Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang

Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang

Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang

LỜI NÓI ĐẦU

  1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đưa đất nước trở thành một nước có nền công nghiệp hiện đại, nền văn hóa tiên tiến, gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Giáo dục được coi là chìa khóa tiến vào tương lai. Mặt khác, để có được đội ngũ cán bộ lao động có đủ năng lực tiếp cận với những công nghệ hiện đại, những phương pháp quản lý tiên tiến thì giáo dục-đào tạo phải luôn đi trước một bước so với các ngành khác. Chính vì tầm quan trọng đó của giáo dục cho nên những khoản chi NSNN cho giáo dục cũng đặc biệt được coi trọng. Trong những năm qua nguồn vốn từ NSNN chi cho giáo dục chiểm tỉ trọng lớn và là khoản chi quan trọng của NSNN. Tuy nhiên, có một thực tế phát sinh là mặc dù những khoản chi này rất lớn nhưng không đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu của ngành giáo dục như mua sắm đồ dùng, trang thiết bị dạy học, tiền lương chi trả cho cán bộ công nhân viên.v..v. Hơn nữa, trong tương lai NSNN có xu hướng giảm các khoản chi thường xuyên để tăng cường các khoản chi đầu tư phát triển. Chính vì thế việc quản lý, sử dụng ngân sách hiệu quả là một trong những yêu cầu hàng đầu của bất kì đơn vị, tổ chức nào nhằm phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ của đơn vị trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Đặc biêt, trong điều kiện nguồn thu ngân sách ngày càng khó khăn, nhu cầu chi ngày càng lớn, tình trạng bội chi ngân sách thường xuyên xảy ra…thì việc nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước là rất quan trọng đối với bất kì tổ chức nào.

Trên địa bàn Huyện Tây Giang, trong những năm qua, chi từ NSNN cho giáo dục-đào tạo luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi NSNN trên địa bàn huyện. Đặc biệt, trong điều kiện Tây Giang là một huyện miền núi đặc biết khó khăn, dân cư chủ yếu là người dân tộc Cotu nên việc đầu tư cho giáo dục càng đặc biệt quan tâm, nguồn thu ngân sách còn hạn hẹp thì vấn đề quản lý chặt chẽ, tiết kiệm, có hiệu quả các khoản chi ngân sách cho giáo dục đào tạo lại càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng là yêu cầu cấp bách đặt ra cho địa phương trong giai đoạn.

Tại các trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện Tây Giang cũng vậy, là các đơn vị đào tạo ra những thế hệ trẻ của tương lai, để thực hiện tốt nhiệm vụ mà Nhà nước và nhân dân giao phó đòi hỏi tất cả các công tác quản lý phải luôn được hoàn thiện, trong đó quản lý NSNN là một mấu chốt không thể thiếu. Quản lý NSNN các trường cần phải xây dựng bằng kế hoạch cụ thể, tổ chức triển khai một cách khoa học, có quy trình, có kiểm tra, giám sát và có báo cáo đánh giá kết quả thực hiện. Thực hiện tốt công tác này sẽ giúp cho các trường thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của đơn vị.

Những năm qua công tác quản lý và điều hành chi NSNN huyện Tây Giang đã có những đóng góp tích cực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của huyện nhà. Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những thiếu sót không tránh khỏi. Đó là những hạn chế liên quan đến quy trình thực hiện quản lý ngân sách tại các trường , việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp chưa thực sự phát huy hiệu quả, trình độ, năng lực của các cán bộ làm công tác tài chính còn yếu, các nội dung quản lý ngân sách các trường chưa thực sự hiệu quả như: Việc lập dự toán chậm còn sơ sài, dự toán thu lập thấp hơn so với thực tế, quản lý chi tiêu sai mục đích, quy trình mua sắm, sữa chữa tài sản còn nhiều bất cập,…và còn nhiều vấn đề liên quan khác.

Vì vậy, việc quản lý chi NSNN đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam như thế nào để đảm bảo đạt hiệu quả cao nhất, triệt để tiết kiệm, khắc phục tình trạng chi vượt dự toán, chi không đúng thẩm quyền, sai quy định của Luật NSNN đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước ở địa phương hết sức quan tâm.

Xuất phát từ những bất cập và hạn chế trên nên học viên đã chọn nghiên cứu đề tài “ Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam” với mong muốn đóng góp một phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT trên địa bàn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang để tìm kiếm các giải pháp có căn cứ khoa học nhằm hoàn thiện công tác quản lý này. Từ đó để đi đến đạt được những mục tiêu cụ thể như sau”

Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đó, luận văn xác định những mục tiêu cụ thể sau:

– Xác định khung lý thuyết cho nghiên cứu về quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục.

– Phân tích thực trạng quản lý và sử dụng các khoản chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang; đánh giá và chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế và lý giải nguyên nhân của những hạn chế.

– Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý việc chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến công tác quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về thời gian: Đề tài nghiên cứu Quản lý và sử dụng chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang từ năm 2015 đến năm 2020; những phương hướng các giải pháp được đề xuất đến năm 2022.

– Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Tây Giang.

– Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý và sử dụng các khoản chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục:lập dự toán chi thường xuyên, mua sắm tài sản hàng năm; chấp hành dự toán,quyết toán kinh phí thường xuyên.Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý, sử dụng các khoản chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục đến năm 2022.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, phương pháp thống kê và phân tích để tổng hợp các số liệu và phân tích các số liệu được thu thập từ Phòng GD&ĐT, Phòng Tài chính kế hoạch và Kho bạc Nhà nước Tây Giang nhằm chứng minh về thực trạng quản lý các khoản chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang, đồng thời sử dụng phương pháp so sánh, phân tích để tổng hợp và nhận định về sự biến động của chi phí tại giai đoạn 2015 – 2020.

4.1. Phương pháp thu thập số liệu

4.1.1. Số liệu thứ cấp

Nguồn số liệu, thông tin thứ cấp được thu thập từ Phòng tài chính kế hoạch huyện Tây Giang, KBNN Tây Giang, Chi cục thống kê huyện Tây Giang, chi cục thuế, văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện và một số tài liệu khác liên quan đến đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn giai đoạn 2015-2020.

4.1.2. Công cụ xử lý và phân tích: Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học trên excel để mô tả và so sánh.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp phân tổ, tổng hợp: Sử dụng phương pháp này để hệ thống hóa và phân tích số liệu, nhằm khái quát hóa những đặc trưng chung, những cơ cấu tồn tại khách quan theo các mặt của tổng thể nghiên cứu bằng các chỉ tiêu thống kê. Từ việc phân tích kết hợp phương pháp tổng hợp để đưa ra những đánh giá khái quát về quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT trên địa bàn huyện Tây Giang.

+ Phương pháp thống kê mô tả: Từ báo cáo chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo qua các năm, tiến hành sắp xếp, phân loại và tổng hợp các số liệu thu thập được, xây dựng các bảng biểu để phân tích dữ liệu nhằm mô tả thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.

+ Phương pháp so sánh: Được sử dụng để phân tích và tìm ra các đặc điểm làm cơ sở cho các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo trên địa bàn huyên Tây Giang.

5.Tổng quan các nghiên cứu

Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang
Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang

6 . Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận văn được chia làm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT .

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang giai đoạn 2015-2020.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC

1.1. Những vấn đề chung về quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục

1.1.1. Chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục

1.1.1.1. Khái niệm

Phát triển Giáo dục – Đào tạo chính là động lực của sự phát triển Kinh tế – Xã hội. Để mở rộng, phát triển và nâng cao hiệu quả của Giáo dục – Đào tạo, chúng ta cần phải có nguồn lực để đáp ứng nhiệm vụ chi cho lĩnh vực này. Trong những năm quá, vốn đầu tư cho Giáo dục – Đào tạo được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng nguồn vốn từ NSNN vẫn giữ nhiệm vụ quan trọng nhất, bởi Giáo dục – Đào tạo là lĩnh vực nhạy cảm, mang tính quy mô lớn, tầm cỡ quốc gia, cần có sự chỉ đạo của Chính phủ, sự quản lý chặt chẽ của các cấp, ngành, địa phương và toàn xã hội. Hàng năm, Chính phủ đều dành một phần lớn nguồn lực trong tổng chi NSNN cho Giáo dục – Đào tạo. Cùng với Khoa học – Công nghệ, Giáo dục – Đào tạo là một trong hai chỉ tiêu “cứng” trong việc phân bổ nguồn lực.

Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là khoản chi thuộc nhóm chi hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính hành chính sự nghiệp, là việc sử dụng nguồn vốn NSNN để thực hiện các hoạt động mang tính chất tích lũy đặc biệt vì khoản chi này đầu tư dài hạn cho tương lai trong việc tăng trưởng kinh tế . Do đó chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là việc cấp vốn đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai của đất nước.

        1. Phân loại về chi NSNN đối với sự nghiệp giáo dục

Phân loại chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục bao gồm 4 nhóm chi chính:

Nhóm 1: Các khoản chi cho con người

Đứng trên góc độ tài chính, đây là khoản chi tiêu thường xuyên như: tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp và các khoản khác. Trong đó:

Tiền lương bao gồm: Lương ngạch bậc, lương tập sự, lương hợp đồng.

Tiền phụ cấp gồm: Phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp ưu đãi nghề giáo, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp độc hại,…

Tiền thưởng gồm: Thưởng thường xuyên, thưởng đột xuất và thưởng khác.

Phúc lợi tập thể gồm: Trợ cấp khó khăn thường xuyên, trợ cấp khó khăn đột

xuất, tiền tàu xe, phúc lợi khác.

Các khoản đóng góp: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn.

Nhóm 2: Chi về quản lý hành chính

Nhóm này bao gồm các khoản chi: Chi thanh toán dịch vụ công cộng (tiền điện, tiền nước, nhiên liệu, vệ sinh môi trường và dịch vụ công cộng khác); Chi vật tư văn phòng (gồm văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ và vật tư văn phòng khác); Chi thông tin liên lạc (gồm điện thoại, fax, tuyên truyền, ấn phẩm truyền thông…); Chi công tác phí (tiền vé máy bay, tàu xe, phụ cấp công tác phí, thuê phòng ngủ, khoán công tác phí và công tác phí khác); Chi hội nghị phí (gồm tài liệu, bồi dưỡng giảng viên, thuê phòng ngủ, thuê hội trường và các chi phí khác).

Nhóm 3: Chi cho hoạt động chuyên môn

Đây là khoản chi quan trọng nhất tác động trực tiếp đến công tác giáo dục. Khoản chi này bao gồm: Chi mua tài liệu, đồ dùng giảng dạy và học tập, chi hội thảo, hội giảng, chi cho các lớp bồi dưỡng học sinh, bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn.

Nhóm 4: Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên tài sản

Chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhỏ phục vụ cho hoạt động chuyên môn như: Mua sắm bàn ghế, bảng, thiết bị dạy học, máy chiếu, máy photocopy và các trang thiết bị khác, sửa chữa nhỏ trong trường… phục vụ hoạt động giảng dạy.

1.1.1.3. Đặc điểm

Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của cơ quan quản lý nhằm đảm bảo cho các cơ quan đơn vị quản lý thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục mang đầy đủ các đặc điểm của chi thường xuyên NSNN, cụ thể:

Thứ nhất: Đại bộ phận các khoản chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục mang tính ổn định khá rõ nét. Nhận biết được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước và để thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển quốc gia, vì vậy cần phải có khoản đầu tư ổn định và thích đáng cho ngành giáo dục. Do đó hàng năm, Nhà nước ta phải trích một khoản chi NSNN để đầu tư cho ngành giáo dục (chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn) bất kể nền kinh tế quốc gia đang tăng trưởng hay suy thoái.

Thứ hai: Xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội. Tuy nhiên khi xét về tác dụng lâu dài thì đây là khoản chi mang tính chất tích lũy đặc biệt. Khoản chi này là một trong những nhân tố quyết định tới việc tăng trưởng kinh tế trong tương lai vì nó không mất đi sau quá trình tiêu dùng mà tạo thành “chất xám” của con người cho tiêu dùng trong tương lại. Xã hội ngày càng phát triển thì mọi của cải làm ra, tỷ lệ “chất xám” trong sản phẩm đó càng lớn.

Thứ ba: Phạm vi, mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hoá công cộng. Như chúng ta đã biết, giáo dục là hàng hóa công cộng, trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước hiện nay thì hoạt động giáo dục có sự chăm lo của cả Nhà nước và người dân, nhờ vậy mà Nhà nước có thể thu hẹp được phạm vi và hạ thấp mức chi cho lĩnh vực này.

      1. Quản lý chi NSNN đối với sự nghiệp giáo dục

1.1.2.1. Khái niệm

Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục là một khái niệm phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực NSNN nhằm thực hiện các chức năng vốn có của các cơ sở GD&ĐT trong việc triển khai chức năng, nhiệm vụ được giao.

Xét về phương diện cấu trúc, quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục bao gồm hệ thống các yếu tố sau:

Đối tượng quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục: là toàn bộ các khoản chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục mà trong đó chủ thể quản lý là thủ trưởng các cơ quan đơn vị được giao sử dụng ngân sách

Công cụ và phương pháp quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên địa bàn cấp huyện: công cụ quản lý gồm các chế độ, chính sách, các tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành tác động lên đối tượng và chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý chi NSNN.

Sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản của quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục, đó là sử dụng chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục một cách hợp lý, tiết kiệm.

Vai trò của quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.

Quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục là một nội dung của quản lý tài chính Nhà nước. Nội dung các khoản chi của ngành GD&ĐT đa dạng, có quy mô lớn. Quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện là cần thiết vì những lý do chủ yếu sau:

Thứ nhất: Quy mô của các khoản chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục. Trong các nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Quy mô của khoản chi NSNN nói chung, chi thường xuyên NSNN nói riêng cho giáo dục được thể hiện trên các mặt sau:

Một là: Chi thường xuyên cho sự nghiệp GD&ĐT là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi NSNN. Việc tăng cường tốt công tác quản lý chi NSNN trong lĩnh vực này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả chi NSNN, chất lượng GD&ĐT được nâng cao.

Hai là: Chi thường xuyên NSNN cung cấp nguồn lực chủ yếu giúp việc củng cố, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy.

Hai yếu tố này ảnh hưởng có tính quyết định đến chất lượng hoạt động Giáo dục – Đào tạo. Những năm qua, vốn NSNN chi cho Giáo dục – Đào tạo chủ yếu dành cho những chi phí liên quan đến con người. Trong đó, chi lương và phụ cấp lương cho giáo viên chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi thường xuyên giáo dục. Hiện nay, tiền lương và phụ cấp và các chế độ cho giáo viên đều do Ngân sách Nhà nước đảm bảo. Chế độ tiền lương hợp lý sẽ đảm bảo cho giáo viên yên tâm công tác, đóng góp tào năng và trí tuệ cho xã hội và ngược lại.

Ba là: Thông qua cơ cấu vốn, định mức chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục đã có tác dụng điều chỉnh cơ cấu, quy mô giáo dục trong toàn ngành. Trong điều kiện đa dạng hóa Giáo dục – Đào tạo như hiện nay, vai trò định hướng của Nhà nước thông qua chi thường xuyên ngân sách để điều chỉnh quy mô, cơ cấu giữa các cấp học, ngành học, giữa các vùng là hết sức quan trọng.

Một cơ cấu ngành học, bậc học hợp lý, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng nhân lực sau đào tạo sẽ đảm bảo cho giáo dục phát triển cân đối, có hiệu quả, tránh hiện tượng thất nghiệp đang là vấn đề quan tâm.

Bốn là: Sự đầu tư của chi thường xuyên NSNN có tác dụng hướng dẫn, tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nguồn vốn khác tham gia đầu tư cho giáo dục. Với chức năng quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể cung cấp các dịch vụ công: giáo dục, y tế, thể dục thể thao… Trong điều kiện các tổ chức, cá nhân chưa có đủ tiềm lực đầu tư độc lập cho các dự án giáo dục, thì nguồn vốn từ chi thường xuyên NSNN là rất quan trọng để thu hút các nguồn lực khác cùng đầu tư cho giáo dục.

Với chức năng quản lý kinh tế, thông qua sự đầu tư của Nhà nước vào cơ sở vật chất có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ phong trào xã hội hóa giáo dục về mặt tài chính, góp phần thực hiện thành công chủ trương xã hội hóa giáo dục của Chính phủ.

Thứ hai: Thực tiễn quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn cấp huyện hiện nay còn một số hạn chế nhất định.

Ở khâu lập dự toán: Hiện nay có nhiều cơ quan tham gia lập kế hoạch (cơ quan tài chính, cơ quan chủ quản, đơn vị dự toán…), quy trình lập dự toán phải qua nhiều bước. Căn cứ lập kế hoạch ở nhiều đơn vị dự toán chưa sát đúng thực tế, hầu hết các đơn vị thụ hưởng ngân sách đều có xu hướng lập dự toán chi tiêu tăng. Ngoài ra, một số định mức ngân sách chưa phù hợp đã làm cho nhiều đơn vị khó khăn trong cân đối thu, chi tại đơn vị.

Ở khâu chấp hành dự toán: Quản lý chi thường xuyên NSNN cho Giáo dục – Đào tạo chưa phân biệt cụ thể quan hệ giữa quản lý ngân sách toàn ngành với quan hệ quản lý ngân sách trên địa bàn nên chưa xây dựng được mô hình quản lý ngân sách thống nhất cho Giáo dục – Đào tạo trên phạm vi cả nước. Trong quá trình chấp hành chi, một số khoản chi đơn vị chi sai chế độ, có dấu hiệu lãng phí, việc bảo quản và sử dụng tài sản có giá trị còn nhiều hạn chế. Chi thường xuyên NSNN chưa phát huy tác dụng khuyến khích khai thác nguồn vốn ngoài NSNN phục vụ cho sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo.

Ở khâu quyết toán NSNN: Nhiều đơn vị nộp báo cáo quyết toán chưa đúng với thời gian quy định, báo cáo quyết toán còn thiếu nhiều biểu mẫu…

Trong điều kiện đó, ngành Giáo dục và Đào tạo đã và đang phải giải quyết một bài toán khó là phải thoả mãn đồng thời yêu cầu tăng số lượng, đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả Giáo dục – Đào tạo trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp. Để giải được bài toán đó, hay nói cách khác, là để tạo ra sự chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bên cạnh các chính sách tăng đầu tư cho GD&ĐT từ ngân sách Nhà nước và đẩy mạnh xã hội hoá Giáo dục – Đào tạo thì việc đổi mới và kiện toàn lại hệ thống chính sách tài chính – tiền tệ đảm bảo sử dụng ngân sách Nhà nước chủ động và có hiệu quả, tăng cường kiểm soát các khoản chi, kiên quyết chống lãng phí, thất thoát, nâng cao hiệu quả đầu tư là một trong những nhu cầu thiết yếu trong giai đoạn hiện nay và sắp tới.

Vì vậy, có thể nói việc hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục là một đòi hỏi có tính tất yếu khách quan trên bình diện quốc gia cũng như đối với bất cứ một địa phương, đơn vị nào.

1.2. Nội dung công tác quản lý chi NSNN đối với sự nghiệp giáo dục

1.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý chi

Tổ chức bộ máy quản lý chi là việc vận dụng quy trình nghiệp vụ quản lý vào thực tiễn của hoạt động quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục được triển khai có thuận lợi và hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN. Tổ chức bộ máy và quy trình quản lý, quyền hạn trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận mối quan hệ của từng bộ phận trong quá trình thực hiện từ lập, chấp hành, quyết toán và kiểm toán chi NSNN có tác động lớn đến quản lý chi NSNN. Tổ chức bộ máy phù hợp sẽ nâng cao chất lượng quản lý, hạn chế tình trạng sai phạm trong quản lý. Từ đó nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN trên địa bàn địa phương.

Chi NSNN nói chung và cho sự nghiệp GD&ĐT nói riêng có nội dung hết sức phong phú và phức tạp. Nó được tiến hành cho nhiều đối tượng và bao gồm nhiều khoản chi có tính chất và đặc điểm khác nhau. Vì vậy, muốn phát huy hiệu quả các khoản chi đảm bảo tiết kiệm cho NSNN cần phải thực hiện tốt các nội dung quản lý chi NSNN cho GD&ĐT.

Công tác quản lý chi NSNN đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo là quá trình phân phối và sử dụng chi NSNN nhằm duy trì hoạt động của sự nghiệp GD&ĐT. Khoản chi này là một khoản chi hết sức quan trọng, được diễn ra một cách thường xuyên và liên tục đòi hỏi phải nắm rõ,nắm chắc nội dung cụ thể của từng khoản chi để tiến hành chính xác, hiệu quả. Nội dung quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục thông qua nhiều khâu, nhiều quá trình, có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau.

Để sử dụng tiết kiệm và hiệu quả kinh phí NSNN đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT đòi hỏi chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT phải tuân theo một quy trình chặt chẽ trong từng khâu.

1.2.2. Quản lý quá trình lập dự toán chi thường xuyên NSNN

Là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý ngân sách nói chung và chi ngân sách cho giáo dục nói riêng. Khâu này mang tính định hướng tạo cơ sở nền tảng cho các khâu tiếp theo. “Quản lý theo dự toán” là nguyên tắc quan trọng trong quản lý chi NSNN, có nghĩa là cấp phát và sử dụng vốn ngân sách phải có dự toán. Trước khi cấp phát và sử dụng vốn NSNN cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo phải xây dựng dự toán theo đúng quy trình, định mức và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đồng thời việc cấp phát phải dựa trên cơ sở kế hoạch và dự toán đã được duyệt. Khi lập dự toán chi Ngân sách Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục phải dựa trên những căn cứ sau:

Thứ nhất: Phải xác định được căn cứ lập dự toán, tạo cơ sở cho việc xây dựng dự toán chi thường xuyên NSNN toàn diện, bao quát được toàn bộ nguồn thu và nhiệm vụ chi thường xuyên NSNN cho lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo. Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về duy trì phát triển sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo trong từng thời kỳ; hệ thống chính sách, chế độ, các định mức, tiêu chuẩn thu, chi của Nhà nước. Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi ngân sách cho Giáo dục – Đào tạo có sự cân đối với dự toán chi ngân sách cho các lĩnh vực khác.

Thứ hai: Phải dựa vào chỉ tiêu kế hoạch phát triển Giáo dục – Đào tạo, đặc biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí của ngân sách trong kỳ như chỉ tiêu về số lượng trường, lớp, biên chế, số lượng giáo viên, học sinh, sinh viên…

Thứ ba: Căn cứ nhu cầu kinh phí, khả năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách cũng như khả năng đáp ứng của NSNN trong kỳ kế hoạch để lập dự toán.

Thứ tư: Các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu sử dụng kinh phí NSNN hiện hành và dự đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra trong kỳ kế hoạch.

Thứ năm: Căn cứ vào kết quả phân tích đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí của năm trước.

Quy trình lập kế hoạch chi cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Căn cứ vào dự toán sơ bộ về thu – chi NSNN kỳ kế hoạch để xác định mức chi dự kiến phân bổ cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục. Trên cơ sở đó, hướng dẫn các đơn vị tiến hành lập dự toán kinh phí.

Bước 2: Các đơn vị sự nghiệp giáo dục căn cứ vào chỉ tiêu được giao (số kiểm tra) và văn bản hướng dẫn của cấp trên sẽ lập dự toán kinh phí của đơn vị mình để gửi lên đơn vị dự toán cấp trên (gồm Phòng Giáo dục – Đào tạo và Cơ quan tài chính). Cơ quan tài chính xét duyệt tổng hợp dự toán chi Ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục vào dự toán chi NSNN nói chung để trình cơ quan chính quyền và cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt.

Bước 3: Căn cứ vào dự toán chi đã được cơ quan quyền lực Nhà nước thông qua, cơ quan tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ chính thức phân bổ mức chi theo dự toán cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục.

Ngân sách huyện

Các trường trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý

Ngân sách tỉnh

Sở Giáo dục và Đào tạo

Phòng giáo dục và đào tạo

Các trường trực thuộc

Sơ đồ 1.1: Mô hình cấp phát ngân sách giáo dục

1.2.3. Quản lý quá trình chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN

Chấp hành dự toán chi NSNN là khâu thứ hai của chu trình quản lý NSNN. Thời gian tổ chức chấp hành dự toán chi NS ở nước ta được tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch. Mục tiêu cơ bản của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên là đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Để đạt được mục tiêu cơ bản đó, trong quá trình tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên cần chú trọng đến các yêu cầu sau:

          • Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, trên cơ sở dự toán chi đã xác định.
          • Tiến hành cấp phát vốn, kinh phí một cách đầy đủ, kịp thời, phải lập đầy đủ

các chứng từ hợp lệ, tránh mọi sơ hở gây lãng phí, thất thoát vốn của nhà nước.

          • Trong quá trình sử dụng các khoản chi ngân sách phải hết sức tiết kiệm, tuân

thủ đúng chính sách, chế độ nhằm nâng cao hiệu quả KT – XH của mỗi khoản chi.

Quá trình tổ chức điều hành cấp phát và sử dụng các khoản chi NSNN đối

với các đơn vị sự nghiệp giáo dục cần dựa trên những căn cứ sau:

          • Dựa vào định mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán. Đây là căn cứ có tính chất bao trùm đến việc cấp phát và sử dụng các khoản chi, bởi vì mức chi của từng chỉ tiêu là cụ thể hoá mức chi tổng hợp đã được cơ quan quyền lực Nhà nước phê duyệt.
          • Dựa vào khả năng nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước có thể đáp ứng chi đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục. Trong quản lý và điều hành ngân sách Nhà nước phải quán triệt quan điểm “lường thu mà chi”. Mức chi trong dự toán mới chỉ là con số dự kiến, khi thực hiện phải căn cứ vào điều kiện thực tế của năm kế hoạch rồi mới chuyển hoá chỉ tiêu dự kiến thành hiện thực.
          • Dựa vào định mức, chế độ chỉ tiêu sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước hiện hành. Đây là những căn cứ có tính pháp lý bắt buộc quá trình cấp phát và sử dụng các khoản chi phải tuân thủ, là căn cứ để đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp của việc cấp phát và sử dụng các khoản chi.
          • Các biện pháp cơ bản để tổ chức tốt công tác cấp phát và sử dụng các khoản chi ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục bao gồm:
          • Cụ thể hoá dự toán chi tổng hợp cả năm thành dự toán chi hàng quý, tháng

để làm căn cứ quản lý, cấp phát.

          • Quy định rõ ràng trình tự cấp phát, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi cơ quan (Tài chính, Kho bạc, Giáo dục) trong quá trình cấp phát, sử dụng các khoản chi ngân sách Nhà nước. Nghiêm túc điều hành theo dự toán đã được lập, xóa bỏ cơ chế xin cho, thực hiện nghiêm túc các chỉ tiêu, định mức đã đề ra. Sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu trong kế hoạch trở thành hiện thực.
          • Cơ quan tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục, bàn bạc với cơ quan giáo dục điều chỉnh kịp thời dự toán chi trong phạm vi cho phép.
          • Hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp giáo dục thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp. Hạch toán đầy đủ rõ ràng các khoản chi cho từng loại hoạt động.
          • Cơ quan tài chính, Kho bạc, Phòng GD&ĐT thường xuyên kiểm tra tình hình nhận và sử dụng kinh phí ngân sách ở các đơn vị sự nghiệp giáo dục, đảm bảo đúng dự toán, phù hợp với định mức chế độ chi ngân sách Nhà nước hiện hành nhằm nâng cao hiệu quả của đồng vốn ngân sách.

Quản lý theo nhóm mục chi

Chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong nội dung chi cho các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa xã hội, một mảng quan trong trong nhóm chi thường xuyên của NSNN. Quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục theo các nhóm mục chi chủ yếu sau:

  • Quản lý các khoản chi cho con người:

Quản lý các khoản chi thuộc nhóm này bao gồm: quản lý các khoản chi lương, phụ cấp, tiền thưởng, các khoản đóng góp, phúc lợi xã hội…Đây là nhóm chi bắt buộc chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người làm công tác giáo dục nên việc quản lý nhóm mục chi này phải được thực hiện nghiêm túc, công bằng, đúng chính sách chế độ.

  • Quản lý các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn

Nhóm chi này bao gồm các khoản chi chủ yếu: mua sắm trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy, sách giáo khoa, đồ dùng học tập, thí nghiệm; thanh toán dịch vụ công cộng (tiền điện, tiền nước), văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ, vật tư văn phòng, thông tin tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, công tác phí, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy, sách giáo khoa, đồ dùng học tập, thí nghiệm. Đây là khoảnchi rất cần thiết, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục đào tạo. Quản lý tiết kiệm, tránh lãng phí trong chi tiêu các khoản chi này sẽ giúp các trường có thêm nguồn kinh phí nâng cao chất lượng dạy và học.

  • Quản lý các khoản chi mua sắm trang thiết bị, sữa chữa, xây dựng nhỏ

Hàng năm, do nhu cầu hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, do sự xuống cấp của các tài sản cố định dùng cho các hoạt động nên phát sinh nhu cầu về kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị của tài sản cố định. Thuộc nhóm chi này bao gồm các khoản chi như: chi mua sắm, sửa chữa thiết bị máy móc, nhà cửa. Quản lý các khoản chi này phải đáp ứng được yêu cầu quản lý, đầu tư có trọng điểm, sử dụng đúng mục đích, thực hiện sửa chữa, xây dựng nhỏ theo đúng quy định của pháp luật…

  • Quản lý các khoản chi khác:

Đây là khoản chi nhằm đảm bảo cho công tác quản lý hành chính phục vụ cho hoạt động của các trường học. Mức độ chi tiêu nhiều hay ít của nhóm này phụ thuộc vào quy mô của các trường, định mức và mức độ sử dụng của các đơn vị: chi tiếp khách, chi tổ chức Đại hội Công đoàn, Đại hội Đảng, chi trực bão lụt, chi lập các quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp…

Các đơn vị trường học hiện nay được tự chủ về tài chính, được chủ động bố trí kinh phí trên cơ sở chế độ, định mức chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, học tập và phù hợp với đặc điểm của nhà trường. Đối với các khoản chi quản lý hành chính (công tác phí, hội nghị, điện thoại…), chi hoạt động nghiệp vụ giảng dạy, học tập thường xuyên, nếu thấy cần thiết, nhà trường được quyết định mức chi cao hoặc thấp hơn mức chi do Nhà nước quy định trong phạm vi nguồn thu được sử dụng. Việc tự chủ về sử dụng kinh phí phải được thực hiện thông qua quy chế chi tiêu nội bộ. Hàng năm hoặc định kỳ hội đồng sư phạm nhà trường sẽ thông qua quy chế chi tiêu nội bộ để giải quyết những vấn đề bổ sung, những nội dung mới, yêu cầu mới, đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển.

Đối với chi trả tiền lương, tiền công cho số cán bộ, giáo viên được cấp có thẩm quyền giao và đối với các hoạt động dịch vụ (nếu có); hoạt động thu phí, lệ phí thì tiền lương, tiền công của người lao động, đơn vị tính theo tiền lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định.

Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, các khoản nộp khác theo quy định; phần kinh phí tiết kiệm chi, chênh lệch thu lớn hơn chi của hoạt động dịch vụ (nếu có), đơn vị được sử dụng: Trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; trả thu nhập tăng thêm cho người lao động; trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng ổn định thu nhập theo quy định.

Công tác quản lý chi thường xuyên tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục căn cứ vào Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp theo đó là các văn bản hướng dẫn của Nhà nước có liên quan: Thông tư 04/2015/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP; Thông tư 62/2020/TT-BTC ngày 22/06/2020 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, đảm bảo tính đồng bộ với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.

1.2.4. Quản lý quá trình quyết toán các khoản chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục

Quyết toán chi thường xuyên là khâu cuối cùng của chu trình quản lý các khoản chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước, là quá trình phân tích, đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm ngân sách, nhằm cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý, điều hành thu, chi ngân sách của năm và rút ra những kinh nghiệm chonhững năm tiếp theo.

  • Phải lập đầy đủ các loại báo cáo quyết toán và gửi kịp thời các loại báo cáo đó cho các cơ quan có thẩm quyền (Phòng Tài chính, Phòng Giáo dục – Đào tạo) thẩm định, xét duyệt hoặc phê chuẩn theo quy định của luật NSNN.
  • Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực. Sau khi thực hiện xong công tác khóa sổ cuối năm, số liệu trên sổ sách kế toán của đơn vị phải được đối chiếu, đảm bảo cân đối và khớp đúng với số liệu của cơ quan tài chính và KBNN cả về tổng số và chi tiết. Khi đó đơn vị mới được tiến hành lập báo cáo tài chính năm. Nội dung các báo cáo tài chính phải tuân thủ theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục NSNN quy định. Tất cả các nội dung công tác quản lý luôn quán triệt các nguyên tắc cơ bản là:

+ Nguyên tắc quản lý chi theo dự toán.

+ Nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN.

+ Nguyên tắc tuân thủ, hiệu quả.

Tuân thủ các nguyên tắc trên, có như vậy mới thực hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả vốn NSNN đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT.

  • Báo cáo quyết toán của các đơn vị không được để xảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu.
  • Báo cáo quyết toán của các trường học trên địa bàn huyện chủ yếu phản ánh tình hình tiếp nhận nguồn kinh phí chi thường xuyên đã cấp và việc sử dụng nguồn kinh phí đó phục vụ cho hoạt động của trường học. Báo cáo tài chính hàng năm của các trường là cơ sở để cấp chủ quản thẩm định và phê duyệt quyết toán tài chính, cơ quan chủ quản và các cơ quan chức năng khác có thể thấy rõ toàn bộ các hoạt động của trường học. Từ đó rút ra được những kinh nghiệm cần thiết trong công tác quản lý.

1.2.5. Thanh tra, kiểm tra các khoản chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục

Trong phạm vi, quyền hạn của mình, cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị dự toán ngân sách có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chế độ chi và quản lý ngân sách, quản lý tài sản của Nhà nước.

Phòng Tài chính – Kế hoạch, Kho bạc Nhà nước, Phòng Giáo dục – Đào tạo, theo chức năng nhiệm vụ được phân công có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, định kỳ đối với các đơn vị trường học trên địa bàn huyện. Trong quá trình kiểm tra, xét duyệt và thẩm định quyết toán, nếu phát hiện các khoản chi không đúng chế độ quy định của pháp luật phải thu hồi ngay cho NSNN và hạch toán giảm chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.

Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra toàn bộ các khâu trong chu trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục, đảm bảo cho dự toán được lập chính xác, đảm bảo việc phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách đúng định mức, đảm bảo hạch toán kế toán đúng chế độ và quyết toán ngân sách đầy đủ, đúng thời gian.

Kho bạc Nhà nước huyện có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát quá trình chấp hành dự toán của các đơn vị sự nghiệp giáo dục thông qua việc kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục của ngân sách cấp huyện.

Thủ trưởng đơn vị các trường học trên địa bàn huyện tự tổ chức kiểm tra việc chấp hành dự toán và kiểm tra việc quản lý, sử dụng chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục theo tiêu chuẩn định mức chi tiêu hiện hành của Nhà nước.

Khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyết toán các khoản chi NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục sẽ được tiến hành thuận lợi. Đồng thời, nó sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán một cách chính xác, trung thực và khách quan.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.

1.3.1. Nhân tố khách quan

Một là, nhân tố kinh tế:

Như đã biết, kinh tế quyết định các nguồn lực tài chính và ngược lại các nguồn lực tài chính cũng tác động mạnh mẽ đối với quá trình đầu tư phát triển và hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình hiện đại hóa nền kinh tế.

Kinh tế ổn định, tăng trưởng và phát triển bền vững là cơ sở đảm bảo vững chắc của nền tài chính. Kinh tế càng phát triển nền tài chính càng ổn định và phát triển, thì nguồn chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục càng ngày càng được ổn định, nâng cao từ đó công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục hiệu quả hơn và ngược lại.

Hai là, nhân tố xã hội:

Xã hội ổn định bởi chế độ chính trị ổn định. Sự ổn định về chính trị – xã hội là cơ sở để động viên mọi nguồn lực và nguồn tài nguyên quốc gia cho sự phát triển. Mặt khác, chính trị – xã hội cũng góp phần phát triển ngành giáo dục và điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như tăng cường các nguồn lực tài chính nói chung và nguồn chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục nói riêng. Từ đó sẽ giúp công tác quản lý nguồn chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đạt hiệu quả cao hơn và ngược lại.

Ba là, chế độ của Nhà nước:

Chính sách chế độ của Nhà nước là những căn cứ pháp lý quan trọng giúp cho quá trình quản lý tài chính nói chung, quản lý chi NSNN được thực hiện thống nhất, theo định hướng của Nhà nước. Nếu các chính sách, chế dộ phù hợp với thực tế điều hành ngân sách sẽ giúp cho quản lý chi NSNN cho lĩnh vực thuận lợi, hạn chế những tiêu cực. Ngược lại, nếu các chính sách chế độ không phù hợp, hay thay đổi, định mức chi thấp sẽ dẫn tới những hoạt động tài chính trái pháp luật.

1.3.2. Nhân tố chủ quan

– Một là, vai trò của lãnh đạo, năng lực điều hành và tổ chức thực hiện của cơ quan trong ngành giáo dục các cấp.

Vai trò lãnh đạo, năng lực điều hành và tổ chức thực hiện của cơ quan trong ngành giáo dục các cấp là rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục. Cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục tại địa phương cần phải có sự chủ động trong công tác xây dựng dự toán, phân bổ và triển khai thực hiện trình UBND huyện trong kế hoạch phát triển giáo dục và dự toán ngân sách hàng năm trong quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục, đảm bảo cho nguồn chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục được sử dụng đúng kế hoạch, tránh sự lãng phí và sai mục đích trong việc phân bổ và sử dụng chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục. Tuy nhiên, thực tế cơ quan trong ngành giáo dục các cấp vẫn chưa phát huy hết được vai trò của mình làm cho nguồn ngân sách bị thất thoát, lãng phí hoặc chưa sát sao trong các công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.

Như vây, nếu đội ngũ lãnh đạo có trình độ, năng lực điều hành tốt và công tác tổ chức thực hiện của cơ quan trong ngành giáo dục các cấp hợp lý, phù hợp với nhiệm vụ được giao thì hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục sẽ đạt hiệu quả và chất lượng cao, hạn chế tối đa sự thất thoát, lãng phí NSNN cho hoạt động giáo dục và ngược lại.

Hai là, số lượng, kinh nghiệm và kiến thức của cán bộ quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục.

Bất kỳ lĩnh vực và ngành nghề nào cũng vậy luôn đòi hỏi kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu của cán bộ thực liên quan. Đối với công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục cũng vậy, cán bộ quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là nhân tố quan trọng tác động tới chất lượng mọi hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục. Các cán bộ ngành giáo dục cần phải đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình tham mưu phân bố và quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục: tài chính, kế toán… đồng thời cán bộ ngành giáo dục cần phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng. Chính sự yếu kém và thiếu hụt kiến thức về quản lý tài chính của cán bộ cơ quan trong ngành giáo dục sẽ dẫn tới vai trò mờ nhạt của công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục.

Từ đây, ta có thể thấy với đội ngũ cán bộ quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục giàu kinh nghiệm và có trình độ chuyên môn cao sẽ hỗ trợ đắc lực trong công tác tham mưu và quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục từ đó giúp công tác này đạt hiệu quả cao hơn và ngược lại nếu đội ngũ cán bộ ngành giáo dục yếu kém về trình độ chuyên môn thiếu sót các kinh nghiệm thực tiễn sẽ gây ra những sai sót trong công tác lập dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục hoặc gây lãng phí NSNN cho hoạt động giáo dục tại từng địa phương và dẫn đến công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục không đem lại hiệu quả mong đợi.

Ba là, sụ phối hợp giữa cơ quan quản lý giáo dục và cơ quan quản lý tài chính các cấp.

Trong hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục Phòng GD&ĐT và Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện có nhiệm vụ cấp phát chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục và kiểm soát công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục. Sự phối hợp giữa các cơ quan này là rất quan trọng đảm bảo được thông tin chính xác cho quá trình quản lý nguồn chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục bao gồm: xây dựng kế hoạch, tổng hợp và phân bổ nguồn chi cho các nhiệm vụ trọng tâm được thực hiện chặt chẽ hơn và tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Trong công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục nếu có sự phối hợp, liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý giáo dục và cơ quan quản lý tài chính thì công tác này sẽ đạt hiệu quả cao nó thể hiện ở công tác lập dự toán nguồn kinh phí hàng năm chính xác tránh tình trạng thiếu hụt kinh phí hay lãng phí nguồn chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục. Từ đó tạo cơ sở để hoạt động quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đạt hiệu quả cao và ngược lại.

Bốn là, nhận thức của cơ quan tài chính trong quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục.

Đây là yếu tố thuộc Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện, cơ quan có thẩm quyền trong quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục, song được tách riêng để phản ánh tác động của yếu tố chủ quan đến quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục nói chung và chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục nói riêng đến phát triển KT – XH thì họ sẽ xác định rõ mục tiêu và chủ động kết hợp những yếu tố, nguồn lực hiện có để quản lý có hiệu lực và hiệu quả chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục theo mục tiêu đặt ra.

Ngược lại, nếu Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện coi nhẹ vai trò của chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục thì sẽ buông lỏng quản lý, làm giảm hiệu lực và hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục. Vì vậy, đây là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục.

Năm là, môi trường làm việc

Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả công việc của đội ngũ cán bộ tài chính trường học. Hiện nay, nhiều trường chỗ làm việc và trang thiết bị (máy tính, máy fax, máy photo…) phục vụ cho công việc của bộ phận kế toán rất hạn chế. Công tác kế toán tại nhiều trường vẫn thực hiện thủ công, chưa áp dụng các phần mềm tin học vào quản lý tài chính tại đơn vị. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục.

Kinh nghiệp quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục tại một số địa phương.

      1. Kinh nghiệp quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

Qua nghiên cứu và học tập công tác quản lý chi NSNN đối với sự nghiệp giáo dục tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam, tác giả nhận thấy những ưu và nhược điểm tại các nội dung sau:

+ Về phân cấp quản lý nhìn chung Phòng GD&ĐT huyện Tây Giang đã phối hợp với Phòng TC-KH huyện đã có sự tham mưu cho UBND tỉnh Quảng Nam giao quyền tự chủ,tự chịu trách nhiệm về biên chế và tài chính cho các trường học trực thuộc phòng GD&ĐT huyện Tây Giang trên tinh thần của Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP của Chính Phủ.

+ Hệ thống định mức phân bổ được xây dựng với các tiêu chí phân bố cụ thể, rõ ràng, đơn giản và đảm bảo tính công bằng, hợp lý giữa các địa phương, đơn vị, có ưu tiên vùng sâu, vùng xa, ưu tiên đối với các đơn vị có số biên chế ít; tăng tính công khai, minh bạch của chi Ngân sách Nhà nước.

+ Trên cơ sở định mức chi thường xuyên của tỉnh ban hành, ngành giáo dục đã tiến hành phân khai dự toán thành 2 nhóm mục: Kinh phí tự chủ, kinh phí không tự chủ và thực hiện công khai dự toán cho toàn thể cán bộ, giáo viên được biết để giám sát các hoạt động chi tiết của đơn vị.

+ Cân đối NSNN cho giáo dục đảm bảo kịp thời, đáp ứng được nhiệm vụ phát triển KT – XH của địa phương.

Tuy nhiên, quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục của huyện Hiệp Đức vẫn còn một số yếu kém cụ thể như:

+ Việc lập dự toán chi ở một số trường vẫn chưa kịp thời, có đơn vị xây dựng dự toán không sát, ngay từ những tháng đầu năm khi vừa giao xong dự toán đã xin bổ sung, điều chỉnh ngân sách.

+ Hệ thống chế độ chính sách, các tiêu chuẩn định mức về sử dụng tài chính ngân sách tuy đã có nhiều cố gắng song vẫn còn một số nội dung và lĩnh vực chưa đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn. Việc tổ chức thực hiện chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu hành chính sự nghiệp ở một số đơn vị dự toán chưa nghiêm.

+ Công tác kiểm tra, thanh tra vẫn còn hạn chế, tình trạng thất thoát, tiêu cực trong quản lý và sử dụng ngân sách chưa được khắc phục triệt để.

1.4.2. Kinh nghiệp quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục huyện Núi Thành , tỉnh Quảng Nam.

Huyện Núi Thành là một trong những huyện đóng góp tỉ lệ lớn vào nguồn thu ngân sách trên địa bàn Tỉnh. Chính vì vậy, sự nghiệp giáo dục của huyện có nhiều thay đổi, trường lớp khang trang hơn, đời sống cán bộ công nhân viên chức được nâng cao, chất lượng công tác dạy và học được nâng lên rõ rệt. Trong quản lý chi thường xuyên đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục thuộc huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình đã ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước, định mức phân bổ theo số học sinh và được bố trí hợp lý theo thứ tự ưu tiên từng nhóm chi, thứ tự ưu tiên thứ nhất là con người, nghiệp vụ chuyên môn, mua sắm, sửa chữa và chi khác.

+ Đã tiến hành khoán biên chế và khoán chi hành chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Kết quả cho thấy ở các trường được giao khoán đã chủ động trong khai thác tối đa nguồn thu, quản lý chặt chẽ, tiết kiệm có hiệu quả Ngân sách Nhà nước cấp và kinh phí được chi từ nguồn thu để lại, chi thường xuyên cho bộ máy đáp ứng kịp thời, sát với dự toán giao. Thực hiện nghiêm túc việc công khai ngân sách, nhất là các quỹ đóng góp xây dựng trường, lớp học.

Tuy nhiên, trong công tác quản lý chi NSNN đối vớ vị sự nghiệp giáo dục cũng gặp phải một số khó khăn, hạn chế sau:

+ Dự toán chi tiết chi theo mục lục NSNN các đơn vị cơ sở lập không đáp ứng về mặt thời gian nên công tác thẩm tra, thông báo giao dự toán chi tiết theo mục lục NSNN của cơ quan tài chính còn chậm so với quy định, làm ảnh hưởng tới công tác chấp hành Ngân sách trong các đơn vị trực tiếp chi tiêu.

+ Hàng năm chưa thực hiện được việc đánh giá tình hình chi tiêu, hiệu quả chi tiêu của các nhóm mục chi vì vậy chưa tiến hành phân tích rút kinh nghiệm cho công tác quản lý có hiệu quả hơn.

1.5. Bài học rút ra đối với việc quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chi NSNN và quản lý chi NSNN; kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục, có thể rút ra một số kinh nghiệm để vận dụng vào quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam như sau:

Thứ nhất, các địa phương khác nhau có trình độ phát triển Kinh tế – Xã hội khác nhau, có phương thức tạo lập ngân sách khác nhau nhưng đều rất coi trọng cải cách hành chính trong lĩnh vục quản lý NSNN, nhất là cải cách thể chế, cơ chế quản lý chi ngân sách cho phù hợp với tiến trình phát triển và thông lệ quốc tế, cải tiến các quy trình, thủ tục hành chính; tập trung sử dụng có hiệu quả công cụ quản lý để bồi dưỡng nguồn thu, khai thác có hiệu quả nguồn thu ngân sách, huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển; hướng quản lý chi NSNN theo kết quả đầu ra.

Thứ hai, các địa phương rất coi trọng công tác phân tích, dự báo kinh tế phục vụ cho việc hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô và các chính sách liên quan đến chi ngân sách nhằm phát triển Kinh tế – Xã hội một cách toàn diện và vững chắc.

Thứ ba, các địa phương đều thống nhất chỉ đạo và mạng dạn phân cấp quản lý kinh tế đi đôi với phân cấp quản lý chi ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên cơ sở thống nhất chính sách, chế độ, tạo điều kiện cho giáo dục phát huy được tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo các quy định của pháp luật, thực hiện quản lý tài chính và sử dụng linh hoạt nguồn lực tài chính, cho phép thi hành những biện pháp tài chính cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế địa phương.

Thứ tư, các địa phương đều thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ, có hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước cho giáo dục trên toàn bộ các khâu của chu trình ngân sách

Thứ năm, việc triển khai các hoạt động quản lý chi ngân sách địa phương phải xuất phát từ điều kiện thực tế về KT – XH trên địa bàn và phải liên tục hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý ngân sách theo mức độ phát triển KT – XH của địa phương, bằng các cơ chế đặc thù, chính quyền địa phương có thể quyết định những vấn đề riêng của mình.

Kinh nghiệm của địa phương khác lả rất quý báu, tuy nhiên, do thể chế chính trị, đặc điểm KT – XH, điều kiện tự nhiên và chính sách phát triển trong từng giai đoạn của từng địa phương khác nhau nên việc vận dụng kinh nghiệm của địa phương khác phải nhau nên việc vận dụng kinh nghiệm của địa phương khác phái sáng tạo, hợp lý, linh hoạt, tránh dập khuôn, máy móc.

Từ kinh nghiệm của những địa phương nói trên, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho công tác quản lý chi thường xuyên đối với sự nghiệp trên địa bàn huyện Tây Giang.

Một là, các cấp chính quyền cần phải có những chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với xu hướng phát triển đất nước, đó là điều kiện tiên quyết thúc đẩy giáo dục phát triển. Muốn vậy, trước hết phải có sự lãnh đạo của Đảng trong định hướng phát triển GD&ĐT. Từ những chủ trương đó mới thể chế hóa các chương trình hành động, các cơ chế chính sách do chính quyền các cấp, ngành GD&ĐT quản lý để thúc đẩy phát triển GD&ĐT. Đồng thời làm cơ sở để ngành GD&ĐT xây dựng dự toán chi thường xuyên cho sự nghiệp GD&ĐT có tính thực tiễn cao, thực sự trở thành căn cứ để các cơ quan chức năng phân bổ dự toán một cách hợp lý.

Hai là, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở GD&ĐT, phát huy vai trò của hội đồng trường. Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch.

Ba là, nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác tài chính kế toán tại các đơn vị, cũng như trình độ nghiệp vụ của cán bộ quản lý tại cơ quan Tài chính, Phòng GD&ĐT,.. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp.

Bốn là, hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục trong tất cả các khâu của chu trình NSNN. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ chi tiêu tại các cơ sở giáo dục đảm bảo nguồn vốn NSNN được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả nhất.

Việc nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của các địa phương là cần thiết. Trên cơ sở đó, đề ra những chủ trương, chính sách, các giải pháp tài chính, những hành động cải cách, đổi mới trong công tác quản lý để thúc đẩy phát triển GD&ĐT trên địa bàn huyện Tây Giang trong thời gian tới.

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trong chương này, tác giả đã nêu tổng quan cơ sở lý luận chi NSN đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Tiếp đó, tác giả cũng tập trung trình bày lý luận về quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp GD&ĐT, nêu bật vị trí và trò của chi thường xuyên và quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục. Đồng thời tác giả cũng làm rõ công tác quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục qua các nội dung như lập dự toán chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp GD&ĐT, tổ chức thực hiện chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp GD&ĐT, quyết toán và kiểm tra chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp GD&ĐT. Chương I cũng đề cấp đến những nhân tố khách quan, nhân tố chủ quan có ảnh hưởng đến công tác quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục. Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra những cơ sở thực tiễn và công tác quản lý về chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục ở một số địa phương trên cùng địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệp cho công tác quản lý chi thường xuyên NSNN đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang. Toàn bộ nội dung Chương I là cơ sở lý luận để thực hiện nghiên cứu cho các chương tiếp theo của luận văn.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN ĐÔI VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY GIANG.

2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY GIANG

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên của huyện Tây Giang

Tây Giang là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam. Phía tây giáp Lào, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía đông giáp huyện Đông Giang, phía nam giáp huyện Nam Giang cùng tỉnh. Trung tâm huyện lỵ Tây giang cách Thành phố Đã Nẵng 120 km, có đường Hồ Chí Minh đi ngang qua. Tây Giang có tổng diện tích tự nhiên là 902,97 km2. Diện tích: 90.296,56 ha.Có dân số: 16,076người. Gồm 10 xã, thị trấn, cư dân sinh sống ở đây chủ yếu là dân tộc C’tu (chiếm  hơn 93%), còn lại là dân tộc Kinh lên công tác và buôn bán. Dân tộc C’tu ở đây có một nền văn hóa phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc. Có khí hậu trong lành không khác gì Sapa, Đà Lạt, có cảnh quan  thiên nhiên núi rừng  xanh thẳm, thơ mộng, hữu tình, có tình người C’tu chân chất, thật thà và tấm lòng hiếu khách nồng hậu mang nét riêng của người C’tu Tây giang ít nơi nào có được.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2021/ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY GIANG

Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang  Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tây Giang

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *