Phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Long An

Phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Long An

Phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Long An

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), ngành du lịch và lữ hành đóng góp khoảng 8,6 nghìn tỷ USD cho nền kinh tế toàn cầu trong năm 2022. Trong khi đó, năm 2019, ngành du lịch và lữ hành đóng góp khoảng 9,2 nghìn tỷ USD cho nền kinh tế thế giới. Điều này cho thấy nền kinh tế thế giới đang dần phục hồi lại sau đại dịch Covid-19 và đóng góp của ngành du lịch và lữ hành vào nền kinh tế thế giới sẽ đạt gần mốc như trước đại dịch. Theo WTTC, việc triển khai tiêm vắc-xin và các hạn chế đối với du lịch quốc tế được nới lỏng trên khắp thế giới thì du lịch và lữ hàng tạo ra 58 triệu việc làm năm 2022, đưa tổng số việc làm du lịch đạt hơn 330 triệu, chỉ thấp hơn 1% so với trước đại dịch và cao hơn 21,5% so với năm 2020 [1].

Hầu hết các nước trên thế giới đều xác định ngành du lịch có đóng góp đáng kể và hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… của đất nước. Du lịch được đánh giá là ngành kinh tế mũi nhọn và là công cụ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và kích thích các ngành kinh tế khác phát triển.

Theo Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2022 của Tổng cục Thống kê, lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2022 đạt hơn 3,66 triệu lượt người. Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2022 cao gấp 23,3 lần so với năm trước do Việt Nam đã mở cửa du lịch, các đường bay quốc tế được khôi phục trở lại. Tuy nhiên, lượng khách đến vẫn giảm 79,7% so với năm 2019, năm chưa xảy ra dịch COVID-19. Tháng 12/2022, Việt Nam đón hơn 707 nghìn lượt khách quốc tế, tăng 18,5% so với tháng trước. Tính chung năm 2022, khách quốc tế đến nước ta đạt hơn 3,66 triệu lượt người, trong đó Hàn Quốc là thị trường đóng góp lượng khách đến lớn nhất. [2]

Trong năm 2023, toàn ngành Du lịch tập trung vào việc công bố “Quy hoạch hệ thống du lịch Việt Nam thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045” sau khi được Chính phủ phê duyệt. Bên cạnh đó, ngành triển khai ”Chiến lược marketing du lịch Việt Nam đến năm 2030”, Đề án “Ứng dụng công nghệ của công nghiệp 4.0 để phát triển du lịch thông minh, thúc đẩy du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”, Đề án phát triển du lịch cộng đồng Việt Nam sau khi các văn bản này được phê duyệt. Công tác xúc tiến quảng bá sẽ được tiến hành tích cực trong cả năm. Ngành Du lịch sẽ tham gia các sự kiện quốc tế như: Diễn đàn Du lịch ASEAN ATF 2023 tại Indonesia; Hội chợ du lịch ITB tại Berlin – Đức; Hội chợ du lịch WTM tại London – Anh. [3]

Điều này cho thấy ngành du lịch và lữ hàng đang ngày càng đóng góp nhiều vào ngân sách quốc gia cũng như mang lại nhiều lợi ích cho các địa phương phát triển du lịch. Tuy nhiên, phát triển du lịch ẩn chứa tiềm tàng mối đe dọa đến môi trường xung quanh, tác động đến chất lượng nguồn nước và đe dọa cộng đồng địa phương. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với các địa phương là vừa phát triển du lịch tăng giá trị doanh thu cho ngân sách nhưng cũng đòi hỏi cần phải có những giải pháp chiến lược mang tính toàn diện lâu dài trong phát triển du lịch, phát triển du lịch theo hướng bền vững góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mà còn thúc đẩy quảng bá những đặc sắc, bản sắc riêng ra thế giới. Do vậy định hướng phát triển du lịch bền vững là định hướng của cả nước nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng.

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước đã chỉ ra rằng phát triển du lịch bền vững để mang những lợi ích đến cho cộng đồng địa phương, tôn trọng văn hoá địa phương, bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, nguồn lợi trực tiếp được mang đến cho cộng đồng địa phương. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp phát triển du lịch bền vững là rất cần thiết khi Chính phủ đã xem du lịch là một ngành kinh tế trọng yếu đóng góp nhiều vào ngân sách nhà nước cũng như giúp nâng cao hình ảnh đất nước.

Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mekong, gồm 13 tỉnh và thành phố với diện tích khoảng 40.000 km2, dân số gần 18 triệu người. Đồng bằng sông Cửu Long có cảnh quan sinh thái đặc trưng là đồng bằng và biển đảo, một vùng sông nước hữu tình, cây trái bốn mùa trĩu quả, kết hợp với truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời. Với những đặc trưng riêng, ngành du lịch đồng bằng sông Cửu Long đã xác định phát triển loại hình du lịch sông nước, sinh thái và miệt vườn.

Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng nêu rõ sản phẩm đặc trưng của đồng bằng sông Cửu Long là: “Du lịch sinh thái, khai thác các giá trị văn hóa sông nước, miệt vườn, nghỉ dưỡng, sinh thái biển, đảo…”. Theo đó, Đề án Phát triển du lịch khu vực đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 đã chia thành 4 cụm du lịch, trong đó, cụm trung tâm gồm Thành phố Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Hậu Giang với sản phẩm nổi trội là du lịch tham quan vùng sông nước, du lịch lễ hội, du lịch với mục đích thương mại, nghỉ dưỡng biển cao cấp. Cụm bán đảo Cà Mau gồm các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng với các sản phẩm du lịch là tham quan điểm cực Nam của Tổ quốc, du lịch sinh thái tại các khu rừng ngập mặn và du lịch văn hóa, lễ hội gắn với văn hóa dân tộc Khmer tại Sóc Trăng. Cụm duyên hải phía Đông gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh với các sản phẩm chủ đạo như du lịch sông nước, miệt vườn, nghỉ tại nhà dân, tham quan làng nghề, di tích lịch sử cách mạng. Cụm Đồng Tháp Mười gồm hai tỉnh Long An và Đồng Tháp với các sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng ngập nước nội địa Đồng Tháp Mười.

Hiện nay, các loại hình du lịch của vùng đồng bằng sông Cửu Long khá đa dạng và phong phú, bao gồm: Du lịch sinh thái ở các sinh cảnh hệ sinh thái đất ngập nước điển hình; du lịch sông nước gắn với làng nghề, trải nghiệm cuộc sống người dân; du lịch văn hóa gắn với lễ hội tâm linh; du lịch nghỉ dưỡng biển – đảo gắn với thể thao và du lịch gắn với cửa khẩu. Trong những loại hình du lịch trên thì du lịch sinh thái được ưu tiên phát triển dựa trên yếu tố thiên nhiên và nền văn hóa đậm đà bản sắc văn minh lúa nước. Du lịch sinh thái cũng đáp ứng được xu thế “toàn cầu” về du lịch của khu vực và quốc tế, là hướng tiếp cận phát triển bền vững, góp phần bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy nhiên, du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long đứng trước nhiều thách thức trong quá trình phát triển “nóng” như: Sản phẩm du lịch còn trùng lặp, chưa mang tính đặc thù; ô nhiễm môi trường ngày càng diễn biến phức tạp; điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng du lịch chưa đáp ứng kịp thời; việc khai thác, bảo tồn và tôn tạo tài nguyên du lịch còn tồn tại nhiều yếu kém,… Đây chính là những thách thức đối với sự phát triển du lịch bền vững của đồng bằng sông Cửu Long nếu không kiểm soát được các tiêu chí bền vững.

Long An là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía nam, là cửa ngõ xuống đồng bằng sông Cửu Long; phía bắc giáp tỉnh Tây Ninh và Vương quốc Campuchia, có đường biên giới dài 133km; phía đông giáp Thành phố Hồ Chí Minh; phía nam giáp tỉnh Tiền Giang và phía tây giáp với tỉnh Đồng Tháp.

Với vị trí “giao thoa” giữa vùng kinh tế trọng điểm phía nam và vùng đồng bằng sông Cửu Long, Long An đóng vai trò cầu nối giữa 2 vùng kinh tế quan trọng trong giao thương hàng hóa và du lịch.

Tài nguyên du lịch của tỉnh Long An tương đối phong phú và đa dạng về cảnh quan sông nước, rừng tràm; có hệ sinh thái đất ngập nước Khu bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen; có 122 di tích lịch sử-văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, danh thắng, khảo cổ và 3 công trình văn hóa có tính lịch sử.

Thời gian qua, Long An luôn nỗ lực phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Trong giai đoạn bình thường mới, ngành du lịch Long An đã nỗ lực đẩy mạnh các hoạt động kết nối, liên kết vùng với TP Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành trên cả nước nhằm xúc tiến, quảng bá các sản phẩm du lịch mới của mình đến với đông đảo du khách, từ đó khôi phục ngành du lịch trở lại sau giai đoạn dịch bệnh. Tuy nhiên, trên thực tế, du lịch của Long An vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của du khách; vẫn còn hạn chế trong công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, chưa có nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng, việc kết nối du lịch còn hạn chế, …

Phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Long An
Phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Long An

Năm 2022, tỉnh Long An đón khoảng 650.000 lượt khách (tăng 88% so cùng kỳ năm 2021), với doanh thu tăng 77%. Đặc biệt, năm 2022 được xem là năm có nhiều dấu ấn của ngành Du lịch với các hoạt động nổi bật như: Tuần Văn hóa – Du lịch năm 2022; ra mắt tuyến du lịch mới và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào du lịch; thành lập Hiệp hội Du lịch tỉnh…

So với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Bến Tre, Cần Thơ, … Du lịch trên địa bàn tỉnh Long An chưa phát huy được hết tiềm năng vốn có của mình, chưa để lại nhiều ấn tượng cho du khách trong nước và quốc tế.

Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Long An” là rất cần thiết và thiết thực để góp phần nâng cao giá trị du lịch và gợi mở những khuyến nghị trong việc phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Long An nói riêng.

2 Mục đích nghiên cứu:

2.1 Mục tiêu nghiên tổng quát

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận về phát triển du lịch và phát triển du lịch bền vững, trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng phát triển, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch theo tiếp cận bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long, và cụ thể tại tỉnh Long An; qua đó đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững cho vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Long An nói riêng.

2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

(1) Hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển du lịch và phát triển du lịch bền vững; Bài học kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững trên thế giới và Việt Nam.

(2) Đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tập trung điển hình tại tỉnh Long An, chỉ ra được những thành công, cũng như những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém đó.

(3) Nhận diện và phân tích đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững tại vùng đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Long An.

(4) Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long và cụ thể áp dụng tỉnh Long An..

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Phát triển du lịch bền vững và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững.

– Đối tượng khảo sát đánh giá: Khách du lịch, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp cá nhân và các đối tượng có liên quan đến hoạt động du lịch tại tỉnh Long An.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long, số liệu khảo sát và phân tích đánh giá, giải pháp điển hình cho tỉnh Long An.

– Phạm vi thời gian:

+ Dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp liên quan đến hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Long An được cập nhật đến năm 2022. Dữ liệu thứ cấp về tình hình kinh tế tỉnh Long An được cập nhật đến năm 2022.

+ Dữ liệu sơ cấp: Thực hiện khảo sát trực tiếp các đối tượng khách du lịch, doanh nghiệp và cá nhân cũng như các đối tượng có liên quan đến phát triển du lịch vùng đồng bang sông Cửu Long và tỉnh Long An.

+ Xây dựng các giải pháp phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Long An nói riêng cho giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

– Phạm vi nội dung:

Luận án chỉ tập trung nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và tập trung nghiên cứu điển hình tại tỉnh Long An. Theo đó, các nội dung nghiên cứu, bao gồm: cơ sở lý luận về phát triển du lịch, phát triển du lịch bền vững và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững; phân tích thực trạng phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An, chỉ ra được những thành công, cũng như những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân chủ yếu; phân tích các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng phát triển và các giải pháp phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:

4.1 Cách tiếp cận

Để đạt được mục tiêu đề ra, nghiên cứu thực hiện các cách tiếp cận như sau:

– Tiếp cận kế thừa: Luận án nghiên cứu có kế thừa các nhận định, các kết quả tại các báo cáo các công trình nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước về du lịch bền vững, trên cơ sở đó nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững.

– Tiếp cận hệ thống: tiếp cận từ cơ sở lý luận, pháp lý đến nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn; Các văn bản quy phạm pháp luật từ cao xuống đến thấp. Tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập câu trả lời từ khách du lịch về các nhân tố ảnh hưởng đến s sự phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An để có cơ sở phân tích đánh giá và xây dựng phương pháp nghiên cứu. Đồng thời từ kết quả nghiên cứu về lý thuyết, kiểm chứng qua thực tiễn để bổ sung và hoàn thiện lý thuyết, các điều kiện đầu vào từ đó xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền vững cũng như đề ra các giai pháp nhằm phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An nói riêng và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:

– Phương pháp thu thập dữ liệu: thu thập các thông tin, dữ liệu, số liệu liên quan đến đề tài luận án, từ đó phân tích, đánh giá, chọn lọc các dữ liệu liên quan. Thu thập các báo cáo, thông tin từ các cơ quan quản lý, chuyên trách như Tổng cục thống kê Việt Nam; Tổng cục du lịch Việt Nam; Cục thống kê Long An; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An; Sở Công Thương Long An.

– Phương pháp nghiên cứu tổng hợp: Tổng hợp những tài liệu, hoạt động liên quan đến du lịch, phát triển du lịch để xây dựng tổng thể về phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An.

– Phương pháp phân tích hệ thống: Phân tích một cách có hệ thống hoạt động phát triển du lịch cụ thể để đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An, từ đó đề xuất định hướng và các giải pháp hữu hiệu để phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An.

– Phương pháp so sánh: Các dữ liệu được phân tích so sánh theo không gian và theo thời gian về các chỉ số phát triển bền vững trong du lịch của vùng đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Long An nói riêng.

– Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Sử dụng các kết quả từ các chuyến khảo sát thực địa, các cuộc điều tra, thực hiện phỏng vấn thu thập thông tin từ khách du lịch, người làm du lịch và doanh nghiệp đầu tư du lịch trên địa bàn tỉnh Long An.

– Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý, tư vấn về phát triển du lịch bền vững nhằm nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững tại vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như phát hiện ra những điểm mới và đặc trưng về phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An.

– Phương pháp phân tích định lượng: Nghiên cứu kiểm định các nhân tố bằng hệ số độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích phương trình hồi quy tuyến tính đa biến để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố.

5 Ý nghĩa của nghiên cứu

– Hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận về phát triển du lịch và phát triển du lịch bền vững gắn với vùng kinh tế, văn hóa và xã hội. Tổng kết những bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước về phát triển du lịch bền vững.

– Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An và vùng đồng bằng sông Cửu Long.

– Nhận diện các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Long An.

– Phân tích những nhân tố, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố đến phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An.

– Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

6 Những kết quả đạt được

– Hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận về phát triển du lịch và phát triển du lịch bền vững gắn với vùng kinh tế, văn hóa và xã hội.

– Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển bền vững du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đặc biệt là Long An để thấy được những tồn tại và nguyên nhân cần khắc phục.

– Đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Long An đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

7 Kết cấu nội dung luận vận:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm có 4 chương chính sau:

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững

Chương 2. Thực trạng phát triển bền vững du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Chương 3. Phương pháp nghiên cứu

Chương 4. Phân tích kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

Các khái niệm có liên quan

Du lịch

Du lịch là một hoạt động mà dưới hình thức này hay một hình thức khác, con người đã thực hiện từ rất lâu. Tuy nhiên, thời gian gần đây, du lịch mới được công nhận là một hiện tượng kinh tế và xã hội quan trọng. Tác động của du lịch ngày càng được cảm nhận cả ở cấp độ cá nhân và thông qua tác động của nó đối với xã hội. Tầm quan trọng và những tác động lan rộng của du lịch đã đươc công nhận trong Tuyên bố Manila về Du lịch Thế giới, “Du lịch được coi là một hoạt động thiết yếu đối với đời sống của các quốc gia vì nó có tác động trực tiếp đến các lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục và kinh tế của xã hội các quốc gia cũng như quan hệ quốc tế của các nước.”

Cùng với sự phát triển của du lịch, khái niệm du lịch được hiểu theo nhiều cách khác nhau dựa theo góc độ xem xét. Các nhà nghiên cứu khoa học và các nhà quản lý đề cập đến các khái niệm về du lịch nhằm xây dựng các chính sách phát triển du lịch của quốc gia, địa phương và doanh nghiệp.

Khái niệm về du lịch được xem xét dưới các góc độ khác nhau, đó là trên giác độ văn hoá, cốt lõi của hoạt động du lịch là văn hoá, giác độ xã hội du lịch là một dạng nghỉ ngơi tích cực của con người, dưới giác độ kinh tế, du lịch là một ngành dịch vụ…

Theo Michael M. Coltman (1991), “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách, bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”.

Mối quan hệ giữa các bên tham gia phục vụ du khách

Du khách

Nhà cung ứng dịch vụ

Dân cư sở tại

chính quyền nơi đón khách du lịch

Trong đó: du khách (khách du lịch) là người đi du lịch (bàn về khách du lịch sẽ được trao đổi trong các bài viết sau); nhà cung cấp dịch vụ được hiểu là các doanh nghiệp du lịch, các đơn vị, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh du lịch (có sản phẩm dịch vụ du lịch và dịch vụ phụ trợ cung cấp cho khách du lịch); dân cư sở tại là người dân sinh sống trong vùng, khu vực ở điểm đến du lịch (một địa bàn dân cư quanh khu vực du lịch); chính quyền nơi đón du khách là các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch các cấp (Sở VHTT&DL tỉnh, phòng văn hóa (huyện), Ban quản lý khu, điểm du lịch) và cơ quan chính quyền khác (UBND địa phương, công an, kiểm lâm, quản lý thị trường, quản lý môi trường,…). Cả 4 nhóm nhân tố này tương tác với nhau hình thành nên hoạt động “du lịch”.

Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO – United Nations World Tourism Organization), “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”.

Theo UNWTO, du lịch lại hướng đến chủ yếu là các hoạt động của khách du lịch như du hành, tạm trú, tham quan, khám phá, trải nghiệm, nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn… Các hoạt động này phải diễn ra liên tục trong một khoảng thời gian nhất định, ở một không gian nhất định mà không phải là nơi mình định cư sinh sống, và không có mục đích kinh tế là kiếm tiền.

Theo Luật Du lịch năm 2017, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.

Du lịch bền vững

Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào.

Theo Liên minh Bảo tồn Thế giới (World Conservation Union, 1996), “Du lịch bền vững là Việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tê-xã hội của cộng đồng địa phương”.

Du lịch đại chúng không được lập kế hoạch cẩn thận cho việc nâng cao công tác bảo tồn hoặc giáo dục, không mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương và có thể phá huỷ nhanh chóng các môi trường nhạy cảm. Và kết quả là có thể phá huỷ hoặc làm thay đổi một cách không thể nhận ra được các nguồn lợi vàvăn hoá mà chúng phụ thuộc vào. Ngược lại, Du lịch bền vững thì được lập kế hoạch một cách cẩn thận từ lúc bắt đầu để mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương, tôn trọng văn hoá, bảo tồn nguồn lợi tự nhiên và giáo dục du khách và cả cộng đồng địa phương. Du lịch bền vững có thể tạo ra một lợi tức tương tự như du lịch đại chúng, nhưng có nhiều lợi ích được nằm lại với cộng đồng địa phương và các nguồn lợi tự nhiên, các giá trị văn hoá của vùng được bảo vệ.

Trong nhiều trường hợp, các hoạt động du lịch đại chúng trong quá khứ có thể mang đến những tác động xấu đến bảo tồn biển do việc thiếu các điều khiển quản lý và cơ chế lập kế hoạch hiệu quả. Ngược lại, du lịch bền vững có những kế hoạch được suy nghĩ cẩn thận để giảm thiểu các tác động xấu của du lịch, đồng thời còn đóng góp vào công tác bảo tồn và sức khoẻ của cộng đồng về cả mặt kinh tế và xã hội. Du lịch bền vững cũng tạo ra lợi nhuận như du lịch đại chúng, tuy nhiên cộng đồng địa phương được hưởng nhiều hơn từ lợi tức đó, và các nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên và văn hoá của vùng được bảo vệ. Trong một số trường hợp, các hoạt động du lịch đại chúng trước đây đã gây ra những đe doạ cho bảo tồn biển do thiếu các cơ chế quản lý và các kế hoạch hiểu quả.

Ngược lại, du lich bền vững cân nhắc tìm kiếm để giảm thiểu đến mức tối thiểu các tác động xấu của du lịch, trong khi đóng góp cho bảo tồn và các giá trị tốt cho cộng đồng địa phượng, cả về kinh tế và xã hội. Du lịch đại chúng không cung cấp nguồn quỹ tài trợ cho cả các chương trình bảo tồn lẫn cộng đồng địa phương bảo vệ vùng tránh khỏi những hoạt động và phát triển mà có thể gây hại đến cảnh đẹp tự nhiên của vùng. Những cơ hội và các đe doạ có thể chỉ được điều khiển thông qua du lịch bền vững đã được lập kế hoạch và quản lý cẩn thận. Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái Quốc tế (The International Ecotourism Society, 2004), Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính:

(1) Thân thiện môi trường: du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi tự nhiên và KBTB nói riêng. Nó giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm …) và cố gắng có lợi cho môi trường.

(2) Gần gũi về xã hội và văn hoá: du lịch bền vững không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện. Thay vào đó thì nó lại tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương. Khuyến khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và quản lý chính quyền) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ.

(3) Có kinh tế: du lịch bền vững đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt. Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và cả người xung quanh. Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn.

Một đơn vị kinh doanh du lịch mà có đủ 3 tiêu chí trên thì “sẽ kinh doanh tốt nhờ làm tốt”. Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du lịch trong nhiều cách có thể không phá huỷ các nguồn lợi tự nhiên, văn hoá và kinh tế, nhưng cũng khuyến khích đánh giá cao những nguồn lợi mà du lịch phụ thuộc vào. Việc kinh doanh mà được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, đánh giá cao giá trị văn hoá và mang lợi tức đến cho cộng đồng và có thể cũng sẽ thu lợi tức.

Phát triển

Phát triển được hiểu là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau về chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật, văn hóa … Phát triển là xu hướng tự nhiên tất yếu của thế giới vật chất cũng như xã hội loài người.

Phát triển kinh tế – xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, nâng cao các giá trị văn hóa cộng đồng. Sự chuyển đổi của các hình thái xã hội từ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản… được xem là một quá trình của phát triển.

Mục tiêu của phát triển là nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của con người, làm cho con người ít phụ thuộc hơn vào thiên nhiên, tạo lập một xã hội công bằng và bình đẳng giữa các thành viên. Các mục tiêu phát triển thường được cụ thể hóa bằng những chỉ tiêu về đời sống vật chất như thực phẩm, nhà ở, điều kiện sức khỏe và tinh thần như giáo dục, mức hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật, bình đẳng xã hội, tự do chính trị, truyền thống lịch sử của mỗi quốc gia.

Bên cạnh đó, hoạt động phát triển cũng đã và đang làm cạn kiệt tài nguyên, gay ra các tác động tiêu cực làm ảnh hưởng xấu đến môi trường thiên nhiên. Thực tế cho thấy nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là vô hạn, không thể tùy tiện khai thác tràn lan, không kiểm soát sẽ dẫn đến hậu quả làm cạn kiệt tài nguyên cũng như làm xuất hiện sự mất cân bằng môi trường sinh thái, gây ra hậu quả nghiêm trọng đến môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển của xã hội qua nhiều thế hệ.

Phát triển bền vững

Năm 1987, tại Hội nghị của Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) do bà Grohalem Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong bản báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng những điều kiện hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Cũng từ đó, phát triển bền vững nổi lên thành mô hình mới cho chính sách toàn cầu, khu vực, quốc gia và từng địa phương; đã được nêu tại Chương trình 21 Hội nghị Thế giới của Liên hợp quốc (Hội nghị Thượng đỉnh Rio, 1992).

Hiện nay, vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về “phát triển bền vững”. Theo quan điểm của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) năm 1980 thì “phát triển bền vững phải cân nhắc đến việc khai thác các tài nguyên có khả năng tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức xen kẽ các hoạt động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau”. Tuy nhiên, quan điểm này chỉ mới chú trọng đến khía cạnh sử dụng tài nguyên mà chưa đề cập đến các khía cạnh khác.

Khái niệm do Uỷ ban Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) đưa ra năm 1987 là khái niệm có ý nghĩa khái quát và được sử dụng rộng rãi hơn cả. Theo UNCED, “Phát triển bền vững thoả mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không làm giảm khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Như vậy, nếu một hoạt động có tính bền vững, xét về mặt lý thuyết nó có thể được thực hiện mãi mãi.

Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, đan xen và thoả hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ kinh tế và hệ văn hoá-xã hội và hệ môi trường”. Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống. Như vậy, phát triển bền vững nằm ở phần giao nhau của 3 vòng tròn: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về môi trường.

Phát triển bền vững là sự giao nhau của ba hệ thống trên. Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì không thể gọi là phát triển bền vững. Tuy nhiên, cần phải nhận thức rằng, ba yếu tố này phụ thuộc vào nhau, có thể hỗ trợ lẫn nhau nhưng cũng có thể cạnh tranh với nhau. Nói đến phát triển bền vững là tạo được sự cân bằng giữa ba yếu tố trên, trong đó:

Bền vững về kinh tế là tăng trưởng kinh tế, tạo sự thịnh vượng cho các cộng đồng dân cư và đạt hiệu quả cho các hoạt động kinh tế.

Bền vững về xã hội là đảm bảo sự bình đẳng, công bằng cho xã hội. Tôn trọng sự khác biệt của các cộng đồng dân cư nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm

Bền vững về môi trường là sử dụng hiệu quả, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn sự đa dạng sinh học và hạn chế ô nhiễm môi trường.

Tại Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), trong đó nêu rõ: “Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”. Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam

Phát triển du lịch bền vững

Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch có tính đến đầy đủ các tác động kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại và tương lai, vừa đáp ứng được nhu cầu của du khách và sự phát triển của ngành du lịch, vừa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái và các yêu cầu của cộng đồng địa phương. Phát triển du lịch bền vững liên quan đến các khía cạnh môi trường, kinh tế và văn hóa xã hội của phát triển du lịch, đòi hỏi phải thiết lập sự cân bằng hợp lý giữa ba khía cạnh này để bảo đảm tính bền vững lâu dài. (1) UNEP & UNWTO: Making Tourism More Sustainable – A Guide for Policy Makers, 2005, Page 11-12.

Du lịch bền vững giúp quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn nhu cầu về phát triển kinh tế – xã hội, hưởng thụ của con người, đồng thời vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học và sự phát triển của các hệ sinh thái. Khái niệm du lịch bền vững liên quan chặt chẽ đến các khái niệm về du lịch sinh thái, du lịch xanh,…

Theo Luật Du lịch năm 2017, “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế – xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”.

Phát triển du lịch bền vững gồm 3 nội dung cơ bản sau:

(1) Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế du lịch cao hợp lý, ổn định, liên tục

Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch cần được xác định ở mức độ phù hợp, căn cứ vào các điều kiện thực tế, để đáp ứng yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng của ngành du lịch, đồng thời không tạo nên áp lực đòi hỏi phải đổi lại bằng sự suy giảm tài nguyên và môi trường du lịch. Theo đó, tăng trưởng của ngành kinh tế du lịch không vượt quá khả năng tái tạo của nguồn tài nguyên, khả năng chịu đựng của cơ sở vật chất ngành du lịch và sức chứa xã hội ở địa phương để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch ngày càng tốt hơn, sản phẩm du lịch ngày càng thỏa mãn và làm hài lòng du khách. Tăng trưởng du lịch bền vững cần dựa vào chiến lược: ưu tiên nâng cao chất lượng nguồn khách hơn là theo đuổi thuần túy số lượng khách du lịch.

Phát triển du lịch bền vững giúp thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương trên nhiều khía cạnh: thúc đẩy sự gia tăng về quy mô của nền kinh tế, tạo ra sự đa dạng hóa của các hoạt động kinh tế cũng như ổn định và mở rộng nguồn thu cho ngân sách từ thuế và các dịch vụ khác do chính quyền cung cấp. Đứng trên góc độ quản lý nhà nước, việc tăng nguồn thu cho ngân sách bằng cách hướng tới việc phát triển du lịch bền vững là một trong những động lực lớn khuyến khích chính quyền địa phương đầu tư phát triển hạ tầng như đường giao thông, bệnh viện, viễn thông, năng lượng… tại địa phương, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ công và môi trường sống của người dân bản địa.

(2) Thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa

Quá trình phát triển du lịch sẽ khuyến khích, thu hút và tạo việc làm cho lao động địa phương trực tiếp tham gia vào các hoạt động du lịch, đồng thời tạo tác động lan tỏa, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực kinh tế khác phát triển, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người dân trong cộng đồng địa phương. Nói cách khác, du lịch có thể mang lại hiệu ứng phát triển bao trùm.

Phát triển du lịch tạo nhu cầu, điều kiện và đồng thời cũng đặt ra mục tiêu bảo đảm sự khai thác, sử dụng hiệu quả và hợp lý các giá trị văn hóa bản địa, di sản văn hóa, nguồn lực tài nguyên nhân văn của địa phương để có thể duy trì được sự bền vững, tính đặc sắc trong dài hạn. Với việc mở rộng thị trường khách du lịch, trong đó cơ cấu khách du lịch quốc tế ngày càng đa dạng, hình ảnh tốt đẹp của địa phương, của quốc gia cũng được quảng bá, lan tỏa ra thế giới, từ đó tạo thuận lợi cho việc mở rộng, thúc đẩy phát triển các quan hệ giao thương, hợp tác quốc tế. Du lịch nói chung và du lịch bền vững nói riêng còn là cầu nối để du khách và người dân bản địa thấu hiểu lẫn nhau. Việc này giúp cho du khách có những trải nghiệm lý thú trong quá trình du lịch và khám phá các nét văn hóa đặc sắc và con người tại địa phương; đồng thời người dân địa phương cũng qua việc tiếp xúc với khách du lịch để tìm hiểu thêm về văn hóa ở các vùng miền hoặc quốc gia khác nhau, qua đó làm giàu thêm cho phong tục, tập quán của mình.

(3) Bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, phát triển các tài nguyên có khả năng tái sinh

Điều này bao gồm cả hai khía cạnh: giữ gìn, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái trong hoạt động du lịch; giữ gìn, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái để tạo tiền đề, điều kiện cho du lịch phát triển bền vững. Một trong các tiêu chí lớn nhất để đánh giá tính bền vững trong phát triển du lịch tại một địa phương chính là việc bảo tồn, duy trì nguồn tài nguyên sinh thái và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của con người trong quá trình thực hiện hoạt động du lịch lên môi trường. Phát triển du lịch bền vững phải bảo đảm được rằng các tài nguyên du lịch của địa phương như các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, giá trị văn hóa,… không bị tác động tiêu cực, không gây ra hao hụt các giá trị nguyên bản hay tác động xấu cho việc khai thác chúng trong lâu dài.

du lịch bền vững

Hình 1‑1 Khung phát triển du lịch bền vững

Phát triển du lịch bền vững là một quá trình liên tục đòi hỏi phải theo dõi liên tục các tác động của nó, nhằm đáp ứng hài hòa cả 3 tiêu chí (UNEP, 2006):

(1) Sử dụng tối ưu tài nguyên môi trường là chìa khóa cho phát triển du lịch, qua đó duy trì các quá trình sinh thái và giúp bảo tồn đa dạng và di sản thiên nhiên.

(2) Tôn trọng tính xác thực về văn hóa – xã hội của cộng đồng địa phương, nhằm bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống của họ, hiểu biết và gìn giữ sự khác biệt giữa các nền văn hóa.

(3) Đảm bảo các hoạt động kinh tế lâu dài, khả thi, nhằm cung cấp các lợi ích kinh tế – xã hội công bằng cho tất cả các bên liên quan, bao gồm các cơ hội việc làm và thu nhập cũng như các dịch vụ xã hội cho cộng đồng địa phương.

Để phát triển du lịch bền vững cho quốc gia nói chung và địa phương nói riêng, các nhà quản lý cần phải lên kế hoạch chi tiết để giải quyết những vấn đề cụ thể trên nguyên tắc cân bằng giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai, cân bằng giữa phát triển trong ngắn hạn và phát triển trong dài hạn nhằm bảo đảm việc phát triển du lịch là hiệu quả, bền vững tránh xảy ra tình trạng hao hụt, lãng phí các nguồn lực phát triển. Theo đó, cần có những giải pháp đặc biệt để quản lý việc khai thác sao cho phù hợp, tránh xảy ra tình trạng khai thác quá mức làm hao hụt hoặc phá hủy hoàn toàn những nguồn tài nguyên du lịch quý báu của quốc gia nói chung và của địa phương phát triển du lịch nói riêng. Đồng thời, cần tích cực đầu tư trở lại bằng nguồn thu từ du lịch cho công tác bảo vệ tài nguyên, phát triển các tài nguyên du lịch có khả năng tái sinh và bảo vệ môi trường.

Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước

Các nghiên cứu về du lịch bền vững

Các nghiên cứu liên quan đến tiêu chí đánh giá phát triển bền vững

Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững

Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu liên quan đến du lịch bền vững

Các nghiên cứu liên quan đến các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững

Các nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững

Tổng quan một số chính sách định hướng phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam

Khoảng trống nghiên cứu

Định hướng nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Kết luận chương 1

Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh được tầm quan trọng của phát triển du lịch, phát triển du lịch bền vững và các nghiên cứu đó đã có những đóng nhất định cho sự phát triển của ngành du lịch hiện nay.

Vì vậy, trong chương 1, tác giả tập trung nghiên cứu tổng quan về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển du lịch, phát triển du lịch bền vững đã công bố, gồm: (1) Các công trình nghiên cứu đã công bố trên thế giới; (2) Các công trình nghiên cứu trong nước.

Từ việc nghiên cứu các công trình đã nghiên cứu và công bố, tác giả đưa ra một số đánh giá, nhận xét về những công trình nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững đã được công bố. Từ đó, tác giả tìm ra các khoảng trống khoa học và đặt ra các vấn đề cần cần tiếp tục nghiên cứu của đề tài.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN ÁN TIẾN SĨ\LUẬN ÁN Phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Long An

Phát triển du lịch bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long: Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Long An

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *