Quản trị rủi ro hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Quản trị rủi ro hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, gia tăng các hoạt động giao dịch trên thị trường thế giới, cộng đồng quốc tế yêu cầu giảm thiểu sự can thiệp từ phía chính phủ khiến hải quan các nước phải đổi mới phương thức quản lý, nhằm đạt được sự cân bằng thích hợp giữa tạo điều kiện thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ sự tuân thủ theo quy định của pháp luật và quản lý rủi ro được lựa chọn như một giải pháp tối ưu nhất. Hải quan các nước, dù hoạt động dựa trên hệ thống tự động hay thủ công, đều có thể áp dụng các nguyên tắc quản trị rủi ro trong quản lý. Đây là giải pháp đóng vai trò trung tâm trong tiến trình hiện đại hóa ngành Hải quan.

Thực tế thấy rằng, áp dụng một chiến lược quản trị rủi ro sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các tổ chức vì điều này sẽ giúp việc sắp xếp, cân đối nguồn nhân lực có hạn trong môi trường nhiều áp lực để đạt được hiệu quả cao trong mọi hoạt động của các tổ chức đó.

Quản trị rủi ro là phương tiện hữu hiệu để đảm bảo cùng lúc thực hiện công tác kiểm soát hải quan và tạo thuận lợi cho thương mại. Nhờ có việc lựa chọn hàng hóa xuất nhập khẩu trọng điểm để kiểm tra, quá trình thông quan và giải phóng hàng hóa được diễn ra nhanh hơn. Các lô hàng, hành khách và phương tiện vận tải được xác định có độ rủi ro thấp sẽ ít bị cơ quan hải quan can thiệp và khâu làm thủ tục được diễn ra nhanh chóng, thuận lợi.

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp làm thủ tục tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam đều gia tăng qua các năm, chủng loại hàng hóa ngày càng đa dạng, phức tạp, đặc biệt các Doanh nghiệp FDI đang có đóng góp đáng kể vào nền kinh tế tỉnh nhà. Tỷ trọng xuất nhập khẩu của các Doanh nghiệp FDI chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Trong khi đó với xu hướng đơn giản hoá thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng tinh giảm. Việc cơ quan hải quan áp dụng quản trị rủi ro là biện pháp hữu hiệu để đảm bảo cùng lúc thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát hải quan và tạo thuận lợi cho thương mại. Tuy nhiên, do một số yếu tố khách quan và chủ quan, hiện nay việc áp dụng quản lý rủi ro tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam đem lại hiệu quả chưa cao.

Do vậy, xuất phát từ những nội dung trên, bản thân chọn đề tài: “Quản trị rủi ro hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam” làm đề án tốt nghiệp.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề án

2.1. Mục tiêu tổng quát:

Phân tích, đánh giá các thực trạng công tác quản trị rủi ro hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện công tác này

2.2. Mục tiêu cụ thể:

Để đáp ứng được mục tiêu tổng quát, luận văn chia nhỏ thành 3 mục tiêu cụ thể:

Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro hải quan nói chung và hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam nói riêng.

Phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

2.3. Câu hỏi nghiên cứu:

Để đáp ứng mục tiêu tổng quát cũng như 3 mục tiêu cụ thể, luận văn cần trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng.

– Quản trị rủi ro hải quan nói chung và quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam nói riêng gồm những nội dung gì?

– Thực trạng công tác quản trị rủi ro đối với đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua là như thế nào?

– Cần phải làm gì để tăng cường công tác quản lý rủi ro đối với đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến?

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là công tác quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

Phạm vi nghiên cứu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, số liệu được thu thập trong thời gian 2019-2023 để phân tích đánh giá.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để tổng hợp các lý thuyết và nghiên cứu trước để hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam nói riêng để hình thành nên cơ sở lý thuyết của đề tài.

Về phương pháp phân tích, luận văn giới hạn sử dụng một số kỹ thuật phân tích thống kê mô tả để đánh giá sự biến động theo thời gian về quy mô và cấu trúc dữ liệu thứ cấp (các báo cáo, nghiên cứu đã có, liên quan) theo các chỉ tiêu khác nhau để nhận diện thực trạng rủi ro và công tác quản trị rủi ro hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

Phương pháp xử lý dữ liệu:

+ Đối với các dữ liệu sơ cấp, luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp ý kiến chuyên gia, thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy đa biến, phân tích so sánh sự tương đồng và khác biệt theo các nhóm phân loại định tính.

+ Đối với các dữ liệu thứ cấp, luận văn sử dụng các kỹ thuật phân tích theo chỉ tiêu, phân tích biến động, phân tích xu hướng.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

5.1. Ý nghĩa khoa học

Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, quy trình liên quan đến quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

5.2. Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài đánh giá được thực trạng và đưa ra những ưu điểm và hạn chế cũng như các yếu tố tác động đến việc triển khai áp dụng quản lý rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.; Đồng thời, đề tài đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho đơn vị, doanh nghiệp và cho xã hội. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu hữu ích cho quá trình nâng cao năng lực quản trị rủi ro hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam., là nguồn tư liệu tham khảo của các đơn vị hải quan địa phương và ngành Hải quan, góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động hải quan hiện đại trong thời gian đến.

Quản trị rủi ro hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam
Quản trị rủi ro hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

Chương 2 : Kết quả phân tích công tác quản trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro đối với đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU DOANH NGHIỆP FDI TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM

1.1. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU DOANH NGHIỆP FDI TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM

1.1.1. Khái quát chung về rủi ro, quản trị rủi ro

Rủi ro là khả năng xảy ra một sự kiện bất lợi hoặc không mong muốn, gây thiệt hại, mất mát hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến mục tiêu, dự án hay toàn bộ doanh nghiệp. Nó là một tình huống không chắc chắn và có thể có cả kết quả tích cực lẫn tiêu cực. Rủi ro có thể xuất hiện từ nhiều nguồn khác nhau, có thể ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của cuộc sống và hoạt động kinh doanh.

Quản trị rủi ro là việc xác định, phân tích, ngăn chặn các rủi ro không mong muốn nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của chúng và tăng khả năng tận dụng cơ hội. Nói cách khác, quản trị rủi ro là một hệ thống xử lý rủi ro trước khi chúng trở thành tác hại trực tiếp ảnh hưởng đến doanh nghiệp.

Quản trị rủi ro là một quá trình phức tạp và đòi hỏi sự hợp tác của nhiều bên liên quan trong tổ chức. Sự tham gia và cam kết từ tất cả các cấp bậc và phòng ban trong doanh nghiệp là điều cần thiết để đạt được hiệu quả trong quản trị rủi ro.

1.1.2. Khái niệm về Quản lý rủi ro trong hải quan

Theo quan điểm của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO): Rủi ro là sự không tuân thủ pháp luật về hải quan. Rủi ro có nghĩa là khả năng một điều gì đó sẽ xảy ra, ngăn chặn việc áp dụng các biện pháp xử lý của cộng đồng hoặc của quốc gia liên quan đến đối xử hàng hóa của Hải quan.

Theo quan điểm của Hải quan Mỹ, rủi ro là mức độ không tuân thủ pháp luật làm tổn thất hoặc thiệt hại đến thương mại, công nghiệp hoặc cộng đồng.

Quản lý rủi ro là việc cơ quan hải quan áp dụng hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả, ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm của Doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan.

1.1.3. Vai trò của quản trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI

Giúp nâng cao khả năng ngăn ngừa và phòng tránh rủi ro, từ đó có thể giúp cơ quan Hải quan điều phối, sử dụng các nguồn lực có giới hạn nhưng đem lại hiệu quả trong bối cảnh bùng nổ các hoạt động, giao dịch thương mại quốc tế những năm gần đây.

Giúp giảm thiểu, hạn chế các tác động bất lợi, các vấn đề, hậu quả rủi ro phát sinh, từ đó góp phần giúp cơ quan Hải quan thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của mình, giúp người quản lý, điều hành, nhân sự cấp cao của đơn vị đưa ra quyết định đúng đắn và có thể chủ động phòng ngừa, kịp thời ngăn chặn hoặc có những biện pháp xử lý rủi ro phù hợp.

Góp phần giảm thiểu chi phí hành chính, chi phí vận hành tổ chức bộ máy để có thể duy trì mục tiêu tạo thuận lợi thương mại cùng với mức độ kiểm soát phù hợp.

Giúp cơ quan, tổ chức đáp ứng, thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, cam kết quốc tế, mục tiêu, yêu cầu thực hiện từ cơ quan chủ quản, quản lý cấp trên.

Hải quan là cơ quan quản lý hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, phương tiện vận tải, hành lý xuất nhập cảnh qua biên giới nhằm bảo vệ an ninh kinh tế của quốc gia, bảo vệ cộng đồng xã hội và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, hợp tác quốc tế dựa trên tính tuân thủ luật pháp về hải quan và các quy định khác có liên quan. Những hành vi tiềm ẩn sự không tuân thủ pháp luật, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan hải quan đều bị coi là vi phạm và phải được ngăn ngừa, hạn chế ở mức cao nhất. Vì vậy, quản trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, trong đó hàng hóa xuất nhập khẩu của doanh nghiệp FDI đóng vai trò then chốt trong hoạt động nghiệp vụ của cơ quan hải quan. Với xu hướng cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu thủ tục hồ sơ, giấy tờ, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu Doanh nghiệp FDI nhưng phải đồng thời thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước của cơ quan hải quan thì cần thiết phải nâng cao quản trị rủi ro.

1.1.4. Phân loại quản trị rủi ro

Phân loại quản trị rủi ro đối với hàng nhập khẩu xuất nhập khẩu của Doanh nghiệp FDI bao gồm:

– Rủi ro trong hoạt động đầu tư: là những rủi ro liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài như không thực hiện hoạt động đầu tư theo đúng nội dung trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư như địa điểm thực hiện DA, tổng VĐT, tiến độ thực hiện…Doanh nghiệp thực hiện báo cáo về hoạt động đầu tư không trung thực, không thực hiện thủ tục điều chỉnh DA đầu tư khi có thay đổi; tạm ngừng hoạt động của DA đầu tư, nhưng không thông báo…

– Rủi ro trong khai báo hải quan: những rủi ro liên quan đến việc người khai hải quan như việc khai báo không đúng thời hạn, không khai báo hoặc khai báo sai về số lượng, chủng loại hàng hóa, mã số HS hàng hóa đối với hàng hóa mục đích kinh doanh nhằm gian lận thương mại, trốn thuế hoặc vi phạm quy định về cơ sở sản xuất, quản lý nguyên liệu, vật tư, sản phẩm gia công, sản xuất XK để được miễn thuế..

– Rủi ro trong tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của đơn vị: những nguy cơ rủi ro nội bộ và bên ngoài làm ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai thực hiện mục tiêu, kế hoạch, nội dung quy định, hướng dẫn, yêu cầu, chỉ đạo từ cấp trên; làm ảnh hưởng đến mục tiêu cân bằng giữa kiểm soát và tạo thuận lợi thương mại hợp pháp…

1.2. NỘI DUNG QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU DOANH NGHIỆP FDI

1.2.1. Phòng ngừa rủi ro

Phòng ngừa rủi ro và việc sử dụng các biện pháp phòng tránh, ngăn ngừa, né tránh rủi ro: thực hiện thông qua các hoạt động loại bỏ nguyên nhân gây ra rủi ro hoặc né tránh chủ động từ trước khi xảy ra rủi ro hoặc làm giảm tần suất xuất hiện rủi ro, giảm hậu quả rủi ro thông qua phân tán rủi ro, dự phòng, xây dựng các kế hoạch phòng ngừa rủi ro…để ngăn ngừa, né tránh hoặc ít nhất cũng giúp giảm thiểu những tổn thất phát sinh, những tác hại của rủi ro có thể gây ra cho cơ quan, tổ chức.

1.2.2. Nhận diện rủi ro

Vi phạm với nhóm hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới tại địa bàn Quảng Nam thời gian qua tuy không nhiều, mức độ chưa nghiêm trọng nhưng cũng rất cần được quan tâm đánh giá rủi ro để kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn trường hợp có biểu hiện, dấu hiệu rủi ro giống hệt hoặc tương tự.

Trong khai báo, làm thủ tục hải quan để nhập khẩu hàng hóa Doanh nghiệp FDI, gian lận khai báo phổ biến là về phân loại hàng hóa thông qua khai báo sai về mã số HS của hàng hóa. Chiêu thức đầu tiên mà các doanh nghiệp sử dụng để gian lận thuế đó là lợi dụng sự phức tạp trong cơ cấu sản phẩm cũng như tên gọi, đặc biệt là những sản phẩm mới, là hỗn hợp của nhiều chất hoặc linh kiện khó có thể phân biệt bằng cảm quan để kê khai hàng hoá vào mã số có thuế suất thấp.

Ngoài các trường hợp hàng hóa mới, lần đầu tiên nhập khẩu hoặc có sự giao thoa, cần phân tích, kiểm định để xác định chính xác chủng loại, áp mã HS hàng hóa thì các hành vi gian lận nêu trên nhằm các mục đích như gian lận thuế (làm giảm số thuế phải nộp, tăng số tiền được hoàn), nhằm né tránh chính sách quản lý chuyên ngành, kiểm tra chuyên ngành (kiểm dịch, an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng, hợp chuẩn, hợp quy…) đối với hàng hóa xuất nhập khẩu do các Bộ, ngành, cơ quan chủ quản ban hành các chính sách quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu, né tránh hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan.

Đặc biệt, để trốn thuế nhập khẩu và thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá… Doanh nghiệp nhập khẩu cố tình khai sai tên hàng, chủng loại, mã hàng đối với nhiều lô hàng hoá nhập khẩu không đáp ứng yêu cầu hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt.Theo đó, các doanh nghiệp thường khai báo hàng hoá vào nhóm mã hàng có mức thuế thấp (thuế suất nhập khẩu: 0%,3%,5% theo Biểu thuế ưu đãi) mà không khai đúng vào các dòng mã số HS có thuế suất nhập khẩu cao (thuế nhập khẩu: 10%,20%,25%.. theo Biểu thuế ưu đãi). Doanh nghiệp cố ý khai sai lêch tên hàng, chủng loại, khối lượng, trị giá, mã số hàng hóa, thuế suất với mục đích che giấu tên hàng thực xuất nhập khẩu,lợi dụng “luồng xanh” để tránh hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan.

Tại địa bàn tỉnh Quảng Nam, các trường hợp được miễn thuế chủ yếu nhằm vào các đối tượng: miễn thuế đối với nguyên liệu, vật tư, phụ liệu hàng hoá NK để gia công, sản xuất xuất khẩu, máy móc thiết bị hình thành tài sản cố định của các dự án ưu đãi đầu tư. Số tiền thuế được miễn rất lớn, đi kèm với đó là những yêu cầu, quy định trong hồ sơ cũng như quy trình miễn thuế. Doanh nghiệp lợi dụng quy định thông thoáng để hợp thức hóa hồ sơ miễn thuế chưa đảm bảo quy định.

Ngoài ra, doanh nghiệp FDI cũng đã và đang cho thấy nhiều hạn chế. Theo đánh giá, vốn thực hiện của doanh nghiệp FDI so với vốn đăng ký chỉ chiếm khoảng 47,7%, một số doanh nghiệp FDI thực hiện chiêu “chuyển giá” để trốn thuế, một số doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường.

Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong hoạt động FDI có liên quan đến nhiều cơ quan QLNN như: tài nguyên môi trường, hải quan, thuế, quản lý thị trường, cảnh sát kinh tế, quản lý lao động… do đó sự phối hợp tốt giữa các cơ là điều hết sức cần thiết, cũng như có quy chế hoạt động đảm bảo quy định rõ trách nhiệm, đúng người, đúng việc. Mặt khác, có kế hoạch kiểm tra phù hợp tránh kiểm tra, thanh tra quá nhiều lần, không sử dụng thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm để gây sức ép và phiền hà đối với doanh nghiệp. Phải có cơ chế, biện pháp để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, cũng như việc cố tình làm sai quy định với mục đích trục lợi của một số CBCC thực thi.

1.2.3. Đo lường rủi ro

Mục tiêu của hoạt động này nhằm tìm ra các nguyên nhân rủi ro để từ đó có thể tác động đến các nguyên nhân này, thay đổi chúng và như vậy sẽ kiểm soát được các rủi ro. Trên cơ sở rủi ro đã được nhận diện, nó tiếp tục được đo lường quy mô, ước lượng mức độ nghiêm trọng (trầm trọng, quan trọng, không quan trọng), đo lường hậu quả rủi ro thông qua đánh giá thống kê, kết quả phân tích số liệu dựa trên nền tảng các tiêu chí đánh giá. Phương pháp đo lường rủi ro có thể sử dụng độc lập hoặc kết hợp giữa đo lường định tính và đo lường định lượng để phù hợp với bối cảnh và tình hình thực tế.

Thông thường, người ta hay sử dụng ma trận phân tích 2×2, 3×3, 5×5 của các yếu tố về tần suất rủi ro, hậu quả rủi ro với các thang bậc, mức độ đánh giá chi tiết tương ứng với loại ma trận phân tích như đã nêu trên: cao/ thấp; cao/ trung bình/ thấp ; rất cao/ cao/ trung bình/ thấp/ rất thấp.

1.2.4. Xử lý rủi ro

– Biện pháp xử lý rủi ro: đây cũng chính là biện pháp thường được cơ quan Hải quan lựa chọn và sử dụng. Khi đó, họ tìm cách giảm khả năng hoặc hậu quả của rủi ro bằng cách áp dụng các biện pháp kiểm soát và tác nghiệp nhằm thay đổi các mức độ rủi ro để phù hợp với khả năng chấp nhận của cơ quan Hải quan trong khuôn khổ quy định, hướng dẫn về công tác áp dụng quản lý rủi ro ngành Hải quan. Tùy thuộc loại rủi ro cụ thể mà sẽ áp dụng phương pháp xử lý phù hợp, trong đó bao gồm tìm kiếm, phòng ngừa và áp dụng các biện pháp thực thi pháp luật. Khi xem xét để quyết định sử dụng các biện pháp xử lý, thay vì chỉ tập trung vào xử lý các biểu hiện của rủi ro đó thì điều quan trọng là việc cần hiểu được nguồn gốc phát sinh rủi ro, từ đó giúp đưa ra được những quyết định chính xác hơn, từ đó có được các biện pháp xử lý mang tính chiến lược và hiệu quả, hoặc có thể phối hợp các biện pháp để giảm thiểu những hậu quả của rủi ro.

– Biện pháp chấm dứt rủi ro: đây là biện pháp tránh rủi ro thông qua việc quyết định tiếp tục / không tiếp tục thực hiện công việc – công việc này có thể sẽ gặp rủi ro và đã đã được xác định từ trước.

1.3. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM

1.3.1. Quy trình quản trị rủi ro

– Thu thập, xử lý thông tin rủi ro.

– Đánh giá tuân thủ pháp luật, phân loại mức độ rủi ro đối với người khai hải quan.

– Phân tích đánh giá rủi ro.

– Quản trị, xây dựng, cập nhật, áp dụng tiêu chí đánh giá tuân thủ pháp luật, tiêu chí phân loại mức độ rủi ro đối với người khai hải quan và tiêu chí phân loại mức độ rủi ro trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

– Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện, áp dụng quản trị rủi ro, quản trị tuân thủ pháp luật trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.

– Các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ quản trị rủi ro khác gồm:

+ Xây dựng, quản trị Danh mục hàng hóa rủi ro;

+ Xây dựng, quản trị Hồ sơ rủi ro;

+ Xác lập hồ sơ, quản trị Doanh nghiệp trọng điểm;

+ Đo lường tuân thủ pháp luật hải quan trong các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;

+ Quản trị Kế hoạch kiểm soát rủi ro; Chuyên đề kiểm soát rủi ro; Phân tích sau khi phát hiện, xử lý vụ việc buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại điển hình để dự báo xu hướng và cảnh báo rủi ro.

1.3.2. Nguồn nhân lực quản trị rủi ro

Tổng số CBCC tại Cục Hải quan Quảng Nam: 91 người gồm 75 công chức và 16 nhân viên hợp đồng lao động theo Nghị định 68.

Bộ máy hành chính hiệu quả quyết định sự thành công không chỉ trong công tác thu hút nhà đầu tư FDI mà còn tác động đến toàn bộ quá trình quản lý hoạt động FDI cũng như hiệu quả hoạt động của khu vực này. Tổ chức bộ máy QLNN phức tạp, nhiều cấp quản lý, nhiều khâu, TTHC rườm rà là lực cản đối với hoạt động FDI. Nó gây nên sự e dè cho nhà đầu tư khi có ý định đầu tư vào.

Trong hoạt động quản trị về FDI, trình độ, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ có vai trò hết sức quan trọng và ảnh hưởng rất lớn trong công tác quản trị. Chính đội ngũ CBCC là người xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật, chính sách. Nếu CBCC có năng lực, trình độ và phẩm chất tốt thì đảm bảo công tác triển khai và thực thi đúng quy định, hiệu quả, tiết kiệm, hạn chế tham nhũng, tiêu cực, góp phần hoàn thành chương trình quy hoạch hiệu quả. Ngược lại, CBCC hạn chế về trình độ, năng lực, nhận thức thì sẽ ảnh hưởng đến công tác tham mưu, xử lý việc triển khai thực hiện, hoặc cố tình lách luật, làm sai để trục lợi.

Ngoài những yêu cầu của đội ngũ CBCC trong lĩnh vực này về trình độ, phẩm chất, đạo đức còn đòi hỏi CBCC phải có nhãn quan chính trị, khả năng giao tiếp đối ngoại, ngoại ngữ và năng lực chuyên ngành tốt trong lĩnh vực quản lý trong việc tiếp xúc, giao lưu và làm việc với nhiều nhà đầu tư đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau.

Bố trí, sắp xếp CBCC phù hợp, theo hướng chuyên môn hoá trong các lĩnh vực: phân loại hàng hoá, trị giá tính thuế, C/O,…. tại khâu tiếp nhận hồ sơ HQ. Tăng cường sắp xếp nguồn nhân lực giải quyết xử lý hồ sơ với loại hình NK kinh doanh, NK để sản xuất hàng XK. Trong mỗi đơn vị nghiệp vụ có 1 CBCC làm công tác quản trị rủi ro, ở các Chi cục Hải quan cửa khẩu trong một thời gian quy định chỉ thực hiện luân chuyển CBCC trong khâu tiếp nhận với nhau mà không luân chuyển CBCC làm các khâu nghiệp vụ khác trong đó có công tác quản trị rủi ro nhằm đảm bảo tính chuyên môn hóa cao tại khâu này.

1.3.3. Nguồn lực công nghệ quản trị rủi ro

Tại đơn vị, nguồn lực công nghệ phục vụ công tác quản trị rủi ro bao gồm các trang thiết bị công nghệ thông tin, thiết bị Seal định vị, thiết bị phát hiện chất ma túy, hệ thống Camera giám sát phục vụ công tác giám sát trọng điểm,…. phục vụ các hoạt động nghiệp vụ trong triển khai thực hiện công tác quản trị rủi ro

1.3.4. Quy mô hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp FDI

Bảng số liệu hoạt động XNK của doanh nghiệp FDI

Đánh giá quy mô hàng hóa xuất nhập khẩu doanh nghiệp FDI thông qua phân tích số liệu

1.3.5. Đặc điểm hàng hóa xuất nhập khẩu

– Đặc điểm hàng hóa: Mỗi hàng hóa có những đặc điểm lý hóa cấu thành nên hàng hóa, chủng loại, thuộc tính, màu sắc, kích cỡ riêng biệt và giá trị sử dụng cũng khác nhau. Đối với công tác quản lý của cơ quan hải quan, mỗi hàng hóa gắn với một mã HS thể hiện đặc tính riêng yêu cầu Doanh nghiệp phải khai báo chính xác, trung thực khi làm thủ tục xuất nhập khẩu. Hàng hóa khai báo hải quan gắn với các chính sách về: giấy phép, kiểm tra chuyên ngành, khai báo hóa chất, hạn ngạch, chính sách mặt hàng…Vì vậy, hàng hóa tiềm ẩn nhiều rủi ro cần được kiểm tra kỹ trước khi thông quan.

– Xuất xứ hàng hóa: đa dạng, phức tạp, hàng hóa nhập khẩu của Doanh nghiệp FDI đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, Doanh nghiệp thường xuyên sử dụng chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) để được hưởng ưu đãi thuế quan, có nhiều loại C/O khác nhau dựa trên các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương mà quốc gia tham gia. Các hiệp định như Hiệp định Thương mại tự do, Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện và tiến bộ (CPTPP), Hiệp định khu vực đối tác kinh tế châu Âu (EVFTA),… nguy cơ rủi ro cao trong việc giả mạo xuất xứ để được hưởng ưu đãi.

– Phương thức vận chuyển hàng hóa: Hiện có 4 hình thức khai báo hải quan trong vận chuyển bao gồm vận chuyển đường bộ, hàng không và đường biển và đường sắt. Hiện trên địa bàn quản lý của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam tập trung chủ yếu Doanh nghiệp thực hiện phương thức vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu đường bộ Nam Giang và đường biển qua cảng Kỳ Hà, cảng Chu Lai. Mỗi phương thức vận chuyển tiềm ẩn rủi ro gian lận phương thức vận chuyển, gian lận thương mai, nguy cơ buôn lậu vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới, cảng biển hiện nay đang tăng cao.

1.3.6. Người khai hải quan

Theo Luật Hải quan, Người khai hải quan bao gồm: chủ hàng hóa; chủ phương tiện vận tải; người điều khiển phương tiện vận tải; đại lý làm thủ tục hải quan, người khác được chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải ủy quyền thực hiện thủ tục hải quan.

Việc quản lý, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật hải quan, mức độ rủi ro của người khai hải quan trên cơ sở đánh giá của cơ quan Hải quan giúp nhận diện, phát hiện các nguy cơ rủi ro, dấu hiệu rủi ro, dấu hiệu vi phạm của lô hàng nhập khẩu, người khai hải quan và các tổ chức, cá nhân có liên quan, từ đó phân nhóm để quản lý.

Bảng tổng hợp cơ cấu người khai hải quan

Đánh giá số lượng, chất lượng người khai hải quan

1.4. KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU DOANH NGHIỆP FDI

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2

KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FDI) TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NAM

2.1. GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CỤC HẢI QUAN QUẢNG NAM

Quảng Nam là địa phương có vị trí địa lý thuận lợi với 142 km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Lào, có cửa khẩu chính Nam Giang – Đắc Tà Ọoc, là tuyến hành lang Đông Tây ngắn nhất nối nước Myama, Đông Bắc Thái Lan và Nam Lào, nối liền với Biển Đông giao thương ra thế giới qua cảng biển Kỳ Hà. Cùng với sân bay Chu Lai đã tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh Quảng Nam trong công cuộc hội nhập và phát triển.

Xuất phát từ lợi thế trên nên Chính phủ xác định Quảng Nam là một trong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Miền Trung. Chính vì vậy, ngày 04/7/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 87/2002/QĐ-TTg thành lập Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam. Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam có trụ sở chính đặt tại: đường Lê Thánh Tông, phường An Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, điện thoại: 84.0235.2225555, trang web : http://haiquanquangnam.gov.vn

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển cục Hải Quan tỉnh Quảng Nam

Cục Hải quan Quảng Nam được thành lập theo Quyết định số 87/2002/QĐ – TTg ngày 07/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ. “Cục Hải quan Quảng Nam là đơn vị trực thuộc TCHQ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước (QLNN) về HQ, tổ chức thực thi pháp luật về HQ, các quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn tỉnh Quảng Nam theo quy định tại Quyết định số 1919/QĐ-BTC ngày 06/9/2016 của Bộ trưởng BTC.

Trải qua 22 năm xây dựng phát triển, Cục HQQNa đã đạt được những bước phát triển vượt trội, đạt được những thành tựu đáng kể trong cải cách TTHC; củng cố cơ cấu tổ chức theo hướng đơn giản và thống nhất; đào tạo, bồi dưỡng CBCC một cách chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa; ứng dụng CNTT vào công tác quản lý thuế. Ghi nhận những thành tích Cục HQQNa đạt được trong thời gian qua, Nhà nước, Chính phủ, BTC, UBND tỉnh Quảng Nam và TCHQ đã khen thưởng đơn vị nhiều danh hiệu, hình thức như: Huân chương Lao động hạng 3; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Cờ Thi đua của BTC; Cờ thi đua của UBND tỉnh Quảng Nam và các hình thức khen thưởng khác.

2.1.2. Mô hình cơ cấu tổ chức và chức năng của cục Hải Quan tỉnh Quảng Nam.

Quyết định số 4292/QĐ-TCHQ ngày 12/12/2019 của Tổng cục hải quan quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục Hải quan thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố cụ thể: Các Chi cục thực hiện các quy định quản lý nhà nước về HQ đối với hàng hoá XNK, quá cảnh; phương tiện xuất nhập cảnh, quá cảnh; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá XNK; ngăn chặn và chống buôn lậu, gian lận thương mại và vận chuyển trái phép hàng hoá bất hợp pháp qua biên giới trong các khu vực hoạt động của hải quan.

Do yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh và sự giao thương kinh tế với nước bạn Lào, mặc dù tại cửa khẩu phụ và lối mở, cơ cấu tổ chức chưa được thành lập, nhưng Cục HQQNa vẫn bố trí cán bộ, cán bộ kiểm tra, giám sát các lô hàng xuất nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới Tây Giang.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024/ Quản trị rủi ro hàng hoá xuất nhập khẩu Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *