Thực hiện Chính sách giảm nghèo bền vững

Thực hiện Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi

Thực hiện Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi

1. Tính cấp thiết của đề tài

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước và là sự nghiệp của toàn dân nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư. Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Trung ương và của tỉnh nên công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi đạt được những kết quả đáng kể, góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội. Từ năm 1998 đến nay, xóa đói giảm nghèo đã trở thành Chương trình mục tiêu quốc gia và được đưa vào kế hoạch định kỳ 05 năm của Chính phủ và các địa phương, đến nay đã thực hiện qua 03 giai đoạn (1998-2000, 2001-2006, 2006-2010) và hiện nay đang thực hiện giai đoạn 2011-2015. Thành tích của Việt Nam về giảm nghèo là rất lớn, tỷ lệ hộ nghèo năm 1998 là trên 37% (đói nghèo về lương thực, thực phẩm, thì tỷ lệ hộ đói nghèo năm 1998 là 15%); năm 2000 tỷ lệ hộ nghèo đói còn khoảng 11%; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm nhanh từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010; đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,8-2%/năm (từ 7,8% xuống còn 5,8-6%); riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm bình quân 5%/năm (từ 38,2% năm 2013 xuống còn 33,2% năm 2014).

Theo chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015, cùng với cả nước nói chung, huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi nói riêng cũng đã triển khai thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015 và đến năm 2020; Nghị quyết số 30a/2008/NĐ-CP của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững của 61 huyện nghèo trên cả nước, đến nay toàn huyện đã giảm được số hộ nghèo đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo từ 80,93 % vào cuối năm 2010 (qua tổng điều tra theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015) xuống còn 58,38% (năm 2014).

Cho đến nay, giảm nghèo ở Việt Nam luôn là vấn đề được sự quan tâm của nhiều cá nhân, tổ chức trong nước và quốc tế. Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là chính sách xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta, tuy nhiên chính sách giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề đang được quan tâm như: Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh nhưng kết quả giảm nghèo chưa bền vững; các chương trình giảm nghèo triển khai trong thời gian qua chưa toàn diện; nhiều chính sách, chương trình giảm nghèo đã được ban hành nhưng còn mang tính ngắn hạn, chồng chéo, chưa tạo sự gắn kết chặt chẽ và lồng ghép tập trung vào mục tiêu giảm nghèo; công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, vào cộng đồng vẫn còn phổ biến ở nhiều địa phương.

Để chính sách giảm nghèo đem lại hiệu quả giảm nghèo bền vững trong thời gian đến, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách, công cụ giảm nghèo đối với cả nước nói chung và huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi nói riêng là thật sự cần thiết. Hiệu quả của chính sách giảm nghèo ở nước ta phải được phân tích, đánh giá tích cực đầy đủ và phải có một phương pháp phân tích, đánh giá phù hợp. Tuy nhiên, cho đến nay các cơ quan, đơn vị, các ngành chức năng có trách nhiệm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn huyện Tây Trà vẫn chưa tiếp cận được các phương pháp để phân tích, đánh giá chính sách giảm nghèo đang thực thi hiện nay. Bên cạnh đó, việc tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo tại huyện vẫn còn nhiều bất cập, do đó hiệu quả trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững chưa cao.

Xuất phát từ những vấn đề chính sách giảm nghèo đang được quan tâm như nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “ Thực hiện Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sĩ chính sách công. Với mong muốn là đề tài này sẽ góp phần nâng cao nhận thức trong các cấp, các ngành, các địa phương về phương pháp tiếp cận các lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng thời, qua nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo từ thực tiễn huyện Tây Trà sẽ rút ra được những thành tựu, những mặt còn hạn chế, những bất cập (nếu có) từ chính sách giảm nghèo bền vững đang thực thi ở huyện Tây Trà hiện nay, từ đó có thể đưa ra giải pháp chính sách nhằm hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững trong thời gian đến, góp phần đem lại hiệu quả thiết thực trong công tác giảm nghèo ở huyện Tây Trà và sẽ đóng góp thêm kinh nghiệm về giảm nghèo bền vững cho các địa phương khác trên cả nước.

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Nhằm vận dụng lý luận chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam để soi rọi giữa lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi, tìm ra những bất cập của chính sách giảm nghèo bền vững hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững của nước ta trong những năm tiếp theo.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững và chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam.

Thứ hai, nghiên cứu thực trạng thực hiện các chính sách giảm nghèo từ thực tiễn tại huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi.

Thứ ba, trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay, đề ra mục tiêu, định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Các chính sách, công cụ giảm nghèo bền vững của Nhà nước ta hiện nay đang được thực thi trên địa bàn huyện Tây Trà.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Tại huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi, nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trong 04 năm, từ năm 2011 đến năm 2014.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích chính sách công, tổng hợp , khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề giảm nghèo bền vững ở nước ta nói chung và huyện Tây Trà nói riêng. Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài trong thời gian qua.

Đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu phối hợp như thống kê, khái quát thực tiễn, phương pháp phân tích xã hội học định tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách. 

6. Ý nghĩa của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

– Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu, bổ sung kiến thức lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng thời biết vận dụng các lý thuyết về quy trình phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương.

– Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo, từ đó góp phần hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của chính sách giảm nghèo bền vững đã ban hành.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

– Kết quả nghiên cứu của đề tài, trước hết là góp phần nâng cao nhận thức đối với các đồng chí lãnh đạo chính quyền, các hội đoàn thể các cấp từ huyện đến cơ sở hiểu rõ hơn về lý luận chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam, xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Tây Trà, từ đó định hướng góp phần hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững, nâng cao hiệu quả chất lượng của chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.

– Kết quả nghiên cứu khi đưa ra giải pháp chính sách giảm nghèo bền vững phù hợp hơn, việc thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững đem lại hiệu quả thiết thực, giúp người nghèo có khả năng tiếp cận các chính sách chính sách giảm nghèo bền vững và tham gia cùng với Nhà nước để đưa các chính sách giảm nghèo vào trong thực tiễn ngày càng đem lại hiệu quả, nhằm thực hiện được các mục tiêu giảm nghèo mà cấp ủy Đảng, chính quyền đã đề ra, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam.

Chương 2: Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 3: Hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững.

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH

GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

    1. 1.1. Lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững
      1. 1.1.1. Các khái niệm

– Khái niệm ‘nghèo’

Nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính toàn cầu. Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia kém phát triển, mà còn tồn tại ngay tại các quốc gia phát triển. Tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau. Nhìn chung mỗi quốc gia đều đưa ra một khái niệm để xác định mức độ nghèo khổ và đưa ra các chỉ số để xác định giới hạn nghèo khổ. Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia thường được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành. [13]

Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa về nghèo như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” – đây dược coi là quan niệm đói nghèo tuyệt đối. Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tinh kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) – ông AbapiSen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1998 cho rằng : “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”. [13]

Ngân hàng thế giới định nghĩa nghèo như là “ sự thiếu hụt, hay sự bất lực trong việc tiếp cận đến một mức sống mà xã hội chấp nhận”, đồng thời nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực.

Nghèo đa chiều không chỉ là đói ăn, thiếu uống, hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác, mà nghèo đói còn gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các nguồn lực, thông tin và dịch vụ, nghèo về chất lượng công việc và đe dọa từ hành vi bạo lực.[13]

Nghèo không chỉ được đo lường bằng thu nhập, chi tiêu mà còn bởi khả năng tiếp cận một cách đồng thời đến lương thực, nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và mức sống xã hội khác, ngay cả các chỉ báo phi vật chất. Nói cách khác, nghèo được phản ánh bằng sự thiếu hụt phúc lợi xã hội ở các khía cạnh khác nhau và có thể được một bộ các chỉ báo đại diện. Tổng hòa các chỉ báo này phản ánh chất lượng cuộc sống. Rõ ràng là có sự quan hệ qua lại giữa các chỉ báo đói nghèo đa chiều chứ không chỉ đơn giản là quan hệ nhân quả giữa tình trạng nghèo về tiền bạc và các nhân tố khác. Các mối quan hệ qua lại này giữa các chỉ báo nghèo đa chiều làm cho việc đo lường nghèo trở nên phức tạp hơn so với quan hệ nhân quả đơn giản thường được áp dụng trong nghiên cứu nghèo, khi mà tình trạng nghèo đơn chiều được coi như là kết quả của nhiều nhân tố khác. Hiện nay, các tổ chức quốc tế đã áp dụng khái niệm nghèo đa chiều và xây dựng các chỉ số đo lường nghèo đa chiều. Các chỉ số đa chiều phổ biến nhất là Chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index-HPI) do Anand và Sen đề xuất (1997), Chỉ số phát triển con người (Human Development Index-HDI) được Liên Hiệp Quốc sử dụng, và chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index- MPI) do Đại học Oxford và UNDP áp dụng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007).[13]

Ở nước ta, khái niệm nghèo được xác định như sau :

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện.[16]

Như vậy, theo quan niệm hiện đại, nghèo (đa chiều) gồm những khía cạnh cơ bản như sau

– Đầu tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng.

– Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế.

– Nguy cơ dễ bị tổn thương và dể gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập hay sức khỏe.

– Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói, không được tham gia và không có quyền lực của người nghèo. [13]

– Khái niệm “chính sách công”.

Hiện nay trên thế giới khái niệm chính sách công cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Khái niệm chính sách công ở Việt Nam cũng thể hiện những nội dung chủ yếu nhất và chung nhất của các nghiên cứu lý thuyết về chính sách công trên thế giới:

“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”. [14]

Từ cách tiếp cận về nghèo và chính sách công ở Việt Nam như nêu trên, có thể hiểu khái niệm về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam như sau:

Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết định của Chính phủ nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước. [14]

– Khái niệm “chính sách giảm nghèo bền vững” : Theo PGS.TS. Trần Đình Thiên, giảm nghèo bền vững “ không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống…Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững. Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ quan chức năng phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nổ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro. Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận”. [13]

    1. 1.2. Chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI (01/2011) đã định hướng cho mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước và được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 80/NQ-CP của Chính phủ định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ năm 2011 đến năm 2020. Trên cơ sở định hướng của Đảng về giảm nghèo bền vững, Chính phủ ban hành các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững trên phạm vi cả nước.

      1. 1.2.1. Vấn đề của chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

1.2.1.1. Các đặc trưng của các hộ nghèo ở Việt Nam

Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015.

Theo đó, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4,8 triệu/năm) trở xuống; ở thành thị có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6 triệu/năm) trở xuống. Như vậy so với mức thu nhập để xác định chuẩn nghèo cho giai đoạn 2006 – 2010 (200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở thành thị) thì mức thu nhập để xác định chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 được điều chỉnh lên gấp 2 lần.

Cũng theo Quyết định thì hộ cận nghèo ở nông thôn có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng đến 520.000 đồng/người/tháng; ở thành thị có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng đến 650.000 đồng/người/tháng.

Mức chuẩn hộ nghèo và cận nghèo nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chính sách kinh tế – xã hội khác và được áp dụng kể từ ngày 01/01/2011. [16]

Bức tranh nghèo của Việt nam được Ngân hàng Thế giới cập nhật vào năm 2010 cho thấy rất nhiều nhân tố đặc trưng của người nghèo ở thập kỷ 90 vẫn tiếp tục đặc trưng cho người nghèo trong giai đoạn hiện nay: đó là trình độ học vấn thấp và hạn chế về kĩ năng làm việc, phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc, cô lập về địa lý và xã hội, chịu những thiệt thòi mang tính đặc thù dân tộc, cũng như chịu thiên tai và các rủi ro. Trong thập kỷ vừa qua, trình độ dân trí tăng cùng với đa dạng hóa các hoạt động phi nông nghiệp là động lực mạnh mẽ thúc đẩy giảm nghèo ở Việt Nam. Những người nghèo còn lại chủ yếu sống ở các vùng nông thôn, với sinh kế phụ thuộc nông nghiệp và các hoạt động có liên quan.

– Những đặc trưng dân số của người nghèo

Theo nhận định của Ngân hàng thế giới, tác động của những nhân tố nhân khẩu học với nghèo đã thay đổi từ cuối thập kỷ 90. Nghèo ở trẻ em vẫn tiếp tục là mối quan ngại, dù ít nghiêm trọng hơn so với thập kỷ 90 khi các hộ nghèo ở nông thôn thường đông con và phải vật lộn cho con ăn học. Kết quả của các chính sách kế hoạch hóa gia đinh được khởi xướng từ đầu thập kỷ 90 là hầu hết các hộ hiện nay chỉ có một hoặc hai con, và những đứa con đã trưởng thành từ những gia đinh đông con trước đây ở thập kỷ 90 thường giúp nuôi bố mẹ và anh em. Già hóa là rủi ro nhân khẩu học mới: dân số Việt Nam đang già đi và phân tích mới cho thấy người già, đặc biệt người già cô đơn, có thể ngày càng chịu rủi ro nghèo đói trong tương lai. Dù cách xác định đối tượng tốt, các chương trình giảm nghèo và bảo trợ xã hội hiện nay chỉ bao phủ được một phần và có mức trợ cấp khiêm tốn cho người nghèo và người gặp rủi ro. Vào năm 2010, chỉ một nửa số người nghèo cùng cực đủ tiêu chuẩn thụ hưởng trợ cấp của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH).

– Những đặc trưng vùng miền của người nghèo

Nghèo ở các nhóm dân tộc thiểu số trước đây chỉ xuất hiện như một quan ngại vào cuối thập kỷ 90, nhưng nay thành quan ngại lớn hơn rất nhiều khi khoảng cách giữa các nhóm dân tộc thiểu số và người Kinh tiếp tục giãn rộng. Các báo cáo ghi nhận mức độ đa dạng giữa 53 dân tộc thiểu số của Việt Nam và một số những tín hiệu tiến bộ đáng khích lệ của một số nhóm dân tộc thiểu số và ở một số vùng. Nhưng mức độ tập trung của người dân tộc thiểu số trong số người nghèo vẫn tăng; năm 1993, tình trạng nghèo phổ biến và lúc đó, các nhóm dân tộc thiểu số chỉ chiếm 20% tổng số hộ nghèo. Đến năm 1998, tỷ lệ các nhóm dân tộc thiểu số trong số người nghèo tăng lên 29%, và đến 2010, dù các nhóm dân tộc thiểu số chiếm tới 47% tổng số người nghèo và 68% người nghèo cùng cực. Tới 66,3% người dân tộc thiểu số nghèo vào năm 2010, trong khi tỉ lệ này ở dân tộc Kinh chỉ 12,9%.

Phân tích của Ngân hàng Thế giới cũng cho thấy nông nghiệp sẽ vẫn là nguồn thu nhập quan trọng cho rất nhiều người nghèo, gồm (nhưng không giới hạn vào) các nhóm dân tộc thiểu số nghèo. So với nhiều quốc gia khác, đất nông nghiệp ở Việt Nam được phân bố đều. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tình trạng không đất và nghèo ngày càng chặt chẽ, đặc biệt đối với các hộ sống ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), dù trong thập kỷ qua các cơ hội việc làm phi nông nghiệp đi kèm quá trình đa dạng hóa thu nhập đa mở rộng nhanh.

– Những đặc trưng văn hóa xã hội của người nghèo

Ngày nay, người Việt Nam được giáo dục tốt hơn so với một thập kỷ trước. Tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học đã cao vào cuối thập kỷ 90. Từ đó, các bộ số liệu khác thể hiện tỷ lệ nhập học tăng nhanh ở trung học cơ sở và trung học phổ thông, hệ quả là tỷ lệ sinh viên theo học cao đẳng và đại học cũng tăng. Không được đi học vẫn là yếu tố quan trọng quyết định tình trạng nghèo: 46% hộ nghèo và 58% hộ nghèo cùng cực có chủ hộ chưa học xong tiểu học. Chênh lệch về tỷ lệ nhập học giữa trẻ hộ nghèo và hộ khá vẫn tồn tại. Hầu hết trẻ trong độ tuổi tiểu học – dù giàu hay nghèo, thuộc nhóm đa số hay thiểu số – đều đi học. Nhưng tỷ lệ nhập học của các nhóm dân tộc thiểu số giảm ở cấp trung học cơ sở, và trẻ ở các hộ thu nhập thấp ít có khả năng theo học trung học phổ thông hơn trẻ ở các hộ khá, khiến tình trạng nghèo truyền kiếp vẫn kéo dài ở Việt Nam. Tỷ lệ nhập học chênh lệch cũng góp phần gia tăng bất bình đẳng. Theo khảo sát mức sống dân cư năm 2010, tới 40% số người ở độ tuổi từ 21 trở lên trong nhóm ngũ phân vị giàu nhất đa tốt nghiệp đại học; trong khi đó, dưới 2% nhóm ngũ phân vị nghèo nhất tốt nghiệp đại học. Trên thực tế, trên một phần tư nhóm ngũ phân vị nghèo nhất chưa hoàn thành tiểu học vào năm 2010.

1.2.1.2. Những mục tiêu giảm nghèo bền vững

Cụ thể hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, ngày 19/5/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020. Nghị quyết cũng đã đề ra mục tiêu tổng quát, đó là: “Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư”. [9]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (tháng 01/2011) nêu rõ quan điểm: Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội từ năm 2011-2020. Định hướng phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, cụ thể là “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn. Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên. Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị”. [38]

Trong phương hướng nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm (2011-2015), Đảng ta cũng đã đưa ra quan điểm về bảo đảm an sinh xã hội, với nội dung: “Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức xoá đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xoá đói, giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo”. [38]

Trên quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng về giảm nghèo, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 và phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012- 2015. Đặc biệt đối với 61 huyện nghèo trong cả nước, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo trong cả nước. [5]

Bên cạnh những thành quả đạt được trong thực hiện chính sách giảm nghèo ở Việt Nam, việc tập trung thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và các chương trình giảm nghèo, tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường; đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010. Thành tựu giảm nghèo của nước ta thời gian qua được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề cần được quan tâm. Đó là: kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao; chênh lệch giàu – nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nguyên nhân của những vấn đề đang cần được quan tâm trong thực hiện giảm nghèo bền vững ở nước ta nêu trên, trước hết do điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nên mặc dù Nhà nước luôn dành nguồn lực lớn cho giảm nghèo nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu; bên cạnh đó, một số chương trình, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ, còn mang tính ngắn hạn, thiếu sự gắn kết chặt chẽ; cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành, phân công phân cấp còn chưa hợp lý, việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở một số nơi chưa sâu sát. Ngoài ra, một bộ phận người nghèo còn tâm lý ỷ lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo.

Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững theo Quyết định số 1489/2012/QĐ-TTg ngày 18/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra mục tiêu là: “Cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tác giảm nghèo ở các vùng nghèo; góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư”. [11]

Thực hiện Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi
Thực hiện Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi

Các dự án thành phần của Chương trình bao gồm 04 Dự án.

    1. 1.3. Giải pháp và công cụ giảm nghèo bền vững của Việt Nam

Giải pháp và công cụ giảm nghèo bền vững của Việt Nam hiện naybao gồm các chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung, các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù được thực hiện thông qua các chương trình, dự án giảm nghèo bền vững.

      1. 1.3.1. Giải pháp đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng 

Dự án 1: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo bao gồm 02 tiểu dự án: Tiểu dự án 1 là hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các huyện nghèo nhằm thực hiện mục tiêu: Tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và dân sinh ở các huyện nghèo, thực hiện mục tiêu theo Nghị quyết 30a đến năm 2015; tăng cường năng lực cho người dân và cộng đồng để phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư, từng bước phát huy lợi thế về địa lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Tiểu dự án 2 là hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo nhằm thực hiện mục tiêu: Tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, kinh doanh và dân sinh ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống của người dân, giảm nghèo nhanh và bền vững. Đối tượng: Các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. [11]

Dự án 2: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn, với mục tiêu là tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và dân sinh ở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống của người dân, giảm nghèo nhanh và bền vững. Đối tượng: Các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn. [11]

      1. 1.3.2. Giải pháp nhân rộng mô hình giảm nghèo hiệu quả 

Dự án 3 : Nhân rộng mô hình giảm nghèo hiệu quả, phù hợp nhằm nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và đa dạng hóa về thu nhập cho người nghèo, hộ nghèo; tạo cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận các chính sách, nguồn lực thị trường (thị trường vốn, lao động, đất đai, khoa học kỹ thuật – công nghệ và thị trường hàng hóa đầu vào, đầu ra…) hướng đến phát triển sản xuất và dịch vụ, tăng nhanh thu nhập, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững. Đối tượng: Người nghèo, hộ nghèo, ưu tiên chủ hộ là nữ và hộ nghèo dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn. [11]

      1. 1.3.3. Giải pháp hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo 

Dự án 4: Hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo, truyền thông và giám sát đánh giá thực hiện Chương trình nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ giảm nghèo các cấp; tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng, người dân, các cấp, các ngành về ý nghĩa và tầm quan trọng của giảm nghèo và cách tiếp cận về giảm nghèo bền vững; thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá đồng bộ, toàn diện đáp ứng yêu cầu quản lý, thực hiện Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 (sau đây viết tắt là Nghị quyết 80). Đối tượng: Người nghèo, hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư; đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp. [11]

1.3.4. Chính sách tín dụng đối với hộ nghèo

Chính sách tín dụng cho hộ nghèo được chú trọng thực hiện trong giai đoạn 2001 đến 2010 và giai đoạn 2011 đến nay vẫn còn hiệu lực (Nghị định số 78/2002/ND-CP ngày 4/10/2002 Của Chính Phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác), được sử dụng để thực hiện chủ trương giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta. Chính sách tín dụng dành cho hộ nghèo là chương trình được triển khai rộng rãi, đáp ứng một lượng lớn nhu cầu vốn của hộ nghèo, tác động trực tiếp và mang lại hiệu quả thiết thực, là một trong những điểm sáng trong các chính sách giảm nghèo. Nhờ chính sách này thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội từ năm 2005 – 2012, đã có gần 10 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn, giúp cho khoảng 2,4 triệu hộ thoát nghèo.

Chính sách tín dụng cho người nghèo còn được thể hiện qua một số các văn bản khác: Quyết định số 54/2012/QĐ-CP ngày 04/12/2012 của Chính phủ về việc ban hành chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015 (thay thế Quyết định 32/ 2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007); Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ cận nghèo; Quyết định số 157/2007/QĐ-CP ngày 27/9/2007 của Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên.

      1. 1.3.5. Giải pháp giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo hiện nay được thực hiện theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ và Nghị định 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm 2014-2015, có hiệu lực thực hiện từ 01/9/2013.[8]

Chính sách hỗ trợ về giáo dục và đào tạo nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh nghèo ở các cấp học, nhất là bậc mầm non; tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên, nhất là sinh viên nghèo. Thực hiện chính sách ưu đãi, thu hút đối với giáo viên công tác ở địa bàn khó khăn; khuyến khích xây dựng và mở rộng “Quỹ khuyến học”; ưu tiên đầu tư trước để đạt chuẩn cơ sở trường, lớp học ở các xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn.

      1. 1.3.6. Giải pháp y tế và chăm sóc sức khỏe

Chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo với mục đích nhằm hỗ trợ miễn phí 100% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo để người nghèo được khám, chữa bệnh, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người nghèo. Chính sách này được thực hiện theo Nghị định 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều Luật bảo hiểm Y tế; Thông tư số 09/TTLT-BYT-BTC ngày 14/8/2009 của Bộ Y tế – Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế; Quyết định 538/2013/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020; Quyết định 705/QĐ-TTg ngày 08/5/2013 của Chính phủ về nâng mức hỗ trợ đóng thẻ bảo hiểm y tế cho một số đối tượng người thuộc hộ cận nghèo.

Chính sách hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ cận nghèo; xây dựng chính sách hỗ trợ người nghèo mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo. Nghiên cứu chính sách hỗ trợ việc cung cấp dinh dưỡng cho phụ nữ, trẻ em nghèo ở địa bàn nghèo. Tăng cường hơn nữa chính sách ưu đãi, thu hút đối với cán bộ y tế công tác ở địa bàn nghèo. Ưu đãi đầu tư trước để đạt chuẩn cơ sở bệnh viện, trạm y tế ở các huyện, xã nghèo.

      1. 1.3.7. Giải pháp về nhà ở 

“ Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở ” nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chính sách thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, Nhà nước trực tiếp hỗ trợ các hộ nghèo để có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững. Chính sách này được thực hiện theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở. Tiếp đó ngày 29/10/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 67/2010/QĐ-TTg để bổ sung thêm đối tượng là các hộ nghèo, có khó khăn về nhà ở.

Theo đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách mỗi hộ gia đình từ 7,2 – 8,4 triệu đồng. Đồng thời các hộ dân sẽ được vay 8 triệu đồng với lãi suất ưu đãi (3%/năm) từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Ngoài ra, chính sách cũng nêu rõ cộng đồng, địa phương huy động sức người sức của giúp người nghèo để xây dựng được một ngôi nhà diện tích khoảng 24m2, đảm bảo tiêu chuẩn 3 cứng, có tuổi thọ tối thiểu 10 năm cho người dân. Chương trình 167 mang ý nghĩa nhân văn kể từ khi đất nước thực hiện đường lối đổi mới, thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân.

Chính sách hỗ trợ về nhà ở đã được triển khai thực hiện trong những năm qua đã đem lại hiệu quả thiết thực, do đó trong giai đoạn 2011-2015 tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo khu vực nông thôn, miền núi để cải thiện nhà ở, ưu tiên hộ nghèo ở người cao tuổi, người khuyết tật. Xây dựng cơ chế, chính sách của địa phương để hỗ trợ nhà ở đối với người nghèo ở đô thị trên cơ sở huy động nguồn lực của cộng đồng, gia đình, dòng họ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp.[6]

      1. 1.3.8. Giải pháp hỗ trợ và trợ giúp pháp lý đối với người nghèo

Trợ giúp pháp lý là một trong những chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em, người khuyết tật và các đối tượng chính sách khác, giúp họ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, nâng cao hiểu biết pháp luật, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống. Đây là một trong những chính sách được triển khai thực hiện trong các Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo theo tinh thần Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ (tỉnh Quảng Ngãi có 06 huyện nghèo). Để thực hiện chính sách này, Quốc hội đã ban hành Luật trợ giúp pháp lý ngày 29/6/2006, Chính phủ đã ban hành: Quyết định số 52/2010/QĐ-CP ngày 18/8/2010 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011 – 2020. Năm 2011, Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Chính sách hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí tạo điều kiện cho người nghèo hiểu biết quyền, nghĩa vụ của mình, chủ động tiếp cận các chính sách trợ giúp của Nhà nước, vươn lên thoát nghèo.[22]

      1. 1.3.9. Giải pháp văn hóa 

Chính sách hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin, đây là chính sách cần tổ chức thực hiện tốt chương trình đưa văn hóa, thông tin về cơ sở; đa dạng hóa các hoạt động truyền thông, giúp người nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo, phổ biến các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, gương thoát nghèo.

      1. 1.3.10. Giải pháp an sinh xã hội 

Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù là nhóm các chính sách mà Chính phủ đưa ra nhằm thực hiện hỗ trợ giảm nghèo ưu tiên đối với hộ nghèo, người nghèo vùng dân tộc thiểu số, huyện nghèo, xã nghèo và thôn, bản đặc biệt khó khăn. Nhóm chính sách này được thể hiện cụ thể như sau:

Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, nước sinh hoạt được thực hiện theo Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn.

Hộ nghèo, người nghèo dân tộc thiểu số; hộ nghèo, người nghèo sinh sống ở huyện nghèo, xã nghèo, xã an toàn khu, xã biên giới và thôn, bản đặc biệt khó khăn được hưởng các chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ. Hộ nghèo ở các thôn, bản giáp biên giới không thuộc huyện nghèo trong thời gian chưa tực túc được lương thực được hỗ trợ 15 kg gạo/khẩu/tháng theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ; Có chính sách ưu đãi cao hơn về mức đầu tư, hỗ trợ về lãi suất đối với hộ nghèo ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; Mở rộng chính sách cử tuyển đối với học sinh thuộc hộ gia đình sinh sống ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; Xây dựng chính sách học bổng cho con em hộ nghèo dân tộc thiểu số ở các địa bàn đặc biệt khó khăn học đại học; Ưu tiên hỗ trợ nhà văn hóa cộng đồng, đưa thông tin về cơ sở, trợ giúp pháp lý miễn phí đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; Xây dựng dự án bảo tồn đối với các nhóm dân tộc ít người, dự án định canh định cư để hỗ trợ người dân ở các địa bàn đặc biệt khó khăn (núi đá, lũ quét, thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai).

Chính sách ưu đãi đối với huyện nghèo, xã nghèo nhằm tạo điều kiện cho huyện nghèo được tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, bao gồm: Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; chính sách cán bộ đối với các huyện nghèo; chính sách, cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả thôn, bản, xã và huyện. Đối với Xã nghèo: Ưu tiên đầu tư trước để hoàn thành, đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới đối với cơ sở trường lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa ở các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi; Ưu tiên đầu tư trước để đạt chuẩn các công trình hạ tầng cơ sở theo tiêu chí nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã an toàn khu; Mở rộng chương trình quân dân y kết hợp; xây dựng mô hình giảm nghèo gắn với an ninh quốc phòng để hỗ trợ sản xuất, tạo thu nhập cho người nghèo trên địa bàn biên giới; tăng cường bộ đội biên phòng về đảm nhiệm vị trí cán bộ chủ chốt ở các xã biên giới.

Các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA và các chương trình khác phải tập trung các hoạt động và nguồn lực ưu tiên đầu tư trước cho các huyện nghèo, xã nghèo để đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo ở các địa bàn này.

    1. 1.4. Chủ thể chính sách giảm nghèo bền vững

Các chủ thể của chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta bao gồm : Đảng CSVN, Quốc hội, Chính  phủ và các tổ chức kinh tế, xã hội và chính trị

Ở nước ta, chính sách giảm nghèo được xuất phát từ những quan điểm và đường lối chiến lược của Đảng. Quốc hội và Chính phủ thể chế hóa các đường lối và Nghị quyết của Đảng thành các văn bản pháp quy nhằm tổ chức việc thực hiện và giám sát việc thưc hiện các chính sách giảm nghèo trên cả nước. Các Bộ, cơ quan ban ngành của Nhà nước tham gia với tư cách là các cơ quan tham mưu, tư vấn cho Quốc hội và Chính phủ trong việc ban hành chính sách, tổ chức thực hiện, điều hành và giám sát việc thực hiện chính sách giảm nghèo. Bộ Lao động thương binh và xã hội là cơ quan chủ trì cùng với Bộ tài chính và các cơ quan ban, ngành có liên quan trong việc hoạch định và ban hành các chính sách giảm nghèo. Các Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh và huyện thành lập các Ban Chỉ đạo giảm nghèo các cấp gồm các thành viên kiêm nhiệm lấy từ các cơ quan chức năng của Nhà nước như: Các Sở, Phòng: Lao động – Thương binh và Xã hội; Tài chính Kế hoạch, Tài nguyên môi trường, Kinh tế hạ tầng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội, mời Mặt trận và các hội đoàn thể cùng cấp tham gia giám sát, tuyên truyền vận động để thực hiện các chính sách giảm nghèo.

Người nghèo có thể tham gia vào việc hoạch định chính sách ở tư cách người cung cấp thông tin xác định mức đói nghèo, đối tượng đói nghèo, thông tin về kết quả thực hiện chính sách, thông tin về tác động của công cụ chính sách… Thông tin do người nghèo cung cấp có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách xóa đói, giảm nghèo bởi đây là các thông tin gốc, phản ảnh trung thực tình hình thực tế.

Các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội có thể tham gia chính sách giảm nghèo với tư cách nhà tài trợ hoặc tư cách phối hợp hành động. Đa số các doanh nghiệp thích hình thức tài trợ hơn vì họ không có thời gian và không có khả năng tham gia trực tiếp vào các hoạt động chính sách… Các tổ chức Mặt trận và các hội đoàn thể (thanh niên, phụ nữ, hội nông dân… ) do tính chất chính trị xã hội của họ, tham gia tích cực vào hoạt động giảm nghèo. Các hội đoàn thể có thể mạnh ở bộ máy tổ chức hoàn chỉnh, lãnh đạo thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở nên dễ dàng tiếp cận và hỗ trợ người nghèo. Tuy nhiên, họ gặp khó khăn về tài chính, thường phải xin tài trợ của các tổ chức khác hoặc phối hợp thụ động theo chương trình của cơ quan khác

    1. 1.5. Thể chế chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Liên quan đến chính sách giảm nghèo, tại điểm 2, Điều 59, Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “ Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”.

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng khóa XI (tháng 01/2011) là văn bản mang ý nghĩa định hướng giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở định hướng của Đảng, tháng 5/2011, Chính phủ đã cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020. Từ đó, Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt các chính sách, dự án, Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, để tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước :

Xác định các mục tiêu cụ thể của chính sách giảm nghèo giai đoạn 2011-2020 bao gồm :

Thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người các hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ lệ hộ nghèo của các huyện, xã nghèo giảm 4% năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn

Thứ hai, cải thiện rỏ rệt điều kiện sống của người nghèo về y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt và nhà ở,người nghèo ngày càng tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội căn bản

Thứ ba, cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội ở các huyện, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện nước, sinh hoạt

Những định hướng giảm nghèo đến năm 2020 :

– Tiếp tục tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi để người nghèo tự lực vượt nghèo, đặc biệt tập trung cho các địa phương nghèo.

– Tiếp tục cải thiện việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội thông qua các chính sách trợ giúp về giáo dục; y tế; kế hoạch hóa gia đình; nhà ở; nước sạch; phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh… một cách trực tiếp và có chất lượng cho người nghèo nhất là đồng bào dân tộc thiểu số và phụ nữ nghèo.

– Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giảm nghèo.

– Ưu tiên nguồn lực cho những vùng có tỷ lệ nghèo cao.

– Tăng cường phân cấp cho địa phương, cơ sở, trên cơ sở nâng cao năng lực cán bộ, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở , công khai, bình đẳng trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình.

Về cơ cấu tổ chức bộ máy thực hiện chương trình giảm nghèo ở Việt Nam được quy định như sau:

Chính phủ thống nhất quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện chương trình giảm nghèo. Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban chỉ đạo chương trình giảm nghèo do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban, thành viên là lãnh đạo các Bộ, ngành. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo chương trình giảm nghèo, giúp Thủ tướng Chính phủ thống nhất chỉ đạo công tác giảm nghèo trong cả nước. Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo chương trình giảm nghèo và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong Ban Chỉ đạo theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị là thành viên của Ban chỉ đạo giảm nghèo để thực hiện.

Ban chỉ đạo giảm nghèo được thành lập theo cấp từ Trung ương đến các tỉnh, thành, đến các huyện/thành phố thuộc tỉnh, rồi đến cấp cơ sở xã, phường, thị trấn. Các thành phần tham gia Ban chỉ đạo giảm nghèo các cấp được Chính phủ quy định đồng bộ từ Trung ương đến cấp xã, phường, thị trấn.

    1. 1.6. Những nhân tố tác động đến chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
      1. 1.6.1. Tác động của tăng trưởng kinh tế đến đói nghèo

“Trong quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo có mối quan hệ biện chứng với nhau: Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề, điều kiện vật chất để giảm nghèo. Ngược lại giảm nghèo là nhân tố đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế mang tính bền vững. Giải quyết các vấn đề xã hội (trong đó có vấn đề xóa đói, giảm nghèo) không thể tách rời với phát triển kinh tế, không thể vượt ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế. Song không phải vì thế mà để kinh tế phát triển cao hơn mới giải quyết các vấn đề xã hội (trong đó có vấn đề xóa đói, giảm nghèo) mà phải gắn với phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội ngay từ đầu, trong từng bước và từng chính sách phát triển.

Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển kinh tế, vốn đầu tư tăng nhanh, hiệu quả đầu tư lớn thì nguồn lực cho giải quyết các vấn đề xã hội sẽ tăng lên.

Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển thì thu nhập bình quân đầu người tăng lên, chất lượng cuộc sống được cải thiện. Tuy nhiên, nếu tăng trưởng kinh tế đi cùng với phân hóa giàu nghèo cao thì khi chuẩn nghèo được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo cũng tăng lên, chính sách giảm nghèo lại phải mở rộng. Do đó, việc cân đối, huy động nguồn lực để đáp ứng yêu cầu cũng trở nên khó khăn hơn. Chuẩn nghèo nâng lên thì số hộ vừa thoát nghèo có khả năng tái nghèo. Những hộ có thu nhập bình quân đầu người nằm ngay cận trên chuẩn nghèo có thể rơi vào tình trạng nghèo theo chuẩn mới. Như vậy, diện hộ nghèo theo chuẩn mới sẽ tăng lên, người nghèo tăng lên đòi hỏi nguồn lực để giải quyết đói nghèo tăng lên trong điều kiện nguồn vật chất, tài chính của Nhà nước và của xã hội còn hạn hẹp” .

      1. 1.6.2. Tác động của công nghiệp hóá và đô thị hóa đến đói nghèo

“Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đi kèm với việc thu hồi đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ và công trình công cộng khiến cho người lao động ở những nơi này mất đất, không kịp chuyển đổi nghề nghiệp hoặc không có tay nghề phải di cư ra thành thị hoặc những vùng ven đô để tìm kiếm việc làm, với mức thu nhập thấp, không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản và phải đối mặt với nhiều rủi ro về sức khỏe, việc làm, tệ nạn xã hội nên nguy cơ rơi vào nghèo đói của nhóm này rất cao” .

      1. 1.6.3. Tác động của suy thoái môi trường, thiên tai, dịch bệnh đến đói nghèo

Trong những năm gần đây, mức độ suy thoái môi trường ngày càng nghiêm trọng là một nhân tố trực tiếp làm tăng mức độ và phạm vi của đói nghèo ở nước ta.

“Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng là một nhân tố trực tiếp. Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, kết quả làm bệnh tật gia tăng đối với công nhân và dân cư trong vùng, chi phí cho sức khỏe và bệnh tật khiến người lao động nghèo thêm.

Thiên tai, dịch bệnh cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác và chính sách xóa đói, giảm nghèo” .

      1. 1.6.4. Sự hạn chế về năng lực của các chủ thể

Nhìn chung, do cơ chế quản lý về mặt nhà nước ở nước ta nói chung vẫn ít nhiều theo lề lối cũ, làm hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương đối với một số lĩnh vực, trong đó có sự hạn chế về năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp trong công tác giảm nghèo.

“Đây là nhân tố tác động đến mức độ đói nghèo không nhỏ, nhưng thường bị bỏ qua và chậm đổi mới. Thể hiện ở một số mặt sau:

Thứ nhất, tính chất và mức độ hành chính quan liêu của các cấp đã ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề đói nghèo.

Thứ hai, tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình triển khai thực hiện các dự án kinh tế, xã hội.

Thứ ba, tình trạng tham nhũng nặng nề và phổ biến không chỉ tác động đến chất lượng và hiệu quả phát triển mà còn trực tiếp tác động đến đời sống nhân dân”.

    1. 1.7. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số quốc gia [16]

Một thực tế cho thấy rằng hầu hết những người nghèo đều tập trung ở khu vực nông thôn, bởi vì đây là khu vực hết sức khó khăn về mọi mặt như: điện, nước sinh hoạt, đường, trạm y tế… ở các nước đang phát triển với nền kinh tế sản xuất là chủ yếu, thì sự thành công của chương trình xóa đói giảm nghèo phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước đối với chương trình nông nghiệp và phát triển nông thôn của các quốc gia. Thực tế cho thấy rằng các con rồng châu Á như: Hàn quốc, Singapo, Đài loan; các nước ASEAN và Trung Quốc đều rất chú ý đến phát triển nông nghiệp và nông thôn. Xem nó không những là nhiệm vụ xây dựng nền móng cho quá trình CNH- HĐH, mà còn là sự đảm bảo cho phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, không phải nước nào cũng ngay từ đầu và trong suốt quá trình vật lộn để trở thành các con rồng đều thực hiện sự phát triển cân đối, hợp lý ở từng giai đoạn, từng thời kỳ giữa công nghiệp với nông nghiệp. Dưới đây là bài học kinh nghiệm của một số quốc gia.

Thực hiện Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi
Thực hiện Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi

1.7.1. Hàn Quốc

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung phát triển ở các thành phố lớn, thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân nghèo đói sống trong cảnh nghèo đói tột cùng. Từ đó gây ra làng sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, Chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị – xã hội, Chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế – xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực nông thôn và một chương trình nông nghiệp và phát triển nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung cơ bản: Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay. Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao. Thay giống lúa mới với năng suất cao. Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các Hợp tác xã sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và nâng cấp nhà ở. Với những nội dung này Chính phủ Hàn Quốc đã giúp cho nhân dân có được việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân ra các thành phố lớn để kiếm việc làm, chính sách này được thực hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông nghiệp nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh tế phát triển nhằm xóa đói giảm nghèo cho nhân dân ở khu vực nông thôn.

Tóm lại, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp phát triển nhưng Chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xóa đói giảm nghèo cho nhân dân ở khu vực nông thôn, có như vậy mới xóa đói giảm nghèo cho nhân dân, tạo thế ổn định và bền vững cho nền kinh tế.

1.7.2. Đài Loan

Đài Loan là một trong những vùng lãnh thổ công nghiệp mới, nhưng là một trong những nước thành công nhất về mô hình kết hợp chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, mặc dù Đài Loan không có các điều kiện thuận lợi như các nước trong khu vực, đó là Chính phủ Đài Loan đã thực hiện thành công một số chính sách phát triển kinh tế – xã hội như: Đưa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành trang trại gia đình với quy mô nhỏ, chủ yếu đi vào phát triển nông phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa. Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, mở mang thêm những ngành sản xuất kinh doanh ngoài nông nghiệp cũng được phát triển nhanh chóng, số trang trại vừa sản xuất nông nghiệp, vừa kinh doanh ngoài nông nghiệp chiếm 91%, số trang trại sản xuất thuần nông chiếm 90%. Việc tăng sản lượng và tăng sản xuất lao động trong nông nghiệp đến lượt nó lại tạo cho ngành công nghiệp phát triển. Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nông thôn. Đài Loan rất coi trọng phát triển mạng lưới giao thông nông thôn cả về đường bộ, đường sắt và đường thủy.

Trong nhiều thập kỷ qua Đài Loan coi trọng việc phát triển giao thông nông thôn điều khắp các miền, các vùng sâu, vùng xa, công cuộc điện khí hóa nông thôn góp phần cải thiện điều kiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt ở nông thôn. Chính quyền Đài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp ngay ở vùng nông thôn để thu hút lao động nhàn rỗi của khu vực nông nghiệp, tăng thu nhập cho những người nông dân nghèo, góp phần cho họ ổn định cuộc sống. Đài Loan áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc đối với những người trong độ tuổi, do đó trình độ học vấn của nhân dân nông thôn được nâng lên đáng kể, cùng với trình độ dân trí được nâng lên và điều kiện sống được cải thiện. Hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân cũng được quan tâm đầu tư thích đáng.

1.7.3. Thái Lan

Trong những biện pháp chống nghèo khổ mà nước này đã áp dụng là phân bố cơ sở sản xuất công nghiệp xây dựng mới về khu vực nông thôn, nơi có sẵn tài nguyên thiên nhiên nhằm thu hút số lao động dôi dư ở khu vực nông nghiệp (để khắc phục tình trạng lao động di cư vào thành phố kiếm việc làm, làm tăng thu nhập cho người dân và gia đình họ. Biện pháp này còn nhằm mục đích đô thị hóa nông thôn, đưa những vùng nôn thôn hẻo lánh xa xôi vào dòng phát triển chung của đất nước.

1.7.4. Đối với các nước ASEAN

Những nổ lực trong các giải pháp chống nghèo khổ của các nước ASEAN đã đem lại những kết quả đáng kể, song để khắc phục tình trạng có tính lâu dài bền vững thì Chính phủ ở các nước này phải duy trì và đẩy mạnh nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển tạo nên cơ sở vật chất, để phân phối lại thu nhập qua sự điều tiết của Chính phủ và khi nền kinh tế phát triển thì tích lũy từ nội bộ nền kinh tế được nâng cao, từ đó Chính phủ đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là chương trình xóa đói giảm nghèo một cách có hiệu quả nhất.

1.7.5. Trung Quốc

Ngay từ khi Đại hội XII của Đảng cộng sản Trung Quốc vào năm 1984, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực, nhưng cái chính là cải cách cơ cấu nông nghiệp nông thôn. Mục đích của nó là làm thay đổi các quan hệ chính trị, kinh tế ở nông thôn, giảm nhẹ gánh nặng về tài chính đã đè quá nặng lên những người nghèo khổ ở nông thôn trong nhiều năm qua, phục hồi ngành sản xuất nông nghiệp.

Năm 1985 Đặng Tiểu Bình đã nói: “Sự nghiệp của chúng ta sẽ không có ý nghĩa gì nhiều nếu không có sự ổn định ở nông thôn..” Sau khi áp dụng một loạt các chính sách cải cách kinh tế ở khu vực nông thôn, Trung Quốc đã thu được những thành tựu đáng kể, đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong thể chế chính trị, thay đổi về căn bản về cơ cấu kinh tế nông thôn, chuyển đổi phương thức quản lý, thay đổi căn bản phương thức phân phối, phân phối theo lao động đóng vai trò chính và Trung Quốc đã thực hiện thành công việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường thì sự phân hóa giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội. Do chính sách mở của nền kinh tế, các thành phố lớn thì tập trung các nhà máy sản xuất công nghiệp, tuy có phát triển một số nhà máy công nghiệp ở một số vùng nông thôn, song vùng giàu có thì ngày càng giàu có, vùng nghèo đói vẫn là nghèo đói nhất là vùng sâu, vùng xa. Để khắc phục tình trạng nghèo khổ cho khu vực nông thôn, Chính phủ đã đưa ra một loạt các giải pháp cơ bản nhằm xóa đói giảm nghèo cho nhân dân, trong đó có các giải pháp về tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, xây dựng các vùng định canh, định cư, khu dân cư mới, chính sách này đã đem lại những thành công đáng kể cho nền kinh tế – xã hội Trung Quốc trong những năm qua”.

Từ kinh nghiệm giảm nghèo ở một số quốc gia được nghiên cứu ở trên, rút ra được một số bài học kinh nghiệm trong giảm nghèo đối với Việt Nam:

Một là, trong tiến trình CNH-HĐH đất nước, phát triển công nghiệp nhưng vẫn cần chú trọng phát triển nông nghiệp và nông thôn; phát triển cân đối, hợp lý từng giai đoạn, từng thời kỳ giữa công nghiệp và nông nghiệp nhằm xóa đói giảm nghèo cho nhân dân ở khu vực nông thôn.

Hai là, coi trọng việc phát triển giao thông nông thôn ở các vùng sâu, vùng xa góp phần cải thiện điều kiện đi lại, sinh hoạt cho nhân dân.

Ba là, phân bố cơ sở sản xuất công nghiệp về khu vực nông thôn nhằm thu hút lao động ở khu vực nông nghiệp, khắc phục tình trạng lao động di cư vào các thành phố kiếm việc làm, làm tăng thu nhập cho người dân.

Bốn là, duy trì và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở vật chất để đầu tư cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo có hiệu quả.

Chương 2

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TÂY TRÀ, TỈNH QUẢNG NGÃI

    1. 2.1. Chính sách giảm nghèo bền vững của huyện Tây Trà hiện nay
      1. 2.1.1. Vấn đề của chính sách giảm nghèo bền vững huyện Tây Trà

– Điều kiện địa lý tự nhiên:

Tây Trà là huyện vùng cao thuộc diện đặc biệt khó khăn của tỉnh Quảng Ngãi, trung tâm huyện lỵ đặt tại xã Trà Phong, cách Thành phố Quảng Ngãi khoảng 100 km về phía Tây Bắc. Huyện có 9 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 36 thôn đều thuộc diện các xã vùng cao. Diện tích tự nhiên có 33.776,07 ha, trong đó chủ yếu là đồi núi.

Nhìn chung, đặc điểm khí hậu của huyện có hai mùa như sau: Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 02 năm sau, mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8. Vào mùa khô, ở các tháng 6, 7 và 8 thường có mưa giông với lượng mưa trung bình trong các tháng này là 230 mm, thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây ngắn ngày ở những vùng không có nước tưới; mưa tập trung lớn nhất vào các tháng 10 và 11, lượng mưa trung bình trong hai tháng này có thể lên đến trên 800 mm nên dễ gây ra lũ quét làm thiệt hại đến sản xuất, đời sống và cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, dân sinh và đặc biệt là gây nên sạt lở các khu dân cư.

– Tài nguyên thiên nhiên :

+ Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 33.776,07 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 25.324,43 ha, bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp 3.897,48 ha (trong đó: Đất trồng cây hàng năm 3.897,43 ha; đất trồng cây lâu năm 994 ha), đất lâm nghiệp 21.427 ha (trong đó: Đất rừng sản xuất 8.224 ha; đất rừng phòng hộ 13.203 ha).

Theo kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng thì diện tích có rừng hiện tại là 9.679,6 ha, bao gồm rừng tự nhiên 7.613 ha, rừng trồng 2.066,6 ha, ngoài ra cây lâu năm đã thành rừng 830 ha, tỷ lệ độ che phủ của rừng vào khoảng 28,6%. Rừng tự nhiên trên địa bàn huyện là rừng gỗ lá rộng thường xanh, nhiều tầng và không đều tuổi; phần lớn ở trạng thái rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo bị khai thác kiệt.

– Đặc điểm dân cư:

Huyện Tây Trà có dân số khoảng 19.044 người, với 4.498 hộ với 04 dân tộc chính là Kor, Kinh, Xơ đăng (Cadong) và Hrê, trong đó: dân tộc Kor có 13.791 người chiếm 82,49%. Tây Trà là một huyện miền núi thường xuyên xảy ra thiên tai bão lũ nên đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn.

– Điều kiện kinh tế xã hội :

Tây Trà là một huyện miền núi, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông – lâm –ngư – nghiệp. Cho đến năm 2015, giá trị sản xuất chiếm 24,4%, công nghiệp xây dựng chiếm 34,1%, thương mại dịch vụ chiếm 41,5%. Thu nhập bình quân 2,5 triệu/người/ năm (2010), và năm 2015 dự tính đạt khoảng 5,35 triệu/người/năm (tức khoảng 500 ngàn/người/tháng, hay ngang mức chuẩn nghèo cả nước)

Tổng số hộ nghèo trên địa bàn huyện Tây Trà theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 qua số liệu tổng điều tra cuối năm 2014 toàn huyện có 2.626 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 58,38% so với tổng số hộ dân cư trên địa bàn huyện. Đây là một trong số những huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất nước. Địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là xã Trà Trung (66,67%); xã Trà Thọ có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất (46,20%). Về đặc điểm: hộ nghèo của huyện Tây Trà chủ yếu là hộ đồng bào dân tộc thiểu số, sống chủ yếu là bằng nông nghiệp.

Trong tổng số 2.695 hộ nghèo, có 1.488 hộ thiếu vốn sản xuất, chiếm tỷ lệ 55,21%; thiếu đất canh tác 718 hộ, chiếm tỷ lệ 26,64%; thiếu phương tiện sản xuất có 676 hộ, chiếm tỷ lệ 25,08%; có lao động nhưng không có việc làm có 670 hộ, chiếm tỷ lệ 24,86%; không biết cách làm ăn, không có tay nghề có 1314 hộ, chiếm tỷ lệ 48,76 hộ; đông người ăn theo có 514 hộ, chiếm tỷ lệ 19,07%; ốm đau nặng có 206 hộ, chiếm tỷ lệ 7,06%; mắc tệ nạn xã hội 0 hộ; chây lười lao động 108 hộ, chiếm tỷ lệ 4,01%; nguyên nhân khác 127 hộ, chiếm tỷ lệ 4,71%

Quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo ở huyện Tây Trà đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Tây Trà liên tục giảm qua các năm 2011, 2012, 2013, 2014 thể hiện qua kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo hằng năm như sau:

Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 là 76%, năm 2011 là 71,78 %, năm 2012 là 67,38%, năm 2013 là 62,45 %, năm 2014 là 58,38%. Tuy nhiên, tỷ lệ giảm nghèo của huyện vẫn còn rất cao so với tỷ lệ nghèo trên cả nước.(2014: 5,8-6%)

Thực vậy, huyện Tây Trà cho đến nay vẫn là một trong những huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất trong tỉnh Quảng Ngãi. Tình hình nghèo đói của huyện Tây Trà hiện nay có những vấn đề sau:

– Thu nhập của hộ nghèo còn thấp.

– Các hộ nghèo là do thiếu vốn sản xuất.

– Thiếu đất canh tác.

– Thiếu phương tiện sản xuất.

– Thiếu việc làm.

– Thiếu kinh nghiệm sản xuất.

– Gia đình đông con và ít người lao động.

– Do không được chăm sóc sức khỏe.

– Do trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước.

– Ngoài ra tình trạng nghèo ở huyện Tây Trà nói trên còn do các điều kiện tự nhiên và xã hội như đã nêu ở trên: toàn bộ 9/9 xã trong toàn huyện đều thuộc diện xã đặc biệt khó khăn, địa hình tự nhiên hết sức phức tạp, có trên 80% diện tích đồi núi cao hiểm trở, có nhiều sông suối chia cắt địa hình, giao thông đi lại khó khăn vào mùa mưa lũ do sạt lở; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn nhiều thiếu thốn, cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội chưa phát triển, phương thức sản xuất của nhân dân chủ yếu là phát nương làm rẫy, diện tích lúa nước chỉ chiếm 0,8% so với diện tích tự nhiên. Trình độ dân trí còn rất thấp.

Mục tiêu của chính sách giảm nghèo bền vững huyện Tây Trà

Trên cơ sở định hướng của Chính phủ, của tỉnh Quảng Ngãi, mục tiêu, nội dung chính sách giảm nghèo nhanh và bền vững huyện Tây Trà chủ yếu cụ thể hóa các văn bản thông qua Chương trình mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 10/12/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi thành kế hoạch thực hiện hằng năm để thực hiện chứ không ban hành một văn bản Nghị quyết, quyết định nào.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo nhanh và bền vững huyện Tây Trà giai đoạn 2011-2015 bao gồm các chính sách, dự án giảm nghèo chung; các chính sách đặc thù và hỗ trợ trực tiếp và hoạt động về truyền thông, nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá.

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tây Trà lần thứ I (tháng 9/2005) đã nêu các mục tiêu [12]:

– Giảm nhanh số hộ nghèo và khắc phục dần tình trạng tụt hậu quá xa về nhiều mặt so với địa phương khác trong tỉnh.

– Đẩy mạnh phát triển toàn diện cả kinh tế – văn hóa xã hội và giữ vững an ninh – quốc phòng.

– Đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết việc làm cho người lao động.

– Tích cực nâng cao dân trí, tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị để lãnh đạo, điều hành phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh giữ vững ổn định, an ninh và trật tự , an toàn xã hội .

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tây Trà lần thứ II (tháng 8/2010) đã nêu các mục tiêu :

– Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội;

– Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển kinh tế – xã hội;

– Thực hiện tốt chính sách xã hội, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo; chăm lo phát triển sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực; giữ vững ổn định chính trị – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

      1. 2.1.2. Giải pháp chính sách giảm nghèo bền vững của huyện Tây Trà

Nhằm thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng về giảm nghèo, Nghị quyết số 80/2011/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ năm 2011 đến năm 2020. Tỉnh ủy Quảng Ngãi khóa XVIII (2010-2015) đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 13/10/2011 về đẩy mạnh phát triển KT-XH, phấn đấu giảm nghèo nhanh, bền vững ở 06 huyện miền núi giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến 2020. Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi khóa XI, tại kỳ họp thứ 3 thông qua và ban hành Nghị quyết chuyên đề số 24/2011/NQ-HĐND ngày 27/10/2011 về Chương trình mục tiêu việc làm và giảm nghèo nhanh và bền vững tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2011-2015. Ngày 20/12/2011, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã phê duyệt Quyết định số 280/QĐ-UBND về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2011-2015.

Các giải pháp và công cụ thực hiện chính sách giảm nghèo giai đoạn 2011-2015 của huyện Tây Trà có nội dung cụ thể như sau:

– Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo nhằm cung cấp tín dụng cho hộ nghèo có sức lao động, có nhu cầu về vốn để phát triển sản xuất, tăng thu nhập và tự vượt nghèo. Nội dung chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo: Cung cấp tín dụng ưu đãi, chủ yếu là tín dụng quy mô nhỏ cho các hộ gia đình nghèo với thủ tục vay và thu hồi vốn đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, phù hợp với người nghèo. Áp dụng linh hoạt phương thức cho vay, cho vay qua tổ tiết kiệm và vay vốn, ủy thác qua các tổ chức chính trị – xã hội quản lý. Món vay và thời gian vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh. Kết hợp chặt chẽ giữa tín dụng với hoạt động tiết kiệm giúp hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững. Đồng thời, thực hiện giám sát chặt chẽ việc sử dụng vồn vay thông qua tổ nhóm tín dụng- tiết kiệm để hạn chế tình trạng nợ đọng và sử dụng vốn vay không hiệu quả. Phối kết hợp cung cấp tín dụng với khuyến nông, đào tạo nghề, hỗ trợ đất cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm… để vốn vay của người nghèo được sử dụng có hiệu quả.

– Chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho hộ nghèo tạo điều kiện giải quyết đất sản xuất cho các hộ nghèo không còn đất hoặc thiếu đất để phát triển sản xuất, duy trì thu nhập ổn định và từng bước tăng thu nhập, vượt nghèo bền vững. Nội dung của chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho hộ nghèo: Đối với những địa phương còn quỹ đất: cân đối giao cho hộ nghèo với mức đất sản xuất phù hợp với quỹ đất hiện có của địa phương. Đối với những địa phương không còn quỹ đất, có kế hoạch đưa vào dự án đào tạo nghề cho người nghèo để chuyển đổi ngành nghề. Gắn việc giao đất sản xuất với khuyến nông – lâm – ngư và hỗ trợ tín dụng để giúp người dân sử dụng hiệu quả đất được giao.

– Chính sách khuyến nông – lâm – ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề hỗ trợ người nghèo về kiến thức và kỹ năng xây dựng kế hoạch, bố trí sản xuất hợp lý, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào tổ chức sản xuất và kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, tăng thu nhập bền vững. Nội dung các hoạt động khuyến nông – lâm – ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề : Trang bị kiến thức và kỹ năng ra các quyết định sản xuất kinh doanh, xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp với thị trường, điều kiện tự nhiên và lợi thế cạnh tranh của địa phương. Trang bị kiến thức và kỹ năng về khuyến nông, lâm, ngư thông qua áp dụng khuyến nông có sự tham gia của dân, hội nghị đầu bờ, tập huấn trên cơ sở mô hình thực tế. Gắn kết chặt chẽ khuyến cáo tiến bộ kỹ thuật với giới thiệu phương pháp tổ chức sản xuất, bảo quản chế biến, hoạch toán kinh tế và tiêu thụ sản phẩm. Cung cấp các thông tin khoa học về kỹ thuật, thị trường cho nông dân nghèo.

– Chính sách dạy nghề miễn phí cho người nghèo giúp người nghèo có được tay nghề cần thiết để tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập thông qua các khóa dạy nghề ngắn hạn để họ tìm việc làm tại các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ; đi lao động xuất khẩu hoặc tự tạo việc làm, góp phần giảm nghèo bền vững. Nội dung chính sách dạy nghề miễn phí cho người nghèo: Nghiên cứu, đánh giá nhu cầu học nghề của người nghèo. Xây dựng kế hoạch đào tạo và tổ chức đào tạo nghề ngắn hạn phù hợp để người nghèo có thể tự tạo ra cơ hội việc làm, ưu tiên các nghề có thể sử dụng tại chỗ hoặc được thu nhận vào các khu công nghiệp, doanh nghiệp và đi lao động ở nước ngoài. Gắn đào tạo nghề với tạo việc làm và cung cấp tín dụng, người học nghề được trợ giúp giới thiệu việc làm miễn phí.

– Nhân rộng mô hình giảm nghèo có hiệu quả góp phần đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo chung của tỉnh. Nội dung của mô hình giảm nghèo: Tổng kết đúc rút kinh nghiệm các mô hình đã thực hiện có hiệu quả trong giai đoạn 2006-2010. Đẩy mạnh việc tuyên truyền để duy trì và hỗ trợ cho người nghèo về giống, vật tư, chuồng trại và kỹ thuật để nhân rộng các mô hình có hiệu quả hiện có, ưu tiên mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với hộ nghèo phát triển vùng nguyên liệu.

– Chính sách hỗ trợ về y tế cho hộ nghèo tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận dịch vụ y tế khi ốm đau thuận lợi hơn, bình đẳng hơn; giảm thiểu rủi ro, khó khăn cho người nghèo. Nội dung chính sách hỗ trợ về y tế cho hộ nghèo: Củng cố mạng lưới y tế cơ sở, nhất là y tế xã, thôn. Đầu tư toàn diện cơ sở vật chất cho các trạm y tế xã, đào tạo đội ngũ y, bác sỹ về làm việc ở y tế cơ sở. Thực hiện đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng. Mua bảo hiểm y tế cho người nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội khác thuộc diện và hỗ trợ 50% mệnh giá bảo hiểm y tế cho đối tượng cận nghèo theo Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ.

– Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo nhằm thực hiện hỗ trợ con em hộ nghèo được tới trường học tập bình đẳng như trẻ em khác, góp phần nâng cao trình độ học vấn của người nghèo, giảm nghèo bền vững. Nội dung chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo: Thực hiện chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập đối với con em hộ nghèo theo học ở cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Có cơ chế, chính sách của tỉnh hỗ trợ ít nhất 50% học phí đối với con em hộ nghèo không phải vùng đặc biệt khó khăn và dân tộc thiểu số theo học ở các trường chuyên nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân.

– Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở góp phần hỗ trợ cho hộ nghèo có nhà ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống. Nội dung chính sách hỗ trợ về nhà ở: Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cơ bản hoàn thành vào năm 2012. Từ năm 2013 trở đi, các địa phương chủ động, tích cực huy động nguồn lực của cộng đồng xã hội, doanh nghiệp, gia đình, dòng họ cùng với nguồn cho vay vốn tín dụng ưu đãi để hỗ trợ hộ nghèo cải thiện nhà ở, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ cho đối tượng mới phát sinh do thiên tai, hỏa hoạn và hộ có nhà ở đặc biệt xuống cấp nghiêm trọng. Ưu tiên giải quyết trước đối tượng hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ di dân, chủ hộ là người cao tuổi, phụ nữ, người khuyết tật.

– Chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt tạo điều kiện cho người nghèo, nhất là ở những vùng khó khăn, khan hiếm nguồn nước có nước phục vụ sinh hoạt và đời sống. Nội dung: Rà soát, thống kê số lượng hộ có nhu cầu để có kế hoạch hỗ trợ nước sinh hoạt theo kiểu phân tán hoặc tập trung, nhất là các hộ nghèo dân tộc thiểu số sống phân tán ở vùng cao, núi đá, khu vực khó khăn về nguồn nước sinh hoạt để đào giếng, xây bể dự trữ nước hoặc tạo nguồn nước sinh hoạt.

– Chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, góp phần đảm bảo công lý và công bằng cho người nghèo trong việc tiếp cận với pháp luật; nâng cao hiểu biết pháp luật cho người nghèo để họ thực hiện pháp luật; nâng cao hiểu biết cho người nghèo để họ thực hiện pháp luật, tham gia phát triển kinh tế, thực hiện dân chủ cơ sở. Nội dung chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo: Khảo sát nhu cầu của người nghèo, vùng nghèo về trợ giúp pháp lý để xây dựng kế hoạch trợ giúp pháp lý; tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho trọ giúp viên, cộng tác viên và thành viên các câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; kiện toàn, củng cố và tăng cường hoạt động của các câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động và cung cấp thông tin pháp lý cho người nghèo.

– Chính sách hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin nhằm tạo điều kiện để nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho người nghèo, nắm bắt thông tin được nhiều hơn, nhất là trong các thông tin hữu ích cho phát triển kinh tế, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sinh hoạt của gia đình. Nội dung chính sách hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin: Tổ chức thực hiện tốt chương trình đưa văn hóa, thông tin về địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo. Đa dạng hóa các hoạt động truyền thông, giúp người nghèo, nhất là người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn tiếp cận các chính sách giảm nghèo, phổ biến các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, gương thoát nghèo và không ngừng nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, phù hợp với bản sắc văn hóa truyền thống và các giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc.

Hoạt động về truyền thông, nâng cao năng lực và giám sát, đánh giá nhằm góp phần nâng cao được năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp, thông qua đó nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình. Nội dung: Kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở các cấp, bố trí đủ cán bộ giảm nghèo ở cấp xã và huyện. Phát triển chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo cán bộ.

– Chính sách hỗ trợ đặc thù tại huyện Tây Trà cũng được thực hiện theo các chính sách đặc thù do Chính phủ ban hành:

+ Chính sách giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính phủ được thực hiện đối với 6 huyện nghèo của tỉnh Quảng Ngãi bao gồm: Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm và tăng thu nhập; Chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; Chính sách cán bộ đối với huyện nghèo; Đầu tư cơ sở hạ tầng ở các thôn, bản, xã và huyện. Trong đó đặc biệt chú ý hợp phần hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm và tăng thu nhập.

+ Các chính sách đối với dân tộc miền núi và hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, đối tượng yếu thế nhằm đảm bảo 100% đối tượng người nghèo, dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng thụ các chính sách theo quy định của Nhà nước. Nội dung: Các chính sách định canh, định cư theo Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg; hỗ trợ trực tiếp cho người dân tộc nghèo ở vùng khó khăn theo Quyết định sô 102/2009/QĐ-TTg; Hỗ trợ dầu thắp sáng theo Quyết định số 289/QĐ-TTg; trợ cấp tiền điện cho hộ nghèo theo Quyết định số 268/QĐ-TTg; trợ cấp bảo trợ xã hội kể cả trợ cấp đột xuất, trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP.

      1. 2.1.3. Chủ thể Chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Tây Trà

– Các chủ thể Chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Tây Trà bao gồm : Các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước của huyện, các cơ quan ban ngành, các tổ chức kinh tế – chính trị và xã hội có liên quan và các cộng đồng dân cư được hưởng thụ chính sách giảm nghèo

– Vai trò của Đảng bộ huyện Tây Trà : Năm 2010, văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ II dựa trên đường lối chính sách giảm nghèo của Nhà nước và tình hình của địa phương để xác định các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội toàn diện của huyện từ 2010 – 2015 làm cơ sở định hướng và thực hiện chính sách giảm nghèo của huyện. Các mục tiêu này vừa là những mục tiêu chung, vừa là những mục tiêu của chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện:

– Vai trò của chính quyền huyện Tây Trà : cụ thể hóa các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và chính sách giảm nghèo của nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II đề ra.

– Vai trò của các cơ quan ban ngành của huyện có liên quan : Phòng Lao động Thương binh xã hội, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Kinh tế hạ tầng, phòng Tài chính – kế hoạch, phòng Y tế, phòng Giáo dục, Phòng Văn hóa thông tin là các cơ quan tham mưu cho chính quyền và Đảng bộ huyện trong việc ban hành, giám sát và thực hiện các chính sách giảm nghèo ở địa phương.

      1. 2.1.4. Thể chế chính sách giảm nghèo của huyện Tây Trà

Các văn bản chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước được huyện ủy và UBND huyện Tây Trà thể chế hóa và cụ thể hóa cho phù hợp với tình hình thực hiện chính sách giảm nghèo của huyện. Trong Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II, nhiệm kỳ 2010-2015 có xác định các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và chính sách giảm nghèo của huyện như sau [12]:

+ Huy động và tập trung mọi nguồn lực phát triển kinh tế như : triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tập trung phát triển toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

+ Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ phù hợp với điều kiện thực tế; xây dựng và thực hiện có hiệu quả các quy hoạch phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, thương mại dịch vụ, phát triển công nghiệp, chế biếu, tiểu thủ công nghiệp.

+ Nâng cao hiệu quả hoạt động trên lĩnh vực tài chính, ngân sách, tín dụng.

+ Phát triển mạnh kết cấu hạ tầng là nhiệm vụ đột phá phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

+ Nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo, góp phần quan trọng nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực, coi phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ đột phá lâu dài.

+ Tăng cường chỉ đạo và thực hiện tốt công tác y tế, kế hoạch hóa gia đình và trẻ em.

+ Tập trung phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin; thể dục thể thao; truyền thanh truyền hình; phát lại truyền hình; bưu chính- viễn thông.

+ Thực hiện tốt chính sách đối với người có công với cách mạng, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội.

+ Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo.

+ Tăng cường quản lý về tài nguyên, môi trường.

    1. 2.2. Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Tây Trà từ năm 2011 đến năm 2014
      1. 2.2.1. Đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu chính sách giảm nghèo bền vững huyện Tây Trà

– Về thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo : từ năm 2011 – 2014 tỷ lệ hộ nghèo luôn liên tục giảm từ 4 – 6% .

– Về thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội : Các chỉ số phát triển kinh tế xã hội cũng luôn được cải thiện rõ rệt. Năm 2010 cơ cấu kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là nông nghiệp: Tỷ trọng các ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 73,46%; công nghiệp xây dựng 14,28%; thương mại dịch vụ 12,24%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 là 2,5 triệu đồng/người/năm. Năm 2015 thu nhập bình quân đầu người dự báo là 5,35 triệu/người/năm.

– Tổng kế hoạch vốn tiếp nhận giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014 là 44.948,5 triệu đồng, để hỗ trợ thực hiện các chương trình như: hỗ trợ giống cây trồng rừng sản xuất; hỗ trợ mua giống, phân bón chuyển đổi cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao; hỗ trợ khuyên nông, khuyến ngư; hỗ trợ công tác xuất khẩu lao động; hỗ trợ học sinh, sinh viên cử tuyển; xuất khẩu lao động; đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thực hiện chính sách y tế; chăm sóc quản lý, bảo vệ rừng; hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức được điều động, luân chuyển và xây dựng mô hình chăn nuôi heo rừng lai; hỗ trợ gạo cho hộ nghèo tham gia trồng rừng sản xuất; quản bá sản phẩm quế; xây dựng đề án khuyến nông, khuyến ngư,…

– Về thực hiện mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng:

+ Tổng kế hoạch vốn tiếp nhận giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 4/2015 là 202.879,996 triệu đồng, để triển khai thực hiện đầu tư trên địa bàn huyện với 45 công trình đầu tư xây dựng mới, trong đó: 14 công trình giáo dục; 04 công trình đường giao thông; 02 công trình kè chống xói lở; 05 công trình thủy lợi; 04 công trình cầu; 08 công trình điện sinh hoạt; 06 Trạm Y tế xã; 02 công trình di dời sạt lở.

+ Tổng kế hoạch vốn duy tu bảo dưỡng thuộc Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a giai đoạn từ năm 2009 đến 2014 là 7.417 triệu đồng, để thực hiện duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu trên địa bàn huyện.

– Về thực hiện mục tiêu phát triển văn hóa xã hội :

+ Giáo dục và đào tạo được tiếp tục phát triển ổn định, quy mô phù hợp, đáp ứng yêu cầu dạy và học. Hệ thống cơ sở vật chất trường, lớp học được quan tâm đầu tư xây dựng, đến nay có 66,14% số phòng học được kiên cố hóa, 03 trường đạt chuẩn quốc gia; thành lập mới 01 trường THCS, chuyển đổi 05 trường thành mô hình trường phổ thông dân tộc bán trú, 9/9 xã có trung tâm học tập cộng đồng và thành lập Trung tâm giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp và dạy nghề của huyện.

+ Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở được quan tâm đầu tư xây dựng, 9/9 xã đều có trạm y tế xã, trong đó có 02 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về chăm sóc sức khỏe.

– Về việc huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội:

+ Theo đánh giá của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ II của huyện Tây Trà. Huyện còn phải nâng cao chất lượng lập và quản lý quy hoạch để sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển trước hết là đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Việc quy hoạch tổng thể, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành phải phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đi đôi với tăng cường quản lý và triển khai thực hiện nghiêm túc các quy hoạch đã được duyệt, hoàn thành phê duyệt quy hoạch chi tiết nông thôn mới cho các xã trên địa bàn huyện theo các tiêu chí quy định của Chính phủ.

– Về thực hiện chính sách an sinh xã hội với người nghèo :

Ngoài việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước đã được ban hành ở TW và địa phương, chính quyền huyện còn vận động các cấp các ngành và các tầng lớp nhân dân ủng hộ và giúp đỡ người nghèo, người không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi và các đối tượng chính sách xã hội khác; miễn giảm các khoản đóng góp hỗ trợ của các trẻ em mồ côi, tàn tật, trẻ em con hộ nghèo; đẩy mạnh các hoạt động đóng góp quỹ vì người nghèo và các hoạt động nhân đạo từ thiện. [12]

      1. 2.2.2. Đánh giá giải pháp và công cụ sử dụng trong các chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Tây Trà từ năm 2011-2014

2.2.2.1. Đánh giá kết quả của chính sách tín dụng cho người nghèo

– Ngân hàng chính sách xã hội huyện Tây Trà đã giải ngân 43.774 triệu đồng; tổng dư nợ các chương trình tín dụng là 35.870 triệu đồng, với 2.707 hộ vay dư nợ; doanh số thu nợ đạt được 36.953 triệu đồng, trong đó: cho vay theo hộ nghèo 24.023 triệu đồng; cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh 6.135 triệu đồng; cho vay giải quyết việc làm 852 triệu đồng; cho vay học sinh-sinh viên 1.082 triệu đồng; cho vay xuất khẩu lao động 2.710 triệu đồng; cho vay chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn 80 triệu đồng; chương trình cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn 596 triệu đồng; cho vay hộ nghèo về nhà ở ( theo Quyết định 167) là 6.576 triệu đồng; cho vay hộ cận nghèo là 1.690 triệu đồng.[32]

Chính sách tín dụng đối với hộ nghèo đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về vốn của người nghèo trong sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tạo việc làm mới và tăng thêm việc làm, tạo điều kiện cho con em nghèo học tập, góp phần đáng kể cho người nghèo tạo thêm thu nhập vươn lên thoát nghèo. Tuy nhiên, chính sách tín dụng đối với hộ nghèo vẫn còn một số bất cập: Nguồn vốn cho hộ nghèo vay còn thấp, chỉ mang tính hỗ trợ trong khi người nghèo không có một đồng vốn dự trữ nào; nếu cho vay với số vốn thấp người nghèo chỉ sử dụng trong đầu tư chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán nhỏ; không đủ để đưa sản phẩm đầu ra tiếp cận với thị trường có tiềm năng. Về đối tượng vay chỉ dành cho hộ nghèo nên khi hộ nghèo vừa được thoát nghèo sẽ không có cơ hội vay vốn để tiếp tục đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, điều này thiếu tính bền vững đối với người nghèo vừa thoát nghèo. Đối với chính sách cho vay tín dụng đối với học sinh, sinh viên: Vấn đề này là cho vay học sinh, sinh viên gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn đối với Ngân hàng chính sách xã hội, vì học sinh, sinh viên vay tiền đi học, khi tốt nghiệp không tìm được việc làm hoặc thời gian chờ tìm việc làm quá lâu dẫn đến không có khả năng trả nợ vay. Đối với tín dụng đối với đối tượng là người nghèo đi lao động có thời hạn ở nước ngoài: Đối tượng là người nghèo đi lao động có thời hạn ở ngước ngoài không có, vì nhận thức của người dân, đặc biệt đối với người nghèo về vấn đề đi lao động ở nước ngoài còn rất hạn chế như: thiếu thông tin về thị trường lao động nước ngoài, người dân lo sợ, không dám đi lao động ở nước ngoài; khả năng tham gia tìm kiếm thị trường lao động ở nước ngoài của đối tượng người nghèo không đáp ứng được yêu cầu. Vì những lý do đó mà người nghèo ở địa phương không tham gia tìm kiếm việc làm hay đi lao động ở nước ngoài, vì vậy mà chính sách tín dụng đối với người nghèo đi lao động ở nước ngoài chưa triển khai thực hiện tốt.

2.2.2.2. Kết quả chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho hộ nghèo

Thực hiện đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trên địa bàn huyện theo Nghị quyết Hội nghị TW 6 (khóa XI); hoàn thành công tác lập Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm đầu 2011-2015; đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất. Trong đó đã cấp được 88 giấy/88 hộ với 3,914 ha đất ở, 327 giấy/327 hộ với 414,96 ha đất sản xuất lâm nghiệp, đạt 74% số hộ. Việc thực hiện chính sách này đã giúp cho người dân yên tâm sản xuất một cách có hiệu quả và hạn chế những tiêu cực trong việc sử dụng đất sản xuất. [32]

2.2.2.3. Chính sách khuyến nông – lâm – ngư

Huyện đã chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết TW 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn gắn với chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, thủy sản đã tăng bình quân 4-6%/năm từ năm 2010 đến nay. Phát triển mạnh nông nghiệp theo hướng tăng năng suất, chất lượng và bền vững trên cơ sở thực hiện hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Tăng đầu tư, quy hoạch phát triển vùng sản xuất chuyên canh, tạo điều kiện thuận lợi tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cho người dân.

Công tác khuyến nông luôn được kết hợp với chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất để nâng cao chất lượng và nhân rộng các mô hình; chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đầu tư thâm canh tăng năng suất lên 42 tạ/ha. Hạn chế chăn nuôi thả rông trong dân cư, phát triển chăn nuôi theo hướng mô hình trang trại vừa và nhỏ; khuyến khích nuôi cá nước ngọt ở lòng hồ chứa nước Nước Trong và những vùng có điều kiện thuận lợi. Tăng cường công tác bảo vệ thực vật, hình thành các điểm cung ứng vật tư nông nghiệp; thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm. Quản lý và sử dụng hiệu quả hệ thống thủy lợi đảm bảo nước tưới 2vụ/năm. Làm tốt quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; khuyến khích người dân tự đầu tư trồng rừng kinh tế, đặc biệt ưu tiên phát triển cây quế bản địa.[32]

2.2.2.4. Chính sách dạy nghề miễn phí cho người nghèo

Huyện đã thành lập được 9 trung tâm học tập cộng đồng tại 9 xã và thành lập được Trung tâm Giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp và dạy nghề. Huyện đã triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Từ năm 2011 đến năn 2014 đã đào tạo nghề được 496 người, chủ yếu là ngành may xuất khẩu, điện công nghiệp, quấn chổi đót, làm nhang…; xuất khẩu lao động được 93 người chủ yếu qua thị trường lao động Malaysia.[32]

2.2.2.5. Kết quả nhân rộng mô hình giảm nghèo có hiệu quả

Từ năm 2011 đến năm 2015 có 27 mô hình được triển khai với 243 hộ tham gia với tổng số tiền là 2.276 triệu đồng. Các mô hình này bao gồm : Mô hình thâm canh lúa nước; mô hình cải tiến chăn nuôi bò miền núi; mô hình nuôi cá lồng trên hồ chứa nước Nước Trong, mô hình heo ky; mô hình trồng quế xen dứa; mô hình trồng chuối xen dứa; mô hình nuôi heo rừng lai.[32]

2.2.2.6. Về kết quả chính sách hỗ trợ về y tế cho hộ nghèo

– Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo từ năm 2011 đến năm 2014, huyện đã thực hiện mua bảo hiểm y tế cho 14.743 lượt hộ nghèo; hỗ trợ 70% mệnh giá mua thẻ bảo hiểm y tế cho 2.847 lượt hộ cận nghèo. Bệnh viện Đa khoa với quy mô 50 giường bệnh, 06 trạm y tế theo chuẩn quốc gia, công suất sử dụng giường bệnh đạt trên 70%. Đội ngũ y, bác sỹ được tăng lên đạt 0,7 bác sĩ/1.000 dân, 8/9 trạm y tế có bác sĩ.

Huyện Tây Trà trong 04 năm qua đã bảo đảm người nghèo đều có thẻ bảo hiểm y tế, đã giúp người nghèo và cận nghèo tiếp cận với các dịch vụ y tế, an tâm khám chữa bệnh khi ốm đau. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau như ý thức của người dân, chất lượng của dịch vụ bảo hiểm y tế… đối với nhóm đối tượng cận nghèo mặc dù đã được Nhà nước hỗ trợ 70% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế nhưng hàng năm chỉ khoảng 10% đối tượng thuộc diện hộ cận nghèo tham gia mua bảo hiểm y tế. Việc quản lý đối tượng ở cơ sở còn nhiều bất cập cả về cán bộ và phương tiện quản lý nên đã xảy ra tình trang sai sót phải điều chỉnh, bổ sung, đặc biệt là việc cấp trùng thẻ, trùng đối tượng gây lãng phí một khoản trích từ ngân sách Nhà nước.

2.2.2.7. Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo

Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ giáo dục cho con em hộ nghèo: Theo báo cáo của UBND huyện Tây Trà từ năm 2011 đến năm 2014, toàn huyện đã giải quyết chế độ ưu đãi giáo dục cho học sinh, sinh viên nghèo với số tiền là 824. 732 triệu đồng. Hỗ trợ chi phí học tập và hỗ trợ miễn giảm học phí cho 4.601 học sinh, sinh viên nghèo với tổng số tiền là 1.320,505 triệu đồng. Thực hiện theo quyết định 36/2013/QĐ-TTg ngày 18/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn với 2.538 em, 342.450 kg gạo

Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo đã giúp cho các học sinh, sinh viên nghèo có điều kiện được đi học, duy trì được con số học sinh ra lớp, chất lượng giáo dục được nâng lên. Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ giáo dục không tính đến sự ảnh hưởng của nó đến các chính sách khác như chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình và tính công bằng xã hội.

2.2.2.8. Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở

Chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hộ nghèo được hỗ trợ cải thiện nhà ở tính đến ngày 31/12/2014, huyện Tây Trà có 961/1.408 hộ xây dựng nhà ở, đạt 68,25% (trong đó chỉ thực hiện được trong năm 2009 – 2011, các năm còn lại chưa thực hiện được như trong Đề án). Tổng nguồn vốn huy động để thực hiện 23.064 triệu đồng. Với kết quả nêu trên, đã tạo điều kiện cho nhiều hộ nghèo có nhà ở ổn định , từ đó từng bước phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo. Toàn huyện hiện còn 447 hộ chưa được hỗ trợ cải thiện nhà ở, nguyên nhân:

+ Về hỗ trợ xây mới: Theo đề án lập bổ sung là 24 triệu đồng đến nay không thể thực hiện được nguyên nhân là giá vật liệu xây dựng, nhân công tăng cao so với năm 2009, 2010, đồng thời do địa bàn miền núi, giao thông đi lại khó khăn, cước vận chuyển cao nên, vật liệu xây dựng đều từ dưới đồng bằng chở lên, nên đã đội giá thành xây dựng một ngôi nhà mới theo đúng tiêu chí của đề án là trên 24 triệu đồng vì vậy với mức hỗ trợ theo Đề án là rất khó để có thể xây dựng mới được căn nhà đảm bảo về diện tích tối thiểu là 24m2 và tuổi thọ căn nhà từ 10 năm trở lên.

+ Về hỗ trợ xây dựng sửa chữa, cải tạo, nâng cấp nhà ở theo Công văn số 699/UBND-CNXD ngày 04/3/2013 của UBND tỉnh Quảng Ngãi; hiện nay nguồn vốn Ủy ban mặt trận TQVN tỉnh, Phòng thương mại và Công nghiệp vận động từ các doanh nghiệp chưa tham mưu cho UBND tỉnh phân bổ vốn thực hiện và Ngân hàng chính sách xã hội – Chi nhánh Quảng Ngãi tạm ngừng cho vay vốn hỗ trợ xây dựng nhà ở 167 trên địa bàn tỉnh, đồng thời do suy thoái kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp kinh doanh không có lãi nên không thể vận động hỗ trợ được, dẫn đến trên địa bàn huyện cũng chưa thực hiện được hỗ trợ xây dựng sửa chữa, cải tạo, nâng cấp nhà ở cho các hộ nghèo trên địa bàn huyện.[33]

2.2.2.9. Chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt cho người nghèo

Chương trình hổ trợ nước sinh hoạt theo Quyết định 755/QĐ-TTg. Chính sách này được UBND huyện phân bổ tại Quyết định số 191/QĐ-UBND ngày 11/03/2014 với khoản kinh phí thực hiện là 700 triều đồng để triển khai thực hiện hợp phần xây dựng công trình nước sinh hoạt tập trung tại tổ 4 thôn Trà Vân xã Trà Nham, công trình đã hoàn thành nghiệm thu đưa vào sử dụng, đã thực hiện giải ngân 688,427 triệu đồng, tỷ lệ giải ngân đạt 98,34% kế hoạch vốn giao.

Chính sách này đã giúp cho người nghèo có được nước sinh hoạt, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, với địa hình miền núi, dân cư phân bố không tập trung, sống rãi rác trên các sườn đồi, nên vấn đề xây dựng các công trình nước sinh hoạt tập trung rất khó khăn, nguồn vốn ít, phụ thuộc vào nguồn vốn Trung ương. [32]

2.2.2.10. Chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo

Hiện nay tại huyện chưa có Trung tâm trợ giúp pháp lý cho người nghèo mà chức năng này do Trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh thuộc Sở Tư Pháp đảm nhận. Hằng năm, huyện chỉ phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh về tuyên truyền pháp luật, trợ giúp pháp lý cho người nghèo thuộc các xã trên địa bàn huyện, từ năm 2011 đến nay có 8 đợt trợ giúp pháp lý cho 2.260 người thuộc các hộ nghèo trên địa bàn huyện. Nội dung trợ giúp chủ yếu là tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân đồng bào dân tộc thiểu số.[32]

2.2.2.11. Chính sách hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao có bước phát triển mới, đã đầu tư xây dựng 18 nhà sinh hoạt cộng đồng thôn. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện được quan tâm, đã tổ chức khôi phục, lưu giữ một số vật thể và lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc. Hệ thống bưu chính, viễn thông có bước phát triển, có 95% số hộ dân được xem truyền hình, 90% số hộ được nghe Đài phát thanh, thuê bao điện thoại đạt 7,5 máy/100 dân. Phát thanh truyền hình hoạt động hiệu quả, góp phần tích cực vào công tác tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị; công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi, đáp ứng nhiệm vụ công tác, phục vụ đời sống nhân dân.

Chính sách hỗ trợ dầu hỏa thắp sáng theo Quyết định số 289/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tổng kế hoạch vốn được UBND tỉnh giao để thực hiện chính sách trong năm 2014 là 81 triệu đồng cho 526 hộ, để thực hiện hỗ trợ cho hộ thuộc diện chưa sử dụng điện lưới trên địa bàn 06 xã theo kế hoạch đăng ký năm 2013; đến năm 2014, 02 xã (Trà Trung, Trà Nham) số hộ đã sử dụng điện lưới không còn nhu cầu; còn lại 04 xã đã thực hiện cấp hỗ trợ 61,250 triệu đồng cho 494 hộ, đã giải ngân đạt 75,61% kế hoạch vốn giao.

Chính sách cấp không thu tiền một số ấn phẩm báo, tạp chí theo Quyết định số 2472/QĐ-TTg và Quyết định số 1977/QĐ-TTg. Chính sách này được Ban Dân tộc tỉnh cấp phát đến các đơn vị, cá nhân thụ hưởng trên địa bàn huyện thông qua hệ thống bưu điện huyện và bưu điện văn hoá xã. số lượng báo tạp chí đã cấp gồm 18/20 loại báo, tạp chí theo Quyết định số 2472/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBND huyện đã chỉ đạo các đơn vị và địa phương rà soát các ấn phẩm báo, tạp chí được cấp cho các đối tượng thụ hưởng để theo dõi, quản lý, cập nhật thông tin hữu ích đồng thời tổng hợp báo cáo quá trình thực hiện theo quy định.[12], [32]

2.2.2.12. Chính sách giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính phủ

Công tác tổ chức triển khai xây dựng và thực hiện Đề án 30a về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn huyện được chỉ đạo thực hiện chặt chẽ theo đúng nội dung, quan điểm và mục đích của Nghị quyết đã ban hành. Trên cơ sở được sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương, Ủy ban nhân dân tỉnh và các Sở, ban ngành tỉnh; Ủy ban nhân dân huyện đã giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị trực thuộc và Ủy ban nhân dân các xã để triển khai thực hiện; đồng thời, thường xuyên hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện để có biện pháp chỉ đạo kịp thời đối với những vấn đề còn tồn tại, hạn chế nhằm triển khai thực hiện Đề án về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a của Chính phủ một cách hiệu quả, chặt chẽ theo đúng nội dung, ý nghĩa của Nghị quyết; Ủy ban nhân dân huyện triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách hỗ trợ theo Đề án được duyệt, Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 30a trên địa bàn huyện, gồm 35 thành viên, Trưởng Ban là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thành viên Ban Chỉ đạo có sự tham gia Thủ trưởng các cơ quan, ban ngành, Hội đoàn thể huyện và lãnh đạo Ủy ban nhân dân các xã, trong đó Cơ quan Thường trực là Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội để tham mưu, giúp việc cho Ủy ban nhân dân huyện, Ban Chỉ đạo trong quá trình triển khai, thực hiện Đề án; bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân huyện cũng đã thành lập Tổ chuyên viên giúp việc cho Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc gồm có 16 thành viên đại diện các cơ quan, ban ngành huyện

Thực hiện các quyếtđịnh của Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc bố trí vốn thực hiện theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, giai đoạn từ năm 2009 đến 4/2015, huyện đã tiếp nhận tổng kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, duy tu bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng và nguồn vốn sự nghiệp là 255.245,496 triệu đồng, trong đó:

– Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là 202.879,996 triệu đồng;

– Vốn hỗ trợ duy tu, bảo dưỡng là 7.417 triệu đồng;

– Vốn sự nghiệp là 44.948,5 triệu đồng. [32]

2.2.2.13. Các chính sách đối với dân tộc miền núi và hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo

– Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg:

+ Tổng kế hoạch vốn huyện giao từ 2011-2014 là: 5.946, triệu đồng.

+ Tổng kinh phí thực hiện và giải ngân: 5.389,2 triệu đồng đạt 90,63% kế hoạch;

– Thực hiện cấp hỗ trợ theo nhu cầu của người dân (Muối Iốt; Quế, Keo, Tiền mặt), cụ thể như sau:

– Muối Iốt cấp 100% theo hộ, khẩu nghèo là: 247.857 kg; Quế giống: 4.026.776 cây; Keo giống: 1.279.768 cây; Tiền mặt: 254.531.400 đồng.

– Chính sách hỗ trợ một số mặt hàng thiết yếu cho đồng bào DTTS nhân dịp Tết Nguyên Đán hàng năm (2011-2015):

+ Tổng kế hoạch vốn huyện giao thực hiện cấp một số mặt hàng thiết yếu (Dầu ăn, Nước mắm, bột ngọt) cho hộ đồng bào DTTS nhân dịp Tết Nguyên đán cổ truyên hàng năm (từ năm 2011-2015) với tổng kinh phí là: 2.292,181,338 triệu đồng và thực hiện giải ngân đạt 100% kế hoạch vốn.

– Chính sách người uy tín trong đồng bào DTTS theo Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg(2012-2014):

+ Tổng kế hoạch vốn huyện giao thực hiện chính sách từ 2012-2014 là: 431,881 triệu đồng, kinh phí thực hiện: 297,354 triệu đồng, giá trị giải ngân đạt 68,85% kế hoạch;

Nội dung thực hiện: Tập huấn tuyên truyền phổ biến thông tin, bồi dưỡng kiến thức, tham quan học tập cho người uy tín; tổ chức thăm hỏi gia đình người uy tín gặp khó khăn ốm đau, khen thưởng cho những người uy tín có thành tích xuất xắc trong công tác vận động tuyên truyền nhân dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước và thăm hỏi tặng quà cho 37/37 người uy tín trong dịp Tết cổ truyền hàng năm. [32], [33], [34]

      1. 2.2.3. Đánh giá các chủ thể chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Tây Trà

– Về việc nâng cao năng lực của các chủ thể chính sách :

+ Đảng bộ huyện Tây Trà đã đẩy mạnh công tác nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý điều hành của các cấp ủy đảng và chính quyền từ huyện đến cơ sở, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tỷ lệ chính quyền cơ sở vững mạnh hàng năm đạt 77,8%, chất lượng hoạt động của HĐND có sự thay đổi về nội dung và phương thức. Các kỳ họp, các cuộc tiếp xúc cử tri từng bước nâng cao hiệu quả; việc thảo luận, chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp được chú trọng, những kiến nghị của cử tri được phản ánh kịp thời đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. [12]

+ Ủy ban nhân dân các cấp đã triển khai thực hiện các chủ trương của cấp ủy và Nghị quyết của HĐND bằng các chương trình, kế hoạch cụ thể. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng lên; những nhiệm vụ trọng tâm, những vấn đề bức thiết được quan tâm giải quyết.

+ Công tác cải cách hành chính có nhiều chuyển biến tích cực. Bộ phận giao trả kết quả theo cơ chế “một cửa” cấp huyện được thành lập và bước đầu hoạt động có hiệu quả, đồng thời đã phê duyệt đề án cải cách hành chính 9/9 xã. Trang thông tin điện tử huyện đưa vào hoạt động từng bước đáp ứng nhu cầu cập nhật thông tin, tìm hiểu thông tin.

Trong quá trình thực hiện các chính sách trên địa bàn huyện Tây Trà, Đảng bộ và chính quyền địa phương đã huy động được vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng địa phương thuộc các dân tộc miền núi như các già làng, trưởng bản trong việc tuyên truyền các chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động con cháu cùng thực hiện như: chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, chính sách đoàn kết và bảo tồn truyền thống văn hóa cộng đồng…

      1. 2.2.4. Đánh giá môi trường thể chế chính sách giảm nghèo

Huyện đã thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội trong đó có chính sách giảm nghèo. Tổ chức hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách vùng đặc biệt khó khăn; quan tâm giải quyết việc làm mới cho người lao động đặc biệt là lao động thuộc hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Vận động các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân ủng hộ, giúp đỡ người nghèo, người không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi và các đối tượng chính sách xã hội khác; miễn giảm các khoản đóng góp, hỗ trợ cho học sinh là trẻ mồ côi, tàn tật, trẻ em con hộ nghèo. Đẩy mạnh và thực hiện “Quỹ người nghèo” và các hoạt động nhân đạo, từ thiện.

Huyện đã xác định nhiệm vụ giảm nghèo theo hướng bền vững vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ chủ yếu của chính sách phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Các cấp ủy, chính quyền địa phương đã thể chế hóa Đề án giảm nghèo của huyện để xây dựng Kế hoạch hành động tại địa phương; chỉ đạo thực hiện tốt Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Chỉ đạo và tổ chức việc vay các nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số để sản xuất, chăn nuôi và giảm nghèo. Chú trọng công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo; kịp thời phát huy và nhân rộng những mô hình tiên tiến, tích cực trong công tác giảm nghèo.

Huyện đã tăng cường công tác dân vận của cả hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương (khóa XI). Gắn công tác dân vận với công tác tư tưởng, công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng… Thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”, “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, có trách nhiệm với dân”, “ Kịp thời giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân; xây dựng nhân rộng các mô hình, điển hình trong công tác vận động quần chúng; tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và Tỉnh ủy về công tác vận động quần chúng”. Phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể trong huyện tham gia xây dựng Đảng và chính quyền đồng thời nâng cao hiệu quả nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội.

      1. 2.2.5. Đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Tây Trà

2.2.5.1. Những nhân tố khách quan

Tây Trà là một huyện miền núi với những điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội rất khó khăn. Tình trạng cơ sở hạ tầng hầu như chưa được đầu tư phát triển, cơ cấu kinh tế đang ở trong thời kỳ chuyển đổi nhưng chưa có những chuyển biến căn bản.

Các nguồn thu kinh phí ở địa phương hầu như chưa có gì, chủ yếu dựa vào kinh phí của Nhà nước nên việc triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo hết sức khó khăn. Các quy hoạch ở địa phương không đủ nguồn vốn để thực hiện nên chỉ đáp ứng những yêu cầu trước mắt mà không có tầm nhìn, chiến lược.

Hơn nữa, những tác động khó dự báo của môi trường như thời tiết, thiên tai, dịch bệnh diễn biến hết sức phức tạp, cùng với những ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế thị trường cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và kinh doanh.

2.2.5.2. Những nhân tố chủ quan

Mặc dù những thành tích trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo ở huyện Tây Trà đã nêu ở trên là rất tích cực, song những hạn chế của nó vẫn còn được thể hiện trên nhiều mặt, trước hết về năng lực tổ chức thực hiện chính sách của các chủ thể:

Các cấp ủy đảng, chính quyền còn lúng túng trong việc phân tích các chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước để thực hiện sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Ví dụ như : chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo gây tác động tiêu cực đến chính sách dân số. Nhiều nơi các cấp chính quyền phải thuê các cơ quan tư vấn thực hiện công tác lập quy hoạch dẫn đến tình trạng sai lệch giữa chủ trương chính sách với tình hình thực hiện chính sách ở địa phương nhất là trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng

Do hạn chế về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể từ huyện đến cơ sở. Khả năng dự báo thấp, dẫn đến một số chỉ tiêu, kế hoạch không đạt hoặc đạt thấp.

Sự yếu kém về tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức. Tính tiên phong gương mẫu của nhiều cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành nhất là ở cơ sở chưa được thể hiện rõ; tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm chưa cao. Việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra chưa được thường xuyên, thực hiên các quyết định của các cơ quan có thẩm quyền sau thanh tra, kiểm tra có lúc, có nơi, có việc chưa nghiêm túc.

      1. 2.2.6. Những vấn đề đặt ra về chính sách giảm nghèo ở huyện Tây Trà trong thời gian tới

Từ các phân tích trên về thực trạng chính sách giảm nghèo ở huyện Tây Trà vấn đề của chính sách giảm của huyện trong thời gian tới cần tập trung những vấn đề sau:

– Các chính sách và công tác tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo còn nhiều hạn chế nhất là đối với các vùng dân tộc thiểu số.

– Các nguồn lực cho chính sách giảm nghèo còn hạn chế, chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra nhất là khi các vùng này phải chịu những tác động của thiên tai, của suy thoái hay khủng hoảng kinh tế.

– Các điều kiện tự nhiên và kinh tế -xã hội của Tây Trà còn nhiều khó khăn, xuất phát điểm thấp, kinh tế phát triển chậm, các mô hình tổ chức sản xuất chưa đạt hiệu quả tốt, chuyển đổi kinh tế còn chậm, các dịch vụ sản xuất chưa phát triển, đời sống người dân còn nhiều khó khăn dẫn đến tình trạng dân trí của người dân địa phương còn thấp. Từ đó các phong tục tập quán lạc hậu ở một số địa bàn còn là những rào cản đối với các mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Một số chính sách giảm nghèo chưa gắn với điều kiện tham gia của người nghèo dẫn tới tư tưởng ỷ lại, trông chờ của một bộ phận dân cư.

Công tác quản lý Nhà nước, sự phối hợp chỉ đạo giữa các ban ngành thực hiện chính sách giảm nghèo ở địa phương còn phân tán, thiếu liên kết và chưa lồng ghép được chính sách giảm nghèo.

Công tác giám sát, đánh giá chính sách chưa được quan tâm đúng mức.

Đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo còn kiêm nhiệm, thiếu năng lực chuyên môn.

Chương 3

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO

    1. 3.1. Nhu cầu, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách giảm nghèo.
      1. 3.1.1. Dự báo tình hình và nhu cầu hoàn thiện chính sách

Ngày nay, khi nền kinh tế của nước ta ngày càng đi sâu vào quá trình đổi mới gắn với công cuộc công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, đặc trưng của hiện tượng nghèo ngày càng chịu ảnh hưởng của các quá trình kinh tế xã hội vĩ mô. Sự phân hóa xã hội do tác động của kinh tế thị trường ngày càng làm sâu sắc thêm sự khác biệt giữa miền núi và miền xuôi, giữa các nhóm dân tộc thiểu số và các nhóm dân tộc đa số.

Các chỉ số nghèo tuyệt đối chiếm trên 50% dân cư chủ yếu tồn tại ở các vùng xâu vùng xa thuộc các huyện miền núi và các nhóm dân tộc thiểu số. Việc xác định các nhóm dân tộc thiểu số là đối tượng chủ yếu của chính sách giảm nghèo trong hiện tại và tương lai là hoàn toàn cần thiết. Tuy nhiên, đặc trưng nghèo của các nhóm dân tộc thiểu số hiện nay không chỉ gắn với yếu tố thu nhập bình quân trên đầu người mà còn gắn với các yếu tố khác của đời sống kinh tế xã hội và môi trường sống của họ bao gồm: sự tiếp cận các điều kiện sống thiết yếu như điện, nước, giao thông và nhà ở mà còn là các dịch vụ kinh tế xã hội cơ bản như: y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, liên lạc…

Đặc trưng kinh tế của các nhóm nghèo thuộc các dân tộc thiểu số chủ yếu vẫn gắn liền với các hoạt động kinh tế thuộc nông, lâm, ngư nghiệp nên hiệu quả thu nhập không cao, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, do hạn chế về kinh nghiệm sản xuấtt và sự yếu kém về cơ sở hạ tầng sản xuất và giao thông, sự chuyển đổi về cơ cấu kinh tế và tiếp cận thị trường cũng hết sức khó khăn. Vì thế, chính sách giảm nghèo với các nhóm dân tộc thiểu số trước hết phải ưu tiên đầu tư cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất, giao thông, cho việc chuyển giao công nghệ, sản xuất để từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế của các vùng này.

Vấn đề phát triển nguồn nhân lực sẽ là một yếu tố quan trọng giúp cải thiện tình trạng nghèo đói của các nhóm dân tộc thiểu số trong tương lai. Tuy nhiên, tình trạng không được đi học của các nhóm dân tộc thiểu số trong hiện tại vẫn còn là một thực trạng ngăn cản những nỗ lực giảm nghèo trong hiện tại và tương lai.

Mặt khác, những tác động của biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường cũng ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến đời sống của các nhóm dân tộc thiểu số và thường xuyên là những nguyên nhân của sự tái nghèo của các vùng này. Tỷ lệ hộ thoát nghèo năm 2006 lại tái nghèo vào năm 2008 tăng lên 32% trong tổng số hộ nghèo năm 2008. Điều này mang hàm ý chính sách quan trọng: nỗ lực giảm nghèo cần một khuôn khổ chính sách kinh tế xã hội toàn diện hơn để mở rộng cơ hội phát huy năng lực nắm bắt thời cơ giúp người nghèo thoát nghèo bền vững.

Kết quả của các chính sách kế hoạch hóa gia đình được khởi xướng từ đầu thập kỷ 90 là hầu hết các hộ hiện nay chỉ có một hoặc hai con, và những đứa con đã trưởng thành từ những gia đình đông con trước đây ở thập kỷ 90 thường giúp nuôi bố mẹ và anh em. Già hóa là rủi ro nhân khẩu học mới: dân số Việt Nam đang già đi và phân tích mới cho thấy người già, đặc biệt người già cô đơn, có thể ngày càng chịu rủi ro nghèo đói, nên cũng sẽ trở thành đối tượng giảm nghèo quan trọng trong tương lai.

Như vậy, bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác giảm nghèo của huyện Tây Trà nói riêng và cả nước nói chung, vẫn còn những bất cấp trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững và dự báo tình hình nghèo đói ở nước ta. Việc đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn để hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững trong thời gian đến là hết sức cần thiết. Chính vì vậy nhu cầu hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững là rất thiết thực đối với chính sách giảm nghèo bền vững ở từng địa phương và đối với cả nước.

      1. 3.1.2. Mục tiêu hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững

Trong Báo cáo phục vụ Hội nghị trực tuyến giảm nghèo tháng 02 năm 2015 có đề ra mục tiêu tổng quát của chính sách giảm nghèo bền vững như sau [37]:

– Đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo, hạn chế tái nghèo;

– Góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân đặc biệt là ở các huyện nghèo, xã nghèo (xã biên giới, xã an toàn khu, xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi; xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo), thôn, bản đặc biệt khó khăn;

– Tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận một cách tốt nhất đến các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, điều kiện sống, thông tin,…).

      1. 3.1.3. Quan điểm và định hướng hoàn thiện Chính sách giảm nghèo bền vững

3.1.3.1. Quan điểm hoàn thiện Chính sách giảm nghèo bền vững

– Chính sách giảm nghèo của các huyện miền núi phải gắn với chính sách phát triển kinh tế xã hội toàn diện của địa phương.

– Chính sách giảm nghèo không thể chỉ giới hạn ở những khoản đầu tư mang tính trợ giúp của Nhà nước (về y tế, giáo dục và nhà ở ) mà còn phải mở rộng ra các hoạt động đầu tư tạo sinh kế cho người nghèo bao gồm: các khoản cho vay vốn ưu đãi lãi suất thấp để giải quyết việc làm và đào tạo nghề.

– Việc phân bổ các nguồn lực của chính sách giảm nghèo cần được ưu tiên cho việc hỗ trợ sản xuất tạo sinh kế cho người nghèo, tránh đầu tư dàn trải cho các công trình cơ sở hạ tầng mà không đáp ứng được các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

– Tăng cường các nguồn vốn đầu tư cho các huyện nghèo bằng phương thức xã hội hóa, khuyến khích các doanh nghiệp và các nhà đầu tư tham gia vào các chương trình giảm nghèo ở các huyện nghèo để giảm bớt những chi phí quá lớn cho các công trình cơ sở hạ tầng và tăng cường các khoản chi cho các hoạt động kinh tế xã hội ở địa phương.

– Kịp thời ban hành các chính sách hỗ trợ cho các hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.

– Cần phân loại đối tượng theo thứ tự ưu tiên và có chính sách riêng cho từng nhóm đối tượng: đối với đối tượng thuộc hộ nghèo dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, hộ nghèo chung, hộ cận nghèo để áp dụng các chính sách cứu trợ xã hội và bảo trợ xã hội. Các nhóm đối tượng nghèo nói chung được hưởng các chính sách hỗ trợ phù hợp như cho vay vốn ưu đãi, hỗ trợ về khuyến nông, tiêu thụ sản phẩm. Đối với các nhóm đối tượng đặc biệt nghèo được hưởng các chính sách hỗ trợ trực tiếp. Trong quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo, nhóm đối tượng đặc biệt nghèo ngày càng được thu hẹp để chuyển sang các nhóm nghèo nói chung và thoát nghèo. Quá trình này cần được theo dõi chặt chẽ và có những biện pháp hỗ trợ tích cực để các nhóm thoát nghèo và cận nghèo không bị rơi vào tình trạng tái nghèo.

– Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành ở địa phương trong việc tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo phải được giám sát và theo dõi chặt chẽ.

– Việc giám sát quá trình tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo ở địa phương cần được tiến hành một cách dân chủ với sự tham gia của tất cả các chủ thể chính sách giảm nghèo ở địa phương nhất là những người được thụ hưởng chính sách.

– Cần tổ chức thường xuyên công tác tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức về giảm nghèo để cho người nghèo có ý chí vươn lên thoát nghèo, không trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng.

– Cần có cơ chế phân quyền cho cấp cơ sở. Cơ chế quản lý cần được sửa đổi, bổ sung, nhằm phát huy vai trò của cơ sở, cộng đồng; xây dựng, hướng dẫn cơ chế quản lý vốn đầu tư, cơ chế thanh toán vốn giảm nghèo trên cơ sở áp dụng cơ chế đầu tư, thanh toán vốn của Chương trình xây dựng nông thôn mới; nghiên cứu, xây dựng cơ chế lập và giao kế hoạch hàng năm, tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương, cơ sở, nhằm tạo cơ chế thuận lợi để cộng đồng tích cực tham gia thực hiện có hiệu quả trong phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

3.1.3.2. Định hướng hoàn thiện Chính sách giảm nghèo bền vững

A. Các chính sách cơ bản:

– Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các huyện nghèo nhằm thực hiện mục tiêu: Tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và dân sinh ở các huyện nghèo.

– Tăng cường năng lực cho người dân và cộng đồng để phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư, từng bước phát huy lợi thế về địa lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.

– Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn nhằm thực hiện mục tiêu: Tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, kinh doanh và dân sinh ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống của người dân, giảm nghèo nhanh và bền vững.

– Nhân rộng mô hình giảm nghèo hiệu quả, phù hợp nhằm nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và đa dạng hóa về thu nhập cho người nghèo, hộ nghèo; tạo cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận các chính sách, nguồn lực thị trường (thị trường vốn, lao động, đất đai, khoa học kỹ thuật – công nghệ và thị trường hàng hóa đầu vào, đầu ra…) hướng đến phát triển sản xuất và dịch vụ, tăng nhanh thu nhập, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững.

– Hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo, truyền thông và giám sát đánh giá thực hiện Chương trình nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ giảm nghèo các cấp; tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng, người dân, các cấp, các ngành về ý nghĩa và tầm quan trọng của giảm nghèo và cách tiếp cận về giảm nghèo bền vững;

– Thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá đồng bộ, toàn diện đáp ứng yêu cầu quản lý, thực hiện Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020.

B. Các chính sách ưu tiên:

– Chính phủ cũng tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư cho các chính sách và chương trình giảm nghèo và an sinh xã hội như: chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, chính sách trợ cấp khó khăn đột xuất cho các đối tượng thu nhập thấp…; chính sách trợ giúp người nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở, vay vốn tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề lao động nông thôn, các chính sách thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Chương trình 30a/2008/NQ-CP.

– Tổ chức triển khai, nghiên cứu rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách giảm nghèo; xây dựng các giải pháp cụ thể, bố trí và huy động đa dạng hóa nguồn lực, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho các địa bàn nghèo, đồng bào nghèo dân tộc thiểu số.

– Huy động sức mạnh và sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội (các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội), tạo nguồn lực to lớn cùng với nguồn lực của nhà nước thực hiện có kết quả các chương trình và chính sách giảm nghèo.

    1. 3.2. Các giải pháp hoàn thiện Chính sách giảm nghèo bền vững
      1. 3.2.1. Hoàn thiện thể chế Chính sách giảm nghèo bền vững

Nghị quyết 80/NQ-CP của chính phủ có nêu ra một số giải pháp hoàn thiện thể chế chính sách giảm nghèo bền vững:

– Xóa đói giảm nghèo là sự nghiệp lâu dài gắn liền với quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, do đó cần phải kiên trì để thực hiện mục tiêu đề ra trong cả hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, tránh chủ quan nóng vội, bệnh thành tích; phải khơi dậy ý chí tự vươn lên của chính bản thân người nghèo để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững; Cấp ủy, chính quyền các cấp phải quán triệt đầy đủ trách nhiệm và vai trò lãnh đạo của mình; phải huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội mới có thể thành công.

– Bộ LĐTB&XH chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan hoạch định và ban hành chính sách có liên quan đến chính sách giảm nghèo.

– Tăng cường công tác phân quyền cho các địa phương cơ sở.

– Mở rộng và tạo điều kiện tham gia của người dân và các hoạt động của chương trình từ việc xác định đối tượng thụ hưởng đến việc lập kế hoạch, triển khai, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện. Bảo đảm công khai minh bạch trong suốt quá trình thực hiện chương trình.

– Bố trí cán bộ chuyên trách lĩnh vực LĐTB&XH thường trực làm chương trình giảm nghèo ở cấp xã.

– Tiếp tục thực hiện chính sách tăng cường, luân chuyển cán bộ cho các xã nghèo.

– Tiếp tục thực hiện khuyến khích trí thức trẻ tình nguyện về công tác ở các xã nghèo.

– Các chính sách giảm nghèo phải thường xuyên được tổ chức rà soát, đánh giá, mang tính hệ thống để người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận thuận tiện, hiệu quả hơn; những chính sách qua thực hiện thấy bất hợp lý phải khẩn trương được sửa đổi, thay thế. Chính sách giảm nghèo cần phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng địa bàn; đầu tư trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, có các chính sách giảm nghèo chung, có chính sách giảm nghèo đặc thù cho từng vùng khó khăn, nhóm người nghèo dân tộc thiểu số, người nghèo thuộc đối tượng bảo trợ xã hội.

– Nguồn lực Nhà nước giữ vai trò quyết định, cần được ưu tiên và bố trí kịp thời để thực hiện các chính sách và chương trình giảm nghèo, ưu tiên cho các địa bàn nghèo (huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn); đồng thời có cơ chế để huy động nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và chính bản thân hộ nghèo trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo; các chính sách và nguồn lực phải được công khai, minh bạch, hỗ trợ đúng đối tượng và hiệu quả;

– Trên cơ sở các chính sách và Chương trình giảm nghèo bền vững, các địa phương cần xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể trên địa bàn để tổ chức thực hiện; phân công trách nhiệm cụ thể cho các cấp, các ngành, thường xuyên kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm trong chỉ đạo. Thực tế cho thấy nơi nào, địa phương nào, cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo, có sự phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trân Tổ quốc các cấp và các tổ chức đoàn thể chính trị ở địa phương, thực hiện phân cấp, mở rộng sự tham gia của người dân thì nơi đó, giảm nghèo đạt kết quả cao và ngược lại.

– Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chính sách và chương trình giảm nghèo cần được tổ chức thường xuyên ở các cấp, các ngành, nhất là cơ sở, từ việc xác định đối tượng thụ hưởng đến việc tổ chức thực thi chính sách; thông qua đó để hạn chế các tiêu cực, lợi dụng chính sách, đồng thời phát hiện những hạn chế, bất hợp lý để kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời.

– Thường xuyên tổ chức đa dạng, phù hợp các hình thức truyền thông về giảm nghèo để tuyên truyền chủ trương, chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước đối với người nghèo; phát hiện, tuyên truyền, phổ biến các mô hình, điển hình giảm nghèo có hiệu quả để nhân rộng; phê phán các hiện tượng tiêu cực, không muốn thoát nghèo; tuyên truyền nâng cao nhận thức trách nhiệm giảm nghèo, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.

– Xây dựng khung và hệ thống chỉ tiêu đánh giá chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo, khung kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 80-NQ/CP.

– Xây dựng các tài liệu hướng dẫn và tổ chức tập huấn về thiết lập, cập nhật khai thác thông tin theo dõi, giám sát giảm nghèo cho các cán bộ quản lý các cấp.

– Tăng cường giám sát việc huy động và sử dụng các nguồn lực phục vụ cho chính sách giảm nghèo ở địa phương một cách hiệu quả thông qua một cơ chế giám sát và đánh giá thường xuyên theo định kỳ với sự có mặt của mọi chủ thể tham gia, nhất là sự tham gia của người dân.

– Tổ chức đối thoại chính sách, xác định nhu cầu và năng lực tham gia của người dân. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nâng cao năng lực của cộng đồng, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác giảm nghèo. Xây dựng kế hoạch và tổ chức tham quan, trao đổi kinh nghiệm của các địa phương, tổ chức hội thảo, hội nghị trong huyện, trong tỉnh và trong toàn quốc về chính sách giảm nghèo

      1. 3.2.2. Hoàn thiện giải pháp và công cụ Chính sách giảm nghèo bền vững

– Cần có các khoản vay phù hợp để đáp ứng nhu cầu vay vốn tạo sinh kế và phát triển sản xuất của người nghèo, giúp họ thoát nghèo bền vững. Cần rà soát lại số hộ nghèo có khả năng lao động, có nguyện vọng được vay vốn để hỗ trợ vay vốn. Các khoản vay này cần được kết hợp với sự chuyển giao công nghệ, chuyển đổi ngành nghề, giúp họ có khả năng chuyển sang các nghề có thu nhập cao hơn các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.

– Đối với các học sinh, sinh viên thuộc các hộ nghèo được vay vốn cần được giới thiệu việc làm để sau khi tốt nghiệp họ có thể trả vốn và lãi cho ngân hàng và thời gian trả nợ vay phải tính từ sau khi các em hoàn thành xong thời gian thử việc. Với các hộ mới thoát nghèo cũng cần được vay các khoản vay ưu đãi để họ tiếp tục phát triển sản xuất và thoát nghèo bền vững.

– Thực hiện đa dạng hóa nguồn vốn huy động để đáp ứng những nhu cầu giảm nghèo ở từng địa phương, tăng cường huy động vốn địa phương và các nguồn vốn khác. Đối với vốn huy động từ các nguồn khác, chú trọng huy động đóng góp của các doanh nghiệp và vận động tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

– Giải pháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không chỉ có thể giúp các hộ nghèo yên tâm sản xuất, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế, nhưng cũng có thể tạo ra những rũi ro do các hoạt động mua bán, cầm cố đất đai dẫn tới nguy cơ nghèo đói. Vì thế, chính sách giảm nghèo cần hỗ trợ người dân vốn, kinh nghiệm sản xuất, chuyển đổi ngành nghề và thông tin thị trường để họ có thể tránh khỏi những rũi ro khi sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn phải bán đất canh tác.

– Để hoàn thiện giải pháp khuyến nông cho các hộ nghèo, chính sách giảm nghèo của Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác khuyến nông, giúp họ yên tâm gắn bó với công việc của mình. Chính sách khuyến nông cần được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực sự của hộ nghèo, kế hoạch tập huấn khuyến nông phải được xây dựng dựa vào nhu cầu của người dân chứ không phải trên ý chí chủ quan của cán bộ làm công tác khuyến nông.

– Cần phải hoàn thiện chính sách dạy nghề miễn phí cho người nghèo nhất là người nghèo đồng bào dân tộc thiểu số như bổ sung vào các danh mục dạy nghề còn thiếu so với thực tế nhu cầu học của người nghèo, bố trí ngân sách và có chế độ ưu đãi cho các trường dạy nghề đặc biệt là các Trung tâm Giáo dục và hướng nghiệp thường xuyên ở các huyện miền núi, có chương trình đào tạo nghề dành riêng cho vùng đồng bào dân tộc và người dân tộc thiểu số, xây dựng chính sách thu hút và khuyến khích các doanh nghiệp lên tổ chức sản xuất, phối hợp với nông dân sử dụng nguồn lực của địa phương, tạo công ăn việc làm cho người nông dân.

– Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo theo Nghị định 49 của chính phủ hiện nay, cần bổ sung đối tượng Sinh viên là con hộ nghèo được hỗ trợ học phí (không phải vay tiền đi học như được áp dụng chính sách tín dụng cho học sinh, sinh viên); Các Bộ: Giáo dục- Đào tạo, Lao động- Thương binh và Xã hội, Tài chính phải có sự phối hợp trong việc triển khải thực hiện chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo, trách nhiệm giữa các Bộ, ngành phải rõ ràng, tránh tình trạng mỗi Bộ, ngành triển khai hướng dẫn thực hiện cùng một chính sách nhưng không giống nhau, đặc biệt là về mặt thủ tục hành chính, gây khó khăn trong việc giải quyết chế độ ở các địa phương, gây phiền hà, phản ứng bất bình trong nhân dân. Chính sách hỗ trợ giáo dục cần phải mang tính kịp thời, kịp thời trong việc triển khai, kịp thời trong việc cấp phát kinh phí chi trả tiền hỗ trợ cho đối tượng.

– Các hoạt động xây dựng và nhân rộng mô hình sản xuất cần được chú trọng, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số thay đổi nhận thức, tích cực tham gia phát triển sản xuất, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tạo việc làm, tăng thu nhập để thoát nghèo. Cần phải lồng ghép các nguồn vốn đầu tư đang triển khai tại miền núi để hỗ trợ xây dựng các mô hình sản xuất mới phù hợp với điều kiện sản xuất, trình độ canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số, tạo ra những mô hình mẫu về sản xuất để tổ chức các chuyến thăm quan học tập, các lớp tập huấn hay hội nghị đầu bờ nhằm chuyển giao các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất theo cách “nông dân tự chuyển giao cho nông dân”. Xây dựng mô hình có sự tham gia của cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của người dân càng nhiều càng tốt, không áp đặt mệnh lệnh, chỉ hỗ trợ, không “ban phát” hay làm thay. Triển khai nhân rộng mô hình theo phương thức cầm tay chỉ việc “nông dân dạy nông dân”, kết hợp giới thiệu và hỗ trợ nông dân tiêu thụ sản phẩm.

– Giải pháp chính sách y tế cần có chính sách hỗ trợ cho những người làm công tác y tế tại các vùng đặc biệt khó khăn, nhất là y tế thôn bản, y bác sĩ về công tác tại các xã nghèo như chế độ tiền lương, nhà ở công vụ, chi phí đi lại cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người dân.

– Trong giải pháp về chính sách giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số cần kết hợp nhiều chính sách: tuyển thẳng vào đại học, cao đẳng đối với học sinh nghèo, con em đồng bào các dân tộc thiểu số, cấp học bổng, nâng mức hỗ trợ tài chính đủ đáp ứng các nhu cầu thiết yếu để sinh sống và học tập cho học sinh, sinh viên; nghiên cứu cơ chế ưu tiên tuyển dụng, bố trí việc làm cho con em dân tộc thiểu số tại địa phương ngay sau khi tốt nghiệp để tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước.

– Chính sách về nhà ở cho người nghèo đã cãi thiện được tình trạng không có nhà ở hoặc nhà ở xiêu vẹo, rách nát. Nhưng đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần phải có chính sách riêng về nhà ở. Phải nâng mức hỗ trợ xây dựng nhà ở cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số để đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn vì mức hỗ trợ hiện nay là quá thấp trong khi đó chi phí vật liệu, vận chuyển và giá nhân công lại cao. Nhà ở cho đồng bào miền núi phải đồng thời đáp ứng các tập quán sinh hoạt như gần các nguồn nước, các khu chăn nuôi, vườn và các nhu cầu sản xuất như gần nương, rẫy, đồng ruộng và đồi rừng được giao. Mặt khác, các khu ở của người dân cũng phải đảm bảo an toàn cho người dân trước những rủi ro của biến đổi khí hậu như lụt lội, lũ quét, ô nhiểm môi trường và động đất…

– Chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo cần được cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, các ngành chức năng quan tâm tổ chức thực hiện, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nước sinh hoạt góp phần nâng cao tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là nâng cao ý thức cải thiện điều kiện sống và chăm sóc sức khỏe của người dân. Tuy nhiên, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về vốn và kỹ thuật để giúp các địa phương miền núi khai thác các nguồn nước vì các địa phương này hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn của Trung ương hỗ trợ.

– Giải pháp chính sách trợ giúp pháp lý cho đồng bào các dân tộc thiểu số trước hết cần nâng cao nhận thức về pháp lý cho họ thông qua việc đào tạo các cán bộ là con em người dân tộc thiểu số và để họ trực tiếp tham gia làm công tác trợ giúp pháp lý vì các em thông thuộc phong tục tập quán và tiếng nói của dân tộc mình. Tăng cường công tác tuyên truyền pháp lý thông qua các kênh truyền thông truyền thống như qua các già làng, trưởng bản hay các kênh hiện đại như ti vi, radio, các tổ chức chính trị xã hội và cán bộ tuyên huấn …

– Giải pháp chính sách giảm nghèo cũng đồng thời phải nhằm cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân các dân tộc miền núi nhất là các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Phải uu tiên khai thác các truyền thống văn hóa vốn có của địa phương thông qua việc tôn vinh các nghệ nhân người dân tộc và đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa là con em người dân tộc thiểu số vừa làm công tác văn hoá, vừa bảo tồn các di sản văn hóa cộng đồng; mặt khác chính sách văn hóa cũng đồng thời phổ biến các hình thức văn hóa hiện đại cho đồng bào các dân tộc thiểu số thông qua các phương tiện truyền thông và các hình thức giao lưu văn hóa giữa các vùng miền trong cả nước, giữa đô thị và nông thôn. Đưa giáo dục văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vào các trường học trên địa bàn.Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động văn hoá, huy động mọi nguồn lực cho bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, đặc biệt tại các địa bàn trọng điểm: vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

– Các chính sách hỗ trợ đặc thù cho các huyện nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số cần phải rà soát lại để tránh sự trùng lặp về đối tượng thụ hưởng, chồng chéo trong quản lý, tổ chức thực hiện hiệu quả chưa cao và chưa khuyến khích người nghèo tự nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo. Cần ưu tiên cho chính sách phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, giáo dục và y tế cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tăng cường và đa dạng hóa các nguồn lực hỗ trợ cho các huyện nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số từ nguồn kinh phí của Nhà nước và các nguồn đầu tư xã hội hóa ở địa phương và trong toàn quốc.

      1. 3.2.3. Nâng cao năng lực chủ thể Chính sách giảm nghèo bền vững

3.2.3.1. Nâng cao năng lực hoạch định chính sách GNBV của Nhà nước

Trong Nghị quyết số 80-NQ/CP có nêu định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011-2020. Trong nghị quyết này, việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo được coi là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Những năm qua việc tập trung thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội căn bản; cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường; đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010.

Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn khó khăn nhất là ở các khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.

Tình trạng trên có nguyên nhân là do điều kiện đất nước ta còn nhiều khó khăn, các nguồn lực của Nhà nước dành cho giảm nghèo tuy rất lớn nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Mặt khác, do năng lực hoạch định chính sách của các cơ quan ban, ngành của Nhà nước liên quan đến chính sách giảm nghèo còn nhiều thiếu sót và bất cập nên một số chương trình, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ còn mang tính ngắn hạn, thiếu sự gắn kết chặt chẽ, cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành, phân công phân cấp còn chưa hợp lý, việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo một số nơi chưa sâu sát. Cũng do những thiếu sót chủ quan này mà một số nơi chính sách giảm nghèo làm cho một bộ phận người nghèo vẫn còn tâm lý ỷ lại chưa tích cực chủ động vươn lên thoát nghèo.

Để hoàn thiện năng lực hoạch định CSGNBV của Nhà nước, sự thống nhất trong hoạch định chính sách cần được thống nhất tập trung vào vai trò chỉ đạo của cơ quan chủ quan là Bộ LĐTB&XH có sự kết hợp với Ủy ban dân tộc và các bộ ngành, tổ chức đoàn thể có liên quan. Thành lập Ban chỉ đạo chương trình GNBV ở các cấp địa phương để triển khai Nghị quyết 80-NQ/CP và các chương trình giảm nghèo trên địa bàn

– Nâng cao năng lực đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững, đánh giá tác động của chính sách giảm nghèo bền vững đối với người nghèo cho các chủ thể là các cơ quan quản lý nhà nước. Để đánh giá chính sách toàn diện việc thực hiện chính sách, các Bộ ngành cấp trên cần phải có cơ chế, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cho cụ thể, phù hợp có thể định lượng được, tránh tình trạng đánh giá kết quả chính sách chung chung như trước đây, hướng dẫn báo cáo thống kê đầy đủ, thực hiện cải cách hành chính trong công tác giảm nghèo, nâng cao năng lực thực hiện đánh giá báo cáo về công tác giảm nghèo.

3.2.3.2. Nâng cao năng lực của các chủ thể CSGNBV ở địa phương

Nhìn chung, những tiến bộ trong việc thực hiện CSGNBV ở các huyện miền núi, qua trường hợp của huyện Tây Trà đã được thực hiện một cách tích cực do kinh tế đã bắt đầu có sự tăng trưởng ổn định, quy mô từng bước được nâng lên, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đã được đầu tư nâng cấp, nhiều công trình đưa vào sử dụng có hiệu quả, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và dân sinh.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn một số hạn chế đó là : kinh tế phát triển nhưng tính bền vững chưa cao, chất lượng sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp còn thấp, phát triển chăn nuôi còn khó khăn; công tác quy hoạch vùng, chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi, chuyển giao khoa học kỹ thuật còn yếu. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chất lượng thoát nghèo thấp, thiếu tính bền vững. Quản lý Nhà nước ở địa phương tại các huyện nghèo còn nhiều hạn chế bất cập. Trình độ năng lực, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu.

Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ địa phương thể hiện trong các công tác lãnh đạo, điều hành và quản lý ở mọi cấp, từ huyện đến các cơ sở, từ các cấp ủy Đảng, chính quyền đến các đoàn thể. Đó là sự yếu kém về khả năng nắm bắt tình hình, dự báo, dẫn đến một số chỉ tiêu không đạt hoặc đạt thấp.

Từ đó, việc nâng cao năng lực tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo ở địa phương cũng có nghĩa là nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành và quản lý các chương trình phát triển kinh tế – xã hội có tính tổng thể ở địa phương. Ngoài ra, các cán bộ chuyên trách về công tác giảm nghèo ở địa phương cần được thường xuyên bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ trong các lĩnh vực như chuyển giao công nghệ, cho vay vốn sản xuất, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả trong các vùng miền núi.

– Đối với cán bộ chuyên trách cần có hình thức đào tạo dài hạn, hiểu đầy đủ về chủ trương, chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, có năng lực theo dõi, giám sát, tổng hợp các chính sách, dự án giảm nghèo của địa phương, có khả năng đánh giá chính sách, tham mưu, đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo ở địa phương. Thứ hai, là tập huấn cho các thành viên tham gia Ban Chỉ đạo giảm nghèo các cấp. Đối tượng này bao gồm các cán bộ trực tiếp tham gia thực hiện các chính sách giảm nghèo ở các cấp tỉnh và huyện. Hình thức đào tạo cần mang tính thường xuyên và ngắn hạn cho các thành viên tham gia thực hiện chính sách.

3.2.3.3. Nâng cao năng lực tham gia CSGNBV của các cộng đồng địa phương

Nhà nước cần có cơ chế để cho các cộng đồng dân cư ở các vùng miền núi trực tiếp tham gia vào việc tổ chức thực hiện CSGNBV trong khuôn khổ các chương trình phát triển cộng đồng ở địa phương. Trước hết, mọi người dân đều cần được thông tin đầy đủ về các chương trình giảm nghèo ở địa phương bao gồm việc xác định các đối tượng nghèo, các tiêu chí xác định chuẩn nghèo, những quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia để người dân có thể tham gia tích cực vào các hoạt động của chương trình giảm nghèo,

Để tháo gỡ tâm lý ỷ lại, cần giảm mạnh những hỗ trợ trực tiếp, cho không và chuyển dần sang hỗ trợ có điều kiện, hỗ trợ có thu hồi và nâng cao ý thức của người hưởng lợi. Chú trọng tập trung ngân sách cho hỗ trợ hộ nghèo phát triển sản xuất kinh doanh để thoát nghèo, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của người nghèo để giúp họ thoát nghèo bền vững.Tạo điều kiện để người nghèo tham gia vào các chuỗi giá trị hàng nông sản. Thay việc hỗ trợ sinh kế tản mạn, nhỏ lẻ hiện nay thành các tiểu dự án hỗ trợ sinh kế cho xã hội và có thời gian hoạt động đủ dài để xây dựng phương án sinh kế giảm nghèo theo điều kiện và khả năng của người dân.

Phân loại những hộ nghèo theo nguyên nhân nghèo, nhất là đối với những hộ nghèo triền miên để có chính sách phù hợp. Đối với nhóm hộ không có khả năng thoát nghèo cần có chính sách an sinh xã hội cụ thể như: Nâng cao năng lực cho hộ nghèo, giúp cải thiện sinh kế thoát nghèo bền vững; mở rộng chính sách hỗ trợ sinh kế đối với những hộ mới thoát nghèo, hộ cận nghèo; chuyển dần chính sách giảm nghèo từ việc chỉ tập trung vào tăng thu nhập cho người nghèo sang việc tăng phúc lợi và tạo cơ hội cho người nghèo để giúp họ thoát nghèo bền vững.

Tăng cường chính sách giảm nghèo lồng ghép với các chính sách bảo hiểm, giảm thiểu rủi ro và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thực tế cho thấy các hộ nghèo dễ bị tổn thương khi gặp các cú sốc từ bên ngoài (thiên tai, thời tiết, dịch bệnh, giá cả tăng thất thường…), và cũng có phản ứng khác nhau trước những cú sốc đó để tránh rơi vào vòng luẩn quẩn.

3.2.3.4. Tăng cường nguồn lực cho CSGNBV

Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Thông tư liên tịch số của Bộ kế hoạch và đầu tư và Bộ tài chính tháng 2 năm 2014 trên địa bàn các huyện nghèo được tiến hành đồng thời với thời gian lập dự toán ngân sách và kế hoạch phát triển đầu tư của cấp huyện và cấp tỉnh. Hằng năm UBND huyện tổng hợp nhu cầu báo cáo UBND tỉnh để báo cáo Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ tài chính và các Bộ ngành liên quan làm căn cứ để bố trí kinh phí thực hiện các chương trình. Như vậy, quyết định giao dự toán ngân sách và kế hoạch đầu tư phát triển luôn được tiến hành từ cấp Chính phủ qua các HĐND, UBND tỉnh để xuống cấp huyện trong đó có các huyện nghèo.

Việc huy động nguồn vốn giảm nghèo của các huyện nghèo chủ yếu dựa vào kinh phí của Nhà nước luôn cho thấy những hạn chế không chỉ về quy mô của nguồn vốn mà cả về cơ chế cung cấp các nguồn vốn thường không đáp ứng được các nhu cầu cụ thể của từng địa phương. Để khắc phục những hạn chế về quy mô nguồn vốn Nhà nước cần khuyến khích xã hội hóa các nguồn vốn đầu tư cho các công trình cơ sở hạ tầng giảm nghèo, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế- xã hội của các huyện nghèo để giảm bớt những chi phí đầu tư cho các công trình cơ sở hạ tầng và tăng đầu tư cho việc phát triển các sinh kế và phúc lợi của người nghèo.

Mặt khác, nhà nước cần có chính sách phân cấp để cho các huyện nghèo có quyền chủ động lập kế hoạch kêu gọi các nhà đầu tư đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng và các chương trình phúc lợi của người dân trên địa bàn. Đồng thời, Nhà nước cũng cần có các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào các huyện nghèo như chính sách cho vay vốn ưu đãi, miễn giảm thuế và các chính sách ưu tiên khác.

Để công tác giảm nghèo bền vững đạt hiểu quả, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời gian đến, việc tăng cường nguồn lực chính sách giảm nghèo bền vững là rất quan trọng trong điều kiện nguồn lực của nước ta còn hạn chế. Giải pháp trước mắt là rà soát, khắc phục những nguồn lực còn đang dàn trãi, tập trung nguồn lực cho hiệu quả đối với từng chính sách, dự án giảm nghèo, không để lãng phí nguồn lực và về tài chính và con người. Tiếp tục phân bổ hài hòa các nguồn lực cho các vùng nghèo, ưu tiên đối với các huyện nghèo, xã nghèo. Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp, các khu công nghiệp nhưng vẫn đầu tư các nguồn lực để phát triển nông nghiệp, nông thôn.

3.2.3.5. Những giải pháp khác

* Đổi mới phương pháp đánh giá chính sách giảm nghèo

Cần có cơ chế đánh giá các đối tượng của chính sách giảm nghèo thông qua nhiều tiêu chí như thu nhập, tiếp cận các dịch vụ cơ bản để có các hình thức trợ giúp hiệu quả và phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Các tiêu chí đánh giá chính sách giảm nghèo cũng cần được đổi mới dựa trên các quy trình của chính sách giảm nghèo như các mục tiêu, các giải pháp, các thể chế và các chủ thể tham gia.

Phân định rõ chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình tham gia hoạch định và thực hiện chính sách giảm nghèo. Đánh giá hiệu lực của các chính sách đã được ban hành trong thực tiễn với tư cách là những thể chế của chính sách giảm nghèo. Đánh giá các giải pháp và công cụ của từng chính sách được đưa ra có phù hợp hay không với các nhóm đối tượng hoặc các vùng miền thuộc chính sách giảm nghèo.

KẾT LUẬN

Chính sách giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015 ở nước ta đã từng bước đem lại những thành quả đáng kể. Việt Nam tự hào là một quốc gia về đích sớm trong việc thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp quốc. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững vẫn còn những hạn chế, cần tập trung khắc phục; Tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng chưa bền vững.

Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết 80-NQ/CP của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững trong thời gian đến. Luận văn này đánh giá việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi, là một trong số các huyện nghèo đang cùng với cả nước triển khai thực hiện các chính sách, dự án Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo. Đóng góp của Luận văn là Phần đánh giá thực hiện chính sách giảm nghèo từ thực tiễn huyện Tây Trà từ năm 2011 đến năm 2014; đánh giá những mặt được và chưa được trong từng công cụ chính sách giảm nghèo tại huyện. Đây là cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững trong thời gian tới.

Một số giải pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với huyện Tây Trà được trình bày trong bài Luận văn, nhằm góp phần hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững huyện Tây Trà từ nay đến năm 2020, để làm cho từng chính sách giảm nghèo bền vững ngày càng đem lại hiệu quả, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo theo hướng bền vững ở huyện Tây Trà. Đây cũng là một số giải pháp cần thiết mà các địa phương miền núi của các tỉnh thành đang thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo cũng có thể tham khảo, vận dụng những điểm phù hợp thiết thực đối với địa phương mình.

Thực hiện chính sách giảm nghèo phải kiên trì, bền bỉ và lâu dài, cần phải có lộ trình thích hợp. Nhà nước, xã hội và cộng đồng cần nhận thức đúng trách nhiệm thực hiện giảm nghèo, cùng chung tay hỗ trợ người dân thoát nghèo bền vững; đặc biệt là việc tự giác, chủ động thực hiện, có trách nhiệm hơn nữa để vươn lên thoát nghèo của người dân.

  Trong những năm tới, Đảng và Nhà nước ta xác định đảm bảo an sinh xã hội là mục tiêu hàng đầu, tập trung đảm bảo mức sống tối thiểu cho người dân là việc làm cấp bách. Để đạt được mục tiêu này, việc nghiên cứu, rà soát lại các chính sách giảm nghèo trong thời gian qua là thật sự cần thiết. Nhìn một cách tổng quan, các chính sách giảm nghèo ở nước ta hiện nay là rất rộng, dàn trãi ở nhiều lĩnh vực, nhưng phân tán, hiệu quả hạn chế, chưa thực sự khuyến khích các hộ nghèo vươn lên. Hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững, các Bộ ngành Trung ương cần rà soát lại các chính sách giảm nghèo hiện nay, nhằm hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững thật phù hợp với từng vùng, từng địa phương, bên cạnh đó cần thiết kế khung giám sát, đánh giá, xây dựng đội ngũ nhà chính sách, giúp Đảng và Nhà nước ta hoạch định một cách chính xác các chính sách giảm nghèo phù hợp với từng giai đoạn, điều kiện từng địa phương đem lại hiệu quả cao nhất cho mục tiêu giảm nghèo bền vững ở Việt Nam.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\LUAT HINH SU DOT 2\CHINH SACH CONG\NGUYEN QUOC BAO\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *