Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng

Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng

Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hiện nay tại Việt Nam hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần và các tổ chức tín dụng đang ngày một phát triển mở rộng về cả quy mô số lượng và chất lượng. Các NHTM cung cấp khá nhiều dịch vụ Ngân hàng cho nền kinh tế, trong đó hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng Ngân hàng chiếm tỷ trọng đến khoảng 70-80% thu nhập của Ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, mang lại nhiều bất ổn và tác động mạnh đến hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. Khi hoạt động tín dụng xảy ra rủi ro sẽ tạo nên hiệu ứng dây chuyền dẫn đến tổn hại uy tín, vị thế của Ngân hàng, gây hậu quả lớn cho nền kinh tế ảnh hưởng đến cả hệ thống Ngân hàng. Do vậy, đánh giá và hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề mang tính chất sống còn trong hệ thống của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương (Saigonbank) nói chung và Chi nhánh NHTMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng (Saigonbank Đà Nẵng) nói riêng.

Xuất phát từ những thực trạng trên, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng” làm cơ sở nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình. Hy vọng rằng đề tài góp phần vào việc hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng thời gian đến.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

  • Góp phần hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại.
  • Dựa trên nền tảng lý luận cơ bản về Quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng để nghiên cứu, phân tích đánh giá về thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại CN Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng.
  • Trên cơ sở đó tác giải nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại CN Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu : Lý luận và thực tiễn công về tác quản trị rủi ro tín dụng tại CN Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng.
  • Phạm vi nghiên cứu : Số liệu và thực trạng trong 03 năm từ 2011 đến hết 2013 tại CN Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp sau:

  • Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, để phân tích về thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại CN Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu.
  • Và phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia.

5. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được bố cục làm 03 chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại CN Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại CN Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng
Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP Sài Gòn Công Thương Đà Nẵng

CHƯƠNG 1LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Tín dụng Ngân hàng thương mại

1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại

Ngân hàng Thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các loại hình Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các Tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận (Nguồn: Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam, khóa XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/6/2010).

Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì Ngân hàng Thương mại được phép hoạt động và thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định của Luật này và các quy định khác của Pháp luật có liên quan được Ngân hàng nhà nước cấp phép. Được kinh doanh cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:

  • Nhận tiền gửi:
  • Cấp tín dụng: cho vay, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng,…
  • Cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản: thanh toán sec, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, thẻ Ngân hàng, …

(Nguồn: Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam, khóa XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/6/2010)

Bản chất Ngân hàng Thương mại là một tổ chức kinh tế mang tính chất kinh doanh. Có thể nói Ngân hàng Thương mại là một Tổ chức kinh doanh tiền tệ và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng quan trọng nhất trong các Ngân hàng trung gian. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn Tín dụng lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.

1.1.1.2. Khái niệm tín dụng Ngân hàng thương mại.

Tín dụng Ngân hàng thương mại là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán (Nguồn: Quản trị rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng-tác giả Nguyễn Văn Tiến (1999), Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội ).

Vậy có thể nói tín dụng Ngân hàng đó là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế – tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước.

1.1.1.3. Phân loại tín dụng Ngân hàng thương mại.

Một số căn cứ cơ bản để phân loại tín dụng Ngân hàng thương mại như sau;

Căn cứ vào mục đích: Dựa vào căn cứ này cho vay được chia ra làm các loại sau:

  • Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
  • Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
  • Cho vay tiêu dùng là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền, ngày nay Ngân hàng còn thực hiện các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
  • Thuê mua và các loại khác.

Căn cứ vào thời hạn tín dụng: được chia làm ba loại.

  • Tín dụng ngắn hạn: Loại tín dụng này có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với Ngân hàng thương mại tín dụng Ngân hàng chiếm tỉ trọng cao nhất.
  • Tín dụng trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 3 năm, còn đối với các Ngân hàng thương mại trên thế giới loại tín dụng có thời hạn đến 7 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
  • Tín dụng dài hạn: Theo quy định ở Việt Nam loại tín dụng có thời hạn trên 3 năm, còn trên thế giới loại tín dụng này có thời hạn trên 7 năm. Tín dụng dài hạn là loại tín dụng cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các cơ sở hạ tầng, cơ quan, xí nghiệp mới…

Nghiệp vụ truyền thống của các Ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn, nhưng từ những năm 70 trở lại đây các Ngân hàng thương mại đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỉ trọng cho vay trung và dài .

Căn cứ vào tài sản đảm bảo: được chia làm hai loại.

  • Cho vay không bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị tài chính hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
  • Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay được Ngân hàng cung ứng phải có tài sản thế chấp hoặc cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với khách hàng không có uy tín cao với Ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để Ngân hàng có một nguồn thu thứ hai, bổ sung nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Đồng thời tài sản thế chấp này bảo đảm khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích cam kết.

Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng: được chia làm hai loại.

  • Tín dụng bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp bằng tiền. Đây là loại tín dụng chủ yếu của các Ngân hàng và việc thực hiện bằng các kỷ thuật khác nhau như: Tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp…
  • Tín dụng bằng tài sản: là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và đa dạng, riêng đối với các Ngân hàng cho vay bằng tài sản được áp dụng phổ biến đó là tài trợ thuê mua. Theo phương thức cho vay này Ngân hàng hoặc các công ty thuê mua( công ty con của Ngân hàng) cung cấp trực tiếp tài sản cho người đi vay được gọi là người đi thuê và theo định kỳ người đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc và lãi.

Ngoài ra nếu căn cứ vào xuất xứ tín dụng có: Cho vay trực tiếp, cho vay gián tiếp.

1.1.2. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng.

  • Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng, theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN, “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. (trích nguồn: Ngân hàng Nhà nước).
  • Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với NH, khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho NH, gây tổn thất cho NH.
  • Vậy rủi ro tín dụng Ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập của Ngân hàng trong quá trình hoạt động. Là những thiệt hại kinh tế mà Ngân hàng thương mại phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ lãi hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hang do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Rủi ro tín dụng gây tổn thất về tài chính cho NHTM, đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.

1.1.2.2. Đặc điểm rủi ro tín dụng.

Rủi ro tín dụng mang các đặc điểm cơ bản là: tính tất yếu, tính đa dạng phức tạp và tính gián tiếp.

  • Tính tất yếu: Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại, khi cho vay Ngân hàng phải chấp nhận tiềm ẩn rủi ro, tổn thất mang lại cho Ngân hàng.
  • Tính đa dạng và phức tạp: Trong cơ chế thị trường, sự ra đời và phát triển các loại hình Ngân hàng, các tổ chức tín dụng cùng với tính đa dạng của các hoạt động và hình thức tín dụng đã tạo nên một thị trường tín dụng sôi động. Do vậy, hoạt động tín dụng Ngân hàng hoàn toàn khác với các nghiệp vụ tài trợ và các dạng cấp vốn khác của nền kinh tế. Hoạt động tín dụng là hoạt động đa dạng, là một loại kinh doanh tiền tệ phức tạp. Tính phức tạp của nó chính là đối tượng kinh doanh, tức là tiền tệ, và ở đây tiền tệ đã bị tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng khi cho vay.
  • Tính gián tiếp: Trong qúa trình cho vay, khi nguồn vốn được giải ngân ra khỏi Ngân hàng và được luân chuyển sang khách hàng sử dụng, khi kết thúc hoạt động sử dụng vốn khách hàng hoàn trả lại Ngân hàng, nguồn vốn quay trở về Ngân hàng. Trên thực tế rủi ro chỉ xảy ra trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng, khi khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh dẫn đến nguồn vốn bị thất thoát, khi đó rủi ro của khách hàng gián tiếp ảnh hưởng đến Ngân hàng (Nguồn: Quản trị rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng-tác giả Nguyễn Văn Tiến (1999), Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội).

1.1.2.3. Phân loại rủi ro tín dụng

Có nhiều cách để phân loại rủi ro tín dụng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là các cách phân loại theo tiêu chí hình thức biểu hiện, tiêu chí nguyên nhân phát sinh rủi ro và tiêu chí phạm vi rủi ro.

    • Phân loại rủi ro tín dụng theo hình thức biểu hiện: có hai loại.
  • Rủi ro sai hẹn: là rủi ro khi người vay vốn không hoàn trả đủ gốc và lãi tiền vay đúng hẹn trong hợp đồng tín dụng.
  • Rủi ro mất vốn: là rủi ro khi người vay vốn Ngân hàng không hoàn trả gốc tiền vay một cách đầy đủ.
    • Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh rủi ro: gồm có.
  • Rủi ro giao dịch: là loại rủi ro do liên quan đến từng khoản tín dụng mỗi khi Ngân hàng ra quyết định cấp một khoản tín dụng mới cho khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm:
  • Rủi ro lựa chọn (xét duyệt): là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, đánh giá phương án vay vốn để quyết định tài trợ của Ngân hàng.
  • Rủi ro đảm bảo: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, các chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo.
  • Rủi ro kiểm soát (nghiệp vụ): là rủi ro liên quan đến hoạt động quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạn tín dụng và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
  • Rủi ro danh mục: là rủi ro có liên quan đến việc kết hợp nhiều khoản tín dụng trong danh mục tín dụng của Ngân hàng, mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong trong quản lý danh mục cho vay. Loại rủi ro này được bao gồm:
  • Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố đặc thù riêng có mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc lĩnh vực ngành kinh tế.
  • Rủi ro tập trung: là trường hợp Ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều với một khách hàng, một lĩnh vực, một ngành hoặc một khu vực địa lý …, nên khi có rủi ro xảy ra thì mức độ thiệt hại lớn vượt ngoài năng xử lý của Ngân hàng
    • Phân loại theo phạm vi: có các loại.
  • Rủi ro tín dụng do yếu tố bên ngoài: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, người vay bị chết, mất tích,… dẫn đến thất thoát vốn vay mặc dù Ngân hàng cho vay và người đi vay đã thực hiện đầy đủ các qui định về quản lý và sử dụng khoản vay.
  • Rủi ro tín dụng do các yếu tố bên trong: là rủi ro thuộc về lỗi của Ngân hàng hoặc bên đi vay vì vô tình hoặc cố ý gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay. Đối với rủi ro bên trong nếu có những biện pháp hợp lý có thể khắc phục hoặc hạn chế được loại rủi ro này.

1.1.2.4. Hậu quả rủi ro tín dụng.

Tín dụng là hoạt động chủ yếu, hoạt động quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại. Đi liền với nó là rủi ro trong hoạt động tín dụng, đây là yếu tố khách quan, là không thể tránh khỏi. Rủi ro tín dụng có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược kinh doanh. Có rất nhiều lý do khiến nhà quản trị Ngân hàng cần phải quan tâm đến vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng. Sở dĩ như vậy là do rủi ro tín dụng nếu không được dự kiến đo lường để dự phòng trước sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng và hậu quả bất lợi. Cụ thể:

    • Ảnh hưởng đối với Ngân hàng:
  • RRTD làm suy giảm uy tín của Ngân hàng: rủi ro tín dụng cao khiến cho uy tín trong nước và uy tín quốc tế của Ngân hàng bị giảm sút. Điều này cũng gây tâm lý hoang mang, dao động cho cán bộ Ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng.
  • RRTD làm cho khả năng thanh toán của Ngân hàng giảm sút: Nếu một khoản cho vay nào đó bị thất thoát, không thu hồi được thì Ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Trường hợp không đủ nguồn vốn để trả lại cho người gửi tiền, Ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản. Vì hoạt động Ngân hàng có tính xã hội hoá cao nên dù chỉ một Ngân hàng có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng không được ứng cứu kịp thời của Ngân hàng trung ương thì có thể gây ra “phản ứng dây chuyền”, đe doạ đến cả hệ thống Ngân hàng.
  • RRTD làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng: Rủi ro tín dụng tăng lên làm chi phí của Ngân hàng tăng cao ngoài dự kiến, thu nhập giảm sút. Việc tích luỹ để đầu tư hiện đại hoá công nghệ và đầu tư đào tạo lại cán bộ, nâng cao trình độ gặp nhiều khó khăn về kinh phí. Ngân hàng bị mất vốn, phải khoanh nợ, giãn nợ, thậm chí là xoá nợ; ngoài một phần ngân sách Nhà nước cấp bù thì phần chủ yếu do Ngân hàng phải trích lập phòng ngừa rủi ro nên thu nhập bị giảm.
  • RRTD làm tăng nguy cơ phá sản của Ngân hàng: Có thể nói, rủi ro tín dụng là rất nguy hiểm nếu vượt ra ngoài dự kiến. hậu quả của nó có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của Ngân hàng, dẫn đến nguy cơ phá sản Ngân hàng.
    • Ảnh hưởng đối với nền kinh tế – xã hội.
  • Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp và các cá nhân. Ngân hàng gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân bị thiếu vốn sẽ gặp khó khăn để sản xuất kinh doanh dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn. Sự khủng hoảng từ hệ thống Ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.
  • Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên tác động do khủng hoảng rủi ro tín dụng tại một nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan. Ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới, do đó hệ thống Ngân hàng của một quốc gia gặp khó khăn cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới.

1.2. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

  • Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình tiếp cận rủi ro tín dụng một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát và những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng. Quản trị rủi ro tín dụng bao gồm các bước: nhận dạng rủi ro; phân tích và đo lường rủi ro; kiểm soát và phòng ngừa rủi ro, tài trợ rủi ro. (Nguồn: Quản trị rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng-tác giả Nguyễn Văn Tiến (1999), Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội ).
  • Như vậy, quản trị rủi ro của NHTM có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của các nhà quản trị Ngân hàng lên các đổi tượng quản trị và khách thể kinh doanh nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh từ đó nâng cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong ngắn hạn và dài hạn của mỗi NHTM.

1.2.2. Nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng

Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất trong Ngân hàng thương mại, bao gồm hai mặt: Sinh lời và rủi ro. Phần lớn các thua lỗ của các Ngân hàng là từ hoạt động tín dụng. Song ở đây không có cách gì để loại trừ rủi ro tín dụng hoàn toàn mà phải quản lý để hạn chế những rủi ro đó. Vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng cần được thực hiện trên các nguyên tắc sau:

  • Thiết lập một môi trường tín dụng thích hợp:
  • Nguyên tắc 1: Phê duyệt và xem xét Chiến lược rủi ro tín dụng theo định kỳ, xem xét những vấn đề như: mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, mức độ khả năng sinh lời.
  • Nguyên tắc 2: Thực hiện Chiến lược chính sách tín dụng. Xây dựng các chính sách tín dụng. Xây dựng các quy trình thủ tục cho các khoản vay riêng lẻ và toàn bộ danh mục tín dụng nhằm xác định, đánh giá, quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng.
  • Nguyên tắc 3: Xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong tất cả các sản phẩm và các hoạt động. Đảm bảo rằng các sản phẩm và hoạt động mới đều trải qua đầy đủ các thủ tục, các quy trình kiểm soát thích hợp và được phê duyệt đầy đủ.
  • Hoạt động theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý:
  • Nguyên tắc 4: Tiêu chuẩn cấp tín dụng đầy đủ gồm có: Những hiểu biết về người vay, mục tiêu và cơ cấu tín dụng, nguồn thanh toán.
  • Nguyên tắc 5: Thiết lập hạn mức tín dụng tổng quát cho: từng khách hàng riêng lẻ, nhóm những khách hàng vay có liên quan tới nhau, trong và ngoài bảng cân đối kế toán.
  • Nguyên tắc 6: Có các quy trình rõ ràng được thiết lập cho việc phê duyệt các khoản tín dụng mới, gia hạn các khoản tín dụng hiện có.
  • Nguyên tắc 7: Việc cấp tín dụng cần phải dựa trên cơ sở giao dịch thương mại thông thường, quản lý chặt chẽ các khoản vay đối với các doanh nghiệp và cá nhân có liên quan, làm giảm bớt rủi ro cho vay đối với các bên có liên quan.
  • Duy trì một quy trình quản lý, đánh giá và kiểm soát tín dụng có hiệu quả:
  • Nguyên tắc 8: Áp dụng quy trình quản lý tín dụng có hiệu quả và đầy đủ đối với các danh mục tín dụng.
  • Nguyên tắc 9: Có hệ thống kiểm soát đối với các điều kiện liên quan đến từng khoản tín dụng riêng lẻ, đánh giá tính đầy đủ của các khoản dự phòng rủi ro tín dụng.
  • Nguyên tắc 10: Xây dựng và sử dụng hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ. Hệ thống đánh giá cần phải nhất quán với các hoạt động của Ngân hàng.
  • Nguyên tắc 11: Hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích: giúp Ban quản lý đánh giá rủi ro tín dụng cho các hoạt động trong và ngoài bảng cân đối kế toán, cung cấp thông tin về cơ cấu và thành phần danh mục tín dụng, bao gồm cả việc phát hiện các tập trung rủi ro.
  • Nguyên tắc 12: Có hệ thống nhằm kiểm soát đối với cơ cấu tổng thể của danh mục tín dụng, chất lượng danh mục tín dụng.
  • Nguyên tắc 13: Xem xét ảnh hưởng của những thay đổi về điều kiện kinh tế có thể xảy ra trong tương lai trong những tình trạng khó khăn khi đánh giá danh mục tín dụng.
  • Đảm bảo quy trình kiểm soát đầy đủ đối với rủi ro tín dụng:
  • Nguyên tắc 14: Thiết lập hệ thống xem xét tín dụng độc lập và liên tục, và cần thông báo kết quả đánh giá cho Hội đồng quản trị và ban quản lý cấp cao.
  • Nguyên tắc 15: Quy trình cấp tín dụng cần phải được theo dõi đầy đủ, việc cấp tín dụng phải tuân thủ với các tiêu chuẩn thận trọng, thiết lập và áp dụng kiểm soát nội bộ, những vi phạm về các chính sách, thủ tục và hạn mức tín dụng cần được báo cáo kịp thời.
  • Nguyên tắc 16: Có hệ thống quản lý đối với các khoản tín dụng có vấn đề.

1.2.3. Các công cụ quản trị rủi ro tín dụng

Để quản trị rủi ro tín dụng, mỗi Ngân hàng phải nghiên cứu và đưa ra những công cụ quản lý phù hợp với quy mô và tính chất hoạt động của Ngân hàng đó. Các công cụ chính để quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng của một NHTM chủ yếu gồm quy trình tín dụng và chính sách tín dụng.

  • Quy trình tín dụng: Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với khách hàng, các Ngân hàng thường đặt ra quy trình tín dụng. Đó chính là các bước (hoặc nội dung công việc) mà các bộ tín dụng, các phòng, ban liên quan trong Ngân hàng phải thực hiện khi tiến hành tài trợ cho khách hàng. Về cơ bản, một quy trình tín dụng được chia làm ba giai đoạn: trước, trong và sau khi cho vay.
  • Giai đoạn trước khi cho vay: Trong giai đoạn này, sau khi tiếp nhận hồ sơ xin vay cũng như tiến hành điều tra, thu thập, tổng hợp các thông tin về khách hàng và phương án vay vốn, cán bộ tín dụng sẽ tiến hành phân tích thẩm định khách hàng và phương án xin vay. Nội dung phân tích bao gồm: năng lực pháp lý của khách hàng, tình hình tài chính của khách hàng, phương án sử dụng vốn vay và phương án trả nợ, khả năng đảm bảo tiền vay và các biện pháp quản lý, kiểm soát của Ngân hàng.
  • Giai đoạn trong khi cho vay: Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết và vốn vay được giải ngân, Ngân hàng sẽ tiến hành kiểm soát khách hàng theo các nội dung chính như: khách hàng sử dụng tiền vay có đúng mục đích, tiến độ hay không, quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì, có dấu hiệu lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ hay không…. Công việc này cho phép Ngân hàng thu thập thêm các thông tin về khách hàng. Nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt, điều đó cho thấy chất lượng tín dụng đang được bảo đảm.
  • Giai đoạn sau khi cho vay: Quan hệ tín dụng sẽ kết thúc khi Ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi của khoản vay. Các khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn. Trong một số trường hợp, người vay không hoàn trả nợ hoặc hoàn trả không đầy đủ và đúng hạn. Điều đó có nghĩa là rủi ro tín dụng đã xảy ra. Lúc này cán bộ tín dụng cần xem xét, tìm ra nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng không thanh toán nợ cho Ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.

Như vậy, để đảm bảo hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, các Ngân hàng phải xây dựng một quy trình tín dụng cụ thể và thống nhất. Quy trình này phải được ban lãnh đạo của Ngân hàng thông qua và phổ biến rộng rãi đến các phòng, ban có liên quan cũng như toàn bộ cán bộ tín dụng trong Ngân hàng.

  • Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng bao gồm các quy định về cho vay của Ngân hàng. Chính sách này được xây dựng nhằm thực hiện mục tiêu, chiến lược kinh doanh của Ngân hàng, đồng thời hình thành cơ chế để đảm bảo nâng cao lợi nhuận và hạn chế rủi ro. Chính sách tín dụng bao gồm các nội dung chính sau:
  • Chính sách khách hàng.
  • Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng.
  • Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ.
  • Chính sách bảo đảm tiền vay.
  • Điều kiện giải ngân và điều kiện thanh toán.
  • Chính sách đối với các khoản nợ xấu.
  • Chính sách bảo hiểm tín dụng.

1.2.4. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng

* Nhận dạng rủi ro tín dụng

Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục, có hệ thống nhằm theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng RRTD, xác định nguyên nhân gây ra rủi ro trong từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra RRTD.

Để nhận dạng rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện bằng các phương pháp: lập bảng câu hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng, đặc biệt quan tâm điều tra các hồ sơ đã có vấn đề, phương pháp nhận biết các dấu hiệu cảnh báo khoản cấp tín dụng có vấn đề.

Có thể sắp xếp các dấu hiệu của rủi ro tín dụng theo các nhóm sau:

  • Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với Ngân hàng:
  • Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài khoản của khách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho Ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng gồm: Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối; khó khăn trong thanh toán lương; sự dao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi…
  • Các hoạt động vay: Mức độ vay thường xuyên gia tăng; thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi; thường xuyên yêu cầu Ngân hàng cho đáo hạn; yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến.
  • Phương thức tài chính: Sử dụng nhiều các khoản tài trợ thương mại cho các hoạt động phát triển dài hạn; chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, ví dụ: thường xuyên sử dụng nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải trả (factoring); giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu; các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu; có biểu hiện giảm vốn điều lệ.
  • Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng:
  • Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành.
  • Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản trị, điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán.
  • Cách thức hoạch định của khách hàng có biểu hiện: Được hoạch định bởi HĐQT hoặc Giám đốc điều hành ít hay không có kinh nghiệm; HĐQT hoặc Giám đốc điều hành các doanh nghiệp lớn tham gia quá sâu vào vấn đề thường nhật; thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ; thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên; lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, xuất hiện các hành động nhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi.
  • Quản lý có tính gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những người quản lý không thuộc gia đình; cho thành viên của gia đình chưa được đào tạo, huấn luyện đầy đủ đảm đương cương vị then chốt.
  • Có tranh chấp trong quá trình quản lý.
  • Có các chi phí quản lý bất hợp lý: Tập trung quá nhiều chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng quá hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền, Ban Giám đốc có cuộc sống xa hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân.
  • Nhóm các dấu hiệu liên quan tới các ưu tiên trong kinh doanh:
  • Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: Doanh nghiệp bị ám ảnh bởi một khách hàng có tên tuổi mà sau này có thể trở nên lệ thuộc; Ban Giám đốc cắt giảm lợi nhuận nhằm có được những hợp đồng lớn.
  • Dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: Bị ám ảnh bởi một sản phẩm mà không chú ý đến các yếu tố khác.
  • Sự cấp bách không thích hợp như: Do áp lực nội bộ dẫn tới việc tung ra sản phẩm dịch vụ quá sớm, các hạn mức thời gian kinh doanh đưa ra không thực tế, tạo mong đợi trên thị trường không đúng lúc…
  • Nhóm các dấu hiệu thuộc vấn đề kỹ thuật thương mại:
  • Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất; thay đổi thị hiếu; cập nhật kỹ thuật mới; mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn; thêm đối thủ cạnh tranh.
  • Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao.
  • Có biểu hiện cắt giảm các chi phí sửa chữa, thay thế.
  • Nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính, kế toán:
  • Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp các báo cáo tài chính.
  • Những kết luận về phân tích tài chính cho thấy: Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên, khả năng tiền mặt giảm, tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có, số khách hàng nợ tăng nhanh và thời hạn thanh toán của các con nợ được kéo dài, hoạt động lỗ…

Những dấu hiệu phi tài chính khác: Những vấn đề về đạo đức, dáng vẻ của nhà kinh doanh, sự xuống cấp trông thấy của nơi kinh doanh, kho lưu trữ hàng hoá quá nhiều, hư hỏng và lạc hậu.

* Đo lường rủi ro tín dụng

Đo lường rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro của khách hàng, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro.

Phương pháp đo lường rủi ro tín dụng: Để xác định chính xác mức độ rủi ro của mỗi khoản vay, các Ngân hàng thường áp dụng một số mô hình cụ thể để đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng. Các mô hình này rất đa dạng, bao gồm cả mô hình phản ánh về mặt định tính và mô hình phản ánh về mặt định lượng. Đặc điểm của các mô hình này là không loại trừ lẫn nhau nên một Ngân hàng có thể sử dụng cùng một lúc nhiều mô hình khác nhau để hỗ trợ, bổ sung trong việc phân tích và đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay.

  • Mô hình định tính: Hệ thống tiêu chuẩn thường được các Ngân hàng sử dụng trong mô hình định tính là : Tiêu chuẩn 5C
  • Character (Tư cách của người vay): Tiêu chuẩn này thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích rõ ràng và thiện chí trả nợ của người vay. Khi quyết định cho vay, cán bộ tín dụng phải chắc chắn tin rằng người xin vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn.
  • Capacity (Năng lực của người vay): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng. Tương tự, cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty ký kết hợp đồng tín dụng phải là người được uỷ quyền hợp pháp của công ty. Một hợp đồng tín dụng được ký kết bởi người không được uỷ quyền có thể sẽ không thu hồi được nợ, tiềm ẩn rủi ro cho Ngân hàng.
  • Cash (Thu nhập của người vay): Tiêu chuẩn thu nhập của người vay tập trung vào câu hỏi: Người vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ hay không? Nhìn chung, người vay có ba khả năng để tạo ra tiền, đó là: dòng tiền ròng từ doanh thu bán hàng, dòng tiền từ phát hành chứng khoán và dòng tiền từ bán thanh lý tài sản. Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng trên đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho Ngân hàng.
  • Collateral (Tài sản đảm bảo): Một khoản tín dụng nếu được đảm bảo bằng tài sản cầm cố hay tài sản thế chấp sẽ gắn chặt hơn trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của người vay. Nếu xảy ra những rủi ro khách quan, người đi vay không trả được nợ thì tài sản cầm cố, thế chấp sẽ trở thành nguồn thu nợ thứ hai của Ngân hàng. Tất nhiên tài sản cầm cố thế chấp cũng phải đáp ứng những yêu cầu và điều kiện nhất định theo quy định của Ngân hàng.
  • Conditions (Các điều kiện): Để đánh giá xu hướng ngành và điều kiện kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, cán bộ tín dụng cần phải biết được thực trạng về ngành nghề và công việc kinh doanh của khách hàng, cũng như khi các điều kiện kinh tế thay đổi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của người vay.
  • Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model):

Đây là mô hình do E.I.Altman xây dựng dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn. Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay và phụ thuộc vào trị số của các chỉ số tài chính của người vay. Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ. Từ đó Altman đã xây dựng mô hình tính điểm như sau:

Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5

Trong đó:

  • X1 = Hệ số vốn lưu động/tổng tài sản.
  • X2 = Hệ số lãi chưa phân phối/tổng tài sản.
  • X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản.
  • X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu/giá trị hạch toán của tổng nợ.
  • X5 = Hệ số doanh thu/tổng tài sản.

Trị số Z càng cao, người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Vậy khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao. Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao.

  • Mô hình điểm số theo chỉ tiêu:
  • Mô hình này bao gồm một hệ thống các chỉ tiêu liên quan đến từng đối tượng khách hàng (doanh nghiệp hay cá nhân), mỗi chỉ tiêu có điểm số khác nhau phụ thuộc vào tính chất và tầm quan trọng của chúng. Căn cứ vào tình trạng của khách hàng và thang điểm của Ngân hàng, cán bộ tín dụng sẽ quyết định số điểm tương ứng cho từng chỉ tiêu, sau đó cộng tổng số điểm. Khi có tổng số điểm, căn cứ vào bảng chuẩn, cán bộ tín dụng có thể đệ trình quyết định cho vay hoặc từ chối yêu cầu xin vay. Với tổng số điểm cao hơn mức điểm chuẩn thì khách hàng đó được vay và thấp hơn mức điểm chuẩn thì Ngân hàng từ chối.

Như vậy, các công cụ tín dụng có thể nói là rất quan trọng trong hoạt động tín dụng của NHTM. Mục tiêu cuối cùng của các công cụ này là phục vụ khách hàng trên cơ sở an toàn, giảm thiểu rủi ro tín dụng và nâng cao khả năng sinh lời của NHTM

* Kiểm soát rủi ro tín dụng

Kiểm soát rủi ro tín dụng là sử dụng các biện pháp, các kỹ thuật, các công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra đối với Ngân hàng. Các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng:

  • Né tránh rủi ro: Từ chối đối với các khoản vay, khách hàng vay có vấn đề về tài chính, có vấn đề về mục đích sử dụng vốn vay, tài sản đảm bảo có tính thanh khoản kém ….
  • Phân tán rủi ro: Thực hiện đa dạng hóa phân tán hoạt động cho vay để giảm thiểu rủi ro tổn thất, tránh tập trung vào một số khách hàng lớn, các nghiệp vụ truyền thống …
  • Ngăn ngừa, giảm thiểu tổn thất: Xây dựng hệ thống quy trình cho vay, quy trình đánh giá xếp hạn tín dụng nội bộ, tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ để ngăn ngừa gỉam thiểu tổn thất rủi ro tín dụng.
  • Chuyển giao rủi ro: Sử dụng nghiệp vụ bán nợ, mua bảo hiểm để chuyển giao rủi ro tổn thất. Thực hiện hợp đồng hoán đổi tín dụng, hợp đồng quyền chọn tín dụng, hợp đồng quyền chọn trái phiếu.

* Tài trợ rủi ro tín dụng

Tài trợ rủi ro là những kỹ thuật, công cụ được sử dụng để tài trợ cho chi phí của rủi ro và tổn thất từ hoạt động tín dụng. Tài trợ rủi ro tín dụng là để bù đắp những khoản rủi ro tín dụng xảy ra, làm lành mạnh hóa tài chính Ngân hàng, chứ không phải là xóa hoàn toàn nợ vay cho khách hàng.

  • Tài trợ từ nguồn bên trong:

Phương pháp tài trợ mà các NHTM phải thường xuyên sử dụng là dự trữ các nguồn quỹ dự phòng cần thiết, sẵn sàng bù đắp được mọi tổn thất có thể xảy ra để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh. Tùy theo tính chất của từng loại tổn thất, Ngân hàng được sử dụng những nguồn vốn thích hợp để bù đắp.

  • Đối với các tổn thất đã được lường trước, Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn từ quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã được xếp loại theo tiêu chuẩn để bù đắp.
  • Đối với các tổn thất không lường trước được rủi ro, Ngân hàng phải dùng vốn tự có làm nguồn dự phòng để bù đắp.
  • Tài trợ từ nguồn bên ngoài
  • Mua bảo hiểm tiền vay: Phân tán chia sẽ rủi ro bằng biện pháp mua bảo hiểm các khoản cho vay để giảm thiểu rủi ro tín dụng.
  • Chứng khoán hóa các khoản nợ hoặc bán nợ: Bằng các biện pháp bán nợ cho VAMC để nhận trái phiếu đặc biệt, hoán đổi các khoản nợ thành cổ phiếu, cổ phần góp vốn…

Ngoài ra, cũng cần áp dụng các biện pháp khác để tài trợ rủi ro, gồm: xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

1.2.5. Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng

Chất lượng tín dụng là tiêu chí cơ bản để đánh giá kết quả công tác quản trị rủi ro tín dụng của một Ngân hàng. Một khoản vay tốt là khoản vay mà Ngân hàng có thể thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi. Một số tiêu chí thường được sử dụng để đánh giá kết quả công tác quản trị RRTD của một Ngân hàng gồm:

    • Tiêu chí về cơ cấu dư nợ theo mức độ rủi ro tín dụng

Hiện tại việc xác định cơ cấu dư nợ theo mức độ rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng tại Việt Nam được thực hiện theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định số 18/2007QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước và được phân loại nợ dựa trên quy định sau:

  • Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; các khoản nợ được trả đầy đủ gốc và lãi theo kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng một năm đối với các khoản nợ trung dài hạn và ba tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng trả đầy đủ gốc và lãi đúng hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại.
  • Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại; các khoản nợ khác theo quy định: do khách hàng có một trong nhiều khoản nợ với TCTD bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn nên các khoản nợ khác cũng phải chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng; các khoản nợ mà TCTD có đủ khả cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm và chủ động phân loại thành các nhóm nợ rủi ro cao hơn.
  • Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; các khoản nợ khác theo quy định.
  • Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; các khoản nợ khác theo quy định.
  • Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại; các khoản nợ khác theo quy định
    • Tiêu chí về chuyển dịch cơ cấu nhóm nợ

Các biện pháp kiểm sóat quản trị RRTD tốt sẽ làm cho dư nợ có xu hướng dịch chuyển từ nhóm có nguy cơ rủi ro cao sang nhóm có nguy cơ rủi ro thấp, chỉ tiêu này được đánh giá thông qua tỷ trọng cơ cấu từng nhóm nợ trên tổng dư nợ.

    • Tiêu chí về mức giảm tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

Trong đó:

Dư nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu = x 100%
Tổng dư nợ cho vay

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng xảy ra rủi ro tín dụng của Ngân hàng dựa trên tỷ lệ dư nợ xấu (từ nhóm 3-5) trên tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng. Nếu tỷ lệ này càng cao thì khả năng xảy ra rủi ro tổn thất của Ngân hàng lớn và ngược lại. Tỷ lệ nợ xấu của một Ngân hàng ở mức <3% được xem là nằm trong giới hạn cho phép, nếu vượt trên 3% thì cần phải xem xét rà soát lại các danh mục cho vay của Ngân hàng, cần kiểm soát chặt chẽ và thận trọng hơn để tránh tổn thất, rủi ro xẩy ra cho Ngân hàng.

    • Tiêu chí về mức giảm tỷ lệ trích lập DPRR TD trên tổng dư nợ

DP RRTD đã trích

Tỷ lệ TL DP RRTD đã trích = x 100%
Tổng dư nợ

Chỉ tiêu này phản ánh số DPRR đã trích trên tổng dư nợ của Ngân hàng, tỷ lệ trích càng cao thì càng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, và thể hiện chất lượng tín dụng thấp, khả năng xảy ra rủi ro tổn thất của Ngân hàng càng cao và ngược lại. Hiện nay, việc trích lập DPRR của các Ngân hàng được thực hiện theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 24/4/2005 của NHNN.

    • Tiêu chí về mức giảm tỷ lệ xóa nợ ròng trên tổng dư nợ

Nợ xóa ròng

Tỷ lệ nợ xóa ròng = x 100%
Tổng dư nợ

Trong đó: Nợ xóa ròng = Số dư nợ xóa trong kỳ – Số tiền đã thu hồi.

Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi các khoản nợ đã chuyển sang ngoại bảng và được Ngân hàng chuyển sang theo dõi, sử dụng các biện pháp mạnh để xử lý thu hồi nợ. Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện Ngân hàng đang gặp vấn đề khó khăn trong thu hồi nợ, RRTD càng cao do Ngân hàng có quá nhiều khoản nợ quá hạn ngoại bảng mà không thể thu hồi được và ngược lại,

    • Tiêu chí về mức giảm tỷ lệ lãi treo trên tổng dư nợ

Lãi treo là số tiền lãi khách hàng đến hạn phải thanh toán mà không thanh toán được. Lãi treo là một dấu hiệu quan trọng để nhận biết rủi ro tín dụng, vì việc thanh toán lãi của khách hàng không đúng với nội dung hợp đồng đã cam kết, mà nó là một phần trách nhiệm phải thực hiện của khách hàng. Điều này chứng tỏ khách hàng đang gặp khó khăn về tài chính và dẫn đến nguy cơ RRTD cho Ngân hàng là khá cao.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông\THAM KHẢO

Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP  Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP  Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP  Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHTMCP

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *