Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Krông Bông
Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT) ở nước ta là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động, đây là hai chính sách trụ cột của hệ thống an sinh xã hội ở nước ta. Ngay từ những ngày đầu khi mới thành lập Nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 54 ấn định những điều kiện cho công chức về hưu. Theo đó “ Kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1945, những công chức thuộc tất cả các ngạch trong nước Việt Nam, tại chức hay đương nghỉ việc bất cứ ở vào trong trường hợp nào, đều phải về hưu mỗi khi có đủ một trong hai điều kiện sau đây”, chế độ chính sách BHXH đã được ban hành và do điều kiện đấu tranh giải phóng dân tộc, điều kiện kinh tế, xã hội đã từng bước được thực hiện đối với công nhân viên chức khu vực Nhà nước.
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước hội nhập
sâu vào nền kinh tế thế giới thì hệ thống ASXH, nhất là BHXH phải được
phát triển và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của NLĐ, của nhân dân, đây là một
trong những nhu cầu rất cơ bản của con người. Bảo đảm ASXH, trước hết là
về BHXH là một trong những mục tiêu rất quan trọng, thể hiện tính ưu việt
của xã hội văn minh, phù hợp với xu thế chung của cộng đồng quốc tế hướng
tới một xã hội phồn vinh, công bằng và an toàn. Mặt khác, mức độ đảm bảo
quyền an sinh là một tiêu chí quan trọng đánh giá trình độ phát triển của một
quốc gia, dân tộc. Luật BHXH ra đời có hiệu lực từ năm 2007. Riêng chính
sách BHXH tự nguyện được áp dụng từ năm 2008. Đây là Luật đầu tiên ở Việt Nam đã thể chế hóa ở mức cao một nhu cầu rất cơ bản về ASXH của con người (bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), trong đó BHXH tự nguyện là chính sách an sinh áp dụng cho đối tượng là NLĐ không thuộc phạm vi tham gia BHXH bắt buộc. Đến ngày 20/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật BHXH số 58/2014/QH13 để sửa đổi bổ sung Luật BHXH năm 2006 quy định về chính sách BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Theo đó, chính sách BHXH tự nguyện đã mở rộng về đối tượng tham gia, phương thức đóng, mức đóng và chế độ hưởng nhằm mở rộng, nâng cao quyền tham gia, thụ hưởng chính sách cho đông đảo nhân dân lao động vì mục tiêu an sinh cho mọi người lao động khi về già. Bên cạnh đó, để khuyến khích và đồng hành cùng với NLĐ, từ ngày 01/01/2018, Nhà nước hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia BHXH tự nguyện theo tỷ lệ phần trăm (%) tháng đóng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn. Cụ thể, theo Nghị định 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính Phủ quy định thì người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo được hỗ trợ 30%, người thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ 25% và các đối tượng khác được hỗ trợ 10% mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn.
Krông Bông là một huyện vùng sâu, vùng xa, thuần nông đang chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu kết hợp với khai thách các dịch vụ du lịch sinh thái và di tích lịch sử. Do đó, lực lượng lao động trong độ tuổi rất đa dạng gồm NLĐ thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, NLĐ trong khu vực chính thức và NLĐ khu vực phi chính thức. Trong đó NLĐ khu vực phi chính thức là những NLĐ tự do, làm thuê, tiểu thương, làm thợ xây dựng, giúp việc nhà, làm thêm, một số người trẻ đủ tuổi lao động thì đi làm công ty ở các tỉnh xa … và luôn có sự biến động, chuyển dịch lao động qua lại giữa các khu vực lao động khi là NLĐ khu vực phi chính thức nhưng đến mùa vụ họ là NLĐ thuộc khu vực nông, lâm, ngư nghiệp hoặc có khi họ là nông dân nhưng cũng là người buôn bán nhỏ, làm thuê,.. để có thu nhập trang trải cho cuộc sống hoặc cũng có khi là NLĐ trong khu vực chính thức bị thất nghiệp, bỏ việc trở thành NLĐ của các khu vực còn lại,…. Do đó có thể thấy nếu tính cả lao động khu vực nông, lâm, ngư nghiệp thì lực lượng lao động khu vực phi chính thức chiếm tỷ lệ cao khoảng 60 đến 70% lực lượng lao động trong độ tuổi ở Krông Bông và đa số NLĐ thuộc khu vực này có thu nhập thấp, thiếu ổn định và hầu như chưa tham gia BHXH. Theo nguồn số liệu của Chi cục Thống kê huyện Krông Bông năm 2023 lực lượng lao động trong độ tuổi của huyện là 57.267 người và theo Báo cáo tổng kết năm 2023 của BHXH huyện Krông Bông, tổng số người tham gia BHXH toàn huyện là: 3.785 người, chiếm 6,79% lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó, số người tham gia BHXH tự nguyện là 713 người chiếm 1,30% lực lượng lao động trong độ tuổi của huyện. Con số tham gia BHXH tự nguyện còn ở mức thấp so với tiềm năng, lộ trình và định hướng của Đảng, Nhà nước vào một chính sách xã hội lớn đặc biệt là mục tiêu đề ra của Nghị Quyết 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban chấp hành Trung ương. Như vậy, còn hơn 52,502 nghìn NLĐ trong độ tuổi của huyện Krông Bông chưa tham gia BHXH trong đó đa số là NLĐ khu vực phi chính thức. Điều đó đồng nghĩa với việc số người này đến tuổi hưu sẽ không được nhận lương hưu, Ngân sách Nhà nước sẽ phải gồng lên chi trợ cấp khi họ đủ 80 tuổi. Nguyên nhân số lượng người tham gia còn ít là gì? Giải pháp nào cho bài toán phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ở huyện Krông Bông? Chính vì vậy tôi chọn việc nghiên cứu: “Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk” là hết sức cấp thiết nhằm nghiên cứu đưa ra những giải pháp đồng bộ, cụ thể và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của huyện góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu chính trị của ngành cũng như của địa phương trong thời gian tới.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Xây dựng giải pháp phát triển BHXH tự nguyện, trong đó tập trung phát triển về số lượng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện tại huyện Krông Bông giai đoạn 2024 – 2025.
– Hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển người tham gia BHXH tự
nguyện khu vực phi chính thức;
– Đánh giá thực trạng phát triển người tham gia BHXH tự nguyện
KVPCT tại huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk;
– Góp phần mở rộng người tham gia và ổn định quỹ BHXH.
– Nghiên cứu, đánh giá tình hình thực trạng của công tác phát triển người tham gia BHXH tự nguyện ở huyện Krông Bông, từ đó tìm ra các nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác này trong thời gian vừa qua,
– Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao, mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện tại huyện Krông Bông trong thời gian tới.
– Theo Nghị quyết 28-NQ/TW khoá XII:Giai đoạn đến năm 2024,phấn đấu đạt khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 1% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 28% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; tỉ lệ giao dịch điện tử đạt 100%; thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; giảm số giờ giao dịch giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với doanh nghiệp đạt mức ASEAN 4; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 80%.
4. Đối tượng, phạm vi, cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật phân tích
– Quy định của Luật BHXH về chính sách BHXH tự nguyện, các văn
bản có liên quan và phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện tại huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.
– Thực trạng phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện KVPCT tại huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk
– Là tất cả các mối quan hệ có ảnh hưởng đến việc triển khai chính sách BHXH, BHYT tại huyện Krông Bông: Thu nhập bình quân trên đầu người; khí hậu, thời tiết; trình độ dân trí; cơ cấu kinh tế của huyện; thực trạng việc triển khai BHXH tự nguyện của BHXH Krông Bông;
– Lực lượng lao động trên địa bàn huyện Krông Bông khoảng 55.267 người.
4.2. Phạm vi, quy mô của đề tài
– Về nội dung: công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
KVPCT. (Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện KVPCT tại huyện Krông Bông là bao gồm tất cả các đối tượng theo quy định tại khoản 4, Điều 5, Luật BHXH sửa đổi số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 của Quốc hội).
– Về không gian: Tại huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.
– Về thời gian: Từ năm 2021- 2024.
– Nghiên cứu nội dung quy định của Luật BHXH về chính sách
BHXH tự nguyện, các văn bản có liên quan và phát triển đối tượng tham gia
BHXH tự nguyện tại huyện Krông Bông. qua đó, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và làm rõ những nội dung liên quan đến việc phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện; những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm để đề xuất ứng dụng triển khai trên địa bàn huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.
– Tiếp cận nghiên cứu kết quả điều tra, khảo sát ý định tham gia BHXH
tự nguyện của NLĐ tại 06 xã (thị trấn) trên địa bàn huyện.
– Nghiên cứu này được thực hiện thông qua 2 bước chính: định tính và
định lượng.
– Phương pháp điều tra xã hội học;
– Phương pháp tổng quan tài liệu, tổng hợp phân tích tài liệu, số liệu thống kê;
– Phương pháp phân tích, so sánh để lựa chọn những thông tin, tài liệu
phù hợp phục vụ cho đề tài đồng thời cũng có những phân tích, đánh giá về
thực trạng phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa
bàn huyện Krông Bông;
4.5 Kỹ thuật nghiên cứu
Tổ chức 01 cuộc điều tra: thời gian trước nghiên cứu
– Nội dung: xác định một số yếu tố liên quan đến ý định tham gia BHXH tự nguyện .
– Đối tượng: đối tượng thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện .
– Cỡ mẫu: phương pháp chọn mẫu được tính bằng công thức Slovin:
Trong đó:
∙ N: Số quan sát tổng thể (55.267 người trong độ tuổi lao động chưa tham gia BHXH ở huyện Krông Bông);
∙ e: Sai số cho phép 5% = 0,05
– Thông tin thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0.
+ Phân tích thống kê mô tả mẫu thu thập.
+ Kiểm định độ tin cậy các thang đo: bằng hệ số Cronbach Alpha để phát hiện những chỉ số không đáng tin cậy trong quá trình nghiên cứu
+ Phân tích nhân tố khám phá EFA: bóc tách, sắp xếp các chỉ báo đo lường các khái niệm, biến tiềm n.
+ Phân tích nhân tố khẳng định CFA.
+ Sử dụng sơ đồ cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định toàn bộ các mối liên hệ giữa nhân tố tác động đến nhân tố bị tác động.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN
1.1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG, KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC, LAO ĐỘNG KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC, ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC, BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
1.1.1. Khái niệm về người lao động
Theo Điều 3 Bộ luật lao động 2019 thì Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.
1.1.2. Khái niệm về khu vực phi chính thức
Khái niệm KVPCT được thông qua tại Hội nghị Quốc tế các nhà Thống kê lao động (ICLS) lần thứ 15 như sau: KVPCT mang những nét đặc trưng chủ yếu của những đơn vị tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm hang hóa và dịch vụ với mục tiêu ban đầu là tạo ra việc làm và thu nhập cho những người có liên quan. Những đơn vị này thường được tổ chức hoạt động ở mức thấp, sản xuất kinh doanh ở quy mô nhỏ, với không hoặc rất ít sự phân chia giữa lao động và vốn là các yếu tố đầu vào của sản xuất. Các mối liên hệ việc làm (nếu có) chủ yếu dựa trên sự tình cờ, quan hệ họ hàng hoặc quan hệ cá nhân, sự quen biết hơn là dựa trên các thỏa thuận hợp đồng với sự bảo đảm chính thức. Như vậy chúng ta có thể hiểu KVPCT là khu vực tự làm, lao động tự do hành nghề và lao động làm thuê nhưng chưa được điều chỉnh của Bộ luật lao động.
Hiện nay, KVPCT được hiểu theo các cách, tùy thuộc vào phạm vi, cách tiếp cận, cũng như tùy vào đặc điểm của từng quốc gia, từng khu vực. Một số ý kiến cho rằng “KVPCT” là thuật ngữ được sử dụng để mô tả một hình thái sản xuất cụ thể nhằm phân biệt khu vực này với các phân đoạn khác của nền kinh tế, cụ thể:
– Theo Quan điểm của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO)năm 1993 và năm 2002, thì KVPCT là bao gồm khu vực kinh tế phi chính thức và việc làm KVPCT. Trong đó khu vực kinh tế phi chính thức là khu vực mà ở đó tồn tại việc làm phi chính thức, là một tập hợp các đơn vị sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ với mục tiêu chủ yếu nhằm tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho những người có liên quan, đóng góp vào GDP mà khu vực kinh tế chính thức không với tới được. KTPCT bao gồm nhiều khu vực, nhiều loại hình, nhiều hình thức và đối tượng hoạt động.
– Theo Quan điểm của Viện Khoa học Thống kê (Tổng cục Thống kê) Năm 2007, Viện Khoa học Thống kê và Đơn vị nghiên cứu Phát triển, Thể chế và Phân tích Dài hạn (DIAL) đã thiết kế một lược đồ điều tra để thu thập thông tin về khu vực kinh tế phi chính thức và việc làm phi chính thức ở Việt Nam. Lược đồ này được xây dựng có sự tham khảo các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế, có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Trong đó, khu vực kinh tế phi chính thức được định nghĩa là “tất cả các doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân, sản xuất ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc trao đổi, không đăng kí kinh doanh (không có giấy phép kinh doanh) và không thuộc ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản” (gọi tắt là ngành nông nghiệp). Các doanh nghiệp như vậy được gọi là “các hộ sản xuất kinh doanh phi chính thức”, phù hợp với từ dùng chính thức về loại hình sản xuất kinh doanh này. Việc loại hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp ra khỏi định nghĩa là do đặc trưng hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp có sự khác nhau, ví dụ như tính thời vụ, tổ chức lao động, mức thu nhập,… và công cụ điều tra khác nhau ở 2 khu vực này. Các hộ sản xuất kinh doanh chính thức (có đăng ký kinh doanh) thuộc vào khu vực kinh tế chính thức. Còn việc làm phi chính thức được định nghĩa là việc làm không có bảo hiểm xã hội (đặc biệt là bảo hiểm y tế). Ở Việt Nam, tất cả các doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh, bất kể có quy mô như thế nào đều bắt buộc phải đăng ký lao động thường xuyên (có hợp đồng lao động ít nhất là từ 01 tháng trở lên) của đơn vị mình với Cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam. Tất cả các việc làm thuộc khu vực kinh tế kinh tế phi chính thức được coi là việc làm phi chính thức.
* Đặc điểm lao động khu vực phi chính thức
– Điều kiện lao động không được đảm bảo. Các quyền lợi về bảo hiểm xã hội, phân chia lợi nhuận, nghỉ phép được trả công gần như không tồn tại đối với việc làm trong khu vực này, thậm chí trong lao động phụ thuộc không hề được đảm bảo bẳng bất cứ một hình thức hợp đồng nào (văn bản hay thỏa thuận) đã tăng lên.
– Thu nhập thấp và điều kiện làm việc tạm bợ, một bộ phận khá lớn các hộ SXKD phi chính thức hoạt động trong điều kiện không có địa điểm kinh doanh hoặc địa điểm kinh doanh không cố định, điều này cho thấy tình hình hoạt động của các hộ SXKD ở khu vực này đã trở nên bấp bênh hơn.
– Trình độ chuyên môn không đồng đều, phần lớn chưa được qua đào tạo nghề, thời gian làm việc dài, nhưng thu nhập thấp.
– Người lao động phi chính thức ở Việt Nam thường có thu nhập thấp và không thường xuyên, giờ làm việc dài và ít tiếp cận với các cơ hội phát triển kỹ năng nghề. Do họ không được công nhận, đăng ký hay quản lý vì vậy họ không được bảo vệ bởi các thể chế của thị trường lao động, người lao động trong khu vực phi chính phải đối mặt với nguy cơ trở thành “tầng lớp lao động nghèo”.
– Thực tế đã cho thấy người lao động trong khu vực phi chính và gia đình họ hay phải chịu thiệt thòi vì không được điều chỉnh bởi pháp luật lao động. Ví dụ, đối với yêu cầu về an toàn và sức khỏe liên qua tới điều kiện làm việc, họ không được nhận hỗ trợ từ các chương trình trợ cấp xã hội. Thêm vào đó, tiếng nói của người lao động trong khu vực phi chính thức ít khi được nhắc đến trong quá trình quyết định các chính sách. Doanh nghiệp trong nền kinh tế chính thức phải đối mặt với sự cạnh tranh không lành lạnh từ khu vực phi chính do giá cả hàng hóa và dịch vụ được cắt giảm bởi họ không đóng góp vào bảo hiểm xã hội cũng như thuế. Giống như ở nhiều nền kinh tế mới nổi khác trên thế giới, khu vực phi chính thức ở Việt Nam – khu vực chiếm một phần lớn trong lực lượng lao động quốc gia – đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam.
– Trong khi là một nguồn quan trọng tạo việc làm và cơ hội thu nhập cho nhiều người Việt, đời sống của người lao động trong khu vực phi chính thức ở Việt Nam có đặc điểm chủ yếu là thu nhập thấp và điều kiện lao động không đảm bảo, khiến cho họ dễ bị tổn thương hơn trước các tác động bên ngoài. Chính phủ hiện đang nỗ lực để mở rộng sự bảo vệ đến nhóm lao động này thông qua cải thiện khuôn khổ pháp luật quốc gia và phát triển chính sách nhằm giải quyết các thách thức của nền kinh tế phi chính thức.
1.1.3. Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện
Khoản 1, 2, 3, Điều 3 Luật BHXH sửa đổi số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 quy định như sau:
– BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”
– BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
– BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.
– Thời gian đóng BHXH là thời gian được tình từ khi người lao động bắt đầu đóng BHXH đến khi dừng đóng. Trường hợp người lao động đóng không liên tục thì thời gian đóng BHXH là tổng thời gian đã đóng BHXH.
– Thân nhân: là con đẻ, con nuôi, vợ hoặc chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ (chồng), cha mẹ nuôi của người tham gia BHXH hoặc là thành viên khác trong gia đình mà người tham gia BHXH có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo pháp luật hôn nhân và gia đình.
1.2. NỘI DUNG CỦA BHXH TỰ NGUYỆN
1.2.1. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
Theo quy định của Luật BHXH hiện hành, “Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc đối tượng quy định phải tham gia BHXH bắt buộc.
1.2.2. Mức đóng BHXH tự nguyện
* Mức đóng
– Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hằng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện lựa chọn.
– Mức thu nhập tháng do người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện lựa chọn thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đóng.
– Mức đóng 03 tháng hoặc 06 tháng hoặc 12 tháng một lần được xác định bằng mức đóng hàng tháng nhân với 3 đối với phương thức đóng 03 tháng; nhân với 6 đối với phương thức đóng 06 tháng; nhân với 12 đối với phương thức đóng 12 tháng một lần.
– Mức đóng một lần cho nhiều năm về sau được tính bằng tổng mức đóng của các tháng đóng trước, chiết khấu theo lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân tháng do Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố của năm trước liền kề với năm đóng.
– Mức đóng một lần cho những năm còn thiếu được tính bằng tổng mức đóng của các tháng còn thiếu, áp dụng lãi gộp bằng lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân tháng do Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố của năm trước liền kề với năm đóng.
– Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đã đóng theo phương thức đóng 03 tháng hoặc 06 tháng hoặc 12 tháng một lần hoặc đóng một lần cho nhiều năm về mà trong thời gian đó Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn thì không phải điều chỉnh mức chênh lệch số tiền đã đóng.
– Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đã đóng theo phương thức đóng 03 tháng hoặc 06 tháng hoặc 12 tháng một lần hoặc đóng một lần cho nhiều năm về sau mà trong thời gian đó thuộc một trong các trường hợp sau đây sẽ được hoàn trả một phần số tiền đã đóng trước đó:
+ Dừng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và chuyển sang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc;
+ Hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định;
+ Bị chết hoặc Tòa án tuyên bố là đã chết.
Số tiền hoàn trả cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trong trường hợp này hoặc hoàn trả cho thân nhân người lao động trong trường hợp người lao động bị chết hoặc Tòa án tuyên bố là đã chết quy định được tính bằng số tiền đã đóng tương ứng với thời gian còn lại so với thời gian đóng theo phương thức đóng nêu trên và không bao gồm tiền hỗ trợ đóng của Nhà nước (nếu có).
* Hỗ trợ đóng:
Hiện nay, Nhà nước quy định mức hỗ trợ và đối tượng được hỗ trợ khi tham gia BHXH TN như sau:
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn, cụ thể:
– Bằng 30% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo;
– Bằng 25% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ cận nghèo;
– Bằng 10% đối với các đối tượng khác.
Nhà nước khuyến khích các cơ quan, tổ chức và cá nhân hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia BHXH tự nguyện. Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ sẽ xem xét điều chỉnh mức hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho phù hợp. Thời gian hỗ trợ tùy thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thực tế của mỗi người nhưng không quá 10 năm (120 tháng).
Phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định như sau:
– Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được chọn một trong các phương thức đóng sau đây để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất:
+ Đóng hàng tháng;
+ Đóng 03 tháng một lần;
+ Đóng 06 tháng một lần;
+ Đóng 12 tháng một lần;
+ Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm một lần;
+ Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) thì được đóng một lần cho đủ 20 năm để hưởng lương hưu.
– Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định mà thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu trên 10 năm nếu có nguyện vọng thì tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo một trong các phương thức trên cho đến khi thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá 10 năm thì được đóng một lần cho những năm còn thiếu để hưởng lương hưu theo quy định.
– Người đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được thay đổi phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện. Việc thay đổi phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được thực hiện ít nhất là sau khi thực hiện xong phương thức đóng đã chọn trước đó.
1.2.4. Chế độ BHXH của người tham gia BHXH tự nguyện
Người tham gia BHXH TN được hưởng chế độ BHXH hưu trí và tử tuất, được quy định như sau:
– Mức lương hưu hằng tháng được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng nhân với mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.
– Tỷ lệ lương hưu hằng tháng được tính như sau:
+ Người nghỉ hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%;
+ Nữ nghỉ hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%;
+ Nam nghỉ hưu từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% tương ứng với số năm đóng BXHH theo bảng dưới đây, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH, được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%:
(Bảng 1: Tỷ lệ hưởng hưu )
* Tuổi nghỉ hưu,
Cản cứ Khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động 2019, người nghỉ hưu từ năm 2021 mỗi năm cộng thêm 3 tháng đối với năm và 4 tháng đối với nữ, đến năm 2035 năm đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi
(Bảng 2, Tuổi nghỉ hưu)
* Thời điểm hưởng lương hưu
– Thời điểm hưởng lương hưu tính từ tháng liền kề sau tháng người tham gia BHXH TN đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.
– Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng một lần cho những năm còn thiếu theo quy định để đủ điều kiện hưởng lương hưu thì thời điểm hưởng lương hưu được tính từ tháng liền kề sau tháng đóng đủ số tiền cho những năm còn thiếu. Ngoài ra, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định. (luật BHXH).
– Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định tại Điều 77 của Luật Bảo hiểm xã hội và Nghị quyết số 93/2015/QH13 ngày 22 tháng 6 năm 2015 của Quốc hội về việc thực hiện chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động.
– Hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội một lần thực hiện theo quy định tại Điều 109 của Luật Bảo hiểm xã hội.
– Giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần thực hiện theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 110 của Luật Bảo hiểm xã hội.
Chế độ tử tuất đối với thân nhân của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà trước đó có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo Điều 71 của Luật Bảo hiểm xã hội được quy định như sau:
– Thời gian tính hưởng chế độ tử tuất là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện, không bao gồm thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần.
– Người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở đối với người chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên;
+ Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có thời gian tính hưởng chế độ tử tuất từ đủ 60 tháng trở lên;
+ Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc;
+ Người đang hưởng lương hưu.
– Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thuộc một trong các trường hợp sau thì thân nhân theo quy định tại Khoản 2 Điều 67 của Luật Bảo hiểm xã hội được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng theo quy định tại Điều 68 của Luật Bảo hiểm xã hội:
+ Đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần;
+ Đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên;
+ Đang hưởng lương hưu mà trước đó có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đủ 15 năm trở lên.
– Trường hợp thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng theo quy định mà có nguyện vọng hưởng trợ cấp tuất một lần thì được hưởng trợ cấp tuất một lần, trừ trường hợp con dưới 06 tuổi, con hoặc vợ hoặc chồng mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
– Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà không có thân nhân quy định tại Khoản 6 Điều 3 của Luật Bảo hiểm xã hội thì việc xác định người nhận trợ cấp tuất một lần được thực hiện theo quy định của pháp luật về thừa kế.
1.3. PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
Theo lý thuyết, phát triển là quá trình vận động của sự vật và hiện tượng từ sự tích lũy, thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất theo chiều hướng hoàn thiện, tiến bộ hơn của sự vật và hiện tượng. Khi điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng phát triển thì việc đảm bảo an sinh xã hội ngày càng thay đổi, tiến bộ hơn. Tuy nhiên, một trong hai trụ cột chính của an sinh xã hội là chính sách về BHXH cũng phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện, phu hợp hơn với thực tiễn đời sống xã hội. Điều này cho thấy rằng, phát triển BHXH TN luôn là yêu cầu tất yếu khách quan và sự phát triển ấy phải tuân theo nguyên lý phát triển và Pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta có thể hiểu phát triển BHXH TN là quá trình tổ chức, thực hiện chính sách BHXH TN để chính sách này ngày càng được củng cố và hoàn thiện hơn dựa trên các cơ sở sau:
– Gia tăng số người tham gia, tạo mọi điều kiện để người lao động có thể tiếp cận và tham gia BHXH TN.
– Tạo sự tăng trưởng Quỹ BHXH, đảm bảo khả năng chi trả các chế độ BHXH cho người tham gia.
– Mở rộng và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ BHXH TN.
– Giải quyết kịp thời những bất cập trong việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH TN.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức ở huyện Krông Bông.
1.3.2.1. Hành vi người tiêu dùng
Hành vi tiêu dùng để chỉ hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm mua, sử dụng, đánh giá và loại bỏ các sản phẩm dịch vụ mà người tiêu dùng mong muốn sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ.
Người tiêu dùng là những người mua hoặc sử dụng các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cung ứng trên thị trường. Người tiêu dùng nói chung được phân chia thành hai nhóm cơ bản: Người tiêu dùng cá nhân và người tiêu dùngtổ chức. Người tiêu dùng cá nhân là những người mua hàng hoá, dịch vụ để sử dụng cho cá nhân họ, cho gia đình, cho người thân, bạn bè. Những người tiêu dùng này được gọi là “người tiêu dùng cuối cùng”. Người tiêu dùng tổ chức bao gồm các tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp), đơn vị hành chính sự nghiệp…, họ là những người mua sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho hoạt động của cơ quan, tổ chức. Trong nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, chủ yếu thường tập trung vào người tiêu dùng cá nhân, bởi vì tiêu dùng cuối cùng là yếu tố bao trùm lên tất cả các dạng khác nhau của hành vi người tiêu dùng và liên quan đến mọi người với vai trò là người mua, người tiêu dùng hoặc cả hai.
Mỗi người tiêu dùng có những ảnh hưởng, suy nghĩ khác nhau trong việc ra quyết định tiêu dùng sản phẩm. Những quyết định này chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau và cũng chính những quyết định của người tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy để thành công trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung ứng sản phẩm, dịch vụ được tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì doanh nghiệp phải có quá trình nghiên cứu thị trường, phải tìm hiểu thêm người tiêu dùng họ cần gì, nghĩ gì và muốn sử dụng gì… Áp dụng lý thuyết hành vi người tiêu dùng trong phạm vi đề tài này chính là nghiên cứu hành vi tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ, những nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ.
1.3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động ở huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.
Dựa trên lý thuyết nền tảng là lý thuyết hành vi người tiêu dùng, trên quan điểm xem việc tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ giống như ý định mua sản phẩm dịch vụ khác nhưng có sự khác nhau về nhân tố ảnh hưởng trong các mô hình nghiên cứu. Do đó, để đo lường, đánh giá ý định tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ KVPCT ở huyện Krông Bông, cá nhân tôi nghiên cứu tiếp cận tìm hiểu, vận dụng các lý thuyết, mô hình về hành vi như Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng; Lý thuyết về thái độ (bao gồm các mô hình là mô hình thái độ 03 thành phần của Schiffman và Kanuk – 1987, mô hình thái độ đơn thành phần, mô hình thái độ đa thuộc tính của Fishbein và Ajzen – 1975, mô hình học thuyết hành động hợp lý TRA của Ajzen và Fishbein -1987, mô hình hành vi dự định TPB của Ajzen -1991…; đồng thời vận dụng, tham khảo các nghiên cứu gần đây về ý định hành vi ở Việt Nam [24]; tham khảo ý kiến chuyên gia qua các bài viết về tìm hiểu các yếu tố liên quan, tác động đến quá trình phát triển đối tượng tham gia BHXH TN KVPCT và để xuất một số giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXH TN KVPCT tại địa bàn huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk; Thực tiễn tình hình phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện tại huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk, qua nghiên cứu có mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện KVPCT tại địa bàn huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk gồm 8 nhân tố sau:
+ Nhận thức về tính an sinh xã hội của BHXH tự nguyện
+ Thái độ tham gia BHXH tự nguyện
+ Ảnh hưởng xã hội
+ Hiểu biết về BHXH tự nguyện
+ Thu nhập
+ Truyền thông về BHXH tự nguyện
+ Sự bảo hộ về việc tham gia BHXH tự nguyện
+ Nhu cầu của người lao động, người dân.
1.3.3. Phát triển chính sách BHXH TN.
Đảng và nhà nước với mục tiêu ngày càng có nhiều người được bảo đảm an sinh xã hội sau khi hết tuổi lao động. Chính sách BHXH tự nguyện ra đời từ năm 2008 nhằm tạo cơ hội cho mọi người lao động ở khu vực phi chính thức được tham gia BHXH. Sau 10 năm triển khai, đặc biệt là từ nửa cuối năm 2018 đến nay, cùng với định hướng chính trị thực hiện “BHXH toàn dân” được khẳng định tại Nghị quyết số 28-NQ/TW, công tác phát triển chính sách BHXH tự nguyện đã có nhiều bứt phá.
Trong hơn 10 năm qua, việc thực hiện BHXH tự nguyện được thực hiện theo hai giai đoạn với những quy định khác nhau. Ở giai đoạn đầu, thực hiện BHXH tự nguyện theo Luật BHXH năm 2006 (Luật số 71/2006/QH11); giai đoạn tiếp theo là thực hiện theo quy định tại Luật BHXH Sửa đổi năm 2014 (Luật số 58/2014/QH13). Những quy định tại Luật BHXH Sửa đổi về BHXH tự nguyện là sự tổng kết kinh nghiệm 07 năm thực hiện Luật BHXH, trên cơ sở đó có những sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tiễn và đáp ứng tốt yêu cầu mở rộng diện bao phủ BHXH đến người lao động thuộc mọi khu vực của nền kinh tế.
Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện chính sách BHXH tự nguyện, tính đến ngày 31/12/2023, toàn huyện Krông Bông 721 người đang tham gia BHXH tự nguyện (tăng hơn rất nhiều lần so với năm 2008, toàn huyện chỉ có 32 người tham gia BHXH TN) chiếm 1,32% lực lượng lao động trong độ tuổi của huyện. Giai đoạn này, người tham gia BHXH TN chủ yếu là những hộ tiểu thương có điều kiện kinh tế khá giả. Đây là con số khá khiêm tốn so với dư địa trên 66 ngàn người thuộc đối tượng tham gia BHXH tự nguyện tiềm năng. Việc phát triển BHXH tự nguyện gặp nhiều khó khăn một mặt do những đặc điểm riêng của nhóm đối tượng lao động thuộc khu vực phi chính thức, mặt khác do những hạn chế ngay từ trong chính sách, có thể kể đến như:
– Thứ nhất, nhóm lao động phi chính thức làm việc theo chế độ linh hoạt là rất khó quản lý, họ hưởng lương, thu nhập khác từ nhiều nguồn khác nhau, không ổn định, không cố định về không gian, thời gian cụ thể.
– Thứ hai, hiểu biết về chính sách BHXH, BHYT của nhiều người lao động chưa đầy đủ, họ chủ yếu hiện nay mới chỉ quan tâm đến vấn đề tiền lương, thu nhập hằng tháng và lợi ích trước mắt mà chưa quan tâm đến việc phòng xa cho bản thân về sau này khi hết tuổi lao động.
– Thứ ba, bên cạnh đó, trên thực tế, người lao động ở khu vực phi chính thức cũng thường bị ốm đau, thai sản, thất nghiệp cũng có xu hướng tăng cao. Do đó, nếu chúng ta không có chính sách tăng quyền lợi, mở rộng quyền lợi cho người lao động thì sẽ khó thu hút được họ tham gia BHXH tự nguyện.
Trong hơn 10 năm qua, theo từng giai đoạn, BHXH Việt Nam có những giải pháp phù hợp để phát triển BHXH tự nguyện. Đặc biệt, kể từ sau Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, với định hướng chính trị thực hiện “BHXH toàn dân”, với sự chỉ đạo sát sao từ Chính phủ, BHXH Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục triển khai nhiều giải pháp đồng bộ và quyết liệt, cụ thể như:
– Một là, đề xuất với Chính phủ tăng mức hỗ trợ cho người tham gia BHXH tự nguyện; hoặc linh hoạt hơn về mức hỗ trợ, như mức hỗ trợ tối thiểu bằng 30%, 25%, 10% để địa phương nào có điều kiện, kinh tế phát triển thì có thể hỗ trợ thêm một phần mức đóng cao hơn cho người tham gia BHXH tự nguyện.
– Hai là, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trong chỉ tiêu phát triển kinh thế – xã hội của địa phương theo Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 03/8/2018 của Chính phủ về giao chỉ tiêu phát triển BHXH; thường xuyên sơ kết, tổng kết, đánh giá, kiểm điểm những tồn tại, hạn chế nguyên nhân chậm phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện; đưa ra các giải pháp nhằm tăng nhanh đối tượng tham gia BHXH tự nguyện.
– Ba là, BHXH Việt Nam tích cực phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng chính sách BHXH tự nguyện để nhiều người dân hiểu từ đó chủ động tham gia BHXH tự nguyện.
– Bốn là. mở rộng hệ thống mạng lưới đại lý thu BHXH tự nguyện, phấn đấu mỗi thôn, bản, tổ dân phố đều có điểm thu BHXH tự nguyện, có nhân viên đại lý thu. Hướng dẫn, tập huấn chính sách BHXH tự nguyện đối với nhân viên địa lý thu để phối hợp tuyên truyền, tư vấn đến người dân.
– Năm là, giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện đối với BHXH cấp huyện và từng đại lý thu.
– Sáu là, đa dạng các hình thức, phương thức nhận hồ sơ, trả kết quả, thu tiền đóng, chuyển tiền đóng vào quỹ, tạo điều kiện thuận lợi nhất đối với người tham gia BHXH tự nguyện./.
– Nhiều người cũng nghĩ việc bỏ tiền ra đóng BHXH tự nguyện đến lúc hưởng sẽ không hấp dẫn, không bằng việc gửi tiết kiệm. Nhưng thực tế, với một phép tính đơn giản: Nếu người dân đóng BHXH tự nguyện 22% trên mức 700 nghìn đồng của chuẩn hộ nghèo hằng tháng thì trong vòng 20 năm khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi thì nhận lương hưu mỗi tháng được 400 nghìn đồng lớn hơn rất nhiều số tiền đóng hằng tháng 154 nghìn đồng… Bên cạnh đó, số tiền lương hưu này cũng được điều chỉnh tăng lên theo chính sách tiền lương của Nhà nước. Chỉ một phép tính đơn giản có thể thấy chính sách BHXH tự nguyện mang lại lợi ích rất lớn cho người tham gia.
1.3.4. Phát triển hệ thống Đại lý thu BHXH TN.
Năm 2008, khi mời triển khai BHXH TN hoàn huyện chỉ có 05 Đại lý thu, tập trung chủ yếu ở khu vực phát triển về dịch vụ kinh doanh, buôn bán ( nơi có nhiều hộ tiểu thương có điều kiện tham gia BHXH TN)
Phần lớn nhân viên đại lý thu đều đang công tác, chủ yếu là kiêm nhiệm, không chuyên sâu về kỹ năng tuyên truyền, hạn chế về thời gian, công tác tuyên truyền chưa được thường xuyên, sâu rộng, hiệu quả chưa cao, chưa tạo được sức lan tỏa; người dân chưa quan tâm đến lợi ích lâu dài trong việc tham gia BHXH tự nguyện, tâm lý người dân đã quen với việc trông chờ vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước nên chưa tích cực tham gia.
Đến nay toàn huyện đã có hệ thống Đại lý rộng khắp 14 xã (thị trấn), có nhiều loại hình Đại lý thu như UBND xã, các tổ chức đoàn thể, hệ thống Bưu điện, các cơ sở y tế . . .
1.3.5. Phát triển phương thức giao dịch
Hình thức giao dịch giữa cơ quan BHXH và người tham gia cần phải phát triển từ phương thức truyền thống là giao dịch trực tiếp bằng hồ sơ giấy lên phương thức giao dịch điện tử thông qua dịch vụ công trực tuyến thông qua môi trường mạng Internet. Phát triển phương thức giao dịch điện tử sẽ giảm được nhiều chi phí về thời gian, chi phí đi lại và vật tư văn phòng phẩm, đồng thời cũng đảm bảo việc tuyên thủ quy trình tiếp nhận hồ sơ tránh được các biểu hiện tiêu cực của cán bộ đối với công dân.
Qua nghiên cứu một số vấn đề chung về phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện, chúng ta hiểu được các khái niệm về BHXH nói chung, BHXH bắt buộc đối với các đối tượng thuộc diện bắt buộc tham gia và BHXH tự nguyện đối với người lao động làm nghề tự do ở khu vực phi chính thức.
Nội dung của phát triển BHXH tự nguyện là phát triển người tham gia (tăng lên về số lượng) BHXH tự nguyện, các yếu tố anh hưởng đến việc phát triển người tham gia như hệ thống đại lý thu, công tác tuyên truyền, thu nhập và sự quan tâm của người dân; và chính sách BHXH tự nguyện thực hiện hai chế độ hưu trí và tử tuất, quy định điều kiện cần và đủ, đối tượng được hưởng (bản thân người tham gia và thân nhân.
Các nội dung của chương này sẽ là cơ sở để chúng ta nghiên cứu thực trạng công tác phát triển BHXH tự nguyện tại huyện Krông Bông ở Chương2.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐĂK LĂK
2.1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH HUYỆN KRÔNG BÔNG
Huyện Krông Bông là một huyện vùng sâu của tỉnh Đắk Lắk, nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột 50 km. Phía Tây giáp huyện Lắk, Phía Tây Bắc giáp huyện Cư Kuin, huyện Krông Ana. Phía Bắc giáp huyện Krông Pắc, huyện Ea Kar. Phía Đông giáp huyện M’Drăk, huyện Vĩnh Khánh (Khánh Hòa). Phía Nam giáp huyện Lạc Dương (Lâm Đồng).
* Các đơn vị hành chính:
Huyện Krông Bông bao gồm 1 thị trấn, 13 xã:
1. Thị trấn Krông Kmar.
2. Xã Hòa Sơn.
3. Xã Hòa Lễ.
4. Xã Hòa Phong.
5. Xã Hòa Thành.
6. Xã Hòa Tân.
7. Xã Dang Kang.
8. Xã Yang Reh.
9. Xã Yang Mao.
10. Xã Cư Đrăm.
11. Xã Khuê Ngọc Điền.
12. Xã Ea Trul.
13. Xã Cư Kty.
14. Xã Cư Pui.
Diện tích tự nhiên là: 1.257,49 km2.
Dân số là: 92.964 người.
Mật độ dân số là: 73,21 người/km2 (Theo số liệu thống kê 4/2019).
Huyện thành lập từ ngày 19 tháng 9 năm 1981, trên cơ sở chia tách 10 xã phía Nam của huyện Krông Pắc. Trong những năm tháng chiến tranh, đây là vùng căn cứ địa cách mạng của tỉnh Đăk Lăk, với địa danh nổi tiếng H9, Hang đá Đắk Tur …
Kinh tế – xã hội: Krông Bông chủ yếu phát triển kinh tế bằng nông – lâm – ngư nghiệp, hiện đang dần hình thành các vùng chuyên canh cây nông nghiệp, đặc biệt là cây sắn, cây ngô và cây thuốc lá …hiện nay đang có xu hướng chuyển mạnh sang công nghiệp – xây dựng (khai thác khoáng sản: cát, đá…; chế biến nông sản…), du lịch – dịch vụ phát triển nhờ có một số điểm du lịch nổi tiếng.
Địa hình, hiểm trở: Nằm ở vị trí tiếp giáp giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột với Trường Sơn Nam nên địa hình của huyện bị chia cắt rất mạnh, thấp dần theo hướng Đông – Nam xuống Tây – Bắc, về đại thể có thể chia địa hình huyện thành 3 địa hình chính: núi cao, núi thấp và thung lũng.
Khí hậu: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng do vừa bị ảnh hưởng của độ cao, vừa bị ảnh hưởng của các dãy núi lớn Chư Yang Sin nên khí hậu Krông Bông có hai mùa mưa nắng rõ rệt với những đặc trưng chính sau:
Nắng nhiều: trung bình 180 giờ/tháng. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4 và tháng 5, nhiệt độ trung bình có thể lên đến 28’ – 30’C. Bên cạnh đó, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm khá lớn (mùa khô biên độ nhiệt trên 100’C). Nắng nhiều, bức xạ dồi dào nhiệt độ cao và hầu như không có bão là những thuận lợi rất cơ bản cho Krông Bông trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là các cây công nghiệp như cà phê, thuốc lá, bông vải… .
Do mưa rất lớn vào thời kỳ tháng 9 đến tháng 11 (từ 400 – 500 mm/tháng), trong khi hạ lưu các con sông nhỏ hẹp, thoát nước chậm, nên lượng nước đổ về một mặt gây xói mòn và rửa trôi đất ở vùng đồi núi thượng nguồn, mặt khác làm mực nước sông dâng nhanh và tràn vào đồng ruộng, gây tình trạng ngập lũ cục bộ ở các khu vực trũng và ven sông.
Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chỉ chiếm khoảng 5 -10% tổng lượng mưa năm. Tuy chỉ kéo dài 4 tháng nhưng lượng mưa ít cũng đủ gây tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về các cân ẩm, ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng – phát triển của cây trồng, vật nuôi. Việc xây dựng các công trình thủy lợi để cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt trong mùa khô có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của huyện.
Theo số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2010, tổng diện tích tự nhiên huyện Krông Bông là 125.749,00 ha, trong đó: sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 107.726,98 ha, chiếm 85,67%; sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp là 4.368,35 ha, chiếm 3,47%; đất chưa sử dụng 13.653,67 ha chiếm 10,86% diện tích tự nhiên.; đất lâm nghiệp có 80.390,13 ha, chiếm 63,93% so với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó rừng sản xuất 35.994,27 ha chiếm 44,77% tổng diện tích đất lâm nghiệp, rừng phòng hộ 14.116,79 ha, chiếm 17,56% tổng diện tích đất lâm nghiệp, rừng đặc dụng 30.279,07 ha, chiếm 37,77% tổng diện tích đất lâm nghiệp.
Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất và con người Đắk Lắk nói chung và Krông Bông nói riêng gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Các dân tộc tuy không hình thành nên những lãnh thổ tộc người riêng biệt nhưng mỗi dân tộc đều tập trung ở một số vùng nhất định. Toàn huyện có trên 16 dân tộc khác nhau, trong đó: người kinh chiếm trên 71%, các dân tộc còn lại chiếm 29%, gồm: người Ê đê 15,09%, người M’mông 6,39%, người H’mông 5,79%, người Mường 0,74%, người Tày 0,26%, các dân tộc còn lại 0,73%. Trình độ dân trí ở vùng đồng bằng dân tộc tại chỗ còn hạn chế nên công tác định canh định cư chưa vững chắc, tỷ lệ đói nghèo còn cao, nhiều vùng đồng bằng còn thiếu đất và vốn để sản xuất.
Lao động và việc làm: tốc độ chuyển đổi cơ cấu lao động của Huyện diễn ra chậm, đến nay lao động nông – lâm nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng cao. Ngoài ra, vẫn còn một số lượng lớn lao động chưa có việc làm hoặc công việc thời vụ và tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn.
Mức sống dân cư: Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước bằng các chính sách cụ thể, kịp thời, cùng với nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân địa phương, đời sống người dân đã có nhiều tiến bộ, bộ mặt của nông thôn đã có nhiều thay đổi. Công tác xoá đói, giảm nghèo được triển khai thường xuyên đã góp phần không nhỏ trong việc giảm số lượng các hộ đói nghèo.
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024/ Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk

