Quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Savannakhet
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào là một trong những quốc gia đang phát triển. Để phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp phát triển nhanh, bền vững trong hội nhập kinh tế quốc tế thì việc đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là không thể thiếu. Đầu tư xây dựng cơ bản là một trong những nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước. Đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho xã hội, là nhân tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân mỗi nước, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước, tăng năng lực sản xuất, cải thiện văn minh đô thị, đóng góp quyết định vào phát triển kinh tế xã hội.
Tỉnh Savannakhet có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế xã hội, có vị trí và vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh và quốc phòng. Đồng thời, Savannakhet có vị trí nằm trên Hành lang kinh tế Đông Tây, nằm trên trục giao thương giữa Việt Nam, Myanma, Thái Lan. Những năm qua, kinh tế của tỉnh Savannakhet đã có những thành tựu vượt bậc. Là một trong những tỉnh có diện tích lớn nhất và dân số đứng thứ hai của Lào với hơn 82 vạn người, Savannakhet được xem là một cực phát triển ở miền Trung Lào. Khi chưa có đại dịch covid 19 diễn ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân gàn 10% trong nhiều năm. Tại nơi đây, đường sá, phố phường, nhà cửa đã khang trang hơn. Nhiều khu công nghiệp, nghỉ dưỡng mọc lên làm thay đổi bộ mặt đô thị. Từ một tỉnh mà cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp, đã chuyển dịch dần sang công nghiệp và dịch vụ. Song hành với quá trình phát triển kinh tế, công tác đầu tư XDCB luôn được chính quyền tỉnh Savannakhet chú trọng trong thời gian qua. Chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản là một khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách nhà nước, tuy nhiên thực trạng hiệu quả chi đầu tư thấp, thất thoát chi đầu tư lớn (20% đến 30% so với tổng chi đầu tư) làm cho mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của tỉnh Savannakhet càng khó khăn. Vì vậy, để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thất thoát trong đầu tư và nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước thì việc tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Savannakhet là việc làm cấp thiết.
Thực trạng trên đặt ra cho các nhà nghiên cứu cần phải hệ thống được những cơ sở lý luận cần thiết và phân tích được thực trạng quản lý chi ngân sách Nhà nước trong đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Savannakhet xuất phát từ các đặc thù riêng của Tỉnh. Từ đó rút ra được nguyên nhân của tồn tại để có giải pháp quản lý hiệu quả hơn. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: “Quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Luận văn tập trung nghiên cứu những cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần nâng cao công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào.
– Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản.
– Phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào.
– Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào.
– Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý chi ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản.
– Về thời gian: Các dữ liệu đánh giá thực trạng sử dụng từ năm 2017 – 2021. Giải pháp đề xuất tới năm 2025.
– Về không gian: Luận văn nghiên cứu các nội dung trên trong phạm vi tỉnh Savannakhet.
4. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin thứ cấp
Luận văn sử dụng thông tin số liệu thứ cấp bao gồm:
+ Thu thập từ các nguồn các sách giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí khoa học chuyên ngành có liên quan đến nội dung của đề tài.
+ Số liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu, số liệu từ niên giám thống kê của tỉnh và của nước CHDCND Lào.
+ Số liệu từ các tài liệu, các báo cáo tổng hợp tình hình về chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Savannakhet – CHDCND Lào trong các năm từ 2017 – 2021.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh các dữ liệu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh.
– Phương pháp khảo sát điều tra
Luận văn còn sử dụng các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn, điều tra trực tiếp cán bộ làm công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Savannakhet nhằm cung cấp thêm thông tin và cơ sở để đánh giá toàn diện hơn vấn đề nghiên cứu.
Đối tượng phỏng vấn là những cán bộ quản lý, công chức liên quan đến công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Savannakhet.

5. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn trình bày trong ba chương:
– Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản.
– Chương 2: Thực trạng quản lý về quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào.
– Chương 3: Hoàn thiện công tác quản lý về quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1 KHÁT QUÁT VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1.1 Khái niệm
a. Đầu tư xây dựng cơ bản
“Đầu tư là đem một khoản tiền của đã tích lũy được, sử dụng vào một việc nhất định để sau đó thu lại một khoản tiền của có giá trị lớn hơn” [2,tr.14].
“Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai” [14,tr.11]
Theo Luật Đầu tư của Lào (2015): “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định (TSCĐ) có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các TSCĐ.[11]
Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định nhằm phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. [2]
b. Vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản
“Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư bao gồm: chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán”. Các văn bản pháp luật sau Nghị định này không đưa ra định nghĩa về vốn đầu tư XDCB nữa. Tuy nhiên, thuật ngữ “vốn đầu tư XDCB” vẫn được sử dụng rộng rãi trong nhiều văn bản pháp luật hiện nay. [3]
Các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn sau:
– Vốn ngân sách nhà nước: vốn ngân sách nhà nước được hình thành từ tích lũy của nền kinh tế và được nhà nước bố trí trong kế hoạch ngân sách để cấp cho chủ đầu tư thực hiện các công trình theo kế hoạch hàng năm.
– Vốn tín dụng đầu tư bao gồm: vốn của NSNN dùng để cho vay, vốn huy động của các đơn vị trong nước và các tầng lớp dân cư. Vốn vay dài hạn của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế…
– Vốn tự có của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế, đối với doanh nghiệp quốc doanh, vốn này hình thành tự lợi nhuận (sau khi nộp thuế cho Nhà nước), vốn khấu hao cơ bản để lại, tiền thanh lý tài sản và các nguồn thu khác theo quy định của Nhà nước.
– Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài: vốn này của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp tác kinh doanh hoặc thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
– Vốn vay nước ngoài bao gồm: vốn do Chính phủ vay theo hiệp định ký kết với nước ngoài, vốn do các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ trực tiếp vay của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và vốn do Ngân hàng Đầu tư phát triển đi vay.
– Vốn viện trợ của các tổ chức nước ngoài (ODA)
– Vốn huy động của dân cư bằng tiền, vật liệu hoặc công cụ lao động.
Ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước tham gia huy động và phân phối vốn đầu tư thông qua hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước.
* Theo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, có thể chia nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thành:
– Vốn đầu tư của ngân sách Trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách Trung ương nhằm đầu tư cho các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia.
– Vốn đầu tư của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách địa phương nhằm đầu tư cho các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương đó. Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương quản lý và sử dụng.
* Theo mức độ kế hoạch hóa vốn đầu tư, có thể chia nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thành:
– Vốn xây dựng cơ bản tập trung (vốn trong nước và vốn ngoài nước): nguồn vốn này được hình thành theo kế hoạch với tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho từng bộ, ngành và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
– Vốn đầu tư từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyết của Quốc hội, các địa phương được chủ động đầu tư.
– Vốn đầu tư theo các chương trình, dự án quốc gia như: chương trình 135, chương trình kiên cố hóa kênh mương,…
– Vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước nhưng được để lại tại đơn vị để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất như nguồn vốn quảng cáo, nguồn thu học phí,…
Vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho xây dựng cơ bản thường có quy mô lớn và không có khả năng thu hồi trực tiếp, có tác dụng chung cho nền kinh tế – xã hội nhưng các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư. Hơn nữa, nguồn vốn cấp phát trực tiếp từ ngân sách không hoàn lại nên đây là nguồn vốn dễ bị thất thoát, lãng phí nhất đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ.
c. Chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản
Chi NSNN trong đầu tư XDCB trên địa bàn địa phương là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư tái sản xuất TSCĐ nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ trên địa bàn địa phương.
Nguồn vốn chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn địa phương bao gồm: vốn hỗ trợ của trung ương, vốn địa phương, nguồn từ các chương trình dự án trên địa bàn địa phương…
Đặc điểm của chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản
– Chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi lớn của NSNN nhưng không có tính ổn định.
Chi đầu tư XDCB là khoản chi tất yếu nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế – xã hội cho mỗi quốc gia nói chung và cho từng địa phương nói riêng. Trước hết chi NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất dịch vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi địa phương. Đồng thời, chi đầu tư NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản còn ý nghĩa là vốn tạo mồi để tạo môi trường đầu tư thuận lợi, định hướng đầu tư phát triển cho nền kinh tế – xã hội của địa phương, của quốc gia theo từng thời kỳ. Quy mô chi NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản phụ thuộc vào chủ trương, đường lối phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, của địa phương theo từng thời kỳ.
Hiện nay, mặc dù thu ngân sách địa phương (NSĐP) còn hạn chế nhưng các địa phương luôn chú trọng chi NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản và mức chi ngày càng cao, với cơ cấu trung bình hơn 25% trong tổng chi NSĐP. Tuy vậy, chi NSNN cho đầu tư XDCB không có tính ổn định giữa các thời kỳ phát triển kinh tế – xã hội. Thứ tự và tỷ trọng ưu tiên chi NSNN cho đầu tư XDCB trong từng lĩnh vực, từng nội dung chi là thay đổi giữa các thời kỳ. Chẳng hạn, sau một thời kỳ tập trung ưu tiên cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thì thời kỳ sau không cần ưu tiên nữa vì hạ tầng giao thông đã tương đối hoàn chỉnh.
– Chi đầu tư XDCB gắn liền với đặc điểm của đầu tư XDCB.
Đầu tư XDCB bằng vốn ngân sách nhà nước là một khoản chi lớn và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng vốn chi đầu tư phát triển của NSNN. Do đó, sự vận động của tiền vốn dùng để trang trải chi phí đầu tư xây dựng cơ bản chịu sự chi phối trực tiếp bởi đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản.
– Chi NSNN trong đầu tư XDCB gắn với đặc điểm của NSNN và đặc điểm của chi NSNN.
Bên cạnh đó, nó còn có đặc thù riêng của chi NSNN cho đầu tư XDCB đó là: người quản lý chi đầu tư XDCB và người sử dụng kết quả đầu tư XDCB có thể tách rời nhau, điều này có thể làm giảm chất lượng công trình đầu tư XDCB làm khó khăn cho công tác quản lý chi NSNN. Hơn nữa, quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB được phân cấp nhiều trong quản lý, qua nhiều khâu, nhiều cơ quan quản lý lại mang tính sở hữu chung nên khó xác định rõ được thất thoát xảy ra là ở trong khâu nào, điều này đòi hỏi quy trình quản lý, trách nhiệm quản lý phải rõ ràng trong từng khâu quản lý chi đầu tư XDCB bằng vốn NSNN.
d. Quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản
Quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản là quản lý quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ ngân sách nhà nước để đầu tư tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế quốc dân đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn. [4]
1.1.2 Vai trò của chi ngân sách nhà nước cho xây dựng cơ bản
Đầu tư XDCB đóng vai trò quan trọng trên mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia.
* Về mặt kinh tế
Chi đầu tư XDCB góp phần tạo các nhà xưởng mới, thiết bị công nghệ, dây chuyền, sản xuất mới, hiện đại hoặc mở rộng, cải tạo những nhà máy cũ. Từ đó tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, mở rộng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Do đó, nâng cao hiệu quả sản xuất ở cơ sở góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Đầu tư nói chung và đầu tư XDCB nói riêng tác động đến tổng cầu và tổng cung của xã hội. Qua đó tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
Đầu tư thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu toàn bộ nền kinh tế. Đầu tư làm cho tổng cầu tăng theo. Chính vì vậy mà chính phủ đã sử dụng đầu tư như là một trong những biện pháp kích cầu. Khi đầu tư có kết quả làm tăng năng lực sản xuất, dịch vụ, do đó làm tăng tổng cầu xã hội. Tổng cầu tăng, tổng cung sẽ tăng kéo theo sản lượng cân bằng của nền kinh tế tăng, do đó thúc đẩy GDP tăng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Chi NSNN cho đầu tư XDCB sẽ tạo ra hạ tầng kinh tế kỹ thuật như: điện, đường giao thông, sân bay, cảng biển… tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm từ đó thu hút đầu tư thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế.
* Về mặt chính trị, xã hội
Chi NSNN cho đầu tư XDCB tạo điều kiện xây dựng hạ tầng cơ sở cho các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn như: đường giao thông tới miền núi, nông thôn, điện, trường học tạo điều kiện phát triển kinh tế ở các vùng này từ đó tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng ở địa phương. Đồng thời, chi đầu tư XDCB cũng tập trung vào các công trình văn hóa để duy trì truyền thống, văn hóa của địa phương, của quốc gia; đầu tư vào truyền thông (công trình XDCB trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình) nhằm thông tin những chính sách, đường lối của Nhà nước, tạo điều kiện ổn định chính trị của quốc gia; đầu tư XDCB trong lĩnh vực y tế góp phần chăm sóc sức khỏe của người dân và các dịch vụ công khác cho cộng đồng.
* Về mặt an ninh, quốc phòng
Kinh tế ổn định và phát triển, các mặt chính trị – xã hội được cũng cố và tăng cường là điều kiện quan trọng cho ổn định an ninh, quốc phòng. Chi đầu tư XDCB bằng vốn NSNN còn tạo ra các công trình như: trạm, trại quốc phòng và các công trình khác phục vụ trực tiếp cho an ninh quốc phòng đặc biệt là các công trình đầu tư mang tính bảo mật quốc gia, vừa đòi hỏi vốn lớn vừa đòi hỏi kỹ thuật cao thì chỉ có chi NSNN mới có thể thực hiện được. Điều này nói lên vai trò quan trọng không thể thiếu của chi NSNN cho đầu tư XDCB trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng.
Tóm lại, chi NSNN cho đầu tư XDCB để cung cấp những hàng hóa công cộng như: quốc phòng, an ninh, các hoạt động quản lý Nhà nước, xây dựng các công trình giao thông, liên lạc; các công trình mang tính chất phúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, các công trình phục vụ cho phát triển kinh tế quốc gia như điện lực, công nghệ thông tin… Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn tạo điều kiện thu hút đầu tư, tạo việc làm, tăng thu nhập, chống suy thoái kinh tế và thất nghiệp. Vì vậy, chi NSNN cho đầu tư XDCB là tất yếu và không thể thiếu ở mọi quốc gia.
1.1.3 Nguyên tắc quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB của NSNN
Quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
– Đúng đối tượng.
Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước được thực hiện theo phương thức cấp phát không hoàn trả nhằm đảm bảo vốn để đầu tư các dự án cần thiết phải đầu tư thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh…; từ đó tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho sự phát triển toàn diện và cân đối của nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn cấp phát phát đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước bao gồm: vốn trong nước của các cấp NSNN, vốn vay nợ nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nước. Nguồn vốn cấp phát đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN chỉ được sử dụng để cấp phát thanh toán cho các dự án thuộc đối tượng sử dụng vốn NSNN theo quy định của Luật NSNN và Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng. Các dự án thuộc đối tượng cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước bao gồm:
– Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý theo phân cấp quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển như: các dự án giao thông, thủy lợi, giáo dục đào tạo, y tế; trồng rừng đầu nguồn, trồng rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên; các trạm trại thú y, nghiên cứu giống mới và cải tạo giống; công trình văn hóa, xã hội, thể dục thể thao, phúc lợi công cộng; quản lý nhà nước, khoa học kỹ thuật…
– Các dự án đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật được NSNN hỗ trợ. – Các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước, vùng, lãnh thổ, ngành (bao gồm cả quy hoạch hệ thống các khu công nghiệp); quy hoạch sử dụng đất đai cả nước, các vùng kinh tế và các vùng kinh tế trọng điểm; quy hoạch xây dựng vùng; quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn; quy hoạch chi tiết các trung tâm đô thị. – Các dự án khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
– Thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, có đủ các tài liệu thiết kế và dự toán được duyệt
Trình tự đầu tư và xây dựng là trật tự các giai đoạn, các bước công việc trong từng giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng công trình. Các dự án đầu tư không phân biệt quy mô và mức vốn đầu tư đều phải thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng gồm 3 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng. Các công việc trong giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng có thể thực hiện tuần tự hoặc gối đầu, xen kẻ tùy theo điều kiện cụ thể của từng dự án đầu tư.
– Đúng mục đích, đúng kế hoạch.
Nguồn vốn NSNN đầu tư cho các công trình, dự án được xác định trong kế hoạch NSNN hàng năm dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, kế hoạch xây dựng cơ bản của từng Bộ, ngành, địa phương, từng đơn vị cơ sở và khả năng nguồn vốn của NSNN. Vì vậy, cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN đúng mục đích, đúng kế hoạch nhằm tuân thủ đúng nguyên tắc quản lý NSNN và đảm bảo tính kế hoạch, cân đối của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, của từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương.
– Theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch và chỉ trong phạm vi giá dự toán được duyệt.
Sản phẩm xây dựng cơ bản có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng dài, kết cấu kỹ thuật phức tạp. Quản lý và cấp vốn theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch nhằm đảm bảo vốn cho quá trình đầu tư xây dựng cơ bản được tiến hành liên tục đúng kế hoạch tiến độ, kiểm tra chặt chẽ được chất lượng từng khối lượng xây dựng cơ bản và chất lượng của công trình hoàn thành, đảm bảo vốn đầu tư được sử dụng đúng mục đích và có vật tư đảm bảo, tránh ứ động, gây thất thoát và lãng phí vốn đầu tư. Sản phẩm xây dựng cơ bản có tính đơn chiếc, mỗi công trình có một thiết kế và dự toán riêng. Dự toán công trình xây dựng phản ánh những chi phí cần thiết và là giới hạn mức vốn tối đa được phép đầu tư xây dựng công trình được xác định trên cơ sở các tiêu chẩn định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá xây dựng cơ bản và các chính sách chế độ của Nhà nước quy định. Hơn nữa, Một trong những nguyên tắc quan trọng trong quản lý chi NSNN là quản lý theo dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Vì vậy, quản lý và cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải dựa vào dự toán đã được duyệt và chỉ trong phạm vi dự toán đã được duyệt.
Khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành được cấp vốn thanh toán phải là khối lượng đã thực hiện, đúng thiết kế, thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng, có trong dự toán, có trong kế hoạch xây dựng cơ bản năm và đã được nghiệm thu bàn giao theo đúng chế độ qui định của Nhà nước. Mức vốn cấp phát thanh toán cho từng công trình, hạng mục công trình, từng khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành nghiệm thu phải được xác định căn cứ vào dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chỉ được cấp phát thanh toán trong phạm vi giá dự toán đã duyệt. Trong trường hợp tổ chức đấu thầu thì mức vốn cấp phát thanh toán là giá trúng thầu hoặc giá được tính theo đơn giá trúng thầu được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng giá trúng thầu hoặc giá được tính theo đơn giá trúng thầu không được vượt dự toán đã được duyệt. Các trường hợp vượt dự toán đòi hỏi chủ đầu tư phải lập dự toán bổ sung, giải trình và chỉ được cấp vốn thanh toán khi có quyết định của cấp có thẩm quyền.
– Giám đốc bằng đồng tiền.
Kiểm tra bằng đồng tiền đối với việc sử dụng vốn đúng mục đích, đúng kế hoạch, có hiệu quả là chức năng của tài chính. Thực hiện công tác giám đốc trong quá trình cấp phát vốn đầu tư có tác dụng đảm bảo sử dụng tiền vốn tiết kiệm, đúng mục đích, đúng kế hoạch và thúc đẩy các đơn vị thực hiện tốt trình tự đầu tư và xây dựng, kế hoạch tiến độ thi công, đảm bảo chất lượng công trình và hoàn thành công trình đúng thời hạn để đưa vào sản xuất sử dụng. Giám đốc bằng đồng tiền được thực hiện đối với mọi dự án đầu tư, trong tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng; bao gồm giám đốc trước, trong và sau khi cấp phát vốn. Các nguyên tắc quản lý và cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước là một thể thống nhất, chi phối toàn bộ công tác quản lý và cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện tiền đề để thực hiện lẫn nhau.
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG CHI XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở CẤP TỈNH
1.2.1 Lập dự toán chi NSNN trong đầu tư XDCB ở địa phương
Lập dự toán chi NSNN trong đầu tư xây dựng tại địa phương là quá trình phân tích, đánh giá khả năng về các nguồn lực phục vụ cho quá trình thực hiện các nhiệm vụ cũng như chức năng của chính quyền cấp tỉnh.
Căn cứ lập dự toán chi NSNN: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao cho cấp huyện về mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, an sinh xã hội; Căn cứ vào quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cũng như chế độ chính sách và định mức về phân bổ, chi tiêu hiện hành,…
Dự toán chi cho đầu tư xây dựng tại địa phương phải phù hợp với kế hoạch phát triển về kinh tế, xã hội cũng như kế hoạch 5 năm của tỉnh, đảm bảo tuân thủ Luật đầu tư công và các chương trình được trung ương ưu tiên theo trật tự nhất định.
* Phương pháp lập ngân sách theo khoản mục
Trong phương thức này các khoản thu, chi ngân sách được khoản mục hóa. Những khoản mục này được chi tiết và phân định rõ số tiền cho mỗi cơ quan, đơn vị được hưởng là bao nhiêu, hoặc đối với mỗi tiểu mục cũng được xác định rõ là tiểu mục đó được chi là bao nhiêu. Việc quy định cụ thể các mức chi yêu cầu các đơn vị thụ hưởng ngân sách phải chi theo đúng khoản mục quy định và cần phải có chế giải trình với những yếu tố đầu vào.
Phương thức lập ngân sách theo khoản mục có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện và dễ dàng kiểm soát được các khoản chi bằng cách so sánh với những năm trước đó thông qua việc so sánh các yếu tố đầu vào của các năm.
Tuy nhiên, phương thức lập ngân sách theo khoản mục biểu hiện những điểm còn hạn chế như: nhấn mạnh nhiều đến những khoản chi có tính chất tuân thủ mà nhà nước đưa ra; chưa trả lời được câu hỏi tại sao lại có những khoản chi đó; ngân sách được lập trong thời gian ngắn hạn là một năm; chưa có chế độ phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả, cứng nhắc trong ngân phân bổ ngân sách cho các đơn vị thụ hưởng.
* Phương pháp lập ngân sách theo công việc thực hiện.
Lập ngân sách theo công việc thực hiện là việc phân bổ nguồn lực theo khối lượng công việc hoạt động của mỗi cơ quan, đơn vị trên cơ sở gắn kết công việc thực hiện với chi phí đầu vào. Lập ngân sách theo công việc thực hiện dựa vào khối lượng công việc được tiên đoán trước bằng cách nhân chi phí đơn vị với khối lượng công việc được yêu cầu trong năm tiếp theo.
Ưu điểm của phương pháp lập ngân sách theo công việc thực hiện là liên kết được kết quả tạo ra với nguồn lực được yêu cầu trong chu trình ngân sách của từng năm. Nhưng mặt khác, đây cũng chính là nhược điểm của nó vì đã không chú trọng đúng mức đến tác động hay ảnh hưởng dài hạn của chính sách.
* Phương pháp lập ngân sách theo chương trình.
Lập ngân sách theo chương trình tập trung vào sự lựa chọn của ngân sách trong số các chính sách, chương trình có tính cạnh tranh. Lập ngân sách theo chương trình thiết lập hệ thống phân phối nguồn lực, gắn kết được các kết quả của các chương trình với chi phí cần bỏ ra để thực hiện chương trình đó.
Trong phương pháp này, ngân sách được phân loại theo các khoản mục chương trình hơn là theo những mối quan hệ có tính tổ chức, đòi hỏi các mục tiêu chương trình phải dài hơn một năm ngân sách. Lập ngân sách theo chương trình yêu cầu sự cần thiết phải đo lường tính hiệu lực, tác động của những yếu tố đầu ra tới mục tiêu.
Tuy nhiên phương pháp này cũng còn bộc lộ những nhược điểm như khái niệm chương trình là khái niệm không hoàn hảo đối với ngân sách vì không thể tạo ra chương trình cho tất cả các cơ quan, tổ chức để thực hiện. Mặt khác lập ngân sách theo chương trình không đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa phân phối ngành và những mục tiêu mang tính chiến lược cần phải ưu tiên.
* Phương pháp lập ngân sách theo kết quả đầu ra
Lập ngân sách theo kết quả đầu ra là hoạt động quản lý ngân sách dựa trên cơ sở tiếp cận các thông tin đầu ra giúp cho Nhà nước thực hiện phân bổ nguồn lực một các có hiệu quả.
Lập ngân sách theo kết quả đầu ra là quy trình kết nối các kế hoạch phân bổ ngân sách với các kết quả đầu ra cụ thể ở mức độ chi tiết nhất định, tùy thuộc vào năng lực quản lý và lĩnh vực chuyên ngành.
Áp dụng phương pháp này trong lập dự toán chi NSNN trong đầu tư XDCB thể hiện một bước tiến trong công tác xây dựng kế hoạch đầu tư, gắn các mục tiêu đầu tư với các nguồn lực sẵn có, phản ánh cái nhìn tổng thể về dự định đầu tư công trong trung hạn của các cấp chính quyền. Việc xây dựng chương trình đầu tư công cộng đã góp phần thiết lập chương trình chi tiêu công toàn diện, định hướng vào kết quả. điều này góp phần tăng hiệu quả chi tiêu công trong đầu tư XDCB, hạn chế thất thoát, tăng chất lượng công trình do tăng trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị quản lý lĩnh vực này.
Tiêu chí đánh giá:
– Quy trình lập dự toán rõ ràng, chặt chẽ dễ thực hiện
– Quá trình lập dự toán đúng hạn
– Quá trình lập dự toán có xem xét tình hình nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội
– Quá trình lập dự toán có xem xét đến nguồn ngân sách ở các cấp
1.2.2 Chấp hành chi NSNN trong đầu tư XDCB
Chấp hành dự toán chi NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế – tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu chi ngân sách ghi trong dự toán chi NSNN trở thành hiện thực. Như vậy, mục tiêu của chấp hành dự toán chi NSNN nhằm:
– Biến các chỉ tiêu ghi trong kế hoạch ngân sách năm từ khả năng, dự kiến thành hiện thực. Từ đó góp phần biến các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước từ khả năng thành hiện thực.
– Thông qua chấp hành dự toán chi NSNN có thể tiến hành kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức về kinh tế, tài chính của nhà nước.
Chấp hành dự toán chi NSNN là thực hiện tốt các mục tiêu nói trên, sẽ mang lại ý nghĩa quan trọng không những cho công tác quản lý, điều hành ngân sách mà quan trọng hơn là thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Nội dung chấp hành chi NSNN là việc bố trí kinh phí kịp thời đáp ứng nhu cầu chi của các đơn vị sử dụng NSNN theo dự toán được duyệt đảm bảo tiết kiệm và đạt hiệu quả cao. Các cơ quan được pháp luật quy định có trách nhiệm kiểm soát các khoản chi NSNN theo đúng dự toán và đúng chế độ.
Các đơn vị sử dụng ngân sách chỉ được cấp phát kinh phí NSNN khi có đủ điều kiện:
– Đã có trong dự toán NSNN được giao, trừ các trường hợp chi từ nguồn tăng thu so với dự toán được giao và từ nguồn dự phòng ngân sách (Đối với những khoản chi không có trong dự toán thì đơn vị sử dụng NSNN báo cáo với cơ quan có thẩm quyền đề nghị bổ sung hoặc điều chỉnh dự toán);
– Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định; đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi.
Ngoài ra, trường hợp sử dụng vốn, kinh phí NSNN để đầu tư XDCB, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì còn phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật. Các khoản chi có tính chất thường xuyên, khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chi phát sinh vào một số thời điểm như đầu tư XDCB, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán do đơn vị dự toán cấp trên giao. Đối với những dự án, nhiệm vụ chi cấp thiết được tạm ứng trước dự toán để thực hiện.
Chấp hành chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản phải được thực hiện nghiêm ngặt, kiên quyết không thanh toán những công trình, dự án không có trong dự toán và không tuân thủ theo qui định trên, đình chỉ ngay những dự án kém hiệu quả để tránh lãng phí hơn nữa nguồn vốn NSNN.
Tiêu chí đánh giá:
– Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện so với vốn đầu tư được phân bổ.
– Quy trình kiểm soát chi chặt chẽ
– Tỷ lệ nợ đọng XDCB năm nay so với năm trước.
– Hiệu quả đầu tư
– Tổng vốn đầu tư theo khoản mục.
1.2.3 Quyết toán chi NSNN trong đầu tư XDCB
Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách. Mục đích của quyết toán NSNN là tổng kết đánh giá lại quá trình chi NSNN trong đầu tư XDCB qua một năm thực hiện ngân sách, cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý, điều hành chi NSNN trong đầu tư XDCB cho những người quan tâm như: Hội đồng nhân dân các cấp, UBND, những người tài trợ, người dân… Quyết toán NSNN được thực hiện tốt sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhìn lại quá trình chấp hành ngân sách qua một năm, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực bổ sung cho công tác lập ngân sách cũng như chấp hành ngân sách những chu trình tiếp theo.
Nguyên tắc quyết toán NNSN:
– Số liệu quyết toán
Số liệu trong báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước phải chính xác, trung thực và đầy đủ. Số quyết toán chi NSNN là số chi đã thực thanh toán hoặc đã được phép hoạch toán chi theo qui định.
– Nội dung
Báo cáo quyết toán chi NSNN trong đầu tư XDCB phải theo đúng nội dung trong dự toán được giao và theo mục lục ngân sách; báo cáo quyết toán năm phải có thuyết minh nguyên nhân tăng giảm các khoản chi NSNN trong đầu tư XDCB so với dự toán.
– Trách nhiệm quyết toán chi NSNN trong đầu tư XDCB
Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách đầu tư XDCB phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực đầy đủ về báo cáo quyết toán của đơn vị, chịu trách nhiệm về những khoản chi, hoạch toán, quyết toán sai chế độ.
Kho bạc Nhà nước địa phương phải có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi cơ quan tài chính cùng cấp để cơ quan Tài chính lập báo cáo quyết toán. Kho bạc Nhà nước xác nhận số liệu chi ngân sách trong đầu tư XDCB trên báo cáo quyết toán của ngân sách cấp tỉnh và các đơn vị sử dụng ngân sách chi cho đầu tư XDCB.
Tiêu chí đánh giá:
– Tỷ lệ vốn đầu tư được quyết toán so với dự toán.
– Công tác quyết toán chi đúng hạn.
– Công tác quyết toán chi không có sai sót
1.2.4. Kiểm tra, giám sát công tác chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản
Việc xét duyệt và thẩm tra quyết toán mang tính chất định kỳ để đảm bảo việc sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, đúng quy định. Đây cũng là cơ sở cho việc tổng hợp quyết toán của các cấp ngân sách. Cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện việc kiểm toán, xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán chi NSNN các cấp, cơ quan, đơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện nhiệm vụ, cơ quan Kiểm toán Nhà nước có quyền độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận kiểm toán của mình; trong trường hợp cần thiết, cơ quan Kiểm toán Nhà nước được đề nghị các cơ quan chức năng phối hợp công tác để thực hiện nhiệm vụ được giao.
Việc kiểm toán quyết toán ngân sách được thực hiện trước khi HĐND phê chuẩn quyết toán; trường hợp kiểm toán sau khi HĐND phê chuẩn quyết toán thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm:
– Kiểm tra và duyệt quyết toán chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm về quyết toán đã duyệt; lập báo cáo quyết toán chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan tài chính cùng cấp;
– Kiểm tra việc mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước của các đơn vị trực thuộc;
– Đối với những dự án, nhiệm vụ quy mô lớn, được đề nghị cơ quan Kiểm toán Nhà nước kiểm toán hoặc sử dụng dịch vụ kiểm toán để có thêm căn cứ xét duyệt quyết toán theo quy định.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị dự toán ngân sách có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các chế độ chi và quản lý chi ngân sách, quản lý tài sản của Nhà nước.
Thanh tra Tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành pháp luật về chi và quản lý ngân sách, quản lý tài sản nhà nước của tổ chức, cá nhân. Khi thực hiện thanh tra, Thanh tra Tài chính có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân xuất trình các hồ sơ, tài liệu liên quan; nếu phát hiện vi phạm, có quyền kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi vào NSNN những khoản chi sai chế độ. Tủy theo tính chất, mức độ vi phạm, Thanh tra Tài chính có quyền xử lý hoặc kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với tổ chức, cá nhân vi phạm. Thanh tra Tài chính phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra.
Tiêu chí đánh giá:
– Số lượng cuộc thanh tra, kiểm tra
– Số lượng các công trình hoàn thành
– Số lượng công trình được nghiệm thu.
– Số lượng vi phạm,các lỗi vi phạm, nội dung xử phạt
– Các khiếu nại, tố cáo.
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Xây dựng cơ bản thường được tiến hành ngoài trời, do đó nó chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu. Bên cạnh đó, ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau, do vậy cần phải có những thiết kế, kiến trúc phù hợp với điều kiện tự nhiên ở nơi xây dựng công trình. Chẳng hạn, ở địa phương có nhiều sông, lại hay xảy ra lũ lụt thì chi NSNN sẽ tập trung vào xây dựng đê, kè, và tu sửa đê, khi xây dựng công trình phải tránh mùa mưa, bão và có những biện pháp hữu hiệu để tránh thiệt hại xảy ra nhằm đảm bảo chất lượng công trình; hoặc địa phương có địa hình chủ yếu là đồi núi, dốc thì chú ý đầu tư cho giao thông thuận lợi để có thể phát triển kinh tế và phát triển các ngành nghề phù hợp với điều kiện địa hình đó. Vì vậy, quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản chịu ảnh hưởng nhiều từ các điều kiện tự nhiên ở địa phương.
1.3.2 Điều kiện kinh tế – xã hội
Quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn địa phương đều chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế xã hội. Với môi trường kinh tế ổn định, vốn đầu tư sẽ được cung cấp đầy đủ, đúng tiến độ. Ngược lại nền kinh tế mất ổn định, mức tăng trưởng kinh tế chậm Nhà nước sẽ thắt chặt tín dụng để kìm chế lạm phát, các dự án sẽ bị điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư, chi NSNN giảm. Lạm phát cũng làm cho giá cả nguyên vật liệu tăng, làm chi phí công trình tăng điều này có thể hoãn thực hiện dự án vì không đủ vốn đầu tư để thực hiện. Vì vậy, có thể nói các yếu tố về kinh tế – xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn địa phương.
1.3.3. Cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước về quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản.
Trong kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, pháp luật đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong việc quản lý Nhà nước nói chung và quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB nói riêng. Hệ thống pháp luật với vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong xã hội hoạt động theo trật tự, trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo sự công bằng, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải rất đầy đủ, chuẩn tắc và đồng bộ. Vì vậy, hệ thống pháp luật, các chính sách liên quan đến quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB sẽ có tác dụng kiềm hãm hay thúc đẩy hoạt động quản lý hiệu quả hay không hiệu quả chi NSNN trong đầu tư XDCB ở địa phương.
Môi trường pháp lý là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB ở địa phương. Chẳng hạn, định mức chi tiêu của Nhà nước là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng dự toán, phân bổ dự toán và kiểm soát chi tiêu trong đầu tư XDCB, cũng là một trong những chỉ tiêu để đánh giá chất lượng quản lý và điều hành ngân sách nhà nước của các cấp chính quyền địa phương. Việc ban hành các định mức chi một cách khoa học, cụ thể, kịp thời sẽ góp phần không nhỏ trong việc quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước được chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn. Hay như, sự phân định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, các cấp chính quyền trong việc quản lý chi ngân sách nhà nước cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác quản lý chi đầu tư XDCB. Chỉ trên cơ sở phân công trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng của từng cơ quan, địa phương sẽ tạo điều kiện cho công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB đạt hiệu quả, không lãng phí công sức, tiền của. Sự phân định trách nhiệm, quyền hạn phải được tôn trọng và thể chế hóa thành Luật để các cơ quan cũng như từng cá nhân có liên quan biết được phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình trong thực hiện nhiệm vụ, qua đó công việc được tiến hành trôi chảy, dựa trên nguyên tắc rõ ràng, minh bạch không đùn đẩy trách nhiệm, và trách nhiệm giải trình rõ ràng sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB.
1.3.4 Khả năng về nguồn lực ngân sách nhà nước.
Dự toán về chi ngân sách trong đầu tư XDCB được lập luôn luôn dựa và tính toán có khoa học của nguồn thu ngân sách, tức là căn cứ vào thực tiễn thu ngân sách các năm trước và dự báo tăng thu trong năm nay mà đề ra kế hoạch thu ngân sách, vì vậy, chi ngân sách trong đầu tư XDCB không được vượt quá thu ngân sách dành cho đầu tư, đồng thời cũng căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương để lập dự toán chi NSNN cho đầu tư XDCB hàng năm. Đối với các địa phương có nguồn thu lớn thì không phụ thuộc vào NSTW cấp thì chủ động hơn trong việc lập dự toán chi ngân sách và quản lý chi ngân sách trong đầu tư XDCB.
1.3.5 Tổ chức bộ máy và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB
Tổ chức bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB trên địa bàn địa phương và việc vận dụng quy trình nghiệp vụ quản lý vào thực tiễn địa phương: hoạt động quản lý chi ngân sách Nhà nước trong đầu tư XDCB được triển khai có thuận lợi và hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào tổ chức bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB và quy trình nghiệp vụ, trong đó đặc biệt là quy trình nghiệp vụ quản lý. Tổ chức bộ máy và quy trình quản lý, quyền hạn trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận, mối quan hệ của từng bộ phận trong quá trình thực hiện từ lập, chấp hành, quyết toán và kiểm toán chi NSNN trong đầu tư XDCB có tác động rất lớn đến quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB. Tổ chức bộ máy quản lý phù hợp sẽ nâng cao chất lượng quản lý, hạn chế tình trạng sai phạm trong quản lý. Quy trình quản lý được bố trí càng khoa học, rõ ràng thì càng góp phần quan trọng làm nâng cao chất lượng của thông tin tới cấp ra quyết định quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB, giảm các yếu tố sai lệch thông tin. Từ đó nâng cao được hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB trên địa bàn địa phương.
Năng lực quản lý của người lãnh đạo bộ máy chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB, bao gồm các nội dung sau: năng lực đề ra chiến lược trong hoạt động ngân sách; đưa ra được các kế hoạch triển khai các công việc hợp lý, rõ ràng; tạo nên một cơ cấu tổ chức hợp lý, có hiệu quả, có sự phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn giữa các nhân viên, cũng như giữa các khâu, các bộ phận của bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước ở địa phương. Năng lực quản lý của người lãnh đạo có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác quản lý ngân sách nhà nước nói chung và quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB ở từng địa phương nói riêng. Nếu năng lực của người lãnh đạo yếu, bộ máy tổ chức không hợp lý, các chiến lược không phù hợp với thực tế thì việc quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB sẽ không hiệu quả, dễ gây tình trạng chi vượt quá thu, chi đầu tư giàn trải, phân bổ chi đầu tư XDCB không hợp lý; có thể dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí ngân sách, không thúc đẩy được sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo các vấn đề xã hội… Ngoài ra, đối với người lãnh đạo cũng cần tránh bệnh chạy theo thành tích, bệnh cục bộ địa phương, bệnh quan liêu mệnh lệnh, coi thường pháp luật, xem trình tự thủ tục là thứ gò bó quyền lực của mình. Đây cũng có thể được coi là một trong những yếu tố làm giảm hiệu quả, thậm chí còn gây những hậu quả như thất thoát, lãng phí, tham nhũng,… trong công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB trên địa bàn địa phương.
Năng lực chuyên môn của các bộ phận quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB ở địa phương lại là yếu tố quyết định hiệu quả chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB. Nếu cán bộ quản lý có năng lực chuyên môn cao sẽ giảm thiểu được sai lệch trong cung cấp thông tin của đối tượng sử dụng vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB, kiểm soát được toàn bộ nội dung chi, nguyên tắc chi và tuân thủ theo các quy định về quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB đảm bảo theo dự toán đã đề ra. Bên cạnh năng lực chuyên môn thì đối với cán bộ công chức cũng cần phải tránh bệnh xu nịnh, chiều ý cấp trên, là thói quen xin cho, hạch sách, thiếu ý thức chịu trách nhiệm cá nhân. Thậm chí là sa sút về phẩm chất đạo đức như đòi hối lộ, đưa đút lót, thông đồng, móc ngoặc, gian lận… đây là những nhân tố ảnh hưởng không tốt tới quá trình quản lý chi ngân sách nhà nước đặc biệt là chi cho đầu tư XDCB (do vốn đầu tư XDCB thường lớn) gây giảm hiệu quả sử dụng vốn NSNN nghiêm trọng.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản như khái niệm, vai trò, nguyên tắc của chi NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản. Nội dung của chi NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản gồm: Lập dự toán chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB; Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB; Quyết toán chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB. Hoạt động này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Nội dung chương 1 là cơ sở định hướng cho học viên phân tích thực trạng về quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB ở chương 2 và đề xuất giải pháp ở chương 3.
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI TỈNH SAVANNAKHET, NƯỚC CHDCND LÀO
2.1 KHÁT QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI TẠI TỈNH SAVANNAKHET
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Hình 2.1 Bản đồ địa chỉnh của tỉnh Savanankhet
Savannakhet nằm ở miền trung của Lào, là tỉnh lớn thứ hai và được xem như thủ phủ kinh tế của Lào với diện tích 21.774 km²; Bắc giáp tỉnh Khammuane, Nam giáp tỉnh Saravane, Đông giáp tỉnh Quảng Trị của Lào và Tây giáp tỉnh Mukdahan của Thái Lan. Tỉnh Savannakhet chia thành hai vùng cơ bản là vùng đồng bằng ven sông Mêkong và vùng núi, cao nguyên, tình hình kinh tế xã hội ở hai tỉnh này được khái quát như sau:
Vùng miền núi và vùng cao nguyên: Hai vùng này điều kiện phát triển kinh tế xã hội tương tự giống nhau, là vùng có các loại cây cối, rừng Ramak, đa dạng về hàng lâm sản, rất phù hợp về trồng trọt các loại cây công nghiệp như cà phê, hạt tiêu, sa nhân… ở vùng này sự phát triển kinh tế xã hội còn kèm, cho nên chủ trương của Chính phủ Lào cũng như tỉnh Savannakhet về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cụ thể: tổ chức bố trí nghề nghiệp mới tại chỗ một cách bền vừng như trồng trọt, chăn nuôi, gắn liền với việc vận động đồng bào giảm dần phá rừng làm nương; Nhà nước đầu tư một số cơ sở hạ tầng chủ yếu như trường học, bệnh viện, đường xá, thành lập đặc khu để tập trung phát triển kinh tế, xã hội theo lợi thế của các vùng; Tổ chức đào tạo nghề và mở một số mô hình về ngành trồng trọt và chăn nuôi cho đồng bào vùng xa xôi nhằm tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người dân.
Vùng đồng bằng ven sông Mêkong: vùng này có sự phát triển về mặt kinh tế xã hội tương đối cao, nhiều thuận lợi về cơ sở hạ tầng, đời sống người dân tương đối khá. Chính phủ Lào và tỉnh Savannakhet có chính sách: khuyến khích đầu tư cơ sở sản xuất chế biến hàng công nghiệp nặng và nhẹ, sản xuất máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất, hạn chế nhập hàng hóa từ bên ngoài, thúc đẩy việc du lịch và dịch vụ quá cạnh tranh; Không ngừng nâng cao trình độ nghề nghiệp cho cán bộ nhà nước và của các cơ sở sản xuất để tạo ra đội ngũ cán bộ kỹ thuật giỏi.
Tỉnh Savannakhet có 14 huyện và 1 thành phố. Diện tích đồng bằng chiếm 59% và miền núi 41% trong đó diện tích trồng trọt có khoảng 700.000 ha, diện tích rừng chiếm 61% của tổng diện tích toàn tỉnh.
- Khí hậu: Nhờ vị trí địa lý của tỉnh nằm trên vĩ tuyến 16, 17 đông bắc là khu vực nhiệt đới và ẩm cho nên khí hậu tương đối ẩm và lượng mưa nhiều quanh năm, khí hậu của tỉnh được chia thành ba vùng: vùng miền núi, cao nguyên mát lạnh, độ ẩm nhiều rất tốt cho chăn nuôi các loại gia xúc và trồng trọt các loại hoa và các loại cây công nghiệp, vùng nhiệt độ nóng hơn, sự bốc hơi của nước nhiều thuận lợi cho trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi…
– Tài nguyên – Khoáng sản: tài nguyên khoáng sản của tỉnh Savannakhet có thạch cao, đá granit, vàng, bạc, đồng, muối… Hiện nay trong tỉnh có nhiều công trình khai thác quặng, trong đó vàng, đồng Sepon ở huyện Vilabuly đang khai thác bằng vốn của nước ngoài do công ty Oxiana Resources of Austrailia, là mỏ lớn nhất của Lào. Hiện nay, việc đầu tư khai thác được tiến hành với tổng số vốn 536 triệu USD, có diện tích mặt bằng 1,947 km2.

Về tài nguyên nước, tỉnh Savannakhet có nhiều sông lớn, nhỏ như: sông Mêkong, sông Sebanghieng, sông Sebangphay, sông Sebangnuan, sông Sechamphon, sông Sesamsoi, sông Sepon, sông Sekok và các chi nhánh khác. Những sông này rất thuận lợi về xây dựng thủy lợi, xây dựng nhà máy thủy điện, tạo điều kiện tốt cho trồng trọt và chăn nuôi.
Ngoài ra tỉnh Savanakhet còn có nhiều di tích lịch sử và du lịch tự nhiên đang thu hút khách nước ngoài ngày càng tăng trong mỗi năm.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1/ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
Quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Savannakhet Quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Savannakhet Quản lý chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh Savannakhet


