Đánh giá kết quả chăm sóc bệnh nhân điều trị bỏng tại Khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Bỉm Sơn từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2024

Đánh giá kết quả chăm sóc bệnh nhân điều trị bỏng tại Khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Bỉm Sơn từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2024

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bỏng là một tai nạn thường gặp hằng ngày, xảy ra ở cả người lớn và trẻ em. Khoảng 80% tổng số bệnh nhân là bỏng nông trên diện hẹp, chiếm dưới 20% diện tích da của cơ thể. Tùy theo điều kiện cụ thể ở từng nơi, người ta có thể xây dựng các cơ sở chuyên chữa bỏng dưới nhiều hình thức như: Trung tâm điều trị bỏng, khoa bỏng trong một bệnh viện, Đơn vị điều trị bỏng trong một khoa ngoại. Ở nước ta, Viện bỏng quốc gia mang tên Lê Hữu Trác được thành lập từ năm 1991, nhiều bệnh viện lớn trong cả nước đã có khoa bỏng hay bộ phận điều trị bỏng. Những tiến bộ về chăm sóc bỏng trong 3 thập kỷ qua, đặc biệt là công tác sơ cứu và cấp cứu bỏng, đã cải thiện chất lượng điều trị bỏng và giảm tỉ lệ tử vong đối với các trường hợp nặng.

Khoa Ngoại bệnh viện đa khoa Bỉm Sơn hằng năm tiếp nhận và điều trị khoảng 20 bệnh nhân bỏng, trong đó gặp chủ yếu ở đối tượng là trẻ em.

Do vậy, để góp phần chăm sóc, theo dõi tốt hơn những BN bị bỏng, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá kết quả chăm sóc bệnh nhân điều trị bỏng tại Khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Bỉm Sơn từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2024” với mục tiêu sau:

Mô tả kết quả chăm sóc bệnh nhân điều trị bỏng tại Khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Bỉm Sơn từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2024.

Đánh giá kết quả chăm sóc bệnh nhân điều trị bỏng tại Khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Bỉm Sơn từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2024
Đánh giá kết quả chăm sóc bệnh nhân điều trị bỏng tại Khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Bỉm Sơn từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2024

TỔNG QUAN

I. Sinh lý bệnh bỏng và tác nhân gây bỏng

1. Sinh lý bệnh bỏng

Nhiệt từ bỏng gây ra biến tính protein và do đó hoại tử đông tụ. Xung quanh mô đông, các tiểu cầu kết tụ, các mạch máu co thắt và mô vùng xung quanh được tưới máu (gọi là vùng ứ huyết)có thể mở rộng quanh vết thương. Trong khu vực ứ huyết, mô bị tăng tiết và viêm.

Tổn thương hàng rào biểu bì bình thường cho phép:

+ Sự xâm nhập của vi khuẩn.

+ Mất dịch ngoài.

+ Điều hòa thân nhiệt.

Các mô bị tổn thương thường trở nên phù nề, làm tăng thêm tình trạng mất thể tích nội mạch. Mất nhiệt có thể đáng kể do không có sự điều chỉnh nhiệt ở mô bị tổn thương, đặc biệt là những vết thương bị phơi nhiễm.

2.Tác nhân gây bỏng

2.1. Bỏng do nhiệt: thường gặp nhất, khoảng 90% các tổn thương bỏng, đại đa số là bỏng do nhiệt độ cao, gồm 2 nhóm:

a. Bỏng do nhiệt độ cao :

– Bỏng do sức nhiệt khô: bỏng do lửa cháy nhiệt độ cao như củi gỗ cháy, xăng cháy, hóa chất cháy(NH4NO3,C2H2…), bỏng do tia lửa điện(3200-4800 *C), bỏng do vật nóng như kim loại nóng chảy(1800-2000*C), bỏng do các chất nóng dính như nhựa đường nóng chảy…thường bỏng sâu và nặng.

– Bỏng do sức nhiệt ướt: nhiệt độ gây bỏng thường không cao, có thể do nước sôi, thức ăn nóng sôi, dầu mỡ sôi, hơi nước từ nồi áp suất.

+ Cơ chế bỏng của sức nhiệt: khi tế bào bị nóng do nhiệt sẽ xuất hiện các tổn thương tùy thuộc nhiệt độ và thời gian tiếp xúc.

b.Tổn thương do nhiệt độ quá thấp: là tổn thương do cóng lạnh gây ra, cơ chế chủ yếu là do tổn thương mạng lưới vi tuần hoàn.

2.2 Bỏng do luồng điện:

– Mức độ tổn thương bỏng tùy thuộc vào điện thế, điểm vào và điểm ra của luồng điện, thời gian bị, khu vực cơ thể chịu ảnh hưởng của luồng điện .

– Tổn thương tại chỗ thường sâu tới gân cơ, xương khớp, mạch máu, thần kinh…Tỉ lệ bệnh nhân tử vong khá cao.

– Bỏng do điện có 3 cơ chế: bỏng do luồng điện, bỏng do tia lửa điện, bỏng vừa do luồng điện vừa do tia lửa điện.

2.3 Bỏng do hóa chất :

– Bao gồm các chất oxy hóa, chất khử oxy, chất ăn mòn, chất gây độc cho nguyên sinh chất, chất làm khô, chất làm rộp da, các chất kiềm mạnh.

– Mức độ tổn thương bỏng phụ thuộc loại hóa chất, nồng độ và thời gian tiếp xúc của hóa chất đó trên da và niêm mạc.

– Bỏng do axit thường có độ rộng giới hạn, nhưng tổn thương sâu, bỏng kiềm thường sâu, tiếp tục tiến triển và trầm trọng hơn bỏng axit.

2.4 Bỏng do bức xạ:

– Bỏng do tia hồng ngoại.

– Bỏng do tia Roongen, tia laser.

– Bỏng do tia gamma, hạt cơ bản beta.

– Bỏng do nắng mặt trời cũng là loại bỏng do bức xạ ánh sáng.

Cơ chế gây bỏng: do nhiệt lượng của tia xạ, do phản ứng quang hóa học, làm khô gây bốc hơi nước, do ion hóa gây bức xạ xuyên…

2.5 Các tổn thương giống bỏng :

– Một số bệnh lý gây phồng da, tróc vẩy và hoại tử da nặng sẽ có tổn thương giống bỏng.

– Tổn thương da do tai nạn: sinh hoạt,giao thông,lao động.

– Tổn thương da do dị ứng: ban đỏ, hội chứng Steven Johnson, hoại tử da nhiễm độc.

– Loét do tì đè.

II. Phân loại bỏng và cách tính diện tích bỏng

1.Phân loại bỏng

Phân loại bỏng có thể theo mức độ nông sâu hoặc cũng có thể chia theo cách chia 5 độ.

1.1 Phân loại theo độ nông sâu

– Bỏng nông (chỉ cần 1 trong 3 dấu hiệu sau đã giúp chẩn đoán):

+ Có nốt phỏng.

+ Nền tổn thương bỏng có màu hồng hoặc đỏ.

+ Còn cảm giác đau vùng bỏng.

– Bỏng sâu (chỉ cần 1 trong 3 dấu hiệu sau đã đủ giúp chẩn đoán):

+ Có hoại tử bỏng: hoại tử ướt (màu trắng bệch như thịt luộc, màu trắng xám, xanh xám khi đã có nhiễm khuẩn, phù nề gồ cao hơn vùng da lành, mềm ướt khi sờ), hoặc hoại tử khô (màu đen hoặc vàng xám, lõm hơn da lành, khô ráp khi sờ, có các dấu hiệu tắc mạch phía dưới).

+ Mất hoàn toàn cảm giác đau tại vùng bỏng.

+ Có các dấu hiệu tại vùng bỏng như: lộ cơ, mạch máu, xương, khớp, gân hay các tạng khác dưới da. 

1.2 Phân loại bỏng theo cách chia 5 độ

– Bỏng độ I: da đỏ, đau rát, phù nhẹ.

– Bỏng độ II: nốt phỏng vòm mỏng, dịch nốt phỏng màu vàng chanh, nền nốt phỏng màu hồng nhạt, không có rớm máu, chạm vào nền vết bỏng đau nhiều.

– Bỏng độ III: nốt phỏng vòm dày, dịch nốt phỏng có thể có màu hồng, nền nốt phỏng xung huyết đỏ, có thể rớm máu, chạm vào nền vết bỏng đau.

– Bỏng độ IV: hoại tử ướt màu trắng bệch, nổi cao hơn da bình thường, hoại tử khô đen xám lõm dầy cứng, có hình mạch máu dưới da bị đông tắc. Có thể rút lông ra khỏi da một cách dễ dàng hoặc dùng đầu kim nhọn chọc vào các đám hoại tử, người bệnh không thấy đau.

– Bỏng độ V: đến gân cơ xương khớp và các tạng ở sâu.

2. Tính diện tích vết bỏng

2.1 Sử dụng phương pháp con số 9 ở người lớn

– Đầu mặt cổ: 9%

– Thân trước: 18%

– Thân sau và 2 mông: 18%

– Một chi trên: 9%

– Một chi dưới: 18%

– Sinh dục ngoài: 1%

https://bvnguyentriphuong.com.vn/uploads/032022/images/dien-tich-bong(1).jpg

2.2 Sử dụng phương pháp các con số 1,3,6,9,18 ở người lớn

– 1%: mu, gan bàn tay, tầng sinh môn, cổ gáy.

– 3%: cánh, cẳng tay, da mặt, da đầu, 1 bàn chân.

– 9%: đùi, 1 chi trên.

– 18%: 1 chi dưới, thân trước, thân sau (cả 2 mông).

https://bvnguyentriphuong.com.vn/uploads/032022/images/dien-tich-bong-1.png

2.3 Tính diện tích bỏng trẻ em

 Phần cơ thể

Tuổi

Đầu và mặt (%)Hai đùi (%)Hai cẳng chân(%)
1171310
5131611
10101812

https://bvnguyentriphuong.com.vn/uploads/032022/images/dien-tich-bong-2.png

2.4 Phương pháp bàn tay người bệnh

– Sử dụng bàn tay người bệnh để tính diện tích bỏng.

– Một bàn tay người bệnh tương đương 1%.

– Phương pháp này không chính xác tuyệt đối nhưng thuận tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng và giúp ước lượng nhanh diện tích bỏng.

III. Diễn biến lâm sàng của bỏng

Đa số bỏng nông, diện tích hẹp nên tiên lượng nhẹ, chỉ cần chăm sóc tại chỗ là khỏi. Bỏng nặng diễn biến qua các giai đoạn:

-Giai đoạn đầu: sốc bỏng: trong 48 giờ đầu

+Do đau: bệnh nhân kêu la vật vã, nôn và buồn nôn, dần dần nằm lả đi, vẻ mặt thờ ơ, vã mồ hôi ở trán, mũi, lạnh đầu chi.

+Do giảm khối lượng tuần hoàn: huyết tương thoát ra ngoài mạch, ngấm vào tổ chức gây phù nề. Nạn nhân nằm lả đi, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt.

+Xét nghiệm máu: máu bị cô đặc, dự trữ kiềm giảm, bệnh nhân nhiễm toan, kali máu tăng, creatinine máu tăng.

+ Các cơ quan bị ảnh hưởng của sốc là: não, gan, thận, trong đó thận nặng nề nhất. Dễ bị viêm thận do sốc bỏng: nước tiểu ngày càng ít đi, đỏ đặc, đái ra huyết cầu tố, protein…Từ thiểu niệu, dần dần trở nên vô niệu-suy thận cấp.

+ Nếu không bồi phụ khối lượng tuần hoàn sớm và đầy đủ, tỷ lệ tử vong rất cao.

– Giai đoạn 2: nhiễm độc cấp tính bắt đầu từ ngày thứ 3 trở đi(3-15 ngày) do nhiễm khuẩn, do hấp thu những chất độc của tổ chức hoại tử .

Về lâm sàng: BN kích thích vật vã, lơ mơ, tri giác kém dần, có thể đi vào hôn mê. BN sốt cao 40-41*C, da lạnh, nổi vân tím. BN thở nhanh nông, không đều do bị viêm phổi. BN chán ăn, nôn, đi ngoài phân lỏng và thậm chí còn bị chảy máu tiêu hóa.

Trong máu: lượng hồng cầu giảm do máu bị cô đặc, rối loạn điện giải và toan hóa máu, ure và creatinine tăng cao, protein giảm.

Đây là giai đoạn nguy hiểm nhất của bỏng vì dễ dẫn đến tử vong. Vì vậy cần điều trị tại chỗ, cắt lọc tổ chức hoại tử tốt, bồi phụ đủ khối lượng tuần hoàn,cân bằng được điện giải máu cho BN.

-Giai đoạn 3: nhiễm trùng là chính, do mất một diện tích da rộng và trong thời gian dài. Các vi khuẩn thường gặp là tụ cầu vàng, liên cầu tan huyết, trực khuẩn mủ xanh, có thể cả uốn ván. Nhiễm trùng tại chỗ bỏng có thể gây nhiễm khuẩn máu. Những trường hợp bỏng nặng, nếu qua được thời kỳ sốc bỏng thì 70% tử vong trong giai đoạn này.

Về điều trị: bồi phụ máu, dịch đủ và vá da sớm cho bệnh nhân.

-Giai đoạn 4: hồi phục và suy kiệt

Nếu điều trị tốt, bỏng nhẹ, vá da sớm…thì BN hồi phục dần.

Nếu điều trị kém, bỏng nặng…BN suy kiệt dần- một vòng luẩn quẩn :thiếu máu, thiếu protein, nhễm khuẩn…càng loét thêm, miếng da vá bị bong không đạt kết quả.

IV.Tiên lượng bỏng

– Nguyên nhân gây bỏng: bỏng do hóa chất nặng hơn bỏng nhiệt …

-Diện tích và độ sâu của bỏng: diện tích bỏng rộng nặng hơn diện tích bỏng hẹp.., bỏng sâu nặng hơn bỏng bỏng nông…

– Cơ địa bệnh nhân: bỏng ở trẻ em và người già yếu tiên lượng nặng. Người lớn bỏng độ 2 quá 30 %, độ 3 quá 15% là bỏng nặng. Trẻ em bỏng độ 2 quá 12%, độ 3 quá 6% đã là nặng.

– Dựa vào vị trí bỏng: bỏng đường hô hấp hiếm gặp hơn nhưng rất nặng. Bỏng vùng đầu mặt, tiên lượng nặng có lẽ do rối loạn vận mạch gây thiếu máu não, gây phù não. Bỏng vùng hậu môn sinh dục dễ bị nhiễm khuẩn. Bỏng bàn tay gây sẹp co và dẫn đến mất chức năng của bàn tay…

V.Chẩn đoán bỏng

 Khám lâm sàng: bác sĩ sẽ đánh giá diện tích bỏng, độ sâu, tình trạng tổn thương và các dấu hiệu nhiễm trùng. Đồng thời, xem xét toàn diện tình trạng lâm sàng của bệnh nhân bao gồm: dấu hiệu mất nước, dấu hiệu sinh tồn và có xuất hiện các biến chứng của bỏng hay không?.

Cận lâm sàng: bao gồm chụp X-quang và các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán khác tùy vào nguyên nhân gây bỏng.

Ngoài ra, có thể chẩn đoán bỏng dựa trên một số yếu tố như:

– Diện tích bỏng. 

– Xác định diện tích bỏng ở người lớn theo quy tắc số 9: đầu mặt cổ 9%, ngực 9%, bụng 9%, toàn lưng 18%, tay 9%, chân 18%, bộ phận sinh dục 1%.

– Cách tính bằng lòng bàn tay (theo Faust): mỗi lòng bàn tay của bệnh nhân được tính bằng 1% diện tích da bị bỏng (các ngón tay khép, duỗi thẳng. Diện tích tính từ cổ tay đến đầu các ngón tay).

– Độ sâu (theo Viện bỏng Quốc gia).

– Cấp độ I: viêm da nông, khô đỏ, đau rát ít, thời gian lành trung bình khoảng 1 tuần.

– Cấp độ II: bỏng trung bì, có sự hoại tử biểu bì (còn lớp tế bào mầm, màng đáy nguyên vẹn), thời gian lành từ 1 – 2 tuần. 

– Cấp độ III: bỏng trung bì, chia làm 2 loại.

Trung bì nông: nang lông tuyến mồ hôi còn nguyên vẹn, có các nốt phồng đỏ, cảm giác đau, hồi phục sau 2 – 4 tuần.

Trung bì sâu: chỉ còn phần sâu tuyến mồ hôi, có thể dùng kẹp gắp lông, tóc dễ dàng. Nốt phồng da màu trắng hoặc hồng. Hồi phục sau 4 – 6 tuần.

– Cấp độ IV: bỏng toàn bộ lớp da. Bỏng đường kính dưới 5cm có thể tự lành. Trường hợp lớn hơn phải phẫu thuật vì hoại tử nhiều.

– Cấp độ V: bỏng toàn bộ da. Các mô dưới da, gân, xương khớp, mạch máu,… đều ảnh hưởng.

– Mức độ.

– Bỏng nặng: diện tích bỏng >=25%. Bỏng sâu ở cổ, tay, chân, tầng sinh môn. Có thương tổn kèm theo và bệnh mạn tính. 

– Bỏng trung bình: diện tích bỏng 15% – 25%. Diện tích bỏng sâu 2% – 10%.

– Bỏng nhẹ: diện tích bỏng <15%. Diện tích bỏng sâu <2%.

VI. Điều trị bỏng

Điều trị: 6.1. Sơ cấp cứu bệnh nhân bỏng:

6.1.1. Mục đích của sơ cấp cứu bỏng:

– Nhanh chóng loại trừ tác nhân gây bỏng ra khỏi cơ thể.

– Giải quyết khẩn cấp những tình trạng ảnh hưởng đến tính mạng: sốc do điện, ngạt thở…

– Hạn chế ô nhiễm tổn thương bỏng, băng bó tổn thương bỏng, vận chuyển đến cơ sở y tế.

6.1.2. Yêu cầu của công tác sơ cấp cứu bỏng:

– Tiến hành càng sớm càng tốt.

– Đảm bảo an toàn cho nạn nhân và người tham gia cấp cứu.

– Đảm bảo an toàn cho nạn nhân trên đường vận chuyển đến cơ sở y tế.

6.1.3. Các bước tiến hành sơ cấp cứu bỏng:

6.1.3.1. Đối với bỏng nhiệt:

* Bước 1: Cách ly nạn nhân khỏi tác nhân gây bỏng càng sớm càng tốt

– Nhanh chóng cởi bỏ quần áo bị cháy.

– Các vật dụng như nhẫn, đồng hồ, nữ trang, thắt lưng cũng phải tháo bỏ vì có thể chúng còn nóng và có thể tạo ra hậu qủa giống như garô gây thiếu máu cục bộ chi, đầu ngón.

– Tiến hành cấp cứu toàn thân khi có ngừng hô hấp, tuần hoàn, đa chấn thương….

* Bước 2: Làm mát phần cơ thể bị bỏng, có tác dụng:

– Hòa loãng, rửa trôi tác nhân gây bỏng còn bám trên da.

– Làm hạ nhiệt độ vùng da bỏng, từ đó giảm độ sâu bỏng.

– Giảm đau, góp phần làm giảm các rối loạn toàn thân.

– Giảm phù nề, qua đó giảm tiết dịch tại vết thương.

Thời điểm ngâm rửa càng sớm càng tốt, tốt nhất là trong 30’ đầu sau bỏng, sau khoảng thời gian đó, việc ngâm rửa sẽ ít có giá trị. Thời gian ngâm rửa 15-30-45’ thường là tới khi hết đau rát. Nhiệt độ nước ngâm rửa lý tưởng là từ 16-20*C, tránh nước quá lạnh vì có thể gây hạ thân nhiệt kèm theo rung nhĩ hoặc vô tâm thu.

* Bước 3: Che phủ tạm thời vết bỏng: băng ép vừa phải vết bỏng bằng băng vô khuẩn, không bôi một chất gì khác vào vùng bỏng. Ở vùng mặt và tầng sinh môn chỉ cần phủ bằng lớp gạc vô khuẩn. Nếu bỏng có vết thương kèm theo phải băng bó lại dù ở vị trí nào.

* Bước 4: Bù nước điện giải: nếu bệnh nhân không nôn, không chướng bụng, tỉnh táo, cho bệnh nhân uống Oresol, trà đường, cháo loãng.

* Bước 5: Nhanh chóng chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được chăm sóc chuyên môn. Chú ý trong trường hợp tai nạn, nạn nhân cần được nẹp cố định vùng cổ và vận chuyển nạn nhân giống như có chấn thương cột sống.

6.1.3.2. Đối với bỏng hóa chất: công tác sơ cấp cứu cơ bản giống bỏng nhiệt.

– Nhanh chóng cởi bỏ quần áo bị dính hóa chất. Phủi sạch các hóa chất dạng bột dính trên da. Tưới rửa liên tục với nước sạch nếu hóa chất dạng lỏng, cần cô lập vùng tưới rửa để tránh làm lan hóa chất tới những vùng không bị tổn thương, việc tưới rửa được tiến hành liên tục từ khi sơ cứu cho đến khi nhập viện, thời gian ngâm rửa kéo dài hơn so với bỏng nhiệt 30-60’.

– Không nên cố gắng dùng hóa chất trung hòa mạnh vì phản ứng trung hoà sẽ tạo nhiệt làm nặng thêm tổn thương bỏng.

6.1.3.3. Đối với bỏng điện:

– Bình tĩnh, nhanh chóng tắt nguồn điện hoặc dùng vật dụng cách điện để cách ly nạn nhân khỏi nguồn điện. Chú ý không được dùng tay trần chạm trực tiếp vào người nạn nhân cho đến khi cắt được nguồn điện.

– Ngay sau đó kiểm tra mạch, nhịp thở của nạn nhân. Khi phát hiện ngừng tim, ngừng thở, tiến hành cấp cứu ngay lập tức tại nơi xảy ra tai nạn, không được vận chuyển nạn nhân.

– Chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để theo dõi, xử lý vết thương khi sinh hiệu ổn định. Chú ý, khi nạn nhân đã tự thở và tim đập trở lại, tình trạng ngưng tim ngưng thở vẫn có thể xảy ra trong quá trình vận chuyển.

6.1.3.4. Bỏng đường hô hấp:

– 20-30% các trường hợp bỏng nặng kèm theo tổn thương do hít làm tăng tỉ lệ tử vong lên 25-50%.

– 80% các trường hợp bệnh nhân bỏng tử vong ngoài nguyên nhân bỏng còn do hít các sản phẩm độc do cháy, các hóa chất độc hại hiện diện trong khói cùng tác động làm tăng tỉ lệ tử vong. Các hóa chất này chủ yếu là carbon 8 monoxide (CO), hydrogen cyanide (HCN), chúng làm giảm oxy mô, nhiễm toan, làm giảm hấp thụ và chuyển hóa oxy ở não. Ngoài ra còn có các chất khác như hydrogen chloride, nitrogen oxide, các aldehydes, chúng gây ra phù phổi, viêm phổi do hóa chất, tình trạng kích thích hô hấp.

– Cần phải nghĩ đến bỏng đường hô hấp nếu nạn nhân có tiếp xúc với khói trong buồng kín, nạn nhân bị bỏng vùng mặt, lông mũi bị cháy.

– Sơ cấp cứu:

+ Đưa ngay nạn nhân ra chỗ thóang khí, làm hô hấp nhân tạo nếu nạn nhân ngưng thở.

+ Để nạn nhân nằm bất động để giảm yêu cầu tiêu thụ oxy.

+ Cho thở oxy ngay (nếu có trang bị bình oxy) và duy trì thở oxy 40-60’ hoặc hơn.

6.2. Cấp Cứu: cần đánh giá lại và khám toàn trạng bệnh nhân để có thể phát hiện các tổn thương kết hợp và để có điều trị thích hợp.

❖ Phòng ngừa tắc nghẽn đường thở:

– Lồng ngực bệnh nhân cần được để trần để có thể đánh giá tình trạng hô hấp của bệnh nhân.

– Tất cả bệnh nhân đều phải được cho thở oxy ẩm 100% mặc dù không có dấu hiệu rối loạn hô hấp vì tình trạng tắc nghẽn đường hô hấp trên có thể tiến triển nhanh chóng sau tổn thương.

– Khàn giọng là dấu hiệu đe dọa tắc nghẽn đường thở, khi đó cần đặt nội khí qủan ngay lập tức truớc khi phù nề làm mất cấu trúc giải phẫu vùng này.

– Cần thiết đặt nội khí qủan đối với bệnh nhân hôn mê, bệnh nhân bị bỏng vùng mặt và cổ.

❖ Phòng ngừa sốc bỏng:

– Bảo đảm thể tích tuần hoàn:

+ Truyền dung dịch Ringger lactate: 2-4ml/kg/% diện tích bỏng/24giờ.

+ Đối với trẻ em có thể dùng công thức: Q = 5000ml/m2/% diện tích bỏng/24giờ + 2000ml Glucose 5%/m2/diện tích cơ thể/24giờ. Tổng thể tích dịch truyền được phân phối truyền như sau: Q/2 trong 8giờ đầu. Q/2 còn lại trong 16 giờ sau.

– Giảm đau toàn thân.

❖ Phòng ngừa nhiễm trùng uốn ván và nhiễm trùng khác: SAT và kháng sinh toàn thân phổ rộng.

❖ Phòng ngừa hội chứng chèn ép khoang: rạch giải áp (rạch lớp vỏ cứng, có thể cần rạch cả cân), chú ý vùng cổ ngực bụng và tứ chi.

❖ Phòng ngừa biến chứng đường tiêu hóa: xuất huyết tiêu hóa là biến chứng nặng hay gặp trong bỏng, có thể là chảy máu từ ổ loét có trước hoặc loét trợt, viêm niêm mạc đường tiêu hóa. Để phòng ngừa có thể dùng thuốc kháng H2, thuốc ức chế bơm proton….

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Đánh giá kết quả chăm sóc bệnh nhân điều trị bỏng tại Khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Bỉm Sơn từ tháng 012020 đến tháng 092024

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *