvới yêucầuxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân vàvì nhân dân” và thiết chế đầu tiên trong hệ thống chính trị mà Đảng ta quan tâm
chính là Quốc hội – “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạtđộng của Quốc hội, đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, bảo đảmtốthơn tính dân chủ, pháp chế, công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật; trong đó, cácđạoluật ngày cànggiữvị trí trung tâm, trực tiếpđiềuchỉnh
các quan hệxã hội…”
Như vậy, xây dựngmộtQuốchộivững mạnh khôngchỉđápứngyêu cầu về việc hoàn thiện tổ chức bộ máy trước đòihỏicủa quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, mà mộtQuốc hộihoạtđộng hiệu quả còn là cơ sở để hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, tạo ra tiền đề vững chắc cho việc xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa – với đặc trưng quan trọng là “sự thượng tôn của pháp luật.” Với sự định hướng cụ thể và rõ ràng như vậy, trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều những hoạtđộng nhằmhoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạtđộng của Quốc hộinói chung và các cơ quan của Quốc hộinói riêng. Đặc biệt là việc chú trọng hơn nữa đến hoạt động của Ủy banthường vụQuốc hội và hệ thống ủy ban của Quốc hội. Tuy nhiên, cũng không khó khăn đểnhận thấy rằng, quá trình hoàn thiện và đổimớitổ chức và hoạt động của Quốc hộidiễn ra một cách không đồng bộ, thiếu tính toàn diện,chủ yếu mớichỉdừng lại ởviệc xem xét và cải thiệnởtừng cơ quan chuyên môncủaQuốc hội màchưa có một nghiên cứu,mộtphương án nào đặt các cơ quan của Quốc hộidưới cái nhìn của một chỉnh thể thống nhất và nghiên cứu, đề ra phương án mang tính hệ thống, những giải pháp mang tính lý luận vớimộttầmnhìn dàihạn để có thể đưa ra một mô hình tổ chức Quốc hội phù hợp với bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày 28 tháng 11 năm 2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp nước cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Hiến pháp của thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa vớinhiều nộidung tiếnbộ,trong đó đặc biệt ghi nhận nguyên tắc:“Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Nguyên tắc này nhấn mạnh việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước ở cấp trung ương, trong đó quyền lập pháp giao cho Quốc hội, quyền hành pháp giao cho Chính phủ, và quyền tư pháp được giao cho Tòa án.Vớisự minh bạch và phân công cụ thể về chức năng và nhiệmvụ quyền hạn cho từng cơ quan như vậy, đồngnghĩa với
việc vịtrí của Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất được tăng cường và khẳng định.Hiến pháp 2013, khẳng định mộtcách mạnh mẽ mộtlần nữa
chức năng lập pháp – chức năng quyết định lựa chọn điều chỉnh một quan hệ xã
hộivà điều chỉnh quan hệ xã hội đó như thế nào? Giao cho Quốc hội – cơ quan đạidiện cao nhấtcủa ngườidân nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Hơn thế nữa, Hiến pháp 2013 cònbổsung thêm hoạtđộng“kiểm soát”quyềnlựcnhànước trên cơsởthểchếhóa đường lốicủa Đảng,điều này được hiểu rằng hoạtđộng
giám sát của Quốc hội–chức năng giám sáttốicao tiếp tục được tăng cường hơn nữa nhằmđảmbảo mục đích “kiểmsoát” quyền lực nhà nước,đảmbảo vịtrí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội.
Với vị trí đó, các cơ quan của Quốc hội cần được tổ chức như thế nào để cóthể phát huy được hiệu quả hoạt động của Quốc hội nhất là trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình đó, việc đi sâu vào phân tích luận giải và đưa ra được hệ thống các tiêu chívề mặtlý luận cho cách thứctổchức và hoạt độngcủaQuốc hội hay nói cách khác là một mô hìnhtổchức cho các cơ quan của Quốc hội là mộtđòihỏibức thiết.
Với những lý do trên nghiên cứu sinh (NCS)lựachọn nghiên cứu về“Hệ thống cơ quan của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhộichủ nghĩa ở Việt Nam” làmđề tàicho luận án của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án : Phân tích, vai trò của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa,từ đó đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện cho quá trình đổimớivề mặttổ chức và hoạtđộng của hệ thống các cơ quan của Quốc hộivớimộttầmnhìn dài hạn và mang tính lý luận để phục vụ việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam một cách hiệu quả.
Nhiệm vụ của luận án: Phân tích những vấn đề lý luận về hệ thống các cơquan của Quốc hội Việt Nam cũng như tìm hiểu về tổ chức và hoạtđộng của một số nước trên thế giớiđể có thể rútra được mộtsố bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; Thực trạng hoạtđộngcủacác cơ quancủaQuốchộitheo quy định của pháp luật hiện hành;Đề xuấtquan điểm và giải pháp để hoàn thiện hệ thống các
cơ quan của Quốc hộiViệt Nam trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
3.Đốitượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là góc nhìn lý luận về vị trí, vai trò của các cơ quan của Quốc hội (gồm: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội) đốivớiviệc xây dựng một Quốc hội chuyên nghiệp trong điều kiện Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Phạm vi nghiên cứu của luận án:
Vềmặtkhông gian: (1)Luận án nghiên cứu về những vấn đề lý luận của các Cơ quan của Quốc hội trong điều kiện Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; (2) Luận án tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của cơ quan lậpphápởmột sốquốc giađiểnhìnhđượclựachọn trênthếgiới dựatrênhệthống pháp luật và các hình thức chínhthểcơbảngồm: Trung Quốc, CHLBĐức, Cộng hoà Pháp và Hoa kỳ.
Vềmặtthời gian: Luận án nghiên cứu sự hình thành và phát triển cũng nhưvịtrí, vai trò của các cơ quan của Quốc hộiViệt Nam theo các bản Hiến pháp Việt Nam.
4. Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu 4.1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi đặt ra ở đây là: Trong tương lai, khi Việt Nam dần hoàn thiện quátrình xây dựng Nhà nước pháp quyền, khivịtrí, vai trò của Quốc hội ngày càng được coi trọng và Quốc hộihoạtđộng ngày càng chuyên nghiệp hơn thìvịtrí, vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội, của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là như thế nào trong sự phát triển lâu dài của Quốc hội. Từ đó, đưa đến việc xem xét cách thức tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội Việt Nam có giống như bây giờ không? Hay nó sẽ có xu hướng thay đổi như thế nào khi Việt Nam dần hoàn thiện hình thức Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa? Đểtrảlời đượccâu hỏi nghiêncứunói trên, luận ánsẽđi trảlời hàng loạt các
câu hỏi nghiên cứu nhỏ sau: (1) Mục tiêu xây dựng NNPQ XHCN hiện nay đặt ra những yêucầugì đối với Quốc hội và với yêucầuđó thì Quốc hội cầntổchức hệ thống của cơ quan Quốchộinhư thế nào? (2)Hiện nay các cơ quan của Quốc hộiđã phù hợp ở mức độ như thế nào vớiyêu cầu xây dựng NNPQ XHCN, cần có những cải cách và đổimớinhư thế nào?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
Luận án nghiên cứu dựatrên giảthuyết rằng: Trong xu hướng Quốc hội dần chuyên nghiệp hoá để có thể đáp ứng được các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày càng giảm đi và hệ thống tổ chức các cơ quan của Quốc hội Việt Nam nên phù hợp vớimô hình tổ chức Nghị viện hiệnđạitrênthếgiới,tứclàđềcao vai tròcủa các Ủy ban thường trực và ủy ban lâm thời.
Với giả thuyết nghiên cứu đó, Luận án sẽ đi vào luận giải từ góc độ lý luận các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, cũng nhưyêu cầu đối
vớiQuốc hội – cơ quan lập pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cần đáp ứng.Từ đó,cùng với việc phân tích và đánh giá lạivịtrí, vai trò của các cơ quan của Quốc hội (gồm: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội) từ lý luận đến quy định của pháp luật thực định cũng như thực tiễn hoạt động của các cơ quan này để từ đó hướng tớimộtgiải pháp tổng thể để xây dựng và tổ chức hệ thống cơ quan của Quốc hội theo cách thức
tối ưu nhất, đưa ra được đề xuất về vị trí, vai trò của các cơ quan của Quốc hội trong mối quan hệ tổng thể với Quốc hội, để hỗ trợ cho hoạt động của Quốc hội để đảmbảo có được những ưu điểm, hạn chế những nhược điểm trong cách thức tổchức và hoạt động của các cơ quan này nhằm phục vụ cho hoạt động của một Quốc hội đang hướng đến sự chuyên nghiệp hoá, để có thể đáp ứng được trước các đòihỏicủa nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
•Phương pháp luận
Luận án đượcthực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng cộng Sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cũng như những định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc cải cách BMNN đặc biệt là hoàn thiện vị trí, vai trò và hiệu quảhoạtđộng của Quốc hộiđể đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Luận ánsửdụng phương pháp luậncủatriếthọcduyvậtbiện chứng và
duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin để nghiên cứu và tiếp cận.
•Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp phân tích: Đượcthực hiện xuyên suốt toàn bộ Luận án, nhằm hướng tớiviệc làm rõ các nộihàmvề đặc điểmcủa bốicảnh nghiên cứu,định hướng phát triển của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; cũng như phân tích các quy phạm pháp luật quyđịnhvềvị trí, vai tròcủaQuốc hội cũng nhưnhiệmvụ,quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cách thức hoạtđộng của Quốc hộivà các cơ quan của Quốc hội.
Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát và đưa ra những nhậnđịnh khi phân tích và nghiên cứu các cơ quan của Quốc hộidướigóc nhìn hệ thống, củamột chínhthểthống nhất. Đồngthời, tổnghợpđượcnhững quanđiểm,những góc nhìn khác nhau từ những nghiên cứu trước đó vớiđốitượng nghiên cứu của luận án để có thể có được những đánh giá đa chiều và thuyết phục
Phương pháp lịch sử:Đượcsửdụngđểnghiêncứuvà lý giải các hiện tượng, các quyđịnhvềvị trí, vai trò của các cơ quan của Quốc hộimang tính chất đặc thù (không kế thừa và phát triển từ góc độ lý luận).Để từ đó có thể có những kiến giải, những đề xuất phù hợp hơn vớibốicảnh tình hình mới
Phương pháp so sánh: Dùng để tổng hợp, so sánh về cơ cấu tổ chức, hình thức hoạt độngcũng như nhiệmvụ,quyền hạn của các cơ quan của Quốc hội giữa Việt Nam và các nước có các đặc trưng chính thể lớn trên thế giới cũng như
các nước có chính thể gần gũivớiViệt Nam. Thông qua đó,có thể có những kiến nghịđể ViệtNam nghiên cứu học tập nếu phù hợp.
Phương pháp hệ thống: Dùngđểlàm hệquy chiếu khi đánh giá hiệuquảhoạtđộng của Quốc hội.Vớigóc nhìn của phương pháp hệ thống sẽ xem xétđược những tác động qua lạivà tổng thể của các cơ quan của Quốc hộitrong tổng thể làm nên hiệu quả hoạt động của Quốc hội.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
•Vềmặt khoa học
Luận án góp phần bổ sung, làm rõ và phát triển mộtbướclý luận vềvịtrí, vai trò của Quốc hội trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Cùng với đó, làm rõ yêu cầu về một cơ quan lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN thì cần hướng đến xây dựng một cơ quan lập pháp chuyên nghiệp, hoạt động hiệu quả.Từ bốicảnh đó, Luận án tập trung nhận diện về khía cạnh lý luận các cơ quan chuyên môncủaQuốc hội cầnđượcthayđổi lại về vịtrí, vai trò cũng như nhiệm vụ, quyền hạn để Quốc hội có thể đảm trách được vị trí của một cơ quan lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
•Vềmặt thực tiễn
Các nội dung được đưa ra phân tích và trình bày trong luận án là những tưliệu được nghiên cứu và tìm hiểu công phu, có hệ thống dưới góc độ lý luận và góc độ lịch sử để lý giảivề các nhiệmvụ,quyền hạn của hệ thống các cơ quan của Quốc hội. Bên cạnh đó, các đề xuất, kiến nghị đã theo hướng trực tiếp giải quyết những hạn chế, những bất cậpvà cácvấnđềvướngmắchiện nay trong quá trình tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội trên thực tiễn. Do đó,kếtquả nghiên cứu của Luận án không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà có thểtrực tiếp xem xét đểtham khảo vàđềxuất trong việc sửa đổi,bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến Quốc hội.
CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1 Nhóm các nghiên cứu chung về Quốc hội và Nhà nước pháp quyền
1.1.2 Nhóm các nghiên cứu vềQuốc hội Việt Nam và các cơ quan của Quốc hội trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoàinước
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu 1.3.1 Những kếtquả đạtđược
Các công trình nêu trên đều đã đi sâu vào phân tích quan điểm, nguyên tắc của việc cải cách bộ máy nhà nước; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của những đổimớicăn bản của bộ máy nhà nước qua Hiến pháp mới; đồngthời luận giải những phương hướng, giải pháp tiếp tục đổimới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theohướngxây dựng Nhànướcpháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam, bảođảm việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý đất nước trong giai đoạn mới. Trên cơ sở luận giải những nguyên tắc và giải pháp để hoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung thì các cuốn sách trên đề cập đến vấn đề xác định vịtrí, vai tròcủaQuốc hộitrong sựnghiệp đổimới, phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền. Giới thiệu về cơ cấu tổ chức của Quốc hội/ Nghị viện, trong đó đề cập đến chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội,về Hộiđồng dân tộc và hệ thống ủy ban củaQuốc hội. Cùngvớiđó, các công trình nghiên cứu khoa học nói trên đã phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận chung, vềxây dựng Quốc hội, và xây dựng nhànướcpháp quyền XHCN vớiviệc phát huy vai trò của nhân dân. Phân tích những đòihỏicủa Quốc hội Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhànướcpháp quyền XHCNcủadân, do dân và vì dân. Những nghiên cứu trên đều xoay quanh việc thực hiện các chức năng của Quốc hội,về Đạibiểu Quốc hội,về quy trình, thủ tục làm việc của
Quốchội…Hầuhếtcác công trình trên đều có cách tiếp cận về việc thực hiện các chức năng của Quốc hộithông qua đó, các tácgiảcũng đề cập những nội dung liên quan đến hoạtđộng của UBTVQH,Hộiđồng dân tộc và các ủy ban
của Quốc hội trong việc thực hiện các chức năng của Quốc hội.
1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Mặc dù các nghiên cứu trên đã phân tích cũng như đánh giá về vị trí, vai tròvà chức năng của Quốc hội nói chung cũng như của các cơ quan của Quốc hội, nhưng chủ yếu dướimộtgóc độ,mộtvấn đề có liên quan nhấtđịnh,mà không nghiên cứu một cách tổng thể Quốc hội trong điều kiện xây dựng NNPQ.
Cụthể:
+ Cuốn Tổ chức và hoạtđộng của Nghị viện mộtsố nướctrên thếgiới, Nguyễn Sĩ Dũng, văn phòng Quốc hội, 2014 là một cuốn sáchhướngđếnviệc phổ biến thông tin về cơ tổ chức và hoạtđộng của Nghịviện các nước nên cuốn sách chỉ dừng lạiở việc giớithiệu, và đánh giá một cách khái quátdướigóc độ thông tin mà không đi sâu vào phân tích, đánh giádưới góc độ lýluận về cơ cấu
tổchức của Nghị viện. Hơn thế nữa, nội dung về hệ thống các cơ quan của Quốc hộichỉlà một đầu mục trong một chương trên tổng số 6 chương của cuốn sách (Mục 3, Chương III), nội dung cũng chỉ dừng ở việc đưa các thông tin cơbảnvề hệ thống Ủy ban của nghị viện.
+ Cuốn:Đổimới, hoàn thiệnbộmáy nhànướctrong giaiđoạnhiện nay, PGS.TS. Bùi Xuân Đức, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2007. Cuốn sách là cái nhìn vềvấn đề tổ chức bộ máy nhà nước trong giai đoạn bản Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) còn hiệu lực. Cuốn sách đi sâu vào phân tích quan điểm, nguyên tắc của việc cải cách bộ máy nhà nước; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của những đổimớicăn bản của bộ máy nhà nước qua Hiến pháp năm 1992;đồng thờiluận giải những phương hương, giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lýđấtnước trong giaiđoạn mới. Trên cơ sở luận giải những nguyên tắc và giải pháp đểhoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung thì cuốn sách đã dành một
chương – Chương VII để nghiên cứu về “đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc
hội” – nộidung chính của chương này là đề cập đến vấn đề xác định vị trí, vai trò của Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới, phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền. Giới thiệu về cơ cấu tổ chức của Quốc hội/ Nghị viện, trong đó đề cập đến chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội, về Hộiđồng dân tộc và hệ thống Ủy ban của Quốc hội. Mặc dù vậy, chiếm phần lớn nội dung là về giới thiệu các mô hình hoạtđộng của Nghị viện các nước trên thế giới.
Mặc dù cuốn sách được viết trong bối cảnh bản Hiến pháp năm 1992 (sửa
đổibổ sung năm 2001)– được hiểu là bốicảnh cũng như những cảicảch về Bộ
máy nhànước Cộng hoà XHCN Việt Nam theo Hiến pháp năm 2013–Hiến pháp hiện hành, là không được đề cập đến để phân tích và đánh giá, mặc dù vậy nhưng cuốn sách trên cơ sở phân tích về mặt lý luận cũng như đánh giá mặt thực tiễn về tổchức và hoạt động của hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội nên cuốn sách này cũng đưa ra mộtsố đề xuất nhằmđổimớitổ chức và thông qua đó nâng cao hiệu quả hoạtđộng của Quốc hội,cụ thể:TạiTrang 216, PGS.TS. Bùi Xuân Đức có đặt vấn đề: “Về lâu dài, khi Quốchộinướcta ngày càng chuyển mạnh sang hoạtđộng thường xuyên vớisố đạibiểu chuyên trách (hay có thể gọi là chuyên nghiệp) ngày càng nhiều thêm (đây cũng là xu hướng
tất yếu, hiện số đại biểu Quốc hội chuyên trách đã chiếm ¼) thì phải đặt ravấnđề tổ chức lạiỦy ban thường vụ Quốc hội.” Tác giả cuốn sách đã phân tích trên cơ sở khoa học một cách rất hợp lý rằng: “UBTVQH trong cơ chế nhà nước ta được tổ chức như hiện nay là cơ quan thường trực của Quốc hội có chức năng tổ
chức các hoạtđộng của Quốc hộivà đồng thời thực hiện các thẩm quyền –về bản chất là của Quốc hội- được Quốc hộigiao cho giữa haikỳ họp)là do Quốc hộichưa phải là cơ quan hoạtđộng thường xuyên. Khi Quốc hộiđã hoạtđộng thường xuyên thì không cần thiết phải có cơ quan thường trực vừa có nhiệm vụ
tổchức các hoạt động của Quốc hội, vừa thực hiện một số thẩm quyền do Quốc hộigiao giữa haikỳ họp nữa.” Đây thực sự là mộtquan điểmrấtmớimẻ khi
nhìn nhận về tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội. Khi mà Quốc hộitrong xu hướng phát triển hiện đại, vớimộtlogic là khisố lượng các đạibiểu Quốc hội chuyên trách ngày càng tăng lên thì trong một tổng thể, sự thay đổi này sẽ có mộttác động nhấtđịnh đến các yếu tố còn lạitrong tổ chức các cơ quan của Quốc hội, và PGS.TS. BùiXuân Đức đặtra một giả định về sự“tổchức lại Ủyban thườngvụQuốchội”.Đâycóthểlàmộtcách tiếpcậntươngđốitrùng khớp với cách tiếp cận của nghiên cứu sinh khi thực hiện nghiên cứu đề tài luận án này,đó là đặtcác cơ quan của Quốc hội (bao gồm UBTVQH, Hội đồng dân tộcvàhệthốngỦybancủaQuốc hội) trong một cái nhìn tổng thể, trong một chỉnh thể thống nhất, nói cách khác là với cách tiếp cận này thì coi Quốc hội là mộtchỉnhthểvớisựcấuthànhcủacác cơ quan khác nhau, trongđó,khi một hoặc một vài yếu tố thay đổi thì đương nhiên sẽ tác động và đòihỏicác yếu tố khác dù muốn hay không thì theo xu hướng tất yếu cũng sẽ có sự thay đổi. Tuy nhiên,đề xuấtcủa tác giả cuốn sách được đưa ra trong bối cảnh là sự thay đổivề cơ cấu số lượng Đạibiểu Quốc hộichuyên trách (chuyên nghiệp) thay vì là sựthayđổi vềnhiệmvụvà quyềnhạncủaHội đồngdântộcvàhệthốngỦyban của Quốc hội. Đây là sựkhác biệt trong cách tiếp cận của nghiên cứu sinh đối vớitác giả của cuốn sách.
+ Cuốn QuốchộiViệt Nam -Tổ chức, hoạtđộngvàđổimới” (2010) PGS.TS. Phan Trung Lý. Đây là cuốn sách chuyên khảo hướng đến banộidung lớn, đó là: (1)Tổ chức của Quốc hội Việt Nam – đặt Quốc hội trong cơ chế thực
hiện quyền lực nhà nước;(2) Hoạtđộng lập pháp và giám sát của Quốc hội –Tácgiảđi vào phân tích và đánh giá hai hoạtđộng lớn củaQuốchộiđó là lập pháp và giám sát, trong đó khi nghiên cứu về các hoạtđộng này thì tác giả có mộtmụcphân tích, làm rõmộtsốkhía cạnhvềtăngcườngĐạibiểu Quốc hội chuyên trách tạiHộiđồng dân tộc và các ủy ban, cũng như đổimớihoạtđộng thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các ủy ban; (3) Là nội dung phân tích về địavị pháp lý của Đại biểu Quốc hội và giải pháp nhằm tăng cường năng lực hoạtđộng
của đạibiểu Quốc hội. Có thể nói, mặc dù tựa đề cuốn sách là hướng vào phân tích, đánh giávà đề xuất sự đổi mới về mặt tổchức và hoạt động của Quốc hội, nhưng trên thực tế,nộidung cuốn sách mớichỉdừng ở việc trình bày tổ chức của Quốc hội, trình bày và phân tích được hoạtđộng lập pháp và giám sát của Quốc hội, và sau đó chuyển sang Đại biểu Quốc hội, mà không hề có nội dung đi vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá hoạt động của UBTVQH, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong việc thực hiện các chức năng của Quốc hội, cũng như không có những đề xuất những giải pháp về việc nâng cao hiệu quả hoạtđộng của Quốc hộithông qua sự thay đổi vể tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội.
+ Luận án tiến sĩ luật học:“Cơsở lý luận của việc đổimới cơ cấu tổ chức và phương thức hoạtđộng của Quốc hộiở ViệtNam hiện nay” (2003), NCS Lê Thanh Vân. Trong luận án, tác giả trình bày cơ sở lý luận vềđổimớicơ cấu,tổ chức và phương thức hoạtđộng của Quốc hộiViệt Nam (theo Hiến pháp 1992 sửa đổi,bổ sung 2001 và luậttổ chức Quốc hội2001, sửa đổibổ sung 2007). Luận án đãphân tích, đánh giá chuyên sâu vềcơ cấu tổ chức và phương thức hoạtđộng của Quốc hộiViệt Nam trong lịch sử qua các bản Hiến pháp và qua các nhiệm kỳ của Quốc hội. Thông qua đó đánh giá những hạn chế cần phải khắc phục trong cơ cấu tổ chức cũng như phương thức hoạt động của Quốc hội.
Có thể nhận thấy, đối tượng nghiên cứu của luận án này có rất nhiều phần
liên quan và trùng với đối tượng nghiên cứu của NCS – cụ thể là về UBTVQH, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Tuy nhiên, nếu như luận án của NCS Lê Thanh Vân tiếp cận theo hướng đánh giá những hạn chế trong tổ chức và hoạtđộng của các cơ quan của Quốc hội, của phương thức hoạtđộng của Quốc hội, các vấn đề của Đại biểu Quốc Hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội, từ đó đề xuất giải phátvề mặtpháp lý nhằm hướng đến việc nâng cao hiệu quả hoạtđộng của Quốc hội thì cách tiếp cận của NCS lại hoàn toàn khác.Cụ thể:
+ Trướchết, phạm vi nghiên cứu củaNCS không bao gồmphương thức hoạtđộng của Quốc hội, các vấn đề pháp lý liên quanđếnĐại biểu Quốc Hội, ĐoànĐạibiểu Quốchộimà NCSchỉtậptrung vào nghiêncứuvềtổchức vàhoạt động của các cơ quan của Quốc hội.
+ Nếu như TS Lê Thanh Vân phân tích nghiên cứu theo hướng phân tích cơsở về mặtlý luận, và sau đó đánh giá trên thực tiễn những ưu điểm, những hạn chế trong hoạtđộng của Quốc hộitrên tấtcả các yếu tố như: Các cơ quan của
Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội… Thì luận án của NCS lại một nghiên cứu mang tính chuyên sâu hơn khi chỉ đánh giá hoạtđộng của Quốc hộithông qua hoạtđộng của UBTVQH, của Hộiđồng dân tộc và các Ủy ban. Hơn thế nữa, cách tiếp cận của Luận án là một cách tiếp cận hoàn toàn mới khi coi Quốc hội là một chỉnh thể (có thể coi là một cỗ máy) mà ở đó các cơ quan của Quốc hội như là những bộ phận hợp thành và sự thay đổicủa bộ phận này sẽ có sự tác động nhất định đến bộ phận kia,từ đó lý giải
xem nếu như cỗ máy đó – Quốc hội muốn hoạt động hiệu quả thì các bộ phận đócần phải thay đổi như thế nào? Thêm vào đó, việc đề ra những giải pháp hay sự
thayđổi này phải đượccân nhắcđếnsựtácđộngcủacácyếutốbên ngoài –trong xu hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
+ Luận án tiến sĩ “Hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hộinước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (2016), NCS Trần Văn Thuân. Luận án này có đốitượng nghiên cứu vànộidung nghiên cứu khá tương đồng vớiđề tài luận án của NCS đang triển khai, khi xác định mục tiêu nghiên cứu:
“Làmsáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạtđộng của Hộiđồng dân tộc, các Ủyban của Quốc hội Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận án đưa ra đề xuất nhằm tiếp
tục kiện toàn hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội ở nước ta hiện nay.” Với việc xácđịnhmụcđíchcủaluận án như vậy, tác giả luận án cũng đặt ra những nhiệmvụ rấtcụ thể,vớicách tiếp cận truyền thống đó là:Từnghiên cứu lý luận về hoạtđộng của Hộiđồng dân tộc và các ủy ban,đến đánh
giá thực trạng hoạtđộng và từ đó đề xuấtcác quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục kiện toàn hoạt động của HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam.
Tuy nhiên, có thể nói giữa hai luận án mặc dù có đối tượng nghiên cứu có nhiều phần trùng nhau nhưng vẫn có rất nhiều điểm quan trọng khác biệt, cụ thể:
1. Luận án của NCS Trần Văn Thuân là tập trung vào nghiên cứu hoạt động của Hộiđồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội(trong đó ở phần phạm vi nghiên cứu, NCS Trần Văn ThuânđãloạitrừUBLT ra khỏiđốitượngnghiên cứu), trong khi Luận án của NCS đang thực hiện lại là một nghiên cứu tổng thể về các cơ quan của Quốc hội (gồm: UBTVQH, Hội đồng dân tộc, hệ thống các ỦybancủaQuốchộigồm Ủyban thường trực vàỦyban lâm thời). Không những thế, luận án của NCS đang tiến hành là một nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ các cơ quan của Quốc hội là một chỉnh thể hoàn chỉnh,vớigóc nhìn của “lý thuyết hệ thống” để đánh giá sự tác động qua lại trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, và cũng vớigóc nhìn này để đề xuất các giải pháp. Hơn thế nữa, tất cả các nghiên cứu dưới góc độ lý luận về tổ chức và hoạtđộng của các cơ quan của Quốc hộicủa NCS đều đặttrong bối cảnh Việt Nam đang trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do đó Quốc hội Việt Nam đanghướngtớixây dựngmộtmô hình Quốchộihiệnđại,đápứng những tiêu chí của cơ quan lập pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Có thể thấy, mặc dù đã có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu vềQuốchộinói chung và các khía cạnhcủaQuốchộinói riêng, trongđócó khía cạnh về tổ chức và hoạtđộng của Quốchộicũng như về các cơ quan của Quốc hội, nhưng các nghiên cứu trên mớichỉdừng lạiở việc đisâu vào nghiên cứu về Ủyban thườngvụQuốc hội, cácủyban thường trực vàHộiđồngdântộccủa Quốc hội Việt Nam mà ít có nghiên cứu nào tương xứng đề cập đến hệ thống ủy ban lâm thời. Và quan trọng hơn cả là chưa có công trình nào nghiên cứu về các cơ quan của Quốc hộidướigóc độ tổng thể, có mối liên hệ mật thiếtvớinhau,
tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình tổ chức, hoạt động và tác động đến hiệu quả hoạt động chung của Quốc hội Việt Nam.
Vì trọng tâm củaLuận án là nghiêncứuvềQuốchộivà các cơ quan của Quốc hội, cácnộidung tìm hiểuvềNhànướcpháp quyền nói chung và Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng là phần nội dung cung cấp một nền tảng,mộtmô hình mà Việt Nam đang hướng tới(có thể đạtđược trong tương lai). Các điều kiện về xây dựng nhà nước pháp quyền là chuẩn mực mà hiện nay các cơ quan trong BMNN nói chung và Quốc hội nói riêng cần phải thay đổi và cảicách
CHƯƠNG 2.
LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
2.1. Quốc hộitrong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.1.1.Vịtrí của Quốc hộitrong điều kiện xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
NNPQ với đặc điểm là những giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độphát triển dân chủ phát triển.Vớiý nghĩa này, NNPQ được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ,tổ chức nhà nước và xã hộitrên nền tảng dân chủ.Điều này có thể hiểu là NNPQ gắn liền vớimộtnền dân chủ, tuy không phải là một kiểu nhà nước theo lý luận về hình thái kinh tế – xã hội, nhưng không thể xuất hiện trong một xã hội phi dân chủ. Điều này cắt nghĩa vì sao ý tưởng vềmột chế độ pháp quyền đã xuất hiện từ thờicổ đạibởicác nhà tư tưởng phương Tây, nhưng phảiđến khi nhànướctư sản rađời,vớisự xuất hiện củanền dân chủ tư sản, NNPQ mới từ nhà nước ý tưởng dần trở thành hiện thực.
Nhà nước pháp quyền là một phạm trù vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù; vừa là giá trị chung của nhân loại, vừa là giá trị riêng của mỗi dân
tộc, quốc gia. Do vậy, không thể có một nhà nước pháp quyền như một mô hình chung, thống nhất cho mọiquốc gia, dân tộc.Mỗiquốc gia, dân tộc, tùy thuộc
vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp.1 Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam được đặt ra như là một tất yếu của lịch sử, sựđòihỏicủa khách quan cũng như từ chính sự nhận thức,định hướng của
1 Nguyễn Duy Quý (2005), “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,Tạp chí Cộng sản số 96.

Đảng và Nhà nước ta trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ những quan điểm của Đảng đưa ra về định hướng xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu công phu về các đặc điểmcủa Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.Mỗinghiên cứu được đề cập ở trên đều đưa ra những đặc điểmvề NNPQ XHCN Việt Nam. Tuy có những đặc điểm không giống nhau và hiện nay vẫn tiếp tục có các nghiên cứu nhằm bổ sung và làmrõ các đặc điểmvề Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nhưng các nghiêncứuđóđềurút ra nhữngđặcđiểm chungvềNhànước pháp quyền XHCN Việt Nam2 có thể liệt kê đến bao gồm:
a/ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Quá trình xây dựng NNPQ vềthực chất là quá trình chuyểnđổimô hình nhà nước, từ nhà nước mà quyền lực nhà nước thuộc về BMNN sang quyền lực thuộc về luật pháp; từ hệ thống luật pháp xác lập quyền lực của bộ máy cai trị vànghĩa vụ của người dân sang xác lập quyền của nhân dân và quy định nghĩa vụ, trách nhiệm phụngsựnhân dân của BMNN. Như vậy,vớiNNPQ,mộtsự chuyển đổivịtríthực sựdiễn ra trong mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân:
nhân dân có cơ hộithực sự trởthành người chủ của quyền lực và có khả năng, điều kiện để làm chủ quyền lực đó.Nhà nước mà cụ thể là BMNN và độingũ công chức nhà nước trở thành công cụ phục vụ nhân dân.
b/ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước tổ chức và hoạtđộng trên cơ sở của pháp luật, là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh,đồng bộ,hợp lý, khả thi.
Hạt nhân của khái niệm NNPQ là pháp luật điều chỉnh chính quyền. Điềuđó có nghĩa là NNPQ cần phải có các yếu tố có giá trịràng buộc chính quyền. Các yếu tố chung này có thể khác nhau ít nhiều khi vận dụng xây dựng NNPQ
2 Lê Minh Thông (2011), “Đổi mới, Hoàn thiện BMNN pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia; GS.TS. Đào Trí Úc (2005), “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
tùy thuộc vào bối cảnh xã hội cụ thể của mỗi quốc gia. Vì vậy, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải là nhà nước có hệ thống pháp luậtđồng bộ,hoàn chỉnh, chất lượng cao, thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội, trong đó Hiến pháp và các đạo luật phảigiữ vịtrí tối cao. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước và mọithành viên trong xã hộiphải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
c/ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước tôn trọng và bảo đảmquyền con người, quyền công dân;
Xét về bản chất, những cuộc đấu tranh kéo dài, gian khổ và hi sinh của dân tộc Việt Nam làhướng đến sự độc lập, tựdo dưới sự lãnh đạo của Đảng suy cho
cùng, mục đích chính là hướng đến đảm bảo các quyền cơ bản của con người, đó là quyền được sống, được tự do vàđượcmưu cầu hạnh phúc cho cộng đồng dân tộc, cho từng cá nhân, cho từng con người. Cùng với đó, quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước.Mọihoạt động của Nhà nước đều xuất pháttừ sự tôn trọng và đảmbảo quyền con người, nhà nước tạo mọiđiều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp. Thêm vào đó,các chính sách đốingoại của Việt Nam luôn tuân thủ theo nguyên tắc: Nhất quán và tíchcựctham gia cơchếquốctếvềquyền con người. Là thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam luôn luôn tuân thủ các chuẩn mựcquốctếvềquyền con ngườivà đã tham gia hầu hếtcác công ước quốc tế trên lĩnh vực này.
d/ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thừa nhận vịtrítốithượng của Hiến pháp và pháp luật.
Mộttrong nhữngđặcđiểmrấtcơ bản,rấtquan trọngcủaNNPQđólàsựthống trị của pháp luật trong đời sống chính trị – xã hội. Từ đó có thể thấy được hai khía cạnh của NNPQ đó là:
•Khía cạnh hình thức, là sự thống trị của luật, sự ràng buộc của Nhà nước với các tổ chức khác nhau bằng luật (chế độ pháp chế trong lập pháp và trong thi hành pháp luật)
•Khía cạnh nội dung của vấn đề, luật mới chỉ là hình thức của pháp luật, pháp luật khôngđồng nghĩa với luật và cơ quan làm luật phải tuânthủcác nguyên tắc của pháp luật, phải phản ánh và đáp ứng các yêu cầu của tiến bộ xã hội.3
Nhìnmộtcách tổng quát,chủquyềncủaNNPQ đượcthểhiệnbởiđặc trưngsựthống trị củapháp luật. Cần nhấn mạnh rằng, yêu cầu về sựthống trịcủa các đạo luật, của pháp chế, dù quan trọng đến đâu, cũng chưa đầy đủ cho mộtcấutrúc NNPQ.Ở đâyđòihỏikhông chỉtên gọimà ngay cả về nộidung của các đạo luật cũng phải thể hiện được tư tưởng pháp luật pháp quyền, không vi phạm các nguyên tắc và nền tảng của pháp luật pháp quyền.Bởilẽ nếu không đảmbảo được yếu tố này thìcác đạo luật, nguyên tắc pháp chế có thể trở thành những phương tiện tiến hành và ngụy biện cho chế độ chuyên chế.“Sự tối thượng của hiến pháp” có thể hiểu là sự ghi nhận về giá trị tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật về mặt lý luận và sự tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp trongđờisống xã hội.“Sựtốithượng” có nghĩa là trong toàn bộ hệ thống chính trịkhông thể có bất cứ lực lượng nào được phép đứng trên hiến pháp, cho dù là theo quy định rõ ràng hay ẩn dụ.4 Nếu hiến pháp thực sự giữ vị trí tối thượng trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội thì các giá trị cơ bản và tiến bộ trong hiến pháp sẽ được tuyệtđốituân thủ, BMNN nhờ đó mớicó thể vận hành được và các lý tưởng của NNPQ mới có thể được hiện thực hóa.
e/ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Quyền lực nhà nướcđược tổ chức theo nguyên tắc thống nhất trên cơ sở có sự phân công và phối hợp
3 Xem V. Dorkin (1970) Nhà nước pháp XHCN – Những đặc điểm cơ bản của cấu trúc, trong cuốn: Pháp luật và chính quyền, tiếng Nga, Nxb tiến bộ, Matxcova, 1970, tr. 77.
4 Xem: Tô Văn Hòa (2018), Báo cáo tổng hợp đề tài: Hiến pháp năm 2013 và sự phát triển về tư tưởng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tr. 84.
và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Cương lĩnh xây dựngđấtnướctrong thờikỳquáđộlênchủnghĩa xãhộiđượcbổ sung, phát triển năm 2011,đã khẳng định:“Nhànướcta là Nhànước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”;tổ chức và hoạtđộng dựa trên mộttrong những nguyên tắc nền tảng:“QuyềnlựcNhànướclàthống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyềnlậppháp, hành pháp, tư pháp”. So vớiCương lĩnh năm 1991, lần này Cương lĩnh đã bổ sung thêmnộidung “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN” mộtnộidung mới vào nguyên tắc tổ chức và hoạtđộng của BMNN là “Kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thờikỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(bổ sung phát triển năm 2011), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013đãbổsung nguyêntắcnàytạikhoản 3Điều 2.
f/ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam lànhà nước bảo đảm quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Lịch sử nhànướcViệt Nam thờihiện đại gắn liền vớivai trò lãnh đạo củaĐảng cộng sản. Cơ sở lãnh đạo của Đảng cộng sản dựa trên vai trò lãnh đạo thực tếcủaĐảngcộngsảngầnmột thếkỷvới hai cuộc chiến tranh dànhđộclậpvà
phát triển kinh tế cho nước nhà. Vì vậy, có thể thấy rằng vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận được. Quá trình xây dựng nhànước pháp quyền XHCNở Việt Nam vì vậy không thể tách rờiđược đặc điểm về việc tăng cường sự lãnh đạo chính trị của Đảng đốivớitổchức và hoạt động của các cơ quan nhà nước,đồng thờitôn trọng vị trí, vai trò độc lập của BMNN, không bao biện làm thay nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước do nhân dân ủy quyền.
Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam –là nhànướcphụcvụ,đáp ứng những nhu cầu,đòihỏicủa xã hội pháp quyền,tức là bảo đảmcho sự thống trị
của pháp luật và không cho phép sự can thiệp một cách tuỳ nghi, “tuỳ tiện” của các cơ quan nhà nước vào các quan hệ xã hội.Điều này đòihỏi, quá trình tổ chức, hoạtđộng của BMNN,mọithẩm quyền của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được quy định rõ ràng, rành mạch trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật. Không một cơ quan nhà nước nào dù là Quốc hội, có thể tuỳ nghiđặtthêm cho mình các quyền hạn bên ngoàiquyền hạn đã được ghi trong Hiến pháp. Do vậy, luật pháp phải khách quan đốivớinhà nước, là yếu tốcơ bản quy định về tính thượng tôn của pháp luật. Với ý nghĩa đó, Nghị viện các nước cũng như Quốc hộiViệt Nam trở thành thiết chế quan trọng bậc nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hiện đại, trong đó có Việt Nam. Hầuhếtthành viên nghị viện cácnướctrênthếgiớiđềuhình thành bằng conđường bầu cử,thông qua sự lựa chọn trực tiếp của đa số người dân, đó là lý do mà nghị viện được đánh giá là “trái tim” của thiếtchế dân chủ đạidiện.5Ở Việt Nam,bắtnguồntừtưtưởngcủaChủtịchHồChí Minhvềviệc thànhlậpmột nhà nước kiểu mới, trong tác phẩm“Đường kách mệnh” (1927)Ngườikhẳng định:“Chúng ta đã hi sinh làm cách mạng thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều. Chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mớikhỏi hi sinh nhiều lần, thế dân chúng mớiđược hạnh phúc”.6 Tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đãsớmphản ánh nội dung về việc ghi nhận quyền lực nhà nước thuộc về toàn dân, như vậy chính quyền nhà nước phải là của nhân dân, vìlợiích của nhân dân. Nguyên tắc chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân trở thành nguyên tắc quan trọng trong việc xây dựng NNPQ. Hiến pháp hiện hành ghi nhận: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”7
Lí thuyết đại diện là cơ sở tư tưởng cho việc thành lập Quốc hội. Quốc hội là một kênh nếu không muốn nói là kênh quan trọng nhất để nhân dân thể hiện
5 Xem Trần Văn Thuân, (2016), “Hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,Luận án Tiến sĩ luật học, tr. 17.
6 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 453-436. 7 Xem Điều 69, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013
quyền lực của mình.Mốiquan hệ giữa các ĐBQH với nhân dân là mối quan hệ giữa ngườiđạidiện (the agent) và ngườichủ (the principal). Trong đó,người dân là người chủ, bầu ra ngườiđạidiện để thay mặt mình đưa ra các quyếtđịnh để thực hiện quyền lực nhà nước.8 Khi người đại diện không còn được tín nhiệm của nhân dân nữa thì Nhân dân có quyền bãi nhiệmhọhoặc không bầu chọn họ làm người đại diệnnữa9. Tínhđại diện cao nhất củanhân dânthểhiện trên ba yếu tố:i) Quốc hội có cơ cấu thành phần đạibiểu đạidiện rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân; ii) Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình dựa vào sự tín nhiệmcủanhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; iii) Quốc hội chịu trách nhiệm trước nhân dân. Tính quyền lực Nhà nước cao nhất của Quốc hộiđược thể hiện thông qua việc Quốc hội thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất trong cả nước. Tính quyền lựccủaQuốchộiđượcthểhiện thông qua những chức năng mà Hiến pháp hiện hành trao cho Quốc hội, cụ thể là: Lập hiến lập pháp; Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối caođốivớihoạt động của nhà nước.10 Có thể thấy, quyền lực của Quốc hội xuất phát
từnhân dân, mỗi Đại biểu Quốc hội mang tiếng nói củanhân dân–ngườichủ thực sự của quyền lực, đưa đến cách thức làm việc của Quốc hội dựa trên ý chí chung của đa số. Quốc hội Việt Nam cũng không phải ngoạilệ,tạiĐiều 311 Luật Tổ chức Quốchộinăm 2014 đãghi nhận cách thức làm việccủaQuốchộilà:
“Quốc hộilàm việc theo chế độ hộinghị và quyếtđịnh theo đa số.” Chính với cách thức làm việc này mà các vấn đề được quyết định tại Quốc hội đều phải dựa trên việc xem xét, thảo luận của tập thể đạibiểu và chỉđược thông qua khi có quá nửa sự đồng ý của các đạibiểu.
Từ khi ra đời đến nay, Quốchộiluôn thể hiện sứ mệnh lịch sử của mình làđạidiện cho nhân dân để thực hiện quyền lực nhà nước. Đặc biệt, từ Hiến pháp
8 Xem: Tô Văn Hoà (2018), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tưpháp, trang 370.
9 Xem Điều 7, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 10 Xem Điều 69 Hiến pháp năm 2013.
11 Luật tổ chức Quốc hội năm 2014
năm 1959 đến nay, Quốc hộiđã được xác lập vịtrí và tính chất của mình trong Hiến pháp:“Cơquanđạibiểu cao nhấtcủanhân dân, cơ quan quyềnlựcNhànước cao nhất.” Từ đó,cũng như trong các nhiệmkỳ tiếp theo, Quốc hộiluôn chứng minh cho sự đúng đắn của chủ trương xây dựng Quốc hội thành cơ quan đạidiện cho tiếng nói của toàn thể nhân dân trên phạm vi toàn quốc. Quốc hộiđã trởthànhyếutốcơbảntrong việcđảmbảocácđặcđiểmcủaNhànướcpháp quyền XHCN Việt Nam, yếu tố quy định về mốiquan hệ giữa quyền lực nhà nước vớipháp luật, là yếu tố bảo đảm biến ý chí của nhân dân thành ý chí của nhà nước. Tóm lại, sự hiện diện của Quốc hội, vị trí vai tròcủa Quốc hội được ghi nhận trong Hiến pháp là mộtbảo đảmquan trọng cho các yêu cầu của NNPQ về chủ quyền nhân dân và tính hợp pháp của chính quyền. Không cơ quan nào khác mà chỉ có Quốc hộimớilà thiết chế xứng đáng nhấtđóng vịtrí trung tâm trong việcđảmbảothuộc tínhđại diện cho tiếng nói củanhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
2.1.2. Chức năng của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.1.2.1 Chức năng lập hiến, lập pháp
“Ý nghĩa của chính thểđạidiện là toàn thể dân chúng haymộtphần đông đảonào đó của nó thực thi quyền lực kiểm soáttốithượng thông qua đạidiện của chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phảitồn tạiở đâu đó trong mọihiến pháp.Họphảisởhữuquyềntốithượngấymộtcáchđầyđủnhất.Họphải là nhưng ông chủ đốivớimọihoạtđộng của chính quyền vào bấtcứlúc nào họ muốn.”12 Trong nhà nước pháp quyền thì Quốc hộihay Nghị viện – cơ quan đạibiểu cao nhất của nhân dân được Hiến pháp trao cho chức năng lập hiến, lập pháp. Quốc hội đưa đến những chuẩn mực xử sự cho các các quan nhà
12 Xem John Stuart Mill, Chính thể đại diện ( Representative government, 1861), dịch giả, giới thiệu và chú thích, Nguyễn Văn Trọng, Bùi Văn Nam Sơn, Nxb tri thức,
nước thông qua việc ban hành các luật tổ chức cho các cơ quan nhà nước, tránh
sự“tuỳ tiện” của các cơ quan nhà nước khi hành xử,thêm vào đó,Quốc hội–vớivai trò là cơ quan nhận được sự ủy quyền về ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, Quốchộicũng gánh trách nhiệm đưa ra những chuẩn mực xử sự cho các quan hệ xã hội phát sinh trong đờisống xã hội, để đảmbảo mọiquan hệ xã hộiđều được điều chỉnh bởicác quy phạm pháp luậthoặc được diễn giảitừ các nội dung, nguyên tắc của các quy phạm pháp luậtđể từ đó tạo ra mộttrậttự xã hộiổn định.
Xét về mặt pháp lý, trong nhà nước pháp quyền, luật là hình thức văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Nói cách khác, trong các nấc thang giá trị xã hội, luật có vị trí thượng tôn, cao nhất. Quản lý, điều hành công việc nhà nước,công việc xã hộibằng luật là phương tiện điều chỉnh các hoạtđộng của con người, thể hiện tính pháp quyền, tính dân chủ và văn minh nhất. Luật là sản phẩm trí tuệtập thểcủanhững con ngườiđượclựachọn trên quy mô quốc gia và bao giờ cũng được hình thành thông qua một thủ tục công khai. Hơn thế, những con người đượclựachọnđểtrao quyềnlậppháp lại do chính nhân dân,cử tri trong cả nước bầu cử ra.Họ là những ngườiđạidiện cho tâm tư, nguyện vọng,lợiích của cử tri cả nước, thay mặt nhân dân của nước để thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân.Từ đó,có thể nói luật là sản phẩm trí tuệ mang tính dân chủ đại diện cao nhất của một xã hội, một quốc gia.13
Chức năng lập pháp phải thuộc thẩm quyền của một cơ quan đại diện cũng đã được các nhà tư tưởng phát hiện ra trong đó có John loke (nhà triết học người Anh cuối thế kỷ XVIII) và Montesquie người Pháp (giữa thế kỷ XVIII) . Trong tác phẩm Khảo luận thứ haivềchính quyền, John lockeđãgiải thíchvềquyền
lập pháp là: Quyền lực lập pháp là quyền lực tối cao trong nhà nước, dựa trên sự
13 Xem, GS.TS. Trần Ngọc Đường, TS. Ngô Đức Mạnh (2008), sđd, tr 53
đồng tình và trách nhiệm của nhân dân14. Theo đó, ông hoàn toàn ủng hộ sự ban hành luậtbởicơ quan đại diện cho nhân dân bầu lên và có trách nhiệmvớinhân dân. Trong tác phẩm Tinh thần pháp luật, Montesquie cũng viết: Quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia phải được giao cho một cơ quan đại diện bao gồmnhững người do dân chúng bầu ra. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, luậttrước hếtlà văn bản của cơ quanđạidiện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thể hiện ý chí chung của nhân dân, thể hiện chủ quyền nhân dân. Do đó, luật phải được tôn vinh,ở vịtrí thượng tôn trong xã hội. Đó vừa là yêu cầu vừa là đòihỏikhách quan.
Như vậy, có thể thấy, trong nhà nước pháp quyền, luật được tôn vinh,được đề cao,có vịtrí thượng tôn là mộtđòihỏimang tính quy luật, bắt nguồn từ bản chất dân chủ nhân dân,từchức năng,sứmệnh cao cả của Quốc hội. Chính vìthế, Tổng bí thư NôngĐứcMạnhđãnhấn mạnh:“Cần thấy rằng, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền phụ thuộc rất lớn vào xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật mà nội dung trọng tâm là hoạt động làm luật của Quốc hội. Quyền lực của Quốc hộikếttinh trong các quy định của luật”15
Tóm lại, xây dựng Nhànướcpháp quyền xã hội chủnghĩa thì cầnnhấn mạnh,đềcao vàđòihỏiQuốchộiphải tăngcườngvàđẩymạnh hoạtđộnglập
hiến, lập pháp – chức năng được nhắc đến đầu tiên của Quốc hội. Để đẩy mạnh được hoạtđộng này, Quốc hội phảiđổimớiquy trình hoạtđộng,phảicảicách để nâng cao hiệu quả hoạtđộng của các cơ quan của Quốc hộiđể biến ý chí của nhân dân thành các quy tắc xử sự có tính chấtbắtbuộc chung trên quy mô toàn xã hộidướidạng là các đạo luật có chất lượng tốt, xứng đáng là luật củaNhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì nhân dân.
2.1.2.2. Chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đấtnước
14 Xem, John Locke, “Khảo luận thứ 2 về chính quyền”,Lê Tuấn Huy dịch, chú thích và giới thiệu, Nhà xuất bản trẻ, 2006, trang 184.
15 Tổng bí thư Nông Đức Mạnh phát biểu tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XI, ngày 19 tháng 07 năm 2002.
Cần nhận thức đúng vai trò của Quốc hội thay mặt nhân dân cả nước quyếtđịnh các vấn đề quan trọng của đấtnước mộtcách thực chất và phải phản ánh được ý chívà nguyện vọng của nhân dân,đảmbảo mỗiquyết định của Quốc hội phải có tính thực tiễn, phải hướng đến phục vụ cuộc sống của nhân dân.Điều này phù hợp với nguyên tắc:“Mọiquyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua cơ quan đạidiện cho mình là QuốchộivàHộiđồngnhân dân cáccấp.”16 Như vậy, cóthểkhẳngđịnh:Tínhđạidiện cho nhân dân của Quốc hội là câu trả lờiđúng đắn nhấtcho câu hỏi Tại sao Quốc hộiViệt Namlạilà “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xãhộichủnghĩa Việt Nam” và có những chức năng, nhiệm vụvàquyền hạn như hiện nay? Đồng thời, chỉ khi thực sự là “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”,thực sự nắmtrong tay quyền lập hiến, lập pháp, quyền quyếtđịnh những vấn đề quan trọng nhấtcủa đấtnước và quyền giám sáttốicao đối vớitoàn bộ hoạt động của nhà nước và của toàn xã hội thì Quốc hộimớithực sự đúng là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”. Đây là haimặtcủa mộtvấn đề.17
Trong nhànướcpháp quyền XHCN, sự hiện diện của Quốchộikhông chỉlàsựkhẳngđịnhcho quanđiểmquyềnlựcnhànướctừnhân dân. Nhân dân thành lập ra Quốc hội, đến lượt mình, Quốc hội đóng vai trò đảm bảo quyền lưc của Nhân dân, hướng đến phục vụ nhân dân. Mặc dù vậy, năng lực quyếtđịnh của Quốc hội phụ thuộc vào các yếu tố như: thời gian hoạt động của Quốc hội, thời gian thực hiện nhiệmvụđại biểucủacác ĐBQH, tính chuyên nghiệp của các ĐBQH, khả năng tổ chức và hoạtđộng của các cơ quan chuyên môn của
Quốchội…18Vì vậy,đểQuốchộicóthểthực quyền trong việc thực hiện chức
16 Điều 6, Hiến pháp năm 2013
17 Xem: Quốc hội Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nguyễn Quang Minh Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp,số3/2001.
18 Xem Đổi mới công tác quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước là một yêu cầu trong đổi mới hoạt động của Quốc hội, Ths. Nguyễn Quốc Thắng, Quốc hội và các thiết chế trong nhà nước pháp quyền XHCN VIệt Nam, NXB lao động, 2009, trang 203
năng quyết định những vấn đề quan trọng, phạm vi thẩm quyền quyếtđịnh của Quốc hội nên được tập trung vào các vấn đề sau:
(1) Đề cao quyền quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương. Đây là phạm vi thẩm quyền quyết định quan trọng nhất màQuốc hội hầu hết các nước đều đảm đương. Ngân sách nhà nước là “yết hầu” của một quốc gia. Nắm được ngân sách nhà nước là nắm được toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước và kiểm soát được nó. Hơn nữa ngân sách nhà nước là mồ hôi và nước mắt của nhân dân. Nhân dân uỷ thác cho Quốc hội nắm giữ và quản lý tài sản đó.Vì vậy, hơn bất kỳcơ quan nào, Quốc hội phải là cơ quan thay mặt nhân dân quyết định phân bổ ngân sách.19
(2) Quốc hội thực quyền trong quyết định các vấn đềvềtổchức bộmáy nhà nước,quyết định nhân sựcấp cao trong bộmáy nhànước,bởi lẽ“ Trách nhiệm đích thực của một Quốc hội đại diện đối với các vấn đề của chính quyền không phải là quyếtđịnh chúng bằng biểu quyết của mình, mà lo liệu sao cho những người phải quyết định các vấn đề ấy là những người thực sự thích hợp”.20ĐểQuốchộicóđủnănglựcquyếtđịnhthựcsựnhữngvấnđềquan trọng
của đấtnước thì cách thức tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội cần được đổi mới để đáp ứng với các yêu cầu của một Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
2.1.2.3. Chức năng giám sáttốicao đốivớihoạtđộng của nhà nước
Chức năng giám sát của Quốc hội (Nghị viện) là sự tất yếu trong quá trình tổchức chính quyền. Lý giải chođiềunày, John Locke trong cuốn“Khảoluận thứ hai về chính quyền” đã viết: “Ngoài điều tuyệt đối cần thiết là cơ quan quyền
lựchành pháp phải luôn hiện diện, thì khôngcầnthiết –thật sựvậy, mà cũng không thuận tiện khi cơ quan lập pháp phải như thế, vì không phải lúc nào cũng cần luậtmớiđể làm, mà chỉ luôn cần thi hành các luậtđã được làmra. Nhưng
19 Xem GS.TS. Trần Ngọc Đường, TS. Ngô Đức Mạnh (2008),sđd, trang 87
20 Xem Chính thể đại diện (Representative government, 1861), John Stuart Mill, dịch giả, giới thiệu và chú thích, Nguyễn Văn Trọng, Bùi Văn Nam Sơn, Nxb tri thức, trang 183
khi cơ quan lập pháp đã đặt việc thực thi các luật mà mình làm ra vào tay người khác, họ vẫn có quyền thu hồi nếu thấy có lý do để làm thế, có quyền trừng phạt bấtcứsựđiều hành yếu kém nào đingược lạivớiluật pháp.”21Đối với các nước tư sản, giám sát của nghị viện là phương tiện để tránh sự lạm quyền trong thực thi quyềnlựcnhà nước, đặcbiệt là hoạt độnggiám sát củanghị việnđối với chính phủ.
Đối với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chức năng giám sáttốicao của Quốc hộiđốivớihoạtđộng của nhà nước để bảo đảmcho Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội được các cơ quan ở cấp trung ương tuân thủ và thực hiện một cách thống nhất; ngăn chặn sự lạm quyền trong tổ chức vàthực hiện quyềnlựcnhànước bảo đảmcho mọihoạtđộng của các cơ quan và các cá nhân đứng đầu các cơ quan nói trên hoạtđộng vìlợiích của nhân dân. Giám sáttốicaocủaQuốchộilà giám sát mang tính quyền lực nhà nước.Đặc
trưng nàysẽchỉ rõsựkhác nhau giữa giám sát củaQuốchội–cơ quan quyền lựcnhànướccao nhất với giám sát củaMặt trậntổquốc Việt Nam và cáctổchức thành viên. Tính chấttốicao củaquyền giám sátcủaQuốchộiđượcbắt nguồn từ địa vịpháp lý của Quốc hộitrong Bộ máy nhà nước.Quốc hộilà cơ quan đạibiểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.22 Nội dung này cũng chỉ rõ sự khác nhau giữa giám sát tối cao của Quốc hội với
các hoạt động điều tra, thanh tra, giám sát, kiểm sát… của các cơ quan nhà nước khác. Trong bộ máy nhà nước ta, ngoài Quốc hộikhông có mộtcơ quan nhà nước nào được phép thực hiện quyền giám sáttốicao.23
Có thể nói, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội xuất phát từ bản chất của Quốc hội nước ta là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc thực hiện chức
21 Xem “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, John Locke, dịch giả, giới thiệu và chú thích, Lê Tuấn Huy, Nhà xuất bản tri thức (Tủ sách tinh hoa), §153, trang 205.
22 Điều 69. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013
23 Xem GS.TS. Trần Ngọc Đường, TS. Ngô Đức Mạnh (2008),sđd, trang 65
năng giám sáttốicao đốivớihoạtđộng của nhà nước của Quốc hộicần được nhận thức mộtcách đầy đủ,đúng đắn,và khoa học cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn hoạt động. Những nhận thức không đầy đủ và đúng đắn về vai trò giám sáttốicao của Quốc hội là không phù hợp với nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyềnlậppháp, hành pháp, tư pháp.”24 Quốchộithực hiện giám sáttốicao đốivớihoạt động của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam có vai trò to lớn trong việc góp phần phòng chống lạmquyền, lộng quyền từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Đảmbảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phục vụ nhân dân.
2.1.3. Vai trò của Quốc hộitrong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hạt nhân của khái niệm NNPQ là pháp luật điều chỉnh chính quyền. Điềuđó có nghĩa là NNPQ cần phải có các yếu tố có giá trịràng buộc chính quyền. Các yếu tố chung này có thể khác nhau ít nhiều khi vận dụng xây dựng NNPQ tùy thuộc vào bối cảnh xã hội cụ thể của mỗi quốc gia. Xây dựng NNPQ trongđiều kiện mộtđảng cầmquyền như nước ta, Quốc hộilạicàng có vai trò quan trọng. Một mặt, thông qua hoạt độnglậppháp, thểchếhoáđườnglối lãnhđạo của Đảng làm cho đường lối đi vào cuộc sống và trở thành hiện thực trong đời sống xã hội.25 Mặtkhác, thông qua chức năng lập hiến và lập pháp, Quốc hộiđóng vai trò quyết địnhtrong việc xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải là nhà nước có hệ thống pháp luậtđồng bộ,hoàn chỉnh, chất lượng cao,thể hiện được ý chí,lợiích và nguyện vọng của nhân dân, phù hợp vớihiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội, trong đó Hiến pháp và các đạo luật phải giữ vị trí tối cao. Với vị trí trung tâm đó, Quốc hội thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình xây
24 Khoản 3, Điều 2, Hiến pháp nước CHXHCN 2013
25 GS.TS. Trần Ngọc Đường, TS. Ngô Đức Mạnh (2008) Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, tr 47.
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Mộtlà, Cơ quan nhà nước cấu thành BMNN, trong đó không thể thiếu được mộtcơ quan giữ vai trò là đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất – Quốc hội. Sự hiện diện của Quốc hội là sự khẳng định cho quan điểmquyền lực nhà nước từnhân dân.Sự tồn tạicủaQuốchộilà do
nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước – vốn thuộc về nhân dân để bầu ra. Nhân dân thành lập ra Quốc hội,đến lượtmình, Quốc hộilạicó vai trò quan trọng trong việc hình thành các cơ quan nhà nước khác và kiểm tra, giám sát hoạtđộng của các cơ quan nhà nước này để đảm bảo các cơ quan này luôn tuân thủ theo ý chí và nguyện vọng của nhân dân, hoạtđộng vì nhân dân. Quốc hộithay mặt nhân dân để quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.Việc nhận quyền lực từnhân dân khẳngđịnh tính hợp pháp của chính quyền. John Loke cho rằng:
Chính quyền được tạo dựng trên cơ sở sự bằng lòng của dân chúng và hành động của chính quyền không được sự đồng lòng của dân chúng là không có giá trị hay không được ủy quyền.26
Từ khi ra đời đến nay, Quốc hội luôn thể hiện sứ mệnh lịch sử của mình làđạidiện cho nhân dân để thực hiện quyền lực nhà nước. Đặc biệt, từ Hiến pháp năm 1959 đến nay, Quốc hộiđã được xác lập vịtrí và tính chất của mình trong Hiến pháp là: “Cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.” Và từ đó, cũng như trong các nhiệm kỳ tiếp theo, Quốc hội luôn chứng minh cho sự đúng đắn của chủ trương xây dựng Quốc hội thành cơ quan đạidiện cho tiếng nói của toàn thể nhân dân trên phạm vi toàn quốc. Quốc hộiđã trởthànhyếutốcơbảntrong việcđảmbảocácđặcđiểmcủaNhànướcpháp quyền XHCN Việt Nam, yếu tố quy định về mốiquan hệ giữa quyền lực nhà nước vớipháp luật, là yếu tố bảo đảm biến ý chí của nhân dân thành ý chí của nhà nước. Tóm lại, sự hiện diện của Quốc hội, vị trí vai tròcủa Quốc hội được ghi nhận trong Hiến pháp là mộtbảo đảmquan trọng cho các yêu cầu của NNPQ
26 Vũ Văn Nhiêm (2013), Bầu cử trong nhà nước pháp quyền, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 29.
về chủ quyền nhân dân và tính hợp pháp của chính quyền. Không cơ quan nào khác mà chỉ có Quốc hộimớilà thiết chế xứng đáng nhất đóng vai trò trung tâm trong việcđảmbảothuộc tínhcủaNhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Hai là, Nhận thức sâu sắc về vai trò của pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, tạo nền tảng vững chắc để Việt Namhộinhập với thếgiới, ĐảngcộngsảnViệt Namđãxác định: “Xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm làhoàn thiện thể chế kinh tế thịtrường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.”27Vấnđề này ngày càng được đặtra nhiều, tại Đại hội IX năm 2001 của Đảng đã khẳngđịnh:“mọicơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật”28. Nội dung này cũng đã được thể chế hoá trong các quy phạm pháp luật. Một khía cạnh khác cũng được quan tâm trong việc đảmbảo thượng tôn pháp luật đó là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo điều kiện tốtnhất cho cơ quan,tổ chức, cá nhân thực hiện và chấp hành pháp luật.
Vai trò của Quốc hội thể hiện trong việc đảm bảo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCNtổ chức và hoạtđộng trên cơ sở của Hiến pháp và pháp luật thể hiện trên hai phương diện.Mộtmặt, Quốc hội ban hành ra các đạo luật, tạo một khuôn mẫu pháp lí cho các hành vi của các chủ thể trong xã hội. Thông qua việc xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản pháp luậtmộtcách đầy đủ,đồng bộ,
thống nhất (Hiến pháp và vănbảnquy phạm pháp luật khác) –thực hiện chức năng lập pháp, Quốc hội đã tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ, hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn của hệ thống pháp luật của NNPQ để làm chuẩn mực xử sự cho các chủ
27 Xem: Nghị quyết số 48/2005/NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,định hướng đến năm2020.
28Đảngcộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, trang 132.
thể trong xã hội, chủ thể đó bao gồm cá nhân người dân, các tổ chức hay thậm chí là chính các cơ quan nhà nước,tránh việc các cơ quan nhà nước tựđặtra những ngoại lệ trong thẩm quyền cho chính mình. Các cơ quan nhà nước trong
tổchức BMNNnướcCộng hoà XHCN Việt Nam luônđượctổchức và hoạt động trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành hoặc do Quốc hội ủy quyền, thậm chí ngay chính Quốc hội cũng phải “xử sự” trên cơ sởquy định của Hiến pháp và pháp luật. Mặt khác, Quốc hội không chỉ tạora những chuẩn mực xử sự cho các chủ thể khác nhau trong xã hộimà Quốc hội còn đóng vai trò thực hiện hoạt động giám sátsựtuân thủ Hiến pháp và hệ thống pháp luật do chính các cơ quan trong tổ chức BMNN. Thông qua các quy định của Hiến pháp và của luật thì Quốc hộiđảmbảo sựngựtrịcủa pháp luật trong tất cả các quan hệ xã hội. Tất cả các cơ quan nhà nước tổ chức và hoạt động đều phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Ba là, Cũng tương tự như việc đảm bảo cho các chuẩn mực xử sự trong xã hội, Quốc hộitrong NNPQ hướng đến việc bảo vệ quyền con ngườibằng cách đặtra các quy định pháp luật ràng buộc, ngăn chặn những nguy cơ xâm hại quyền con người, quyền công dân của ngườidân từ các chủ thể khác trong xã hội. Cùng vớiđó,Quốc hộitạo ra mộtgiới hạn pháp lý ngăn cấmsự vi phạm quyền con ngườitừ phía chính quyền.Mọivăn bản quy phạm pháp luật có nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân mànộidunghạnchếđóchưađược quy định hoặc chưa được dựliệu trong mộtvăn bản quy phạm pháp luật nào thìđều bịcoi là vi hiến.Mọisự hạn chế đốivớiquyền con người, quyền công dân, vì vậy đều phải được sự cho phép hoặc trù liệu của Quốc hội. Các cơquan nhà nước giờ đây đã không còn được tùy tiện hạn chế quyền con người, quyền công dân.Từ đó có thểthấy vai trò củaQuốchộitrong việcđảmbảo thuộc tính Nhà nước tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp và pháp luật của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Bốn là, Trong nền dân chủ hiện đại, chính thể của nhiều quốc gia trao cho
Quốc hội – đạidiện chính đáng của toàn thể nhân dân có thẩm quyền soạn thảo và thông qua Hiến pháp,để làmkhuôn mẫu cho việc tổ chức và hoạtđộng của chính quyền. Chúng ta đều biết, Hiến pháp được ví nhưbản “khế ước xã hội”,làvăn bản có hiệu lực pháp lý tốicao, thể hiện camkếtcủa BMNNđốivớinhân dân, có tác dụng hạn chế quyền lực của các cơ quan nhà nước,bảo đảmcho các cơ quan nhà nước cần phảiđảmbảo sự tuân thủ pháp luật. Đặc biệt, mọi cơ quan nhà nước trong vòng kiềm soát và kiềm chế của pháp luật. Chính vì vậy, để có thểđảmbảo được vịtrítốithượng của Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác thìkhông chỉ cần quan tâm đến việc thiết lập các quy phạm của Hiến pháp mà cần phải thiết lập nên cơ chế bảo vệ hiến pháp (xử lý những hành vi xâm phạm trái phépđến nộidung của Hiến pháp) và nộidung này cũng ghi dấu vai trò vô cùng to lớn và quan trọng của Quốc hội.
Năm là, Trong đặctrưng củanhànướcpháp quyền XHCN khi xácđịnh tính thống nhất củaquyềnlựcnhànướcvàsựphân công, phối hợp giữa ba nhánh quyền lực này đòihỏiba quyền này phải là mộtthể thống nhất của hệ thống với việc xác định rõđịavị pháp lý của từng thiết chế quyền lực thực hiện các quyền. Hiến pháp chỉ rõ rằng sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa ba quyền và tương ứng vớichúng là ba thiết chế quyền lực nhà nước là sự phân công có điều kiện để đảmbảo khả năng loạibỏ sựđộc quyền về mặtquyền lực từbất kỳ một thiết chế quyền lực nào. Và cũng không thể có một thiết chế quyền
lực nào có thể thâu tóm được toàn bộ quyền lực nhà nước trong tay mình bởi các thiết chế này đều có cơ chế bị kiểm soát quyền lực. Quốc hội là cơ quan đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phân công và kiểm soát QLNN của BMNN nướcCộng hoà XHCN Việt Nam. Theo logic, Nhân dân bầu ra Quốc hội,đến lượtmình Quốc hộihình thành ra Chủ tịch nước,Chính phủ, Toà án
nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân tốicao.29 Các cơ quan nàyđềuđược Hiến pháp và các luật của Quốc hội giao cho một số quyền hạn và nhiệm vụ nhấtđịnh để thực thi ý chí nhân dân thông qua luật, nghị quyết của Quốc hội.
2.1.4. Quốc hộitrong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam – Một Quốc hội chuyên nghiệp.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HỆ THỐNG CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Hệ thống cơ quan của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Hệ thống cơ quan của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Hệ thống cơ quan của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Hệ thống cơ quan của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Hệ thống cơ quan của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Hệ thống cơ quan của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

