Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tích cực trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em thì tình hình trẻ em bị bạo lực, xâm hại, nhất là xâm hại tình dục tiếp tục diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng. Đây là việc“dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” [Khoản 8, Điều 4, 27]. Trong đó, có nhiều hành vi xâm hại xảy ra trong gia đình, nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cộng đồng, mà đối tượng xâm hại thường là người thân, người quen, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Trong đó tỉnh Bắc Ninh cũng không phải là ngoại lệ. Theo số liệu thống kê từ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 đã giải quyết 112 vụ án với 120 bị cáo về các tội xâm hại tình dục trẻ em, chiếm tỉ lệ cao trong nhóm các tội xâm hại tình dục trên địa bàn tỉnh. Các vụ án có diễn biến rất phức tạp, một số vụ án nổi cộm như: Vụ án Bùi Văn T phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo khoản 3 Điều 142 BLHS 2015 mà nạn nhân là con riêng của vợ T; Kiều Tuấn L phạm tội tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo khoản 1 Điều 142 mà nạn nhân là người quen biết của L; vụ án Nguyễn Văn A phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo khoản 1 Điều 146 BLHS năm 2015 mà nạn nhân là hàng xóm của đối tượng; hay gần đây nhất là vụ việc cháu nhỏ 13 tuổi ở huyện T bị người đàn ông hơn 50 tuổi xâm hại tình dục…
đã thể hiện sự phức tạp và yêu cầu bức thiết của việc đấu tranh phòng chống tội phạm này trong thời gian sắp tới, bởi trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước.
Khác với nhiều đối tượng khác, trẻ em là đối tượng được hưởng sự quan tâm đặc biệt.“Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” [Điều 37, 23], “Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục” [Điều 25, 27]. Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, có nhiều văn bản luật đã được ban hành mới, là hành lang pháp lý quan
1
trọng trong việc bảo vệ quyền trẻ em như Luật Trẻ em năm 2016, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và đặc biệt là Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018 đã có những bổ sung quan trọng, phù hợp với thực tiễn về nhóm các tội xâm hại tình dục trẻ em, thể hiện rõ nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cá thể hóa hình phạt như: Tăng thêm một điều (Điều 147) quy định về tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm, bổ sung hành vi “quan hệ tình dục khác…” trong một số tội xâm hại tình dục trẻ em. Khái niệm “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được quy định cụ thể để bảo đảm tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền… Tuy nhiên, một số quy định của BLHS năm 2015 vẫn còn chưa rõ ràng, chưa có hướng dẫn cụ thể, gây khó khăn trong định tội danh của cơ quan có thẩm quyền. Thực tiễn định tội danh vẫn còn sai sót trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ; công tác giám định pháp y tình dục vẫn còn chậm trễ, trong khi năng lực và phẩm chất của một bộ phận cán bộ làm công tác định tội danh ở Bắc Ninh vẫn còn hạn chế, không đồng đều, nhiều vụ việc vì lý do khác nhau mà gia đình nạn nhân không hợp tác, không muốn đưa ra công luận, tố giác tội phạm… dẫn tới việc định tội danh trong một số trường hợp không chính xác, không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án. Tính thời đến thời điểm sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực, chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về định tội danh các tội xâm hại tình dục trẻ em trên phạm
- một tỉnh là tỉnh Bắc Ninh và trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách khoa học, toàn diện, có hệ thống các vấn
đề lý luận và thực tiễn về định tội danh các tội xâm hại tình dục trẻ em từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh, từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật, bảo đảm định tội danh đúng các tội xâm hại tình dục trẻ em của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói chung và trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ nhận thức trên, tác
2
giả đã chọn đề tài: “Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” để làm để tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em, cũng như đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Đồng thời chỉ ra các điểm tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng, trong quy định của pháp luật hiện hành, từ đó luận văn đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật hình sự cũng như bảo đảm định tội danh đúng các tội xâm phạm tình dục trẻ em.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ những vấn đề chung về định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em ở tỉnh Bắc Ninh.
- Đánh giá, phân tích thực trạng định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, từ đó rút ra được những vướng mắc, hạn chế và những nguyên nhân của vướng mắc, hạn chế đó.
- Phân tích một số yêu cầu và đưa ra một số giải pháp đảm bảo định tội danh
đúng các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trong phạm vi chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự; nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, kết hợp với việc
5
nghiên cứu đánh giá hoạt động này trong thực tiễn tại tỉnh, phân tích những tồn tại, hạn chế, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện luật thực định nâng cao hiệu quả định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Giới hạn về tội danh: Nghiên cứu về định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em (Điều 142,144, 145, 146 hoặc 147 của BLHS năm 2015).
Giới hạn về không gian: Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Giới hạn về thời gian: Các số liệu, bản án được thu thập trong giai đoạn 05 năm từ năm 2015 – 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước và Pháp quyền trong sự nghiệp đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường và thực tiễn áp dụng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp như phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch, quy nạp và phương pháp thống kê… và một số phương pháp khác của khoa học luật hình sự để đạt được mục đích nghiên cứu trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao nhận thức về lý luận về định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em. Từ một số giải pháp đưa ra, luận văn sẽ góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em.
Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác thực tiễn của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói chung và của tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể
6
là tài liệu tham khảo chuyên ngành đối với cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1. Những vấn đề lý luận về định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em.
Chương 2. Thực tiễn định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm định tội danh đúng đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM
1.1. Khái niệm và đặc điểm định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ
em
1.1.1. Khái niệm định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em
Định tội danh là khái niệm được nhiều học giả nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận và đưa ra các định nghĩa khác nhau. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
GS.TS. Võ Khánh Vinh có quan điểm: Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lí khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [50, tr.22].
GS.TSKH. Lê Cảm cho rằng: “Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa TNHS một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật” [6, tr.716].
Trong khi đó, TS. Phạm Văn Beo có quan điểm: “Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự” [3, tr.5].
8
Có thể thấy, các quan điểm trên đều có những điểm hợp lý và thống nhất ở việc: Nội dung định tội danh về bản chất là đối chiếu, so sánh và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng quy định trong BLHS.
Trong BLHS năm 2015 hiện hành thì nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em được quy định tại Chương XIV thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Trong đó, “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [27, Điều 1]. Những tội này có thể chia làm 03 nhóm: Nhóm các tội xâm phạm tính mạng; Nhóm các tội xâm phạm sức khỏe; Nhóm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự [35, tr.371, 372]. Nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em thuộc các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người, bao gồm: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144), tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145), tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146) và tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147) (bên cạnh nhóm các tội khác xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người bao gồm: tội mua bán người; tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; tội làm nhục người khác và tội vu khống). Đây là “những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho nhân phẩm, danh dự của con người” [1, tr.38] và có bản chất là hành vi xâm hại tình dục trẻ em, “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” [27]. Hay cụ thể hơn theo khoản 1 Điều 2, Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự (Nghị quyết 06/2019): “Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích
9
mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: Hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: Cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ…)”.
Từ những phân tích trên và tiếp thu những yếu tố hợp lý trong các quan điểm của các học giả, tác giả đưa ra khái niệm định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em như sau: Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án nhằm xác định sự phù hợp giữa hành vi thực tế đã thực hiện với cấu thành tội phạm cụ thể quy định tại một trong các Điều 142,144, 145, 146 hoặc 147 của BLHS năm 2015, từ đó xác định một người có phạm tội về xâm phạm tình dục trẻ em hay không, nếu phạm tội thì theo điểm, khoản, điều luật nào của Chương XIV của BLHS năm 2015.
1.1.2. Đặc điểm định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em
Từ khái niệm định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của hoạt động này như sau:
- Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em là một quá trình nhận thức lý luận, dạng hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (theo BLTTHS năm 2015 là những Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: a) Các cơ quan của Bộ đội biên phòng; b) Các cơ quan của Hải quan; c) Các
cơ quan của Kiểm lâm; d) Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; đ) Các cơ quan của Kiểm ngư; e) Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; g) Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
- Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em là định tội danh đối với một loại tội phạm cụ thể trong nhóm tội này gồm: Tội hiếp dâm người dưới 16
10
tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Ngoài những đặc điểm chung của định tội danh với tư cách là hoạt động nhận thức có tính logic của con người, thì định tội danh đối với nhóm tội này có đặc điểm riêng liên quan đến đặc điểm của hành vi xâm phạm tình dục trẻ em (dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: Hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: Cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ…) xảy ra trong thực tế khách quan và quy định của BLHS về tội phạm này.
- Chủ thể định tội danh phải đối chiếu, so sánh và đưa ra kết luận, về việc có hay không có sự phù hợp giữa hành vi xâm phạm tình dục trẻ em xảy ra trong thực tế với quy định pháp luật quy định tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi hoặc tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm trong BLHS hiện hành. Việc này đòi hỏi các chủ thể định tội danh phải có năng lực, phẩm chất, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm. Sau khi đã xác định một hành vi cụ thể là hành vi phạm tội thì tiếp đến việc định tội danh cần xác định hành vi đó được quy định trong điều luật nào của BLHS. Trong quá trình định tội danh, các chủ thể phải sử dụng các biện pháp kỹ thuật pháp lý và phát triển theo những quy luật logic nhất định.
- Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em (định tội danh chính thức) phải tuân theo những thủ tục chặt chẽ về mặt tố tụng theo quy định của BLTTHS hiện hành.
11
- Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành một cách tuần tự từ cái chung đến cái riêng, theo từng bước và giai đoạn nhất định. Định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự bao gồm việc tiến hành đồng thời ba quá trình:
1. Xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế của vụ án;
2. Nhận thức đúng nội dung của các quy định trong Bộ luật Hình sự;
3. Lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự tương ứng để đối chiếu chính xác, đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm đó với các tình tiết của hành vi được thực hiện trong thực tế [50, tr.12].
Đồng thời, đây là hoạt động được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố, xét xử cho tới khi xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án hình sự.
1.2. Phân loại, ý nghĩa định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em
1.2.1. Phân loại
- Căn cứ theo phân loại cấu thành tội phạm, thì định tội danh được chia thành Định tội danh theo CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng và CTTP giảm nhẹ.Trong đó:
[50, tr.72]
- Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định tội. Cấu thành này bao gồm: Những dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác.
- Cấu thành tội phạm tăng nặng là cấu thành tội phạm ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu định khung tăng nặng, tức dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể (đa số đó là các khoản 2, 3, 4 của các điều luật của phần các tội phạm Bộ luật Hình sự nước ta).
- Cấu thành tội phạm giảm nhẹ là cấu thành tội phạm ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu định khung giảm nhẹ, tức dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể.
- Căn cứ vào chủ thể tiến hành định tội danh và hậu quả của việc định tội danh, có thể phân chia định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em làm hai dạng tương ứng là: Định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức.
12
Định tội danh chính thức là sự đánh giá về mặt nhà nước, tính chất pháp lý hình sự về một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân [50, tr.23].
Do đó, định tội danh chính thức các tội xâm phạm tình dục trẻ em là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, và Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, trong hoạt động đấu tranh với nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em.
Định tội danh không chính thức là sự đánh giá pháp lý về hành vi phạm tội do các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, tác giả bài báo, tạp chí, công trình khoa học, sinh viên, học viên hoặc bất kỳ một người nào đó quan tâm nghiên cứu cụ thể vụ án này hay vụ án khác đưa ra. Định tội không chính thức không sinh ra quyền và nghĩa vụ mà là sự thể hiện quan điểm, ý kiến cá nhân. Đây là loại định tội có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu pháp luật, như một phương pháp nhận thức luật pháp. Định tội không chính thức góp phần tạo thành dư luận xã hội về pháp luật [50, tr.23].
1.2.2. Ý nghĩa
Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự. Định tội danh đúng có ý nghĩa chính trị – xã hội, đạo đức và pháp luật rất lớn [50, tr.24]:
- Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em đúng nhằm mục đích bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, góp phần đưa các quy định của pháp luật hình sự vào cuộc sống, đây cũng là “một biểu hiện của việc thực hiện đúng biện pháp chính trị, thực thi đúng chính trị, thực thi đúng ý chí của nhân dân đã được thể hiện trong luật, bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của công dân” [50, tr.24].
- Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em đúng góp phần bảo đảm hình phạt được thực thi một cách hiệu quả, nghiêm chỉnh, bởi đây chính là tiền đề cho việc quyết định hình phạt công bằng đối với những người phạm tội. Đồng thời
13
thể hiện việc thực hiện nghiêm những cam kết quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em thông qua việc bảo đảm về an toàn và an ninh, trật tự xã hội đấu tranh phòng chống lại hành vi phạm tội. Định tội danh sai không những xâm phạm quyền con người, phải tiến hành các biện pháp khắc phục hậu quả, mà còn làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh với tình hình tội phạm và cùng lúc gây ra sự công phẫn hợp pháp, công bằng của nhân dân, làm nảy sinh những quan niệm không đúng về thực trạng và các biện pháp đấu tranh với tội phạm, làm giảm uy tín của các cơ quan tư pháp.
- Về mặt pháp lý: Định tội danh đúng là cơ sở, tiền đề đầu tiên cho việc quyết định hình phạt được đúng, là cơ sở để xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử đúng, xác định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử cũng như thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp với quy định của BLTTHS hiện hành đối với người phạm tội nói chung.
1.3. Cơ sở và các giai đoạn định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em
1.3.1. Cơ sở định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em
Cơ sở pháp lý của định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em là toàn bộ các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề định tội danh đối với các tội phạm này. Theo quan điểm của các nhà khoa học pháp lý hình sự Việt Nam hiện nay, có thể có hai cách tiếp cận đối với vấn đề cơ sở pháp lý của định tội danh: – Trên bình diện rộng (hay hiểu theo nghĩa cả về nội dung và hình thức) và Trên bình diện hẹp (chỉ hiểu theo nghĩa về nội dung).
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả phân tích trên bình diện hẹp (theo nghĩa về nội dung).
Khi quy định tội phạm trong luật, nhà làm luật phải sử dụng các dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự, trong khoa học luật hình sự. Sự mô tả này được gọi là CTTP. Đó là những dấu hiệu điển hình và có tính lặp đi lặp lại ở tất cả những hành vi tội phạm thuộc loại đó. Đây là những dấu hiệu thuộc khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm, có những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả CTTP, có những dấu hiệu có thể có trong CTTP này nhưng lại không có trong CTTP khác.
14
- Khách thể: Khách thể của các tội xâm phạm tình dục trẻ em là quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người dưới 16 tuổi.
- Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan các tội xâm phạm tình
dục trẻ em được thực hiện dưới dạng hành động phạm tội, đó là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: Hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: Cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ…).
- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.
Đối với chủ thể của một số tội xâm hại tình dục như: Tội hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm trẻ em, trong lý luận từ trước tới nay đều xác định đây là những tội có chủ thể đặc biệt về giới tính: Nam giới là chủ thể của những tội phạm này còn nữ giới chỉ có thể tham gia với vai trò đồng phạm (người tổ chức, người xúi giục
hoặc người giúp sức). Tuy nhiên, với việc BLHS năm 2015 mở rộng phạm vi hành
- khách quan thì chủ thể của các tội này và tội xâm phạm tình dục trẻ em khác là chủ thể thường, có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định.
- Mặt chủ quan của tội phạm:Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.
Lỗi của người phạm tội trong nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em đều là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng vì những động cơ và mục đích khác nhau mà đều mong muốn thực hiện hành vi đó. Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý. Tuy nhiên, khi truy cứu TNHS đối với những người phạm các tội xâm phạm tình dục trẻ em thì động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm
15
tội. Mục đích phạm tội của những người phạm tội xâm phạm tình dục trẻ em là muốn thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân.
1.3.2. Các giai đoạn định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em Quá trình định tội danh bao gồm ba giai đoạn: [49, tr.88, 89]
- Trong giai đoạn đầu tiên, các dấu hiệu chung nhất của hành vi được xác định, hay nói cách khác, xác định loại quan hệ pháp luật. Trong giai đoạn này, chủ thể cần xác định hành vi được thực hiện trên thực tế có các dấu hiệu của tội phạm hay không, hay hành vi đó chỉ được coi như một vi phạm pháp luật khác. Trong trường hợp tìm thấy quan hệ pháp luật hình sự, nghĩa là trong hành vi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có các dấu hiệu phạm tội, lúc này quá trình định tội danh chuyển sang giai đoạn thứ hai.
Ví dụ: Trên cơ sở đơn trình báo của A về việc con gái là B (14-15 tuổi) bị đối tượng C xâm hại tình dục (giao cấu nhiều lần). Chủ thể có thẩm quyền cần xác định có việc cháu B bị xâm hại tình dục không, thời gian, địa điểm…để xác định đây là quan hệ pháp luật hình sự hay là quan hệ yêu đương bình thường hoặc việc trình báo sai sự thật của A.
- Trong giai đoạn thứ hai, nảy sinh quá trình xác định các dấu hiệu cùng loại của hành vi phạm tội, hay nói cách khác, xác định tội phạm trên được nêu trong chương nào của Bộ luật Hình sự, có thuộc Chương XIV các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người hay không, nếu có thì có thuộc nhóm các tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi không.
Ví dụ: Cũng trong ví dụ trên, sau khi xác định có sự việc cháu B bị xâm hại tình dục, chủ thể có thẩm quyền cần xác định (thông qua các lời khai, kết luận giám định pháp ý tình dục…) hành vi trên có thuộc Chương XIV các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người hay không (cháu B có dưới 16 tuổi không, có bị xâm hại tình dục không…).
- Giai đoạn thứ ba của quá trình định tội danh là đối chiếu và so sánh các loại dấu hiệu tội phạm. Cụ thể: Sau khi xác định rằng hành vi tội phạm này có liên quan đến các tội xâm phạm tình dục trẻ em (người dưới 16 tuổi), Chương XIV Bộ luật Hình sự, thì chủ thể cần làm sáng tỏ đó là tội gì: Tội hiếp dâm người dưới 16
16
tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.Chính trong giai đoạn này việc so sánh được tiếp tục trong phạm vi của một điều luật thuộc một chương cụ thể của Bộ luật Hình sự: Cấu thành cơ bản hay cấu thành tội phạm với các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Mặt khác, giai đoạn này chủ thể cần xác định: Vụ án có yếu tố đồng phạm không, là đồng phạm giản đơn hay phạm tội có tổ chức, gồm những ai và vai trò của từng người là gì; hành
- được thực hiện đã hoàn thành hay thuộc giai đoạn phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội, kiểm tra các vấn đề khác có liên quan… Kết thúc giai đoạn này đã có căn cứ để xác định đối tượng đã thực hiện hành vi nào và hành vi này đã cấu thành tội nào trong nhóm tội xâm phạm về tình dục trẻ em quy định tại BLHS, xác định được các điều luật khác trong phần chung của BLHS được áp dụng để giải quyết vụ án.
Ví dụ: Tiếp nối ví dụ trên, sau khi xác định hành vi xâm hại cháu B của C thuộc nhóm các tội xâm phạm tình dục, chủ thể có thẩm quyền cần xác định hành
- của B thuộc tội gì: Là tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi…giai đoạn nào, thuộc CTTP cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ…thông qua các chứng cứ thu thập như lời khai của A, B, C; kết luận giám định pháp y tình dục, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định dấu vết, độ tuổi của B, năng lực TNHS và độ tuổi của C…để xác định điều, khoản, điểm áp dụng đối với hành vi của C.
1.4. Định tội danh các tội phạm cụ thể trong nhóm tội xâm phạm tình
dục trẻ em
1.4.1. Định tội danh tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của người dưới 16 tuổi hoặc dùng thủ đoạn khác thực hiện hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục
17
khác trái ý muốn của họ hoặc mọi trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.
* Định tội danh theo CTTP cơ bản:
Tội này gồm 02 trường hợp. Đó là trường hợp nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và trường hợp nạn nhân chưa đủ 13 tuổi.
Định tội danh theo CTTP cơ bản khi hành vi thỏa mãn các dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Theo quan niệm truyền thống và thực tiễn xét xử trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành thì chủ thể của tội này được xác định là chủ thể đặc biệt. Chủ thể của tội hiếp dâm (người thực hành) là nam giới, nữ giới chỉ có thể tham gia trong vụ án đồng phạm với vai trò là người xúi giục, người giúp sức, người tổ chức. Với việc mở rộng phạm vi hành vi khách quan của tội hiếp dâm bao gồm “hành vi quan hệ tình dục khác” và việc hướng dẫn của Nghị quyết 06/2019, thì chủ thể của tội hiếp dâm bao gồm cả nữ giới với vai trò là người thực hành.
- Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm
- Trong trường hợp nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, hành vi phạm tội của tội này là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân.
Trái với ý muốn của nạn nhân “là người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội”[13, khoản 9, Điều 3].
Các hành vi trên đây được thực hiện bằng một trong những thủ đoạn sau:
- Thủ đoạn dùng vũ lực: Đây là thủ đoạn dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại hành vi của người phạm tội như xô ngã, vật, giữ, bóp cổ nạn nhân…
- Thủ đoạn đe dọa dùng vũ lực: Đây là thủ đoạn làm ý chí của nạn nhân bị tê liệt không chống lại hành vi của người phạm tội như dọa giết, dọa gây thương tích cho nạn nhân.
18
- Thủ đoạn lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác [13, khoản
7, Điều 3].
- Người bị hại không thể chống cự được (ví dụ: Người bị hại bị tai nạn, bị ngất, bị trói, bị khuyết tật… dẫn đến không thể chống cự được);
- Người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi (ví dụ: Người bị hại bị say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, thuốc an thần, thuốc kích thích, các chất kích thích khác, bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác… dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều
khiển hành vi).
- Thủ đoạn khác bao gồm các thủ đoạn như đầu độc nạn nhân; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác; hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác [13, khoản 8, Điều 3].
Trong trường hợp nạn nhân chưa đủ 13 tuổi, hành vi phạm tội của tội này được quy định chỉ là hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác mà không đòi hỏi có đoạn phạm tội như trên.
- Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục của mình là trái ý muốn nạn nhân nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó bằng một trong những thủ đoạn nói trên.
* Định tội danh theo CTTP tăng nặng:
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng thứ nhất khi hành vi thoả mãn CTTP cơ bản và có các dấu hiệu định khung sau:
+ Có tính chất loạn luân: Là một trong các trường hợp sau đây [13, khoản 1, Điều 4]:
19
- Phạm tội đối với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha;
- Phạm tội đối với cô ruột, dì ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, cháu ruột;
- Phạm tội đối với con nuôi, bố nuôi, mẹ nuôi;
- Phạm tội đối với con riêng của vợ, con riêng của chồng, bố dượng, mẹ kế; đ) Phạm tội đối với con dâu, bố chồng, mẹ vợ, con rể.
+ Làm nạn nhân có thai: Đây là trường hợp hành vi phạm tội mà chủ thể đã
thực hiện là nguyên nhân dẫn đến việc nạn nhân mang thai.
- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành
- của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%. Hành vi phạm tội và hậu quả gây ra cho sức khỏe của nạn nhân có mối quan hệ nhân quả với nhau.
- Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh: Đây là trường hợp giữa người phạm tội và nạn nhân có quan hệ đặc biệt với nhau. Trong đó, người phạm tội là người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho nạn nhân, ví dụ như cha dượng hiếp dâm con riêng của vợ, thầy giáo hiếp dâm học sinh, bác sĩ hiếp dâm bệnh nhân… Khi xem xét tình tiết này, cần xác định rõ người phạm tội phải vì lợi dụng quan hệ chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh để hiếp dâm, nếu hành vi hiếp dâm không liên quan đến một trong các quan hệ đó thì không áp dụng tình tiết này [1, tr.82].
- Phạm tội 02 lần trở lên: Là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành
- phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Đối với 02 người trở lên.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng thứ hai khi hành vi thoả mãn CTTP cơ bản và có các dấu hiệu định khung sau:
20
- Có tổ chức: Đây là trường hợp đồng phạm hiếp dâm có sự câu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ của những người đồng phạm khi thực hiện tội phạm.
- Nhiều người hiếp một người: Là trường hợp 02 người trở lên hiếp dâm 01 người. Cũng được coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau hiếp dâm 01 người, nhưng vì lý do ngoài ý muốn mới có 01 người thực hiện được hành vi hiếp dâm.
Không coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên câu kết với nhau tổ chức, giúp sức cho 01 người hiếp dâm (trường hợp này là đồng phạm) [13, khoản 3, Điều 4].
- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. Đối với tình tiết này đòi hỏi hậu quả bắt buộc là làm cho nạn nhân bị tâm thần hoặc có biểu hiện hành
- không ổn định, diễn biến tâm lý bất thường với tỷ lệ nhất định từ 61% trở lên và việc xác định tỷ lệ % phải do cơ quan giám định pháp y kết luận.
- Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội: Người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm, tức là cố ý lây truyền HIV cho người khác bằng hành vi hiếp dâm, làm cho tính chất và mức độ của hành vi hiếp dâm nguy hiểm hơn nhiều so với trường hợp hiếp dâm bình thường[29, tr.94].
- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát: Trường hợp hiếp dâm làm nạn nhân chết là trường hợp hiếp dâm đã gây ra hậu quả nạn nhân chết và lỗi của người phạm tội đối với hậu quả này là lỗi vô ý. Nếu người phạm tội có lỗi cố ý đối với hậu quả chết người thì hành vi phạm tội của họ cấu thành tội giết người (Điều 123 BLHS) và tội hiếp dâm. Trường hợp hiếp dâm làm nạn nhân tự sát là trường hợp nạn nhân do bị hiếp dâm nên đã có hành vi tự tước đoạt tính mạng của mình. Giữa việc bị hiếp dâm và việc tự sát có mối quan hệ nhân quả với nhau [36].
1.4.2. Định tội danh tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được quy định là hành
- dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.
21
* Định tội danh theo CTTP cơ bản:
Định tội danh theo CTTP cơ bản khi hành vi thỏa mãn các dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu chủ thể của tội phạm: Tương tự như tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi,thực tiễn xét xử vẫn coi chủ thể của tội cưỡng dâm chỉ có thể là nam giới. Tuy
nhiên, với BLHS năm 2015 đã mở rộng chủ thể của tội này có thể là nữ giới (người thực hành).
- Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là hành vi “khiến” (ép buộc) và hành vi giao cấu hoặc hành vi quan tình dục khác. Trong đó, hành vi giao cấu hoặc hành vi quan tình dục khác là kết quả của hành vi “khiến” (ép buộc)[36, tr.124]. Theo đó, hành vi “khiến” (ép buộc) ở tội phạm này được hiểu là lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc hoàn cảnh quẫn bách của nạn nhân để khống chế tư tưởng, buộc họ phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác. Thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng để khống chế nạn nhân có thể là đe dọa hoặc hứa hẹn. Tuy nhiên, việc đe dọa không đến mức làm người bị đe dọa tê liệt ý chí, như ở tội hiếp dâm. Người bị đe dọa vẫn có khả năng phản kháng nhưng đã (miễn cưỡng) chịu giao cấu hoặc chịu thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác hoặc sự hứa hẹn phải có tính chất là sự khống chế tư tưởng buộc họ phải miễn cưỡng chấp nhận việc giao cấu hoặc chấp nhận thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác. Những trường hợp hứa hẹn khác không thuộc phạm vi của tội phạm này.Nạn nhân (đối tượng tác động)của hành vi khách quan là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, bị lệ thuộc hoặc là người đang ở trong tình trạng quẫn bách.
Người lệ thuộc là trường hợp người bị hại bị lệ thuộc vào người phạm tội về vật chất (ví dụ: Người bị hại được người phạm tội nuôi dưỡng, chu cấp chi phí sinh hoạt hàng ngày…) hoặc lệ thuộc về tinh thần, công việc, giáo dục, tín ngưỡng (ví dụ: Người bị hại là người lao động làm thuê cho người phạm tội; người bị hại là học sinh trong lớp do người phạm tội là giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên bộ môn…); người đang ở trong tình trạng quẫn bách là trường hợp người bị hại đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn, bức bách nhưng không tự mình khắc phục được mà
22
cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ của người khác (ví dụ: Không có tiền chữa bệnh hiểm nghèo; không có tiền để chuộc con mình đang bị bắt cóc…) [13, khoản 10, 11, Điều 3].
- Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.Người phạm tội biết nạn nhân là người lệ thuộc mình hoặc biết họ là người đang trong tình trạng quẫn bách. Người phạm tội cũng biết hành vi đe dọa hay hứa hẹn của mình là hành vi lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc là hành vi lợi dụng tình trạng quẫn bách của nạn nhân để buộc họ phải miễn cưỡng cho giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.
* Định tội danh theo CTTP tăng nặng:
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng thứ nhất khi hành vi thỏa mãn CTTP cơ bản và có các dấu hiệu định khung sau: Đây là những tình tiết tương tự như tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
+ Có tính chất loạn luân. + Làm nạn nhân có thai.
- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
- Phạm tội 02 lần trở lên: Là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành
- phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Đối với 02 người trở lên.
- Tái phạm nguy hiểm.
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng thứ hai khi hành vi thỏa mãn CTTP cơ bản và có các dấu hiệu định khung sau:
- Nhiều người cưỡng dâm một người: Là trường hợp 02 người trở lên cưỡng dâm 01 người. Cũng được coi là “nhiều người cưỡng dâm một người” nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau cưỡng dâm 01 người, nhưng vì lý do ngoài ý muốn mới có 01 người thực hiện được hành vi cưỡng dâm. Không coi là “nhiều người cưỡng dâm một người”, nếu có từ 02 người trở lên câu
23
kết với nhau tổ chức, giúp sức cho 01 người cưỡng dâm (trường hợp này là đồng phạm) [13, khoản 4, Điều 4].
- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
- Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội: Người phạm tội biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội (thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác).
- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
1.4.3. Định tội danh tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Tội phạm này được quy định là hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác của người từ đủ 18 tuổi trở lên với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.Tội phạm này được quy định nhằm bảo vệ sự phát triển bình thường về tâm sinh lí của người
- độ tuổi dưới 16 tuổi (và đã đủ 13 tuổi), ngăn chặn hành vi lợi dụng sự non nớt, nhẹ dạ để đẩy họ vào những quan hệ tình dục quá sớm, gây ảnh hưởng xấu về mọi mặt cho họ.
- Định tội danh theo CTTP cơ bản:
Định tội danh theo CTTP cơ bản khi hành vi thỏa mãn các dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội này được quy định là người từ đủ 18 tuổi trở lên (người đã thành niên).
- Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm: Điều luật chỉ quy định người phạm tội có hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với người trong độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi nhưng có sự thuận tình đối với hành vi giao cấu cũng như hành vi quan hệ tình dục khác của nạn nhân. Việc quy định độ tuổi của chủ thể và độ tuổi của nạn nhân gián tiếp thể hiện thủ đoạn lợi dụng sự non nớt, nhẹ dạ của nạn nhân để làm họ “thuận tình”. Dấu hiệu “thuận tình” là dấu hiệu để phân biệt tội phạm được quy định tại Điều 145 với các tội phạm tại Điều 142 và
144 BLHS năm 2015.
24
- Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết người mà mình giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục là người ở độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
* Định tội danh theo CTTP tăng nặng:
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng thứ nhất khi hành vi thỏa mãn CTTP cơ bản và có các dấu hiệu định khung sau: Đây là những tình tiết tương tự như tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
- Phạm tội 02 lần trở lên: Là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành
- phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
- (Phạm tội) đối với 02 người trở lên.
- Phạm tội có tính chất loạn luân.
- (Phạm tội) làm nạn nhân có thai.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
- (Phạm tội) đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng thứ hai khi hành vi thỏa mãn CTTP cơ bản và có các dấu hiệu định khung sau:
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỉ lệ tổn thương cơ thể là 61% trở lên.
- Người phạm tội biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.
1.4.4. Định tội danh tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
Tội phạm này được quy định là hành vi dâm ô của người đủ 18 tuổi trở lên đối với người dưới 16 tuổi.
* Định tội danh theo CTTP cơ bản:
Định tội danh theo CTTP cơ bản khi hành vi thỏa mãn các dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội này được quy định là người đủ 18 tuổi trở lên (người đã thành niên).
25
- Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm: Trong CTTP của tội phạm này, dấu hiệu hành vị khách quan được quy định là hành vi dâm ô, là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục, gồm một trong các hành vi sau đây: [13, khoản 3, Điều 3]
- Dùng bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm tiếp xúc (ví dụ: Đụng chạm, cọ xát, chà xát…) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi;
- Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: Tay, chân, miệng, lưỡi…) tiếp xúc
(ví dụ: Vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm…) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;
- Dùng dụng cụ tình dục tiếp xúc (ví dụ: Đụng chạm, cọ xát, chà xát…) với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của người dưới 16 tuổi;
- Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng bộ phận khác trên cơ thể của họ
tiếp xúc (ví dụ: Vuốt ve, sờ, bóp, cấu véo, hôn, liếm…) với bộ phận nhạy cảm của người phạm tội hoặc của người khác;
đ) Các hành vi khác có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục (ví dụ: Hôn vào miệng, cổ, tai, gáy… của người dưới 16 tuổi).
Đối tượng của hành vi dâm ô được quy 16 tuổi.
- Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Ngoài ra, điều luật còn xác định “…không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác..”.
* Định tội danh theo CTTP tăng nặng:
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng thứ nhất khi hành vi thỏa mãn CTTP cơ bản và có các dấu hiệu định khung sau:
- Phạm tội có tổ chức.
- Phạm tội 02 lần trở lên: Là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành
- phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
26
- (Phạm tội) đối với 02 người trở lên.
- (Phạm tội) đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi dâm ô người dưới 16 tuổi theo khoản 3 của tội này hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội dâm ô người dưới 16 tuổi.
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng thứ hai khi hành vi thỏa mãn CTTP cơ bản và có các dấu hiệu định khung sau:
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỉ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
- (Phạm tội) làm nạn nhân tự sát.
1.4.5. Định tội danh tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm
Tội phạm này được quy định là hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộcngười dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức.
* Định tội danh theo CTTP cơ bản:
Định tội danh theo CTTP cơ bản khi hành vi thỏa mãn các dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội này là người đủ 18 tuổi trở lên (người đã thành niên).
- Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm: CTTP đòi hỏi chủ thể có hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi tham gia vào hoạt động khiêu dâm bao gồm: Trình diễn khiêu dâm (tham gia chủ động và trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm (tham gia bị động). Trong đó, trình diễn khiêu dâm được hiểu là các động tác, cử chỉ lời nói hay việc làm nhằm đánh thức bản năng tình dục của người khác: [13, khoản 4, 5, 6, Điều 3].
27
Trình diễn khiêu dâm quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là hành vi dùng cử chỉ, hành động, lời nói, chữ viết, ký hiệu, hình ảnh, âm thanh nhằm kích thích tình dục người dưới 16 tuổi; phô bày bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, khỏa thân, thoát y hoặc thực hiện các động tác mô phỏng hoạt động tình dục (bao gồm giao cấu, thủ dâm và các hành vi tình dục khác) dưới mọi hình thức; trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người dưới 16 tuổi trực tiếp chứng kiến người khác trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Các hình thức biểu hiện trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Hình sự. Trong đó: Lôi kéo “là bằng mọi cách làm cho nghe theo và đứng về phía mình, đi theo mình) [47, tr. 746]. Dụ dỗ “là làm cho xiêu lòng mà nghe theo, làm theo bằng những lời hứa hẹn về quyền lợi”[47, tr. 354]. Ép buộc là “bắt buộc phải làm điều không muốn hoặc trái với ý muốn” [47, tr. 475].
Đối tượng tác động (nạn nhân) là người dưới 16 tuổi.
- Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.
Tuy nhiên: Không xử lý hình sự theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Hình sự đối với trường hợp người làm công tác giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế mô tả bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của con người vì mục đích giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế [13, khoản 2, Điều 5].
* Định tội danh theo CTTP tăng nặng:
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng thứ nhất khi hành vi thỏa mãn CTTP cơ bản và có các dấu hiệu định khung sau:
- Phạm tội có tổ chức.
- Phạm tội 02 lần trở lên: Là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành
- phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
- (Phạm tội) đối với 02 người trở lên.
28
- (Phạm tội) đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.
- (Phạm tội) với mục đích thương mại.
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân tỉ lệ tổn. thương cơ thể từ
31% đến 60%.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm
theo khoản 3 của tội này hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội dâm ô người dưới 16 tuổi.
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng thứ hai khi hành vi thỏa mãn CTTP cơ bản và có các dấu hiệu định khung sau:
- Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỉ lệ tổn thương cơ thể là 61% trở lên.
- (Phạm tội) làm nạn nhân tự sát.
29
Thông qua Chương 1 của luận văn tác giả đã phân tích một số vấn đề lý luận và pháp luật về định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em như: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em và các trường hợp định tội danh cụ thể đối với nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em như: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144), tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145), tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146) và tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147). Những phân tích tại Chương 1 của luận văn sẽ là cơ sở để tác giả phân tích thực tiễn định tội danh các tội này tại Chương 2 của luận văn thạc sĩ.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\CÁC TỘI XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI\CHUYỂN VÙNG\SÁT ĐỀ TÀI/ ĐỊNH TỘI DANH TỘI XHTDTE-BẮC NINH
Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh Định tội danh các tội xâm phạm tình dục trẻ em từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh


