Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
Hoạt động của ngân hàng có quan hệ mật thiết, hữu cơ với khách hàng và nền kinh tế thông qua quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, các hoạt động dịch vụ ngân hàng như huy động vốn, cho vay vốn, thanh toán và các hoạt động dịch vụ khác. Chính vì vậy, rủi ro đối với hoạt động ngân hàng rất đa dạng. Chúng tiềm ẩn và xuất hiện gắn liền với mỗi hoạt động dịch vụ và gây tác động với những mức độ khác nhau. Nếu rủi ro xảy ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng, xa hơn nó ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng bởi những đặc thù trong hoạt động tín dụng, hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Quản trị rủi ro trong cho vay mà đặc biệt là cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ là vấn đề khó khăn nhưng rất bức thiết đối với ngân hàng thương mại Việt Nam, thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm từ 60-80% thu nhập của ngân hàng. Với bối cảnh như thế, rủi ro trong cho vay luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng đồng thời quản trị rủi ro tín dụng giữ vị trí trung tâm trong hoạt động quản trị rủi ro của ngân hàng. Xuất phát từ những thực tiễn đó, tôi chọn đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.
Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhận dạng, đo lường, phân tích các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng và đề ra các giải pháp nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín trong thời gian từ 2011 đến 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
– Phương pháp thống kê
– Phương pháp so sánh
– Phương pháp phân tích
– Phương pháp tổng hợp
– Phương pháp chuyên gia
5. Kết cấu luận văn
Tên đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín ”.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng và công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng nói chung là quan hệ vay mượn tài sản (tiền hoặc hàng hóa) dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức khi đến hạn thanh toán do hai bên thỏa thuận. [5]
Trong các hình thức tín dụng hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường như tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng thì tín dụng ngân hàng có thể xem là hình thức quan trọng nhất, là quan hệ tín dụng chủ yếu, đáp ứng phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, thể nhân khác trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp của nền kinh tế, trong đó, ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian, vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng đôi bên cùng có lợi.

1.1.2. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
– Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
– Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.
– Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn.
– Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.
– Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.
– Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không tăng và ngược lại.
1.1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau:
– Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành 3 loại sau:
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân.
+ Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
+ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất.
– Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại:
+ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh.
+ Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình… Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên.
– Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau:
+ Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh.
+ Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ…
Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết. Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.
– Căn cứ vào đối tượng vay vốn có thể phân thành hai nhóm:
+ Khách hàng cá nhân
+ Khách hàng doanh nghiệp: Trong nhóm khách hàng doanh nghiệp, có thể phân thành những nhóm nhỏ hơn; theo quy mô có thể phân thành doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp lớn hoặc có thể phân loại doanh nghiệp theo thành phần kinh tế, lĩnh vực hoạt động v.v..
– Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng, có các loại tín dụng sau: Cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính.
+ Cho vay: Là nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng thương mại, theo đó, ngân hàng sẽ cho khách hàng vay một số tiền nhất định với lãi suất và thời gian hoàn trả được thỏa thuận cụ thể.
+ Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá (trái phiếu, kỳ phiếu): Chiết khấu là một hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng nhận các chứng từ có giá và trao cho khách hàng một số tiền bằng mệnh giá của chứng từ nhận chiết khấu trừ đi phần lợi nhuận và chi phí mà ngân hàng được hưởng.
+ Bảo lãnh ngân hàng: Bảo lãnh Ngân hàng là sự cam kết của Ngân hàng với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay. Một số loại bảo lãnh ngân hàng phổ biến gồm: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hoàn thanh toán.
+ Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác.
Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của Bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản thuê trong suốt quá trình thuê.
Bên thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được hủy bỏ hợp đồng thuê trước thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, Bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận
Bảo đảm tín dụng là việc thiết lập các cơ sở kinh tế và pháp lý tạo điều kiện cho ngân hàng thõa mãn nhu cầu thu hồi tín dụng đã cấp trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận. Bảo đảm tín dụng giúp ngân hàng giảm thiểu được rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng. Những hình thức bảo đảm tín dụng bao gồm:
Thế chấp tài sản: Thế chấp tài sản là hình thức đảm bảo tín dụng mà tài sản thế chấp là bất động sản, do người vay vốn hoặc người thứ ba trực tiếp nắm giữ, còn ngân hàng chỉ giữ giấy tờ sở hữu và văn thư thế chấp tài sản. Với hình thức này, ngân hàng không trực tiếp nắm giữ tài sản của người vay vốn mà chỉ phong tỏa quyền định đoạt tài sản của người vay vốn. Đối tượng của thế chấp tài sản là bất động sản: nhà cửa, đất đai, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các loại tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng trên đất…
Cầm cố tài sản: Cầm cố tài sản vay vốn ngân hàng là hành vi giao nộp tài sản là bất động sản hoặc các chứng từ chứng nhận quyền sở hữu tài sản của người vay cho ngân hàng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ ( bao gồm nợ gốc, lãi và tiền phạt). Tài sản cầm cố là động sản bao gồm: Tài sản thực như xe cộ, máy móc, hàng hóa, vàng tàu biển, máy bay, các loại khác; Tiền gồm tiền mặt, tiền trên tài khoản…; giấy tờ có giá (giấy tờ trị giá được bằng tiền) như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu…; quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác; lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố.
Bảo lãnh: Bảo lãnh là việc bên thứ ba (thường là các đối tượng như: chính phủ, ngân hàng khác, công ty bảo hiểm, tổ chức tài chính, các công ty có uy tín…) cam kết với bên cho vay (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay( người được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Để đứng ra bảo lãnh các khoản vay ngân hàng, bên bảo lãnh ít nhất phải hội đủ một số điều kiện: có uy tín trong lĩnh vực bảo lãnh, có truyền thống năng lực tài chính lành mạnh, có năng lực pháp lý theo quy định của pháp luật.
1.2. RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Theo từ điển tiếng Việt đã định nghĩa thì rủi ro là “những điều không lành, không tốt bất ngờ xảy ra”. Nhà kinh tế học H.King (Mỹ) đã định nghĩa rằng : “ rủi ro là kết quả bất lợi có thể đo lường được”. Vậy ta có thể khái quát rằng rủi ro là những biến cố không có lợi xảy ra gây thiệt hại cho một công việc cụ thể nào đó và có thể đo lường được những thiệt hại của nó. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:
Trong tài liệu “ Công nghệ ngân hàng dành cho các nước đang phát triển” rủi ro tín dụng được định nghĩa là thiệt hại kinh tế của ngân hàng do một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng.
Trong tài liệu “Financial institutions management – A modern per pestive”, A Saunders và H. Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn.
Cũng có định nghĩa khác cho rằng rủi ro tín dụng xảy ra khi xuất hiện các biến cố không thể lường trước khiến cho khách hàng không thực hiện được các cam kết đã thỏa thuận đối với ngân hàng.
Từ các định nghĩa trên có thể tóm lược định nghĩa về rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính ( trực tiếp hoặc gián tiếp ) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc cũng như lãi như cam kết có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí là không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị tổn thương trong hoạt động của ngân hàng.
1.2.2. Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định, đo lường, quản lý và kiểm soát nó. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm sau:
– Rủi ro tín dụng mang tính chất gián tiếp: Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng. Do đó, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên RRTD cho ngân hàng.
– Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức và hậu quả của RRTD. Đây là đặc điểm tất yếu của rủi ro tín dụng do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ.Do đó, khi phòng ngừa và xử lý RRTD phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do RRTD đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
– RRTD có tính tất yếu luôn tồn tại gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM: thông tin không cân xứng là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế cũng như các nhà quản lý ngân hàng cho rằng kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng. Do không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng nguồn vốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng đi vay, bất cứ một khoản vay nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đối với NHTM ( không thu hồi vốn, thu hồi không đúng hạn, không đầy đủ…..). Với đặc điểm này, trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng cần chủ động có các biện pháp thích hợp xử lý vấn đề thông tin không cân xứng để đối phó với rủi ro, đo lường rủi ro cũng như để xác định giá khoản vay cho phù hợp.
1.2.3. Phân loại rủi ro tín dụng
Tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà có cách phân loại RRTD phù hợp:
- Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì RRTD được phân thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan.
– Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc các chế độ, chính sách.
– Rủi ro chủ quan do nguyên nhân chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.
- Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì RRTD được phân thành các loại sau:
Rủi ro tín dụng
Rủi danh mục
(rủi ro liên quan đến danh mục các khoản vay)
Rủi ro giao dịch
(rủi ro liên quan
đến một khoản vay)
Rủi ro
Tập trung
Rủi ro
Nội tại
Rủi ro
Nghiệp vụ
Rủi ro
Đảm bảo
Rủi ro
Lựa chọn
Hình 1.1. Phân loại rủi ro tín dụng NH
- Rủi ro giao dịch (Transaction risk): Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ:
– Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
– Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
– Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục (Porfolio risk): Là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
– Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay.
– Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số KH, cho vay quá nhiều KH hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, …
Ngoài ra, còn có nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, theo nguồn gốc hình thành, đối tượng sử dụng vốn vay.
1.2.4. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Các nguyên nhân của rủi ro tín dụng có thể phân thành ba nhóm cơ bản là: nguyên nhân từ phía ngân hàng, nguyên nhân từ phía khách hàng và nguyên nhân khách quan khác.
a. Nguyên nhân từ phía ngân hàng
– Do cán bộ ngân hàng chưa chấp hành đúng quy trình cho vay như: không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn. Đồng thời cán bộ ngân hàng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng.
– Do trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn yếu nên việc đánh giá các dự án, hồ sơ xin vay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng không định giá khoản vay theo đúng mức độ rủi ro của khách hàng, dự án thiếu tính khả thi mà vẫn cho vay.
– Cán bộ ngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp như: cố ý bỏ qua hoặc cố ý đánh giá thấp mức độ rủi ro của khách hàng. thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, xâm tiêu khi giải ngân hay thu nợ, đôi khi còn nể nang trong quan hệ khách hàng.
– Công tác giám sát của các cấp quản lý trước khi xét duyệt tín dụng hoặc/và sau khi giải ngân chưa sâu sát.
– Ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng không phù hợp với nền kinh tế và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, còn sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của ngân hàng.
– Do áp lực cạnh tranh với các ngân hàng khác hoặc do quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợi nhuân cao hơn những khoản vay lành mạnh.
– Công tác quản trị rủi ro tín dụng chưa phát huy hiệu quả, nhận thức về tầm quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng còn thấp, việc áp dụng quy trình, biện pháp quản trị rủi ro tín dụng còn mang nặng tính hình thức.
– Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ ngân hàng.
– Tác động của các loại rủi ro khác (ví dụ như rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tập trung…) lên rủi ro tín dụng.
b. Nguyên nhân từ phía khách hàng
– Người vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích, sử dụng vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho ngân hàng.
– Do trình độ kinh doanh yếu kém, khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo còn hạn chế dẫn đến thua lỗ, không có khả năng trả nợ đúng hạn, thậm chí không có khả năng trả nợ (toàn bộ hoặc một phần).
– Doanh nghiệp vừa và nhỏ vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản lưu động và cố định.
– Doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, không cải tiến quy trình công nghệ, không trang bị máy móc hiện đại, không thay đổi mẫu mã hoặc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm…dẫn tới sản phẩm sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trường khiến cho doanh nghiệp vừa và nhỏ không có khả năng thu hồi vốn trả nợ cho ngân hàng.
– Do bản thân doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ ý lừa gạt, chiếm dụng vốn của ngân hàng, lập hồ sơ giả để vay vốn, dùng một loại tài sản thế chấp đi vay nhiều nơi, không đủ năng lực pháp nhân.
c. Nguyên nhân khách quan khác
– Sự thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô (chính sách đầu tư, thuế, tỷ giá v..) thường xuyên hoặc theo hướng bất lợi so với ban đầu sẽ có tác động tiêu cực đến doanh nghiệp, làm xuất hiện hoặc tăng rủi ro tín dụng.
– Do sự biến động về chính trị – xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ dẫn tới rủi ro cho Ngân hàng.
– Tình hình kinh tế diễn biến không thuận lợi như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng tác động đến khách hàng và ngân hàng, dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
– Những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, địch họa, sự lạc hậu quá nhanh của công nghệ v.v..khiến cả ngân hàng và khách hàng không ứng phó kịp cũng là nguyên nhân đáng kể của rủi ro tín dụng.
– Sự bất bình đẳng trong đối xử của Nhà nước, Ngân hàng nhà nước dành cho các ngân hàng thương mại khác nhau.
– Sự thay đổi trong môi trường pháp lý gây bất lợi cho ngân hàng và khách hàng vay vốn, do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng.
1.2.5. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
a. Ảnh hưởng đối với ngân hàng
– Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: Những khoản cho vay gặp rủi ro gây cho ngân hàng những thiệt hại về mặt tài sản khi không thu được vốn và lãi trực tiếp làm giảm doanh thu của ngân hàng. Còn trong trường hợp ngân hàng thu được lãi treo hay nợ quá hạn thì cũng ảnh hưởng tới tính thanh toán và rủi ro thanh khoản của ngân hàng do đó ảnh hưởng tới doanh thu của ngân hàng.
– Rủi ro tín dụng ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thanh toán của ngân hàng: Rủi ro cho vay làm cho việc hoàn trả tiền gửi của ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Các khoản đầu tư, cho vay thu hồi chậm hoặc không thu hồi được trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả vốn huy động một cách đều đặn cả vốn, lãi đúng kỳ hạn. Chính vì thế nó đã làm hạn chế khả năng thanh toán của ngân hàng.
– Rủi ro tín dụng làm suy giảm uy tín của ngân hàng: Ngân hàng nào gặp nhiều rủi ro là ngân hàng hoạt động kém hiệu quả. Điều này tác động mạnh tới uy tín của ngân hàng làm cho lòng tin của khách hàng vào ngân hàng bị giảm. Nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lượng khách hàng tới ngân hàng để gửi tiền cũng như sử dụng các dịch vụ của ngân hàng do đó quy mô hoạt động của ngân hàng bị ảnh hưởng và gây ra những tổn thất về tài chính.
– Rủi ro tín dụng làm tăng nguy cơ phá sản của ngân hàng: ngân hàng nào gặp nhiều rủi ro trong cho vay thì khả năng phá sản của các ngân hàng đó là rất cao. Bởi vì khi mà ngân hàng gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh thì khả năng thanh toán hay tính thanh khoản của ngân hàng là không cao. Mà khi ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ gây tâm lý bất ổn cho người gửi tiền về khả năng chi trả củann dẫn tới họ rút tiền hàng loạt thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn nó có thể sẽ bị phá sản.
b. Ảnh hưởng đối với nền kinh tế xã hội
– Tùy mức độ, rủi ro tín dụng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến cả hệ thống ngân hàng và nền kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến rất nhiều các thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy, kết quả kinh doanh của ngân hàng phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế và đương nhiên nó phụ thuộc rất lớn vào tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng không thể có kết quả tốt khi hoạt động kinh doanh của nền kinh tế chưa tốt hay nói cách khác hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ có nhiều rủi ro khi hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro. Rủi ro xảy ra dẫn tới tình trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ, gây khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất kinh doanh, làm ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội.
– Rủi ro tín dụng thường là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế, tác động tiêu cực đến kinh tế của khu vực và thế giới: Rủi to tín dụng thường xuyên là tăng nguy cơ phá sản của ngân hàng, hậu quả phá sản của một ngân hàng không chỉ mình bản thân ngân hàng đó gánh chịu mà nó còn tác động tới những ngân hàng có quan hệ với ngân hàng này. Điều này gây ra sự phản ứng dây chuyền gây ra sự phá sản hàng loạt của các ngân hàng ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế. Chính vì những hậu quả khó lường khi mà rủi ro tín dụng gây ra như các cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã làm nền kinh tế các nước khu vực châu Á lâm vào khủng hoảng nặng nề. Vì vậy mỗi ngân hàng phải luôn quan tâm tới rủi ro trong cho vay cũng như rủi ro tín dụng để đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thực sự là đòn bẩy cho nền kinh tế phát triển.
1.3. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.3.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình tiếp cận rủi ro tín dụng một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống thông qua việc hoạch định chiến lược, tổ chức thực hiện, điều khiển, kiểm soát nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngửa, hạn chế và xử lý những tổn thất, ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng. [13]
1.3.2. Nhiệm vụ của công tác quản trị rủi ro tín dụng
– Hoạch định phương hướng, kế hoạch phòng chống rủi ro. Dự đoán rủi ro có thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân và hậu quả ra sao,… Đồng thời, tổ chức phòng chống rủi ro một cách khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể đạt được.
– Xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống rủi ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc.
– Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng chống rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện giao dịch, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro.
1.3.3. Nội dung cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng
a. Nhận dạng rủi ro tín dụng
Nhận dạng rủi ro tín dụng là quá trình thống kê, phân tích, xác định có hệ thống và liên tục nhằm liệt kê và dự báo các dạng rủi ro tín dụng và nguyên nhân tương ứng.
Ngân hàng phải nhận dạng và hiểu rõ nguyên nhân gây ra các rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh hiện có và các hoạt động kinh doanh mới.
Ngân hàng phải nhận dạng rủi ro tín dụng thường xuyên và liên tục theo giao dịch và danh mục tài sản đảm bảo, nhận diện đầy đủ tính liên kết của rủi ro và tính tương tác giữa các rủi ro (ví dụ: một giao dịch, sản phẩm, dịch vụ có thể bao hàm nhiều rủi ro khác nhau, rủi ro này là nguyên nhân dẫn đến các rủi ro khác, mức độ rủi ro này ảnh hướng đến mức độ rủi ro khác).
Việc nhận diện rủi ro có thể được thực hiện thông qua việc liệt kê các dấu hiệu nhận biết rủi ro điển hình để hỗ trợ cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, có các nhóm dấu hiệu như: Nhóm dấu hiệu từ phía khách hàng và Nhóm dấu hiệu từ phía ngân hàng.
- Nhóm dấu hiệu từ phía khách hàng
– Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại cho ngân hàng trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng
– Chậm gửi báo cáo tài chính theo yêu cầu của ngân hàng hoặc gửi báo cáo tài chính không kèm theo giải thích minh bạch, thuyết phục
– Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ nhiều lần mà không có lý do rõ ràng hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục, khách quan về việc gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn trả nợ
– Chậm thanh toán các khoản nợ và lãi khi đến hạn
– Mức độ vay vốn thường xuyên, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến. Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao, với mọi điều kiện
– Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo bị giảm sút so với định giá khi cho vay
– Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng
- Nhóm dấu hiệu từ phía ngân hàng
– Đánh giá, phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng, ví dụ đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng, đánh giá khách hàng thông qua thông tin một chiều do khách hàng cung cấp thiếu sự tham khảo các nguồn thông tin liên quan khác.
– Cấp tín dụng dựa trên cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hay các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp
– Các điều kiện của hợp đồng tín dụng không rõ ràng, còn mập mờ
– Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá, giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch vụ hay chiến lược giữ chân khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để khách hàng không đặt quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng khác mặc dù biết khoản tín dụng tiềm ẩn nguy cơ cao.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông\THAM KHẢO/ LUAN VAN HOAN CHINH
Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín

