Hoàn thiện mô hình chuỗi cung ứng ngắn cho sản phẩm sầu riêng của Huyện Krông Pắk tỉnh Đắk Lắk
MỞ ĐẦU
Đắk Lắk giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong những năm gần đây đối với một số sản phẩm nông sản chủ lực, cũng như trở thành nền kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Tỉnh có thế mạnh cũng như có sự đa dạng về sản phẩm nông sản với địa hình, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu điển hình của vùng đất Bajan Tây Nguyên. Ngoài các sản phẩm nông nghiệp chủ lực như: cao su, cà phê, hồ tiêu… tỉnh còn có tiềm năng và thế mạnh một số nông sản đặc trưng như: xoài, sầu riêng, bơ… Đây là những sản phẩm nông sản có tiềm năng, lợi thế của tỉnh Đắk Lắk. Cụ thể, sầu riêng được xem là cây trồng chủ lực của Đắk Lắk, đem lại thu nhập cao cho người nông dân. Trong thời gian qua, giá tăng cao, nên diện tích trồng sầu riêng của các nông hộ Đắk Lắk cũng không ngừng mở rộng.
Những năm trở lại đây, tỉnh Đắk Lắk đã và đang luôn tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp trọng điểm của Tây Nguyên và Duyên Hải Miền Trung.
Hiện nay, người nông dân và một số sản phẩm nông sản đặc biệt như sầu riêng gặp nhiều khó khăn vì chủ yếu những sản phẩm này tiếp cận thị trường thông qua những thương lái là chính, vì vậy dẫn đến sự mất cân bằng, cũng như chuỗi cung ứng phân tán nhỏ lẻ dẫn đến hiện trạng được mùa mất giá. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, triển khai đề tài “Hoàn thiện mô hình chuỗi cung ứng ngắn cho sản phẩm sầu riêng của Huyện Krông Pắk tỉnh Đắk Lắk” là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng về hiệu quả kinh tế-xã hội đối với địa phương.
– Đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp thực hiện 2 mô hình chuỗi cung ứng ngắn cho sản phẩm nông sản sầu riêng Huyện Krông Pắk tại tỉnh Đắk Lắk.
– Xây dựng khung lý thuyết về chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp, trong đó làm rõ khái niệm về chuỗi cung ứng ngắn, vai trò, đặc điểm và các tiêu chí đánh giá, những nhân tố ảnh hưởng.
– Đề xuất các nhóm giải pháp và khuyến nghị để triển khai kết quả thực hiện mô hình đạt hiệu quả trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng mô hình chuỗi cung ứng ngắn cho các nông sản chủ lực của tỉnh Đắk Lắk.
– Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt nội dung: Đề tài sẽ phân tích thực trạng chuỗi cung ứng ngắn hiện nay và đề xuất khung mô hình chuỗi cung ứng ngắn cho sản phẩm nông sản sầu riêng Huyện Krông Pắk của Đắk Lắk.
Về mặt không gian: Nghiên cứu các nội dung trên tại địa bàn khảo sát về sản phẩm sầu riêng tại Krông Pắk.
Về mặt thời gian: Nghiên cứu thực trạng hiệu quả các chuỗi cung ứng ngắn hiện nay của sản phẩm sầu riêng trong giai đoạn 2020-2022.
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
– Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Tác giả đã thực hiện thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, cụ thể những vấn đề lý luận đã được đúc rút từ các giáo trình chuyên ngành trong nước và quốc tế, qua các bài báo, internet, …
– Phương pháp khảo sát, điều tra:
Đối tượng khảo sát:
– Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm sầu riêng bao gồm: hộ nông dân, các hợp tác xã nông nghiệp, người tiêu dùng.
– Các cơ quan chức năng trong việc hoạch định chính sách về chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp (UBND các cấp, các sở, ngành liên quan của Tỉnh như: Sở NN&PTNT, Sở Công Thương, Hội nông dân, phòng NN&PTNT, Chi cục phát triển HTX) của huyện Krông Pắk được chọn nghiên cứu xây dựng thí điểm.
Chọn sản phẩm và địa bàn điều tra, khảo sát:
* Chọn sản phẩm nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sản phẩm nông nghiệp chủ lực sầu riêng Huyện Krông Pắk, Đắk Lắk.

* Địa bàn điều tra, khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát tại các huyện của Đắk Lắk với tiêu chí chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu là quy mô sản xuất, kinh doanh và bảo đảm tính đại diện cho các mô hình chuỗi cung ứng ngắn. Cụ thể:
Sầu riêng: địa bàn khảo sát tại huyện Krông Pắk
– Phương pháp thống kê, tổng hợp: Tổng hợp những thông tin thu thập được, tiến hành phân tích kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
– Phương pháp quan sát: Dùng tri giác để cảm nhận và ghi lại các hoạt động cần thu thập thông tin.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuỗi cung ứng ngắn nông sản
Chương 2: Thực trạng chuỗi cung ứng ngắn nông sản của tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Giải pháp xây dựng mô hình chuỗi cung ứng ngắn
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHUỖI CUNG ỨNG NGẮN NÔNG SẢN
1.1. Khái niệm và đặc điểm chuỗi cung ứng ngắn
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông sản: Qua phân tích các quan điểm trên của các tổ chức, cá nhân về chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp, cho thấy rằng không có định nghĩa chung nào về chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp, bởi trong thực tế hình thức cung ứng này tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau và tùy thuộc vào bối cảnh địa lý và kinh tế địa phương cũng như phương thức hoạt động của các hộ sản xuất nông nghiệp và người tiêu dùng cụ thể. Mặc dù chưa có khái niệm thống nhất nhưng qua quá trình tổng hợp, nhóm nghiên cứu cho rằng: Chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp được hiểu một cách đơn giản là một chuỗi liên kết kinh tế giữa các đối tượng tham gia từ nhà sản xuất nông nghiệp, các trung gian cho đến người tiêu dùng, trong đó tối đa có một trung gian và lý tưởng nhất là không có trung gian.
1.1.2. Những đặc điểm chuỗi cung ứng ngắn
Chuỗi cung ứng được gọi là ngắn phải hội tụ bốn đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, sự gần gũi địa lý: Có hai cách tiếp cận khi xác định sự gần gũi địa lý của chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp, cụ thể:
Cách tiếp cận thứ nhất, cách tiếp cận này cho rằng sự gần gũi địa lý trong chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp được giới hạn ở một khu vực địa lý cụ thể trong đó các sản phẩm nông nghiệp được sản xuất, chế biến và phân phối (hình thức bán lẻ) trên cùng một địa bàn. Các hình thức như: bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng tại một trang trại, box-chemes, thị trường nông dân là những ví dụ phổ biến nhất cho cách tiếp cận này.
Cách tiếp cận thứ hai, cho rằng, sự gần gũi địa lý trong chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp chỉ tập trung vào khu vực sản xuất sản phẩm nông nghiệp chứ không phải khu vực phân phối. Các sản phẩm nông nghiệp được sản xuất trong một khu vực địa lý, nhưng có thể không nhất thiết phải được chế biến hoặc bán lẻ trong khu vực đó. Cách tiếp cận này cho phép cung cấp các sản phẩm nông nghiệp bên ngoài một khu vực sản xuất cụ thể, ví dụ như có thể phân phối các sản phẩm nông nghiệp ở các địa phương khác.
Cả hai cách tiếp cận kể trên đều liên quan đến việc phân định khu vực phân phối địa lý hoặc chỉ khu vực sản xuất sản phẩm nông nghiệp. Trong hầu hết các trường hợp, phân định địa lý này được gọi là ranh giới hành chính (ví dụ: huyện, tỉnh, khu vực) hoặc bán kính từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Hiện nay, không có một quy định thống nhất nào về ranh giới địa lý của chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp. Mỗi một quốc gia đều có những quy định riêng, ví dụ như: bán kính 645km được đề xuất bởi Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) (King et al., 2010). Ở Vương quốc Anh, được giới hạn ở bán kính 80km (Hiệp hội Nông dân Quốc gia) và bán kính 160 km được quy định bởi (Hiệp hội Nông dân Luân Đôn) (Ilbery và Maye, 2005). Trong khi đó, ở Hà Lan, đề xuất giới hạn bán kính phân phối của các sản phẩm nông nghiệp là 50km (Platform-Aarde-Boer-Consument, 2012). Do đó, khoảng cách địa lý trong chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp sẽ thay đổi tùy theo các yếu tố về địa hình tự nhiên, kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội của địa phương (Kneafsey, 2010). Tóm lại, sự gần gũi về địa lý của chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp đề cập đến một khu vực địa lý trong đó các sản phẩm nông nghiệp được sản xuất hoặc phân phối có tác động quan trọng đến sự hình thành chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp.
Thứ hai, giảm tối đa số lượng trung gian: Chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp quy định có không quá một trung gian trong chuỗi, trường hợp lý tưởng nhất là không có trung gian. Đối với trường hợp này, sự tiếp xúc giữa các nhà sản xuất nông nghiệp với người tiêu dùng cuối cùng là quan hệ trực tiếp, liên quan đến các mối quan hệ trao đổi hàng hóa dựa trên nền tảng tin tưởng lẫn nhau. Khi số lượng trung gian bị loại bỏ, điều này buộc các hộ sản xuất nông nghiệp phải đảm nhiệm các chức năng mà trước đây các trung gian phân phối thực hiện như: phân loại, đóng gói, marketing và vận chuyển, v.v., trong khi người tiêu dùng cũng phải hoàn toàn chấp nhận các tiêu chuẩn về kiểu dáng, mẫu mã… của các sản phẩm nông nghiệp địa phương. Nếu thực hiện được đặc điểm này sẽ có lợi cho cả nhà sản xuất nông nghiệp và người tiêu dùng về chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm.
Thứ ba, tương tác xã hội trong chuỗi: Khi phân tích các định nghĩa về chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp, một đặc điểm chung dễ nhận thấy là mối tương tác xã hội của các nhân tố tham gia ở vị trí trung tâm trong hoạt động của chuỗi. Sự tương tác này phát triển sẽ hình thành các liên kết theo kiểu mạng lưới và thúc đẩy sự gắn kết ngày càng chặt chẽ hơn của cộng đồng địa phương. Sự tương tác xã hội trong chuỗi được thể hiện trên hai phương diện:
Một là, mối quan hệ giữa nhà sản xuất nông nghiệp với người tiêu dùng, mối quan hệ này tồn tại dưới các hình thức sau:
+ Mặt đối mặt (face to face)
+ Gần gũi (Proximate)
+ Mở rộng (Extended)
Hai là, mạng lưới cộng đồng: Từ góc độ xã hội, chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp có thể liên quan đến sự tương tác xã hội trong cộng đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng và nhà sản xuất nông nghiệp gần nhau hơn trong một mạng lưới và thúc đẩy các mối quan hệ trong cộng đồng địa phương. Sự tương tác xã hội trong cộng đồng được gọi là mạng lưới cộng đồng và nó hình thành dựa trên các yếu tố như: niềm tin; sự có đi có lại; định mức, quy tắc, chế tài; mạng lưới và kết nối.
1.2. Tác động chuỗi cung ứng ngắn nông sản
Chuỗi cung ứng nông sản ngắn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của địa phương, điều này được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
– Bảo vệ môi trường: Các sản phẩm nông nghiệp được phân phối trong chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp thường được sản xuất theo cách bền vững với môi trường, sử dụng ít nguyên liệu hóa chất đầu vào như: thuốc trừ sâu, phân bón tổng hợp, thức ăn chăn nuôi, nước và năng lượng. Bên cạnh đó, các sản phẩm nông nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng ngắn sẽ được giảm thiểu đến mức tối đa các khâu từ bao gói, lưu trữ vì đây là các sản phẩm tươi và thu hoạch theo mùa.
– Phát triển kinh tế địa phương: Các sản phẩm có nguồn gốc địa phương sẽ thúc đẩy nền kinh tế tại địa phương phát triển.
– Tăng cường sự gắn kết trong cộng đồng địa phương: chuỗi cung ứng ngắn là hình thức để thúc đẩy phát triển tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp tại địa phương.
1.2.2. Đối với sản xuất nông nghiệp
Chuỗi cung ứng nông sản ngắn đóng vai trò quan trọng đối với người sản xuất nông nghiệp trong việc tăng thu nhập, cải thiện được khả năng đàm phán trong chuỗi cũng như xây dựng được uy tín và thương hiệu sản phẩm.
– Tạo ra lợi nhuận cao hơn: Chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp sẽ giảm tối đa các trung gian phân phối, giảm thời gian vận chuyển và các nhà sản xuất nông nghiệp hoạt động trên cơ sở độc lập hơn.
– Cải thiện khả năng đàm phán cho người sản xuất nông nghiệp: Chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp với số ít trung gian (không quá một trung gian) sẽ cung cấp cho các nhà sản xuất nông nghiệp khả năng lớn hơn trong các cuộc đàm phán về các điều khoản trong hợp đồng với các trung gian phân phối, đặc biệt là đối với những người có nhà phân phối bán lẻ.
– Định vị được uy tín và thương hiệu của trên thị trường: Chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp với đặc điểm là rất ít trung gian nên tính minh bạch về thông tin sản phẩm sẽ được đảm bảo.
1.2.3. Đối với người tiêu dùng
Đối với người tiêu dùng, chuỗi cung ứng nông sản ngắn sẽ đóng vai trò giúp cho người tiêu dùng có được những sản phẩm chất lượng, rõ nguồn gốc, sử dụng sản phẩm sạch với giá cả hợp lý cũng như thể hiện được trách nhiệm của mình đối với sự phát triển bền vững của địa phương.
Mua được sản phẩm với giá hợp lý hơn: Chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp sẽ giúp ngưới tiêu dùng mua được sản phẩm nông nghiệp đảm bảo chất lượng với mức giá hợp lý hơn.
Được cung cấp những sản phẩm có chất lượng và rõ nguồn gốc: các nhà sản xuất nông nghiệp khi tham gia vào chuỗi cung ứng ngắn sẽ phải tuân thủ các phương pháp sản xuất theo quy chuẩn cũng như các sản phẩm nông nghiệp mà họ làm ra không được sử dụng chất bảo quản kèm theo giấy chứng nhận về an toàn vệ sinh thực phẩm. Ngoài ra, chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận với nguồn cung cấp các sản phẩm nông nghiệp tươi vì rút ngắn quãng đường lưu chuyển hàng hóa và thời gian lưu kho bảo quản.
1.3. Phân loại các loại hình chuỗi cung ứng ngắn
1.3.1. Căn cứ vào mức độ thỏa hiệp giữa người sản xuất và người tiêu dùng
Người sản xuất nông nghiệp và người tiêu dùng sẽ có mức thỏa hiệp theo mức độ từ thấp, trung bình cho đến cao. Tương ứng với mỗi mức thỏa hiệp sẽ có các dạng thức chuỗi cung ứng ngắn phù hợp.
– Trường hợp đầu tiên, nếu mức độ thỏa hiệp của nhà sản xuất nông nghiệp và người tiêu dùng đều ở mức thấp, chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp tồn tại có một trung gian phân phối là nhà bán lẻ chuyên nghiệplà: các siêu thị, cửa hàng bán sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
– Trường hợp hai, nếu mức độ thỏa hiệp của người tiêu dùng ở mức thấp còn mức độ thỏa hiệp của nhà sản xuất nông nghiệp ở mức trung bình thì chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp thông qua dạng thức là các cửa hàng bán các sản phẩm nông nghiệp được mua trực tiếp từ nhà sản xuất.
– Trường hợp ba, nếu mức độ thỏa hiệp của người tiêu dùng ở mức thấp còn mức độ thỏa hiệp của nhà sản xuất nông nghiệp ở mức cao, chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp tồn tại dưới hai dạng thức là bán hàng trực tiếp tại nơi sản xuất và các cửa hàng bán sản phẩm nông nghiệp của nông dân.
– Trường hợp bốn, nếu mức độ thỏa hiệp của người tiêu dùng ở mức trung bình còn mức độ thỏa hiệp của nhà sản xuất nông nghiệp ở mức thấp, chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp tồn tại ở dạng thức là hợp tác xã tiêu dùng.
– Trường hợp năm, nếu mức độ thỏa hiệp của người dùng ở mức trung bình còn mức độ thỏa hiệp của nhà sản xuất nông nghiệp ở mức cao, chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp tồn tại dưới dạng thỏa thuận theo thời vụ.
– Trường hợp sáu, nếu mức độ thỏa hiệp của người tiêu dùng ở mức cao còn mức độ thỏa hiệp của nhà sản xuất nông nghiệp ở mức thấp, chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp tồn tại dưới dạng hợp tác xã của người tiêu dùng được quản lý bởi người tiêu dùng.
– Trường hợp bảy, nếu mức độ thỏa hiệp của cả người tiêu dùng và nhà sản xuất nông nghiệp đều ở mức cao, chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp tồn tại dưới dạng thức hợp tác xã liên kết, phối hợp quản lý giữa người tiêu dùng và người sản xuất nông nghiệp.
1.3.2. Căn cứ vào số lượng các trung gian trong chuỗi
Nếu căn cứ vào số lượng trung gian trong chuỗi, chuỗi cung ứng nông sản ngắn được chia ra thành 03 loại, cụ thể:
– Chuỗi tương tác trực tiếp (face to face): theo dạng thức này, người tiêu dùng sẽ mua sản phẩm nông nghiệp trực tiếp từ nhà sản xuất.
– Chuỗi không gian gần gũi (Spatial proximity): theo đó, các sản phẩm nông nghiệp được thu gom và sau đó được bán tại địa phương. Các điểm bán sản phẩm nông nghiệp sẽ thường xuyên thông báo về chất lượng, đặc tính và quy trình sản xuất của sản phẩm cho người tiêu dùng.
– Chuỗi không gian mở rộng (Spatially extended): theo đó, thông tin về địa điểm sản xuất và quy trình sản xuất các sản phẩm nông nghiệp được cung cấp cho những người tiêu dùng ở ngoài địa phương.
1.4. Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về việc triển khai chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp
1.4.1. Kinh nghiệm quốc tế trong việc triển khai chuỗi cung ứng ngắn nông sản
Kinh nghiệm xây dựng chuỗi cung ứng ngắn Pháp (Chuỗi cung ứng sản phẩm địa phương vùng Rennes)
Chuỗi cung ứng thực phẩm ngắn tại Pháp với đặc trưng cơ bản nhất chính là chỉ duy trì tối đa là 01 đơn vị trung gian trong chuỗi cung ứng, nhằm kết nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng. Xu hướng bán các sản phẩm trực tiếp từ người sản xuất đến người tiêu dùng với những ưu điểm như tạo ra giá trị gia tăng cao hơn so với chuỗi truyền thống, duy trì bản sắc địa phương đối với sản phẩm… đang ngày càng thu hút được số đông các trang trại sản xuất nông nghiệp ở Pháp tham gia.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG NGẮN NÔNG SẢN SẦU RIÊNG CỦA HUYỆN KRÔNG PẮK TỈNH ĐẮK LẮK
2.1. Khảo sát đánh giá về thực trạng sản xuất và tiêu thụ Sầu Riêng hiện nay của Đắk Lắk
2.1.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sầu riêng
a. Tình hình sản xuất
Cây sầu riêng được xem là cây trồng chủ lực của Đắk Lắk, đem lại thu nhập cao cho người nông dân. Trong thời gian qua, do giá tăng cao liên tục nên, mỗi ha có thể thu hàng tỷ đồng. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk, nếu như năm 2015 diện tích sầu riêng toàn tỉnh mới đạt 2.607 ha, đến cuối năm 2020 diện tích tăng lên là 14.000 ha, và tăng lên là 14.909 ha năm 2021. Không chỉ diện tích trồng tăng mà năng suất cũng tăng cao, trung bình đạt 165,21 tạ/ha trong giai đoạn 2015-2021.
2.1.2 Thực trạng cung ứng các sản phẩm nông sản chủ lực thông qua các hình thái chuỗi cung ứng ngắn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện nay
Để đánh giá cung ứng các sản phẩm trái cây chủ lực sầu riêng thông qua các hình thái chuỗi cung ứng ngắn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, đề tài đã sử dụng lý thuyết về 03 loại chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm nông nghiệp được sử dụng phổ biến ở các nước hiện nay, đó là: (1) Bán hàng trực tiếp bởi các cá nhân (Direct sale by individuals): Đây là hình thức đơn giản nhất của chuỗi cung ứng ngắn liên quan đến các giao dịch trực tiếp giữa những người nông dân và người tiêu dung. Với mô hình này, nông dân tự mở các cửa hàng để bán các sản phẩm trực tiếp của họ hoặc bán các sản phẩm tại các trang trại khác; (2) Bán hàng trực tiếp qua các nhóm (Collective direct sale): Các hộ nông dân, trang trại, hợp tác xã, hợp tác với nhau để bán trực tiếp các sản phẩm của mình, và (3) Đối tác – Người tiêu dùng – nhà sản xuất (Partnership – Consumer – Producer) được thực hiện thông qua các thỏa thuận ký kết bao tiêu sản phẩm giữa người tiêu dùng với người sản xuất.
2.1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ của các nông hộ tham gia
a. Tình hình sản xuất
Với khung phân tích trên, kết quả khảo sát cho thấy: Tham gia vào chuỗi cung ứng các sản phẩm sầu riêng tại huyện Krông Pắk các hộ nông dân trồng trọt đa phần là người Ê Đê (chiếm 42%), và Kinh (chiếm 26%) các dân tộc khác như Tày, M’nông chỉ chiếm một tỷ nhỏ. Như vậy, có thể thấy được, phương thức trồng trọt và tiêu thụ các sản phẩm nông sản ở Đắk Lắk vẫn bị chi phối bởi nhóm người kinh di cư từ các tỉnh như: Hải Dương, Nam Định, Nghệ An…
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\KHOA 1\Hoàn thiện mô hình chuỗi cung ứng ngắn cho sản phẩm sầu riêng của Huyện Krông Pắk tỉnh Đắk Lắk

