Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm đổi mới, thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân vấn đề bảo đảm quyền con người và quyền công dân nhất là trong hoạt động tư pháp luôn được chúý quan tâm và đặc biệt coi trọng. Nhưng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật ở nước ta xảy ra nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, có chiều hướnggia tăng. Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các cơ quan tiến hành tố

tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác tư pháp nên đã góp phần quan trọng trong đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật giữ vững an ninh – chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp còn chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó, còn bộc lộ nhiều yếu kém, nên có lúc, có nơi còn bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân. Những điều đó đã tạo nên dư luận xã hội không tốt, làm giảm lòng tin vào nền công lý xã hội chủ nghĩa.

Chính vì những lý do nêu trên, Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ởViệt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã nhấn mạnh: Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm cho sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng đểphán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp. Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị có hiệu lực từ ngày 02/01/2002 được xem như sự mở đầu cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta. Nghị quyết này đề cập nhiều nội dung khác nhau của công tác tư pháp từhoạt động điều tra, truy tố xét xử cho đến việc đào tạo cán bộ Tư pháp, quy chế bổ nhiệm, miễn nhiệm, tăng cường yếu tố tranh tụng trong quá trình xét xử vụ án hình sự được coi là điểm nhấn của cải cách tư pháp và là vấn đềtrọng tâm của Nghị quyết (nâng cao chất lượng công tố của KSV tại phiên

2

toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, NBC và những người tham gia tố tụng khác, v.v). Tiếp theo là Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định: “Nângcao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tưpháp; từng bước xã hội hoá một số hoạt động tư pháp, “Nghiên cứu việc chuyển VKS thành viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”, “Hoàn thiện cơ chế bảo đảm đểluật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõchế độtrách nhiệm đối với luật sư”. Những tư tưởng quan điểm trên một mặt xác định tranh tụng là một trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp, mặt khác đây cũng được coi là định hướng và yêu cầu thúc đẩy việc nghiên cứu vấn đề bảo đảm tranh tụng trong hoạt động của Toà án. Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nhằm xác định sự thật vụ án, bảo đảm xét xửđúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013) khẳng định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.

Mặc dù nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đã được ghi nhận và từng bước được quy định trong Hiến pháp, luật pháp và đưa vào thực hiện, nhưng quyền lợi của người phạm tội, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác vẫn còn những dấu hiệu bị vi phạm. Vị trí, vai trò và chức năng của họchưa được đánh giá một cách đúng đắn dẫn đến không được bảo đảm đầy đủcác quyền và lợi ích hợp pháp theo Hiến định và Luật định. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, tuy nhiên đáng chú ý hơn là việc các chủ thể tham gia tố tụng chưa nhận thức đầy đủvà chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS. Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam. Đây cũng chính là lý do quan trọng nhất để tác giả lựa chọn đềtài “Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơthẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam”cho luận án

3

tiến sĩ luật học chuyên ngành lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật. Nội dung của đề tài luận án không trùng lặp với bất cứ một công trình nào khác đã công bố.

2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án 2.1. Mục đích của luận án

Luận án nhằm làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, làm rõ những yêu cầu cải cách tư pháp trong thời kỳ đổi mới, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà xét xử án sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ của luận án

Đểđạt được mục đích của luận án, tác giả kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan và tiếp tục làm rõ một số vấn đềsau:

– Phân tích khái niệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; khái niệm công cụ để đi đến nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụán hình sự. Từ khái niệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, tác giả tiếp tục nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng bao gồm: nội dung, yêu cầu, vai trò và ý nghĩa của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

– Bên cạnh đó, luận án cũng làm rõ hơn yêu cầu cải cách tư pháp và điều kiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và những kinh nghiệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng ở một số nước trên thế giới có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

– Luận án tập trung nghiên cứu, đánh giá khái quát pháp luật Việt Nam vềviệc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

– Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ởViệt Nam, từ đó rút ra những ưu điểm, hạn chế bất cập và nguyên nhân của thực trạng đó để từ đó đềxuất những quan điểm và giải pháp phù hợp.

4

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đềlý luận về cải cách tư pháp, hoạt độngxét xử sơ thẩm vụ án hình sự, nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tưpháp ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu: Đềtài tập trung nghiên cứu về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.

– Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong phạm vi toàn quốc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

– Thời gian nghiên cứu giai đoạn từ 2003-2013 (từ khi ban hành BLTTHS năm 2003 đến nay).

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Cơ sở lý luận của luận án này là quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật biện chứng lịch sử) và tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam về nhà nước, pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp, lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, pháp luật TTHS, pháp luật tố tụng của một số nước trên thế giới và Việt Nam, thể hiện trong quá trìnhchỉ đạo đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tưpháp nói riêng theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Mặt khác, đềtài tham khảo kinh nghiệm của một số nước trong thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trongxét xử vụ án hình sự đểáp dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam.

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp logic, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích, phương pháp so sánh, tổng hợp đểluận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu ở trên.

– Phương pháp hệ thống được sử dụngtrong chương 1 đểphân loại và nghiên cứu nội dung các tài liệu, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm

5

nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.

– Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt quá trình thực hiện chương 2, chương 3 và chương 4 của luận án. Nội dung của ba chương có mối liên hệ xuyên suốt. Trong chương 2, tác giả trình bày một cách khái quát, đầy đủ cơ sở lý luận về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS và những yêu cầu bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong điều kiện cải cách tư pháp. Những lý giải về mặt lý luận của chương 2 chính là cơsở đánh giá thực trạng thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xửsơ thẩm vụ án hình sự ở chương 3 và từ đó đưa ra quan điểm và giải pháp bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở chương 4.

Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

– Phương pháp lịch sử thống kê, so sánh được sử dụng trong đánh giá thực trạng thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam. Tác giả đưa ra những nhận xét về tình hình việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS dựa trên những nghiên cứu, phân tích điều kiện cụ thểcủa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, thực hiện cải cách tư pháp.

– Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong cả chương 2, chương 3 và chương 4 của luận án. Ở chương 2, tác giả phân tích khái niệm, nội dung, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án; các yêu cầu, điều kiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng. Tiếp theo, chương 3 phân tích nguyên nhân của thực trạng thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS và chương 4 phân tích những quan điểm và giải pháp bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

– Trong khi nghiên cứu về các mô hình tố tụng trên thế giới, tác giả chú trọng sử dụng phương pháp phân tích và so sánh nhằm tìm ra những kinh nghiệm về thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng cho Việt Nam.

– Trong phần nghiên cứu thực trạng thực hiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng ở Việt Nam, tác giả còn sử dụng phương pháp tổng hợp nhằm thu thập, tổng hợp các số liệu đểchứng mình cho các luận giải của mình.

5. Những điểm mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm

6

vụ án hình sự. Kết quả nghiên cứu của đề tài “Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ởViệt Nam” được thể hiện:

– Xác lập được khái niệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự với những đặc điểm, nội dung, vai trò, ý nghĩa, điều kiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

– Chỉ ra những bất cập, nguyên nhân của những bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng về bảo đảm tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụán hình sự ở Việt Nam.

– Nghiên cứu quá trình hình thành, lý do của sự phát triển, trên cơ sở ưu điểm của tố tụng tranh tụng, kinh nghiệm từ một số nước trong hệ tố tụng thẩm vấn khi vận dụng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng; phân tích thực tế điều kiện Việt Nam, đưa ra quan điểm và đề xuất việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng cũng như các giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc này trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết đề cập tới vấn đềtranh tụng mà gần đây nhất là luận án tiến sĩ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thu Hiền. Tuy nhiên, trong khoa học lại thiếu vắng những công trình nghiên cứu khoa học lớn (cấp Bộ, cấp Nhà nước) đề cập trực diện về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng và khả năng vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh nước ta. Mặt khác, các công trình viết đã công bố lại chưa có điều kiện đề cập một cách toàn diện và tổngthể những vấn đềlý luận và thực tiễn vềbảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử. Chính vì những lý do nêu trên mà tác giả đã nghiên cứu rất công phu và cố gắng trong 03 năm mới có thểhoàn thành. Luận án là một công trình nghiên cứu khoa học lần đầu tiên ở Việt Nam trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam. Luận án góp phần bổ sung lý luận về cải cách tư pháp mà

7

trọng tâm là hoạt động xét xử; bổ sung hoàn thiện lý luận về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND.

Trong quá trình hoàn thiện luận án này tác giả đã dày công nghiên cứu khoa học, các tài liệu của Hội thảo liên quan đến luận án; những bài viết của các tác giả đăng trên các Tạp chí, các Sách, Tạp chí Toà án nhân dân, Tạp chí VKS nhân dân, Đặc san nghề Luật; Nghị quyết 08/NQ-TW; Thông tư BộCông an; Sách Chính trị quốc gia; Đềtài khoa học cấp Bộ; Thông tin khoa học xét xử; Tạp chí Dân chủ Pháp luật; Bình luận BLTTHS, các Báo cáo tổng kết hàng năm của Toà án nhân dân tối cao; của Toà án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở một số địa phương. Ngoài ra tác giả còn khai thác một cách công phu những thông tin trên mạng internet có liên quan đến Luận án; trực tiếp trong xét xử của các TP các cấp.

Bản thân tác giả là thẩm phán TAND cấp huyện, đã tham gia xét xử sơthẩm nhiều vụ án hình sự. Từ các công trình khoa học và trải nghiệm của bản thân, những kiến nghị mà tác giả đưa ra vừa có ý nghĩa như một đề xuất mang tính khoa học, góp phần bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà xét xửsơ thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay, góp phần vào việc thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà xét xử mà Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị coi là điểm nhấn của cải cách tư pháp. Công trình có thể làm tài liệu giảng dạy trong các trường đào tạo luật, đào tạo nghiệp vụ ngành công an; VKS; TA; nghề luật sư. Ngành tòa án; VKS; cơ quan điều tra có thể áp dụng trong các trường đào tạo nghiệp vụ xét xử như Học viện tư pháp, trường đào tạo cán bộngành tòa án của TAND tối cao, để nâng cao chất lượng xét xử.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phân mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 04 chương, 11 tiết.

8

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới có rất nhiều công trình, bài viết có liên quan đến vấn đềtranh tụng do các tác giả nước ngoài thể hiện với những nội dung đáng chú ý như sau:

1.1.1.1. Nhóm các công trình, tác phẩm nghiên cứu về tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi

– Trong tham luận khoa học “Tố tụng tranh tụng và tố tụngxét hỏi” của Elisabeth Pelsez-TP và Christian Rayseguier [30], các tác giả nêu ra những đặc điểm tố tụng tranh tụng, tố tụng thẩm vấn cùng với những ưu điểm, nhược điểm của hai hệ tố tụng này, vấn đề kết hợp tố tụng tranh tụng với tố tụng thẩm vấn ở Pháp và một số hạn chế Việt Nam cần lưu ý khi thực hiện cải cách theo hướng tố tụng tranh tụng.

– Nghiên cứu về sự phát triển của hệ tố tụng tranh tụng từ thế kỷ XI ởVương quốc Anh với sự thể hiện trong phiên tòa, thủ tục tranh tụng, sự phát triển chế định Bồi thẩm đoàn, các chủ thể tố tụng gồm Luật sư, TP, nhân chứng, các quy tắc về chứng cứ cùng những nguyên nhân và lý giải sự thiết lập và phát triển của hệ tranh tụng trong bài viết của Alandman, “A brief survey of the development of the adversary system” [102].

-Những đặc điểm của hệ tố tụngthẩm vấn và hệ tố tụng tranh tụng cũng được trìnhbày dưới góc độso sánh trong bài viết “Nhân quyền trong hệ thống tư pháp hình sự” do Dato’s Param Cuma raswamy và Manfred Nowak đồng tổ chức [22]. Trong phần chương 1 của báo cáo, các tácgiả đã nêu đặc điểm của hệ tố tụng thẩm tra và hệ tố tụng tranh tụng, trên cơ sở đó chỉ ra một sốưu điểm và nhược điểm của hai hệ thống trên góc độ so sánh. Trong chương 4, phần những biện pháp bảo đảm cụ thể về nhân quyền đối với một phiên tòa công bằng, các tác giả khẳng định: quyền được suy đoán vô tội; được thông báo về tội danh; có đủ thời gian và phương tiện để biện hộ và được quyền liên lạc

9

với Luật sư do mình lựa chọn; được có mặt tại phiên tòa; tự biện hộ hoặc thông qua một Luật sư; được triệu tập và thẩm tra nhân chứng và cấm tự buộc tội. Trong 7 đềxuất để bảo vệ nhân quyền tại chương 4, đề xuất được nêu đầu tiên là “Quốc gia phải bảo đảm sự độc lập và vô tư của ngành tư pháp. Sự bảo đảm này bao gồm

cả tính độc lập cá nhân và độc lập về thể chế của các Thẩm phán…”.

– Những biểu hiện thuần khiết của hệ tranh tụng là sự “Cân bằng quyền lực trong hệ thống tranh tụng” của tác giả Martin Blackmore [14], trong đó có trích dẫn định nghĩa của Ủy ban luật pháp tại Úc về hệ thống thanh tụng: “Một dạng tố tụng đặc biệt diễn ra tại Tòa án để xử lý tranh chấp giữa ít nhất là hai bên. Tranh chấp do các bên kiểm soát và mỗi bên đều có cơ hội trình bày phần tranh luận của mình”. Chấp nhận lời thú tội không phản ánh biểu hiện thuần khiết nhất của hệ thống tranh tụng, đó là phân tích về quyền lực của Nhà nước khi nhân danh công dân của mình để điều tra, truy tố những người bị tình nghi là đã thực hiện tội phạm và gợi mở vấn đềcông bằng giữa quyền lực của Nhà nước với quyền được trợ giúp pháp lý của người bị tình nghi.

– Ngoài ra, trong bài giảng “Cải cách tòa án” của khoa Luật, trường Đại học Connor [86], có nêu sơ lược về đặc điểm của hệ thống tranh tụng: giảthiết về mâu thuẫn, quyền tự quyết của các bên, Luật sư quá nhiệt tình, lạm dụng quy trình trước phiên tòa và trong điều tra, huấn luyện nhân chứng, tính trung lập tư pháp, không có biện pháp khắc phục, quang cảnh công lý, những vấn dề của Công tố viên và Luật sư, với nhân chứng Bồi thẩm đoàn và TP, thảm họa mặc cả buộc tội và trên cơ sở đó đưa ra ý tưởng cải cách TA: cần phải có luật ngăn chặn che giấu, bóp méo hoặc bịa đặt sự thực, luật tìm kiếm chứng cứ bắt buộc và tiết lộ bắt buộc, Bồi thẩm đoàn chuyên nghiệp…

1.1.1.2. Nhóm các công trình, tác phẩm nghiên cứu về mô hình tố tụng ở một số quốc gia

Trong tác phẩm “Khái quát hệ thống pháp luật Hòa Kỳ”, dịch từnguyên bản tiếng Anh Outline of the U.S.Legal System [44], các tácgiảđã trình bày các thủ tục tố tụng ở Hoa Kỳ và những hạn chế về mặt Hiến định và Luật đối với thương lượng lời khai. Trong công trình này, toàn bộ chương 5 gồm 34 trang nêu toàn bộ thủ tục TTHS như: Đại bồi thẩm đoàn hay phiên tòa sơ bộ; Thủ tục trong một phiên TTHS; Thủ tục sau một phiên tòa hình sự

10

và kháng cáo. Trong phần trình bày, công trình đã nêu những hạn chế về mặt Hiến định và Luật định đối với thương lượng lời khai. Về thủ tục tố tụng đối nghịch. Công trình khái quát: mô hình tố tụng đối nghịch dựa trên giảđịnh rằng mọi vụ án hình sự đều có hai mặt đối lập. Tại phòng xử án, mỗi bên cung cấp cho bên kia câu chuyện như đã chứng kiến. Lý thuyết (hay hy vọng) làm nền tảng cho mô hình này là: Sự thật sẽ được làm sáng tỏ nếu mỗi bên có đợc cơ hội không hạn chế đểđưa ra đầy đủ bằng chứng, dữ kiện và lập luận trước một Thẩm phán (Bồi thẩm đoàn) trung lập và chu đáo. Luật sư đại diện cho mỗi bên có vai trò chính tại phòng xử án. Thẩm phán kiểm soát hai bên trong những quy tắc được chấp nhận về thủ tục pháp lý và xác định bên thắng kiện phù hợp với các qui tắc về bằng chứng sau khi cả hai bên đã được trao đầy đủ cơ hội đểtrình bày lý lẽ của họ.

– Tác giả Setsuo Miyazama đã đưa ra nhận định “Thủ tục tranh tụng không có Bồi thẩm đoàn, thẩm phán có quá nhiều quyền lực, một hệ thống tranh tụng không cân bằng, có phải hệ thống tranh tụng”trong cuốn “Nội dung hệ thống tranh tụng Nhật Bản”[53]. Nội dung chính của bài viết nêu vềtính độc đáo của tố tụngtranh tụng hình sự Nhật Bản, đó là: bị cáo không tranh luận chống lại Cảnh sát hoặc Công tố viên theo thủ tục hình sự; Phiên tòa không có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn. Sau khi phân tích sự phân chia quyền lực cho các bên và Tòa án trong mô hình tố tụng tranh tụng của Mỹ, tác giả cho rằng việc không có Bồi thẩm đoàn trong tranh tụng hình sự Nhật Bản đã trao cho Thẩm phán quá nhiều quyền và thực chất hệ thống TTHS Nhật bản đang làm suy giảm tính trung lập và vô tư của Thẩm phán dẫn đến làm giảm các khía cạnh khác như: Thẩm phán có thể phỏng đoán sự phạm tội của bị cáo, yêu cầu về chứng cứ của Thẩm phán có thể được giải thích trên cơsở có sự nghi ngờ, vì nghĩ rằng bị cáo có tội nên không cho bên bào chữa trình bày thêm chứng cứ, Thẩm phán không đưa ra câu hỏi đến khi cho rằng

có câu trả lời theo mong muốn của Thẩm phán được đưa ra…Tác giả khẳng định việc thiếu vắng Bồi thẩm đoàn đã tước đi một vài đặc điểm của tố tụng tranh tụng ở Nhật Bản.

– Bài viết “Một hệ thống tranh tụng không cân bằng – Vấn đề, chính sách và hoạt động thực tiễn tại Nhật Bản, nội dung và bối cảnh so sánh, Setsuo

11

Miyazama, trích trong Nội dung hệ thống tranh tụng Nhật Bản” [53], sau chiến tranh, cấu trúc của TTHS Nhật Bản được coi là đã thay đổi theo nguyên tắc tranh tụng, tuy nhiên, theo tác giả vẫn còn tồn tại sự mất cân bằng. Đểchứng minh cho luận điểm của mình, tác giả nêu ra những nỗ lực của giới luật sư về sự tăng cường địa của bị cáo cũng như những nỗ lực của Nhà nước vềtăng cường địa vị của cảnh sát và công tố viên. Bài viết còn đưa ra nhận định về công tác của Luật sư: bào chữa không tích cực, không có khả năng làm giảm sự mất cân bằng và dùng chính sự mất cân bằng này đểtranh luận. Bài viết cũng thừa nhận: “Hệ thống tranh tụng Nhật Bản dường như rất yếu” cùng với giả thiết “tinh hoa của Nhật Bản đã thắng lợi trong việc duy trì một số yếu tố xét hỏi nhất định trong hệ thống công lý hình sự bất kể những nỗ lực của các nhà cải cách Nhật Bản”.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về tố tụng hình sự ở Việt Nam Trong những năm gần đây, ngành tòa án đã có nhiều công trình nghiên

cứu về nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, nhất là từ khi Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ra đời ngày 02/01/2002 mở đầu cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta. Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Trước đó, có thể thấy, quan điểm không thừa nhận nguyên tắc tranh tụng trong đềtài “Những vấn đềlý luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam” do Vũ Đức Khiển [45], kết quả nghiên cứu và kiến nghị đề xuất có l4 vấn đề: Trong đó cáctác giả của đềtài kiến nghị một số vấn đềxác định nguyên tắc của TTHS Việt Nam. Về nguyên tắc tranh tụng, quan điểm của ban chủ nhiệm đềtài cho rằng: không cần xác địnhtranh tụng như là một nguyên tắc cơ bản của TTHS nước ta giống như luật của nhiều nước phương tây đã xác định. Vì ban chủ nhiệm đề tài cho rằng:

Thứ nhất, tư tưởng chỉ đạo xây dựng BLTTHS (sửa đổi) xuất phát từ quan điểm tổ chức bộ máy Nhà nước ta theo nguyên tắc tập trung quyền lực, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phân nhiệm và phối hợp giữa các cơquan nhà nước. Xây dựng bộ máy các cơ quan tiến hành TTHS cũng tuân theo nguyên tắc này. Nguyên tắc tranh tụng được xác định trong TTHS của một số nước

12

trên nền tảng của lý thuyết phân chia quyền lực. Vì vậy, xác định nguyên tắc tranh tụng trong TTHS không phù hợp với nguyên tắc tổ chức Bộ máy nhà nước ta.

Thứ hai, chức năng của các cơ quan tố tụng đã được Luật hiện hành xác định rõràng: Cơ quan điều tra các loại tội phạm; Viện kiểm sát thực hiện hai chức năng: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năng công tố; Toà án thực hiện chức năng xét xử. Nếu xác định nguyên tắc tranh tụng tuyệt đối hoá Toà án chỉ đóng vai trò trọng tài, không buộc tội, không gỡ tội. Quan điểm vềtranh tụng đã không thừa nhận nguyên tắc phối hợp (Điều 9 BLTTHS năm l988). Đồng thời truyền thống TTHS nước ta từ năm l945 đến l996 đã khẳng định trách nhiệm bảo vệ của nhà nước đối với công dân trước những hành vi phạm tội. Điều này không có nghĩa là tạo ra sự bất bình đẳng trong TTHS.

Quan điểm trên của ban chủ nhiệm đề tài thể hiện những hạn chế nhất định khi đối chiếu với quan điểm về cải cách tư pháp của Đảngta thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/0l/2002 của Bộ chính trị và Nghịquyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị (khoá IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

– Nhận thức được vai trò quan trọng của bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS và sự cần thiết xây dựng nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam được thể hiện trong công trình“Môhình lý luận BLTTHS Việt Nam” của Phạm Hồng Hải [33, tr.26-35]. Cuốn sách gồm 3 chương, đáng chú ý là nội dung mục 3 trong chương 3: Tiến tới xây dựng tố tụng hình sự ở Việt Nam theo kiểu tranh tụng.

Với nhận định, BLTTHS năm l988 của Việt Nam đã có nhiều quy định tiến bộ với nhiều nguyên tắc như: Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 20); Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 4); Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án (Điều 20). Những nguyên tắc này ít nhiều đã thể hiện nội dung tranh tụng trong TTHS, song các yếu tố xét hỏi vẫn nhiều hơn. Tác giả cho rằng, tại các giai đoạn khởi tố, điều tra, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm việc tranh tụng hầu như không tồn tại – đây là sự lạc hậu của TTHS nước ta so với TTHS ở một số quốc gia khác cũng đang có những điều kiện kinh tế-xã hội tương tự. Trong điều kiện hội nhập, xây dựng TTHS Việt Nam theo kiểu TTHS tranh tụng là đòi hỏi cấp bách hiện nay và khẳng định: bản

13

thân tranh tụng là nguyên tắc của TTHS, là phương pháp đểtìm ra sự thật khách quan của vụ án.

Ở mục 4, chương l: Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bịtruy cứu trách nhiệm hình sự, tác giả đã đề xuất những nội dung của BLTTHS. Trong đó, tác giả cho rằngnhững vấn đềchung của TTHS cần có 17 nguyên tắc, trong đó tác giả nhấn mạnh “Nguyên tắc tranh tụng”.

Tuy tác giả yêu cầu Luật hoá nguyên tắc tranh tụng, nhưng những nhận định và đềxuất liên quan đến nguyên tắc này trong công trình giới hạn ởphạm vi nghiên cứu tổng thể BLTTHS.

1.1.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về tranh tụng tại các phiên tòa ở Việt Nam

– Ngoài các công trình thể hiện quan điểm có cả thừa nhận và không thừa nhận nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng ở nước ta, còn có một số các công trình tuy không đề cập trực tiếp nhưng cũng thể hiện những nội dung nghiên cứu ở các góc độ khác nhau liên quan đến tranh tụng hoặc nguyên tắc tranh tụng như: luận án tiến sĩ luật học “Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS” của Hoàng Thị Sơn [66]; đề tài nghiên cứu khoa học “Tranh tụng tại phiên tòa – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [81]; cuốn “Vai trò của luật sư trong hoạt động tranh tụng” của TrươngThịHồng Hà [32]; công trình khoa học với đềtài “Hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2003 liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm – Cơ sở lý luận và thực tiễn” do Nguyễn Đức Mai [52].

– Nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng còn được thểhiện trong nhiều bài viết quy mô nhỏ như: cuốn “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền” do Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên [77]; bài viết “Mỹ, tranh tụng khi xét xử tại tòa” của Phan Lan [46, tr.13]; bài viết “Nguyên tắc tranh tụng trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS” của Lê Cảm [15, tr.3-8]; bài viết “Đặc điểm của mô hình TTHS và phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS ở Việt Nam” của Nguyễn Đức Mai [51, tr.1-8]; bài viết “Cần bổ sung nguyên tắc tranh tụng vào BLTTHS” của Lại Văn Trình [78, tr.9-13].

Comment [Water1]:

14

Các công trình nêu trên chủ yếu đề cập đến sự cần thiết phải áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thốngvà toàn diện theo chiều sâu về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.

Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu hoạt động tranh tụng được đặt trong tổng thể của việc nghiên cứu hệ thống TTHS. Bên cạnh đó, tranh tụng với ý nghĩa là một nguyên tắc của TTHS đòi hỏi các chủ thể tiến hành tố tụng, các cá nhân, cơ quan có liên quan phải có trách nhiệm bảo đảm cho hoạt động tranh tụng được thực hiện trên thực tiễn đúng theo quy định của pháp luật. Có bảo đảm tranh tụng công khai, khách quan, công bằng và trực tiếp giữa các bên buộc tội và gỡ tội dưới sự điều khiển công minh, chính trực của TP thì sự thật khách quan mới được làm sáng tỏ. Như vậy, pháp luật mới được thực hiện nghiêm minh, mới bảo vệ được quyền con người, quyền công dân. Hoạt động tranh tụng từ đó đòi hỏi phải được đặt trong tổng thể các quy định của pháp luật.

Ngay từ khi mới ra đời, nền Tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của hệ thống Tư pháp của Pháp, đó là mô hình tố tụng thẩm vấn. Sau đó vào giai đoạn những năm1960, khi hệ thống tưpháp Việt Nam có sự cải cách cơ bản thì ngay trong hệ thống cơ quan tư pháp có sự phối hợp, ràng buộc lẫn nhau. Trong các giai đoạn TTHS, hoạt động tranh tụng của Luật sư mặc dù chưa được quy định phù hợp với thực tiễn xét xử, song do chịu nhiều ảnh hưởng của tố tụng tranh tụng nên Luật sư đã và đang chuyển dần từ vai trò của người hỗ trợ cho hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án đểchuyển sang vai tròchính là người “gỡ tội”.

Những năm gần đây, đặc biệt kể từ sau khi có Nghị quyết số 08/NQ-TW, vấn đềtranh tụng trong TTHS nói riêng và tranh tụng trong các phiên toà được xem xét một cách khá toàn diện. Thực tiễn đang có hai luồng ý kiến khác nhau.

Ý kiến thứ nhất cho rằng: Cần phải chuyển mô hình tố tụng của Việt Nam sang mô hình tố tụng tranh tụng nhằm bảo đảm sự bình đẳng, khách

15

quan trong quá trình tố tụng, phát huy yếu tố tranh tụng trong tất cả các khâu, các giai đoạn tố tụng từ giai đoạn bắt tạm giữ, tạm giam, điều tra thu thập chứng cứ đến giai đoạn xét xử và thậm chí kể cả các giai đoạn thi hành án. Nghiêng về ý kiến này, đại diện là Phạm Hồng Hải, phó chủ tịch liên đoàn luật sư Việt Nam, trong bài viết: “Phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam”, tài liệu hội thảo khoa học Mô hình luật TTHS Việt Nam tháng 12 năm 2009. Tác giả đã đi sâu vào phân tích theo Nghị quyết số 08; Nghị quyết 48 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp ở nước ta. Tácgiảđã phân tích và đánh giá trên lịch sử tồn tại và phát triển của TTHS Việt Nam qua các giai đoạn, tìm ra những ưu điểm và hạn chế của nó. Tác giả cũng nêu, hiện nay theo quy định của pháp luật ở Việt Nam có ba CQTHTT là CQĐT, VKS và TA, tiến hành tố tụng đều thực hiện một nhiệm vụ là chứng minh tội phạm, tại Điều 10 của BLTTHS hiện hành “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan tiến hành tố tụng”. Từ đó, tácgiảđưa ra phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam trong thời gian tới là phải xây dựng TTHS Việt Nam theo kiểu tranh tụng. Nhưng tác giả mới chỉ đưa ra phương hướngchung, chưa có phương hướng, nguyên tắc cụ thể theo kiểu tranh tụng và cũng chưa đi sâu về cơ sở lý luận, thực tiễn của mô hình TTHS mà chỉphân tích và đánh giá trên một phương hướng chuyển sang mô hình tố tụng tranh tụng.

Ý kiến thứ hai cho rằng: Ở Việt Nam, mô hình tố tụng thẩm vấn đã vận dụng và áp dụng mang lại nhiều hiệu quả thiết thực trong tổ chức và hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, đặc biệt là ở lĩnh vực hình sự. Hơn nữa, trong tố tụngthẩm vấn đã bao hàm cả hoạt động tranh luận. Do đó, không cần thiết phải chuyển đổi mô hình tố tụng mà chỉ cần đưa nguyên tắc tranh tụng vào trong TTHS sẽ nâng cao được chất lượng tranh luận giữa KSV và luật sưtrong phiên toà xét xử sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động tố tụng. Nghiêng về ý kiến này là quan điểm của TS Nguyễn Đức Mai, TP Tòa án quân sự trung ương, trong bài tham luận: “Phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam” và một số công trình của các nhà khoa học dưới đây:

– ĐỗNgọc Quang trong bài viết: “Phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam”. Tácgiảđã đi sâu và nghiên cứu về thực trạng mô hình

16

TTHS Việt Nam, phân tích và đánh giá, đưa ra yếu tố chungnhất đểphân biệt các mô hình TTHS dựa vào quy định của pháp luật TTHS về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể tố tụng khi thực hiện các hành vi tố tụng liên quan đến quá trình giải quyết vụ án, như quy định của pháp luật TTHS vềquyền và nghĩa vụ của TP trong xét xử vụ án hình sự tại phiên tòa để xác định đó là tố tụngthẩm vấn hoặc là hình thức TTHS tranh tụng và tác giả đã đánh giá chung rằng đến nay chưa có mô hình tố tụng nào (tranh tụng, thẩm vấn) được coi là tối ưu, đưa ra được ưu điểm cơ bản, nhược điểm để vận dụng vào hoàn cảnh lịch sử và hiện tại của mỗi dân tộc, quốc gia. Để khắc phục những nhược điểm và học tập ưu điểm của nhau trong mỗi mô hình TTHS đểxây dựng mô hình TTHS đan xen hay gọi là mô hình TTHS hỗn hợp.

Tác giả phân tích và đánh giá mô hình TTHS của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay mang đậm đặc điểm của mô hình TTHS thẩm vấn, phân tích các giai đoạn tố tụngvà đềxuất hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam. Sửa đổi một số điều luật:Các Điều 1, 3, 4, 11, 13, 14, 17, 18, 23, 27, 56, 57, 80, 81, 88, 104, 107, 108, 119, 302, 304, 305 của BLTTHS và nhấn mạnh Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH ngày 17 tháng 3 năm 2003. Song tácgiảcũng chưa làm rõ cơ sở lý luận, chưa đưa ra nguyên tắc cụ thể về hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.

– Nguyễn Thái Phúc, cơ quan đại diện Bộ Tư pháp tại thành phố Hồ Chí Minh, trong bài viết: “Mô hình TTHS pha trộn” cũng cho rằng ở Việt Nam cần kết hợp giữa mô hình tố tụng thẩm vấn, xét hỏi với mô hình tố tụng tranh tụng.

– Dương Thanh Biểu trong: “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm” [9], tác phẩm có nội dung phong phú và đa dạng, tìm hiểu, phân tích và làm rõ được quy trình tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, có lập luận chặt chẽ, kết hợp và vận dụng nhuần nhuyễn kiến thức pháp luật, quy định pháp luật và các ví dụminh họa sinh động. Tác giả đã làm rõ khái niệm, bản chất của tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước, các quy định của pháp luật về tranh luận, mà nổi bật lên là vai trò của KSV với trách nhiệm là người thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm. Tác giả đã phân tích, chứng minh bằng những vụ án đã từng xảy ra đểlàm nổi bật tầm quan trọng của kỹ năng thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự như: kỹ năng đọc

17

cáo trạng, kỹ năng xét hỏi, kỹ năng tranh luận của KSV tại phiên tòa; phân tích và làm rõ ý nghĩa quan trọng của kỹ năng thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự sơ thẩm như: kỹ năng tranh luận tại phiên tòa của KSV. Tuy nhiên, tác giả chưa bàn sâu đến vai trò của TP, Luật sư trong tranh luận tại phiên tòa sơthẩm. Tác giả cũng chưa đưa ra được cơ sở lý luận, thực tiễn các giải pháp bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự.

Các công trình nêu trên là các bài tham luận tại Hội thảo khoa học về mô hình TTHS Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội, tháng 12/2009.

Hai quan điểm nêu trên về mục đích đều chứa đựng những nét tương đồngvà hợp lý. Bởi lẽ, chodù có đềnghị giữ nguyên hay thay đổi quan điểm về mô hình tố tụng thì cả hai quan điểm đều khẳng định yếu tố tranh tụng là hết sức cần thiết trong cả quá trình tố tụng.

Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng với truyền thống pháp luật của nước ta thì mô hình tố tụng thẩm vấn đang được đánh giá, nhìn nhận là phù hợp với thực tiễn xét xử và trình độ pháp lý của TP, Luật sư và Bị cáo cũng như những người có liên quan. Sự thật khách quan của các vụ án không chỉ phụ thuộc vào hoạt độngtranh tụng của Luật sư và KSV. TP với tư cách là đại diện cho Toà án chưa hội đủđiều kiện cần thiết đểchỉ đóng vai trò trọng tài, không buộc tội, không gỡ

tội như mô hình tố tụng tranh tụng. Bên cạnh đó, do tác động của yếu tố phân công quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, không cho phép Toà án, VKS và các cơ quan bổ trợ tư pháp độc lập với nhau và độc lập với nhánh hành pháp, lập pháp. Sự độc lập chỉ tồn tại trong phiên toà xét xử.

Tranh tụng vì thế khôngthểđược coi đồng nghĩa với tranh luận mà tranh tụng cần phải được hiểu có nội hàm rộng hơn tranh luận. Trong TTHS, tranh tụng được xác định và ghi nhận là một nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tưpháp nói chung và tư pháp hình sự nói riêng. Tranh luận là một thủ tục của phiên toà hình sự mà trong đó bên buộc tội và bên bào chữa trên cơ sở phân tích các chứng cứ, tài liệu về vụ án để đưa ra sự đánh giá pháp lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo, đềnghị HĐXX về các vấn đềphải giải quyết trong vụ án. Với cách hiểu như vậy, hoạt độngtranh tụng tiến hành tại phiên toà theo một trình tự, thủ

tục do pháp luật về tố tụng quy định. Quá trình diễn ra hoạt động tranh tụng được bắt đầu từ khi khai mạc phiên toà và kết thúc sau khi Toà án công bố phán quyết.

18

Những công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đềtài đã khẳng định sự cần thiết phải bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS, đềcập việc áp dụng bước đầu nguyên tắc tranh tụng trong TTHS ở nước ta, một số kết quả cũng như hạn chế, bất cập trong việc áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn xét xử, các vụ án hình sự ở nước ta. Chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống vấn đề bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơthẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu trong các công trình nêu trên là tài liệu tham khảo bổích và có giá trị để tác giả hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án.

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG ĐỀTÀI LUẬN ÁN

Qua nghiên cứu các công trình khoa học về nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng cho thấy các công trình đều chưa đánh giá được thực trạng công tác bảo vệ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụán hình sự, cũng như phân tích được những ưu điểm, nhược điểm và tìm ra nguyên nhân của những mặt hạn chế. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xửsơ thẩm vụ án hình sự là một nhu cầu tất yếu khách quan và cấp bách xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ của công cuộc cải cách Tư pháp mà Nghịquyết số 49/NQ-TW đã đềra: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụnhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động Tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và có hiệu lực cao … Nâng cao chất lượng công tố của KSV tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, NBC và Những người tham gia tố tụng khác, v.v. Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của KSV, NBC, Bị cáo, Nhân chứng, Nguyên đơn, Bị đơn, Người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định, v.v.).

Các công trình, bài viết liên quan của các tác giả khác đã có đề cập tới một số khía cạnh khách nhau của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong

19

TTHS, tuy nhiên hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về vấn đềnày. Đểđạt được mục tiêu của luận án là nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam dưới góc độ của chuyên ngành lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật, luận án kế thừa có chọn lọc các kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học đã nêu và tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ một số vấn đềsau đây:

Về lý luận, luận án cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc bảo đảm tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, bao gồm:

– Khái niệm, đặc điểm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

– Nội dung, yêu cầu, vai trò và ý nghĩa của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Bên cạnh đó, điều chỉnh và bổ sung những nội dung về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS trong điều kiện đất nước thời kỳ đổi mới mà các công trình khoa học khác chưa đề cập đến.

– Cải cách tư pháp và yêu cầu, điều kiện bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

– Những kinh nghiệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng ở một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

Về thực tiễn, luận án:

– Phân tích đánh giá: pháp luật Việt Nam về việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

– Trên cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, luận án đề xuất những quan điểm và giải pháp bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơthẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ những kết quả nghiên cứu chương 1 cho thấy đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu được công bố trong nước và ngoài nước liên quan đến nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS. Những công trình này liên quan đến các nhóm vấn đề cơ bản sau:

20

– Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi. Các công trình ở nhóm này đề cập đến một số vấn đềlý luận về đặc điểm, cách thức tổ chức mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn ở một số nước trên thế giới, trên cơ sở đó chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm, những hệ lụy, nguyên nhân của những bất cập đó để từ đó đưa ra ý tưởng cải cách tổ chức và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

– Nhóm các công trình thể hiện những quan điểm khác nhau về“tranh tụng”, “tranh luận” tại phiên tòa. Đồng thời các công trình đã thể hiện sự thừa nhận của các tácgiảở các mức độkhác nhau về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS. Các công trình này cho thấy sự khác nhau về quan điểm của các tác giả trong việc ghi nhận và thể chế hóa việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS trong Hiến pháp và Luật pháp của Việt Nam.

– Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự, vai trò của các chủ thể tham gia tố tụngvà phương hướng hoàn thiện mô hình TTHS ở Việt Nam. Qua nghiên cứu cho thấy, các công trình này chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ tổ chức thực hiện nội dung pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS. Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu thực hiện pháp luật bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.

– Nhóm các công trình của các tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu về nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm nguyên tắc tranh tụng có giá trịtham khảo cho việc nghiên cứu tìm ra phướng hướng, giải pháp cho Việt Nam hiện nay.

Tóm lại, các công trình khoa học được đề cập trong chương 1 của luận án, ở những mức độkhác nhau đều liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vấn đề bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử sơthẩm vụ án hình sự dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Mặc dù vậy, các công trình khoa học đó là những tài liệu tham khảo có giá trị đối với việc nghiên cứu, giải quyết mục đích và nhiệm vụ của luận án.

21

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

2.1.1. Khái niệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

2.1.1.1. Khái niệm nguyên tắc tranh tụng

Theo từ điển tiếng Việt “nguyên tắc”là “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loại việc làm”. Giáo trình Luật TTHS, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001 cũng xác định nguyên tắc là “tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơbản của một hoạt độngnào đó”[16, tr.45]. Trong khoa học pháp lý, theo nghĩa chung nhất thì nguyên tắc của pháp luật là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo cơbản có tính chất xuất phát điểm, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt và có ý nghĩa bao trùm, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật [28, tr.245]. Nguyên tắc TTHS là những phương châm, định hướng chi phối và giải quyết toàn bộ các giai đoạn TTHS hoặc một số giai đoạn TTHS và mang tính chất định hướng cho mọi hoạt động và hành vi tố tụng [99, tr.375].

Tranh tụng trong TTHS tồn tại một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật. Dù là trong mô hình TTHS nào, cũng luôn tồn tại các chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng tài phán. Sự tồn tại khách quan của chức năng buộc tội làm xuất hiện chức năng gỡ tội và nhu cầu đối chất, tranh tụng giữa hai nhóm chủ thể có quyền và lợi ích đối lập nhau nhằm bảo vệ lý lẽ của mình, phủ định, phản báclý lẽ của chủ thể đối lập. Nhà làm luật dù có ghi nhận hay không ghi nhận theo ý muốn chủ quan của mình thì tranh tụng vẫn tồn tại là một thuộc tính khách quan của TTHS. Đây cũng chính là một trong những phương châm có tính định hướng của hoạt động TTHS, bởi tranh tụng được coi là một trong những phươngtiện đểtìm ra sự thật khách quan của vụ án, tái hiện sự thật vụ án thông qua tranh tụng. Do tranh tụng tồn tại khách quan và là một trong những tư tưởng chủ

22

đạo, định hướng, chi phối đến quá trình giải quyết vụ án hình sự nên hệ quảtất yếu là nó tồn tại với tính ổn định cao.

Nếu chỉ coi tranh tụng là một phương pháp nhằm thực hiện mục đích xác định sự thật khách quan trong vụ án hình sự mà không phải là một nguyên tắc của TTHS là một thiếu sót. Việc khẳng định tranh tụng là một nguyên tắc của TTHS có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ các quyền của con người trong lĩnh vực TTHS. Điều 10, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc ngày 10/12/1948 ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũngnhư về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ”, cho thấy nguyên tắc tranh tụng đã được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu.

Theo các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ thì nguyên tắc tranh tụng được coi là cơ sở của TTHS; theo quan điểm của nước Ba Lan thì nó là nguyên tắc tổ chức và là nguyên tắc cơ bản của TTHS [50, tr.46]. Tranh tụng, mặc dù được thừa nhận ở nhiều góc độkhác nhau, nhưng tựu chung lại được xem là phươngtiện đểđạt được mục đích và nhiệm vụ đặt ra của TTHS là nhằm giải quyết vụ án hình sự khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật. Tranh tụng không những thể hiện bản chất dân chủ và nhân đạo của TTHS mà còn là cơ sở để xác định địa vị tố tụng và chức năng của cácchủ thểtrong TTHS. Sự định hướng của nguyên tắc tranh tụng được thể hiện tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể, được tiến hành dưới hình thức tranh luận, phản bác công khai các quan điểm giữa bên buộc tội và bên bào chữa.

Như vậy, nguyên tắc tranh tụng trong TTHS là định hướng cho tất cả các chủ thể THTT và tham gia tố tụng trong mọi hoạt động và hành vi tố tụng theo luật định được tranh tụng trên cơ sở bình đẳng bằng lý lẽ dựa trên những chứng cứ, quy định pháp luật nhằm thực hiện chức năng buộc tội hoặc chức năng bào chữa, là cơ sở để TA giữ vai trò trung tâm, độc lập với chức năng tài phán ra phán quyết áp dụng pháp luật có hiệu lực thi hành, kết thúc quá trình giải quyết vụ án hình sự cụ thể.

2.1.1.2. Nội dung của nguyên tắc tranh tụng

Về khái niệm tranh tụng, sau khi phân tích quá trình tố tụng, căn cứ vào nội dung, tính chất tranh tụng và hình thức tiến hành của các loại tranh tụng, tác

23

giả nhận địnhtranh tụng trong TTHS là cuộc tranh luận giữa hai bên có lập trường tương phản nhau gắn liền với hoạt động xét xử. Tranh tụng trong TTHS diễn ra ở mọi giai đoạn của quá trình tố tụng, tuy nhiên chỉ có thể được tiến hành đầy đủ tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Tham gia quá trình tranh tụng là tất cả các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và các chủ thể khác dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa, sự giám sát của HĐXX một cách công khai. HĐXX có vai trò đứng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, làm trọng tài phân xửvà đưa ra quyết định cuối cùng về vụ án. Tranh tụnglà cơ sở đểxác định địa vị

tố tụng, chức năng, vai trò của các chủ thể trong TTHS.

Từ khái niệm về nguyên tắc tranh tụng tác giả đã trình bày, có thể thấy nội dung của nguyên tắc tranh tụng trong TTHS gồm hai nội dung: phân định rõ chức năng buộc tội, gỡ tội và tài phán, trong đó chức năng tài phán không thể bao gồm cả việc buộc tội hay bào chữa; bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong địa vị tố tụng cũng như trong việc sử dụng các phương tiện mà pháp luật cho phép đểthực hiện chức năng của mình trong TTHS. Cụ thể:

– Phân định rõ các chức năng buộc tội, gỡ tội và tài phán: Chức năng buộc tội, gỡ tội và tài phán trong TTHS tương ứng thuộc về bên buộc tội, bào chữa và TA. Chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội tự bản thân nó đã mang tính đối lập nhau. Chức năng tài phán của TA thì không thể bao gồm cả việc buộc tội hay bào chữa. Nội dung này chính là sự khẳng định vị trí, vai trò của TA là người trọng tài, xác địnhchứng cứ, sự thật của vụ án đểphán xét qua tranh luận của bên buộc tội và bên gỡ tội.

– Bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong tranh tụng. Việc quy định chínhxác, đầy đủquyền và nghĩa vụ tố tụng của từng chủthể của các bên, các điều kiện bảo đảm cho chúng được thực hiện là một trong những cơ chế để bảo đảm cho nguyên tắc tranh tụng được thực hiện.

Trong giai đoạn điều tra, đã có những yếu tố tranh tụng cùng với sự tham gia của bên buộc tội và bên bào chữa. Tuy nhiên, những nội dung và đặc điểm của tranh tụng chỉ được thể hiện đầy đủkhi xuất hiện chức năng tài phán của phía trọng tài trong phiên tòa xét xử. Về hình thức, tranh tụng là tại phiên tòa là thủ tục đểcác bên buộc tội và bên bào chữa thể hiện địa vị tố tụng ngang bằng

24

trước tòa. Về nội dung, tranh tụng là quá trình chứng minh hoặc phủ nhận tính hợp pháp của từng chứng cứ được đưa ra xem xét cũng như nội dung quyết định buộc tội. Các hoạt động của các chủ thể ở phiên tòa đều nhằm kiểm tra tính xác thực và hợp pháp của từng nội dung trong cáo trạng truy tố.

2.1.1.3. Khái niệm phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Hiện nay trong thực tiễn và khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau về phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Theo từ điển Luật học: “Xét xử là hành động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tínhchất, mức độpháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc. “Xét” có thể do một Hội đồng thực hiện hoặc có thể do một cá nhân thực hiện, nhưng không phải mở phiên tòa”.

Giáo trình Luật TTHS định nghĩa: “Xét xử sơ thẩm là giai đoạn của TTHS trong đó TA có thẩm quyền tiến hành xem xét giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật”. Định nghĩa này chưa làm rõ bản chất của xét xử sơ thẩm và chưa phân biệt giữa xét xử sơ thẩm với xét xử phúc thẩm. Xét xử sơ thẩm là hoạt động tố tụng thực hiện chức năng xét xử của TA dưới hình thức phiên tòa xem xét và giải quyết vụ án hình sự có nghĩa là TA trên cơ sở các chứng cứ được kiểm tra tại phiên tòa đưa ra phán quyết về bị cáo có tội hay không có tội. Đây là mấu chốt phân biệt xét xử sơthẩm với xét xử phúc thẩm. Phiên tòa sơ thẩm chỉ có thể tiến hành khi có quyết địnhtruy tố của VKS và có đủđiều kiện đểtiến hành phiên tòa. Đối tượng của phiên tòa sơ thẩm là cáo trạng của VKS, cáo buộc nhân danh nhà nước đối với bị cáo về việc đã thực hiện hành vi phạm tội. TA sơ thẩm có trách nhiệm xem xét những nội dung cáo buộc này của bên buộc tội có căn cứvà hợp pháp hay không và thực hiện quyết định của mình trong bản án. Còn phiên tòa phúc thẩm chỉ có thể tiến hành trên cơ sở kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Đối tượng xem xét của phiên tòa phúc thẩm không phải là cáo trạng mà chính là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị về tính hợp pháp và tính có căn cứ của nó.

Theo cách hiểu thông thường, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là cấp xét xử đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án, nó phán

25

quyết hành vi phạm tội của người đã thực hiện hành vi phạm tội và giải quyết những vấn đềkhác của vụ án.

Trong TTHS, giai đoạn xét xử được coi là trọng tâm, và trong các cấp xét xử thì cấp sơ thẩm được xem là có vai trò quan trọng nhất bởi đây là giai đoạn mà toàn bộ vụ án và mọi vấn đề liên quan đến vụ án được xem xét lần đầu và quyết định. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tốtụng, trong đó TA có thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xét xử bằng phiên tòa nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội để từ đó đưa ra phán quyết bằng bản án, quyết định[16, tr.310]. Xét xử sơ thẩm là giai đoạn bắt buộc đối với quá trình giải quyết bất kỳ vụ án hình sự nào.

Như vậy, xét xử sơ thẩm là việc TA xét xử lần đầu đối với toàn bộ vụ án, quyết định bị cáo có tội hay không có tội và áp dụng hình phạt, mức bồi thương thiệt hại (nếu có). BLTTHS Việt Nam quy địnhhoạt độngxét xử vụán hình sự gồm: xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm, xét xử tái thẩm. Điều 20 BLTTHS quy định: “Thực hiện chế độ hai cấp xét xử”.

2.1.1.4. Khái niệm tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Hiện nay trong thực tiễn và khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau về tranh tụng. Theo từ điển Tiếng Việt thì tranh tụng được định nghĩa là “sự kiện cáo nhau” giữa hai bên: bên nguyên đơn và bên bị đơn có lập trường tương phản yêu cầu Toà án phân xử.

Xét về lịch sử ra đời, tranh tụng trong Tiếng Anh là “Adversarial” có nghĩa là đối kháng, đương đầu. Tranh tụng xét về bản chất chính là cuộc đấu tranh giữa hai bên trong TTHS (bên buộc tội và bên bào chữa) mà việc đương đầu diễn ra tại Toà án nơi diễn ra phiên toà để thuyết phục quan toà ra phán quyết có lợi cho mình.

Xét về ngữ, tranh tụng là một từ Hán Việt được ghép thành từ “tranh luận” và “tố tụng”. Do đó, suy diễn theo nghĩa Hán Việt, tranh tụng được xem là tranh luận trong tố tụng.

Theo cách hiểu thông thường, tranh tụng là việc từng bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại, bác bỏ một phần hay toàn bộ quan điểm của phía bên kia.

26

Như vậy, mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau song tranh tụng được xem là một loại hoạt động trong quá trình TTHS. Tranh tụng không chỉ đòi hỏi Toà án phát huy vai trò phán xét của mình để đưa ra sự thật khách quan của vụ án mà còn đòi hỏi mỗi người tham gia hoạt động tố tụng phải phát huy vai trò của mình. Cụ thể Toà án giữ vai trò trung gian, trọng tài cho cuộc tranh tụng giữa Luật sư và Công tố viên. Trong đó Luật sư giữ vai trò là NBC và bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, Công tố viên và cơ quan Điều tra với vai trò là bên buộc tội để bảo vệ công lý. Hay nói khác khác, tranh tụng trong phiên toà chính là một trong các hoạt động tố tụng được tiến hành bởi các bên tham gia tố tụng nhằm mục đích đưa ra các luận điểm,ý kiến của mình để bảo vệquan điểm hoặc bác bỏ luận điểm và những lời buộc tội của phía bên kia dưới sự điều khiển của Toà án. Trong hoạt động tranh tụng tại các phiên toà hình sự, Công tố viên hoạt động nhân danh Nhà nước để buộc tội cho bị cáo; còn Luật sư lại hiện diện với vai trò là NBC, gỡ tội cho thân chủ của họ. Xét vềmặt chủ thể, có thể dễ dàng nhận thấy mối quan hệ pháp luật ởđây là mối quan hệ giữa cơ quan, cá nhân hoạt động nhân danh Nhà nước với cá nhân hoạt động mang tính xã hội – nghề nghiệp. Tranh tụng vì thế có đặc thù bất bình đẳng về vị trí pháp lý của chủ thể nên đòi hỏi phải có sự bình đẳng trong cách thức, quy trình và thủ tục tranh tụng, bảo đảm quyền lực tố tụng được bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng.

Trên thế giới hiện nay, tố tụng được phân chia là hai mô hình chính. Đó là tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn (hay còn gọi là tố tụng xét hỏi).Việc phân loại này phụ thuộc nhiều vào tổ chức tư pháp nước đó theo hệ thống pháp luật gì theo hệ thống án lệ hay hệ thống luật Châu Âu lục địa. Thực tiễn cho thấy rằng ở những nước Châu Âu thì mô hình tố tụng xét hỏi được sửdụng phổ biến. Còn ở các nước theo trường phái luật án lệ như Anh, Mỹ, Úc, mô hình này tuy có khác nhau về thủ tục, trình tự và các biện pháp, cách thức đểtham gia tố tụng thực hiện các hoạt độngnghiệp vụ của mình, song đều giống nhau ở mục đích cơ bản là tìm ra sự thật khách quan của vụ án thông qua hoạt động tố tụng, bảo vệ pháp luật, công lý và bảo đảm quyền conngười, quyền công dân; phát huy vai trò của các chủ thể tham gia quá trình tố tụng khác đểkhắc phục các hiện tượng oan sai trong TTHS.

27

Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: Tranh tụng trong phiên toà xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là quá trình các bên tham gia tố tụng đưa ra quan điểm, chứng cứ của mình và tranh luận để làm sáng tỏ sự thật của vụ án trên cơ sở những chứng cứ không thể bác bỏ để HĐXX phán quyết.

2.1.1.5. Khái niệm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Theo từ điển tiếng Việt, “bảo đảm”là tạo điều kiện cần thiết đểthực hiện được những nguyên tắc; bảo đảm theo nghĩa chung nhất là “làm cho chắc chắn thực hiện được những gì cần thiết, là trách nhiệm của mọi chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn”.

Trong suốt quá trình tranh tụng, bên buộc tội và bên bào chữa có thể liên tục trao đổi những lập luận, chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, cũng có khi một bên im lặng lắng nghe đối phương trình bày rồi mới tìm ra những bất hợp lý của họ làm cơ sở cho những lập luận của mình. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng nhằm bảo vệ quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể tham gia tố tụng không thể thực hiện được khi chỉ có một bên nào đó hoặc chỉ có cơ quan chức năng phát hiện có tội phạm; bảo đảm cho các bên có thể chủđộngdùng các phương tiện pháp luật cho phép đểthu thập và xuất trình chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình; chủ động xác định các vấn đề cần tìm hiểu, cần phải làm rõ để thuyết phục TA. Tranh tụng tạo điều kiện và cơ hội ngang nhau cho các bên trình bày quan điểm, lý lẽ và phần tranh luận của mình tại phiên tòa.

Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng mở ra cơ hội cho các bên tham gia tốtụng. Bên buộc tội, bên bào chữa đều có quyền chủ động xác địnhcác vấn đềcần chứng minh, trên cơ sở đó có thể tự tiến hành điều tra, thu thập chứng cứcần thiết, triệu tập nhân chứng để phản bác lại quan điểm của phía đối phương và khẳng định lý lẽ của mình trước tòa. Mọi chứng cứ, lý lẽ được thu thập, xuất trình tại phiên tòa theo đúng trình tự pháp lý được TA chấp nhận sẽ là căn cứ cho phán quyết cuối cùng mà không phân biệt là do bên nào đưa ra. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tạo điều kiện cho bên buộc tội mà chủ yếu là CQĐT và Viện công tố không chỉ thu thập chứng cứ buộc tội mà còn có nghĩa

28

vụ thu thập chứng cứ có tính chất gỡ tội hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sựcho người bị tình nghi; bảo đảm việc thu thập chứng cứ phản bác sự buộc tội, chứng minh vô tội, giảm nhẹ tội hoặc trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường dân sự trong vụ án hình sự của người bị tình nghi do bên bào chữa thực hiện. Trong trường hợp người bị hại tự mình thu thập chứng cứ chứng minh kẻ tình nghi đã xâm phạm quyền lợi của mình được pháp luật hình sựbảo vệ thì có thể yêu cầu sự trợ giúp từ các cơ quan quyền lực công. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tạo điều kiện cho các chủ thể vận dụng hết khả năng của mình trước TA đểkhẳng địnhviệc phải chịu trách nhiệm hình sự vì đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ cũng như việc phủ nhận các cáo buộc, chứng minh vô tội hoặc những tình tiết giảm nhẹ tội, trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội.

Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là tạo các điều kiện cần và đủnhằm bảo đảm hiện thực hóa nguyên tắc tranh tụng một cách nghiêm túc, triệt để tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; tạo điều kiện cho các bên tham gia tố tụng đưa ra quan điểm, chứng cứ và tranh luận để làm sáng tỏ sựthật của vụ án trên cơ sở những chứng cứ không thể bác bỏ, nhằm mục đích xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có hành vi phạm tội, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, bảo vệ pháp chế, pháp luật, giám sát hoạt động tư pháp, bảo vệ công lý, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.

2.1.2. Đặc điểm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Quá trình phát triển của mô hình TTHS nước ta chịu ảnh hưởng lớn từmô hình TTHS Pháp và Xô Viết (hai mô hình TTHS vốn bắt nguồn từ truyền thống luật châu Âu lục địa) và đã tiếp thu đậm nét những yếu tố của mô hình tố tụng thẩm vấn. Hệ thống pháp luật, hệ thống tư pháp của Pháp đã hiện diện ở nước ta trong gần 100 năm, bên cạnh hệ thống pháp luật và hệ thống tưpháp phongkiến bản xứ, đã ảnh hưởngsâu sắc tới truyền thống, tư duy pháp lý ở nước ta. Các BLTTHS được ban hành và áp dụng trong thời kỳ Pháp thuộc là sự sao chép cơ bản BLTTHS của Pháp thời đó.

29

Sau năm 1945, hệ thống cơ quan tư pháp ở nước ta được hình thành, chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ mô hình của Pháp. Từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980, mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp và hệ thống luật nước ta chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của mô hình Xô Viết. Trong lĩnh vực TTHS, sự ảnh hưởng này được thể hiện đậm nét trong BLTTHS đầu tiên của nước ta ban hành năm 1988 và tiếp tục ảnh hưởng trong BLTTHS năm 2003. Vì thế, có thể khẳng định mô hình TTHS ở nước ta về cơ bản là mô hình TTHS thẩm vấn. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của nó, đã tiếp thu một số hạt nhân của mô hình TTHS tranh tụng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội cụ thể của Việt Nam. Để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự cần chú ý các đặc điểm sau đây:

Một là, tất cả các cơ quan và những người tham gia tố tụng đều có quyền và nghĩa vụ xác định sự thật vụ án.

Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự đòi hỏi người bào chữa và cả bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án.

Hai là, kết hợp phương pháp điều tra, thẩm vấn với phương pháp tranh tụng: Thể chế hóa quan điểm của Đảng về tăng cường tranh tụng tại phiên tòa, BLTTHS năm 2003 đã bổ sung một chương riêng về tranh luận tại phiên tòa: phương pháp tố tụng áp dụng trong giai đoạn này là phương pháp tranh tụng. Việc tranh tụng, đối đáp chỉ diễn ra giữa KSV và NBC cùng những người tham gia tố tụng khác. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến.

Ba là, về vị trí, vai trò của các chủ thể trong TTHS: Khác với mô hình TTHS tranh tụng, phân chia các chủ thể tố tụng dựa vào tiêu chí là các chức năng cơ bản của TTHS: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử, trên cơ sở đó hình thành các bên trong quan hệ tố tụng: bên buộc tội, bên bào chữa và TA trung lập.

Khác với mô hình TTHS tranh tụng, người bị hại trong TTHS nước ta không có quyền khởi tố vụ án hình sự; không có quyền lựa chọn cách thức

30

giải quyết vụ án, dừng kiện, hay chấp nhận việc mặc cả thú tội như trong mô hình TTHS tranh tụng do quan niệm vụ án hình sự xảy ra bị xem là đã xâm hại tới trật tự công cộng, lợi ích chung của toàn xã hội và trách nhiệm giải quyết vụ án hình sự phải thuộc về Nhà nước. Người bị hại chỉ có quyền trình báo với các cơ quan có thẩm quyền về vụ việc xảy ra, cung cấp thông tin cho các CQTHTT và tham gia tố tụng với vai trò gần như người làm chứng.

Bốn là, về việc thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS: Dù áp dụng mô hình TTHS nào thì trong TTHS luôn tồn tại 3 chức năng cơ bản, đó là buộc tội, bào chữa và xét xử. Vai trò, thẩm quyền của các chủ thể được phân định theo các chức năng tố tụng là điều kiện quan trọng bảo đảm mục tiêu, hiệu quả của TTHS.

Có thể thấy, tính tranh tụng trong hoạt động TTHS ở nước ta còn rất hạn chế, chức năng bào chữa dường như bị lấn át bởi chức năng buộc tội.

Năm là, hồ sơ vụ án chỉ là căn cứ để buộc tội của bên buộc tội: trong TTHS Việt Nam luôn tồn tại hồ sơ vụ án hình sự. Như vậy, hồ sơ vụ án – kết quả hoạt động của CQĐT và Cơ quan công tố trong mô hình tranh tụng – chỉlà căn cứ đểbuộc tội của bên buộc tội. TA còn phải căn cứ vào hồ sơ và lý lẽtranh luận của bên gỡ tội đểphán xét có tội phạm hay không và hình phạt được áp dụng.

2.2. NỘI DUNG, VAI TRÒ, Ý NGHĨA BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

2.2.1. Nội dung bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\BẢO ĐẢM NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *