Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường ngày càng trở thành vấn đề nóng của thời đại, của toàn cầu, ảnh hưởng ngày càng lớn đến phát triển kinh tế bền vững, đến chất lượng cuộc sống, sức khỏe của nhân dân. Từ trước đến nay, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng công tác quản lý nhà nước về môi trường, đây là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tất cả các cấp, các ngành; là cơ sở quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị và của toàn dân, trong đó quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế – xã hội quốc gia. Hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở nước ta được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường, “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước”. Trong đó, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Chính phủ quy định chi tiết trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Luật cũng quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Ủy ban nhân dân các cấp là những cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý tại các địa bàn.

Thành phố Đà Nẵng là thành phố thuộc địa bàn kinh tế trọng điểm của miền Trung, điểm nhấn phát triển kinh tế – xã hội trong cả nước. Trong thời kỳ hội nhập, thành phố Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành tựu và có những đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. Song cũng chính trong quá trình ấy đã phát sinh rất nhiều vấn đề tác động đến môi trường nói chung và môi trường thành phố nói riêng. Hoạt động của các khu công nghiệp, khu chế xuất; các dự án đầu tư, rác thải y tế…đã được các ngành chức năng khảo sát và lên tiếng cảnh báo về việc ô nhiễm nguồn nước, tạo ra nhiều khí thải, bụi và rác. Chính từ đó, càng khẳng định phát triển kinh tế – xã hội nếu không đặt trong yếu tố bền vững, không lồng ghép hữu cơ với bảo vệ môi trường thì sẽ dẫn tới hậu quả thiệt hại nghiêm trọng đối với môi trường sống của con người, cũng như đối với bản thân nền kinh tế – xã hội đó.

Tại thành phố Đà Nẵng, hoạt động quản lý nhà nước về môi trường đã và đang được ngày càng chú trọng, đồng thời đạt được những kết quả tích cực nhất định, tuy nhiên vẫn còn có những bất cập cần khắc phục như: một số nơi nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân về bảo vệ môi trường chưa đầy đủ, chưa chuyển thành ý thức và hành động cụ thể, thường xuyên. Vẫn còn khoảng cách lớn giữa nhận thức và hành động, giữa cam kết và thực hiện trong bảo vệ môi trường. Đặc biệt, trong chỉ đạo, điều hành, tư tưởng “ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường” còn khá phổ biến ở nhiều cấp ủy và chính quyền các cấp. Ý thức về bảo vệ môi trường vẫn chưa hình thành thói quen, nếp sống của nhân dân; các thói quen xấu gây ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, như vứt rác, chất thải, xác súc vật bừa bãi ở nơi công cộng, nguồn nước chưa được loại bỏ, thậm chí một số nơi còn phổ biến. Đồng thời, việc xử lý các vi phạm hành chính chưa được triệt để và hiệu quả. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về môi trường thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chưa theo kịp các yêu cầu tình hình mới đặt ra, nhất là ở các địa phương, chính quyền cơ sở cấp xã còn thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tiễn đặt ra. Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý các vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường chưa được xử lý kiên quyết, chế tài còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Với những thực tiễn, mục đích và những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác QLNN về môi trường để đề xuất được các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến môi trường và QLNN về môi trường.

– Đánh giá thực trạng QLNN về môi trường trên địa thành phố Đà Nẵng; chỉ ra thành công, tồn tại và nguyên nhân.

– Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế những tồn tại, hoàn thiện công tác QLNN về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác QLNN về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác QLNN về môi trường tại thành phố Đà Nẵng dưới góc độ ban hành, tổ chức, triển khai thực hiện các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về BVMT; trong đó môi trường được đề cập là môi trường tự nhiên.

+ Về không gian: Các nội dung QLNN về môi trường được nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

+ Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trên cơ sở thông tin và tư liệu trong giai đoạn từ năm 2015 – 2020.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ, đề tài sử dụng nhiều phương pháp có tính chọn lọc để phù hợp với phạm vi cũng như nội dung nghiên cứu. Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:

4.1. Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập số liệu là một việc rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Mục đích của thu thập số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có trước, từ quan sát và thực hiện) là để làm cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh giả thuyết hay các vấn đề mà nghiên cứu đã đặt ra. Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp thu thập số liệu sau:

– Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các tài liệu sẵn có và kế thừa kết quả nghiên cứu như các nguồn thông tin công bố của cơ quan nhà nước, các văn kiện đại hội Đảng, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành và các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực QLNN về môi trường tại thành phố Đà Nẵng….

– Số liệu sơ cấp: Thu thập bằng phương pháp khảo sát lập bảng khảo sát mẫu, xây dựng nội dung các câu hỏi khảo sát phù hợp với nội dung đề tài nghiên cứu thông qua phỏng vấn cá nhân trực tiếp tại các Quận, huyện trên địa bàn TP. Đà Nẵng.

Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

4.2. Phương pháp phân tích

– Phương pháp thống kê mô tả: phương pháp thống kê để thống kê lại số liệu thực tế trong các hoạt động liên quan đến môi trường và quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

– Phương pháp phân tích tổng hợp: để phân tích số liệu thực tế trong quản lý nhà nước về môi trường gắn liền với các hoạt động, điều kiện, thực trạng tại địa bàn thành phố, kết nối các thông tin để làm sáng tỏ những nội dung nghiên cứu và từ đó khái quát hóa vấn đề rút ra những ưu điểm, thế mạnh và những hạn chế, tồn tại cần khắc phục trong phần những hạn chế tồn tại trong quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Đà Nẵng.

– Phương pháp so sánh: Sau quá trình phân tích tổng hợp các số liệu đã thu thập, khảo sát, tiến hành đối chiếu và so sánh kết quả giữa các giai đoạn thời gian khác nhau. So sánh công tác quản lý môi trường giữa các địa phương khác cùng quy mô, tính chất. Từ đó rút ra các kết luận, bài học cho công tác quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Đà Nẵng.

5. Bố cục đề tài

Phần nội dung của đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1.Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về môi trường.

Chương 2.Thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Chương 3. Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

    1. KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

1.1.1. Một số vấn đề chung về môi trường

a. Khái niệm môi trường

Môi trường là một khái niệm rất rộng, có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm môi trường, trong đó một số ý kiến đáng chú ý như sau:

Theo Albert Einstein (1870-1955 – Nobel Kinh tế năm 1921) thì môi trường là tất cả những gì ngoài tôi ra.

Theo Masn và Langenhim (1957), môi trường là tổng hợp các yếu tố tồn tại chung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật. Ví dụ: bông hoa mọc trong rừng chịu sự ảnh hưởng của những điều kiện nhất định như nhiệt độ, ánh sáng, không khí, đất, khooáng chất, cây cối bên cạnh, con thú, gió…

Theo Joe Whitenney (1993), môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể có liên quan mật thiết và ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng ozon, đa dạng sinh học…

Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) đưa ra một định nghĩa ngắn gọn và đầy đủ về môi trường: Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội – nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ”. [9 tr.6]

Theo điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, khái niệm về môi trường được hiểu như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” [10]

Như vậy, ta thấy có nhiều quan điểm về môi trường và sẽ được cụ thể hóa trong từng đối tượng và mục đích nghiên cứu khác nhau.

b. Phân loại môi trường

Hiểu theo một phạm trù hẹp hơn thì môi trường chính là môi trường sống và môi trường sống của con người. Theo chức năng môi trường sống được chia làm 3 loại:

  • Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố của tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người như: không khí, đất đai, nguồn nước ánh sáng mặt trời, động thực vật… Bên cạnh việc cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường tự nhiên còn là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho con người cảnh đẹp giải trí. [1, tr.22]
  • Môi trường xã hội: là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết quy định… ở các cấp khác nhau như: liên hợp quốc, hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự nghiệp phát triển của các cá nhân hoặc từng cộng đồng dân cư. [1, tr.22]
  • Môi trường nhân tạo: là các nhân tố do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người, tạo thành những tiện nghi cho cuộc sống như: nhà ở, môi trường khu đô thị, khu công nghiệp, môi trường nông thôn. [1, tr.22]

c. Chức năng của môi trường

– Môi trường là không gian sống của con người: Mỗi người đều có nhu cầu về số lượng không gian cần thiết cho các loại hoạt động sống như: nhà ở, đất dùng cho sản xuất lương thực, thực phẩm, tái tạo chất lượng môi trường sống. Nói cách khác, môi trường là không gian sống của con người. [22. tr24]

Diện tích không gian sống bình quân trên Trái đất đang bị thu hẹp – là kết quả của việc dân số ngày càng một tăng trong khi diện tích đất có thể sinh sống hầu như không đổi. Điều này được chứng minh bằng các số liệu về diện tích đất bình quân đầu người đang có chiều hướng suy giảm. Nhu cầu về không gian sống của con người thay đổi theo trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất, những nhu cầu về không gian sản xuất ngày càng giảm khi trình độ phát triển của loài người càng được nâng cao. Con người luôn cần một không gian cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo chất lượng môi trường…, có thể gia tăng không gian sống bằng cách khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng như khai hoang, cải tạo các vùng và vùng nước mới… tuy nhiên việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể dẫn đến chất lượng không gian sống trên Trái đất không thể phục hồi. [22, tr.25]

  • Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cho con người: Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng cần thiết cho hoạt động sinh sống và sản xuất như: đất, nước, không khí, khoáng sản, các dạng năng lượng như nắng, gió, thủy triều… Mọi sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp, văn hóa du lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên trái đất và không gian bao quanh trái đất. Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, con người ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài nguyên mới cũng như gia tăng số lượng khai thác, qua đó tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi trường, trong đó có nguy cơ cạn kiệt tài nguyên. [22, tr.25]
  • Môi trường là nơi chứa đựng chất thải: chất thải do con người tạo ra trong quá trình sản xuất và tiêu dùng thường được đưa trở lại môi trường. Tại đây, nhiều hoạt động của vi sinh vật và các thành phần môi trường khác, chất thải sẽ biến đổi thành các dạng ban đầu trong một chu trình sinh địa hóa phức tạp. Khả năng tiếp nhận và phân hủy chất thải của môi trường được gọi là khả năng nền của môi trường. Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng nền, chất lượng môi trường sẽ suy giảm và có thể bị ô nhiễm. [22, tr.26]
  • Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất: trái đất trở thành nơi sinh sống của con người và các sinh vật nhờ tập hợp các điều kiện môi trường đặc biệt: nhiệt độ không khí không quá cao, nồng độ Oxy và các khí khác tương đối ổn định, cân bằng nước các đại dương và trong đất liền… Sự phát sinh và phát triển sự sống xảy ra trên trái đất nhờ hoạt động của hệ thống các thành phần môi trường như khí quyển, thạch quyển, thủy quyển, sinh quyển. [22, tr.26]
  • Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin: Ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người. Cung cấp các các chỉ thị không gian và báo động sơm các nguy hiểm đối với con người và sinh vật như: các phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như bão, động đất… Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp và cảnh quan có giá trị thẩm mỹ tôn giáo và văn hóa khác. [22, tr.26]

1.1.2. Khái niệm và một số nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về môi trường

a. Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường

Trong giáo trình Môi trường và phát triển bền vững do NXB giáo dục xuất bản năm 2007, theo PGS.TS Nguyễn Đình Hòe, quản lý nhà nước về môi trường là hoạt động giám sát của ngành tài nguyên môi trường nhằm hạn chế tối đa các tác động có hại tới môi trường do các hoạt động phát triển gây nên, đảm bảo cân bằng sinh thái cho phát triển và bảo vệ môi trường.

Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước từ Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, đến các cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan tư pháp. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người. [9, tr.56]

Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, là hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân. Như vậy, có thể hiểu, quản lý nhà nước là sự tác động mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước tới đối tượng quản lý bằng các công cụ quản lý khác nhau để phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội. [9, tr.57]

Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị và của toàn dân, trong đó quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế – xã hội quốc gia. [9, tr.57]

Như vậy chúng ta có thể nhận thấy, Quản lý nhà nước về môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng, quản lý môi trường có tính tự nguyện. Hình thức quản lý nhà nước về môi trường chủ yếu là điều hành và kiểm soát.

b. Đối tượng quản lý nhà nước về môi trường

Đối tượng quản lý nhà nước về môi trường là quản lý một hệ thống bao gồm các phần tử tự nhiên và phần tử nhân tạo có quan hệ thân thiết với nhau, bao quanh con người và có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Đó là một hệ thống bao gồm các phần tử của thế giới vô sinh và hữu sinh hoạt động theo các quy luật khác nhau và có con người tham dự. Hệ thống môi trường thường mang những đặc tính cơ bản là có cấu trúc, có tính động, tính mở và có khả năng tự tổ chức, tự điều hành.

Thực chất của quản lý môi trường là quản lý các hoạt động phát triển, thường xuyên diễn ra trong hệ thống môi trường và có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến trạng thái ổn định của nó. Tuy nhiên, các hoạt động phát triển vốn không tự thân nó tiến hành mà đều do con người thực hiện. Vì vậy, quản lý môi trường chính là quản lý các hành vi của cá nhân, tập thể con người trong hoạt động sản xuất, sinh hoạt… là điều tiết các lợi ích sao cho hài hòa trên nguyên tắc ưu tiên lợi ích của quốc gia và toàn xã hội.

c. Công cụ quản lý nhà nước về môi trường

Công cụ quản lý nhà nước về môi trường là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.

     Công cụ quản lý nhà nước về môi trường có thể phân loại theo chức năng gồm:

+ Công cụ điều chỉnh vĩ mô như luật pháp, chính sách.

+ Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh tế như các quy định xử phạt, hành chính, công cụ kinh tế, kỹ thuật…

Bảng 1.1: Phân loại các công cụ quản lý môi trường

Nhóm công cụNội dung
  1. Nhóm công cụ mệnh lệnh và kiểm soát
    1. Tiêu chuẩn môi trường
    1. Giây phép thải không thể chuyển nhượng
  1. Nhóm công cụ kinh tế
(2.1) Thuế và phí
  • Thuế và phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm.
  • Thuế và phí đánh vào sản phẩm
  • Thuế và phí cấp sai
  • Phí hành chính
(2.2) Chương trình thương mại môi trường– Giấy phép thải có thể chuyển nhượng
  • Tín hiệu giảm phát tải
  • Trợ cấp tiêu thụ hoặc sản xuất
  • Nhãn sinh thái
  • Chưng chỉ
(2.3) Động cơ tài chính
  • Cho vay với lãi suất ưu đãi (hoặc =0)
  • Hệ thống đặt cọc hoàn trả
  • Ký quỹ môi trường
  1. Nhóm các công cụ kỹ thuật quản lý
Tổ chức bộ máy quản lý; Đánh giá tác độn môi trường; Phân tích lợi ích chi phí; Hạch toán môi trường; Kiểm toán môi trường; Quản lý rủi ro và tai biến môi trường; Nghiên cứu và triển khai KH&CN về môi trường; Thanh tra, kiểm tra và giám sát môi trường.
  1. Các công cụ luật pháp và chính sách
(4.1) Tăng cường quyền tài sản đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
(4.2) Giáo dục môi trường.
(4.3) Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ môi trường.

(Nguồn: Giáo trình Kinh tế và Quản lý môi trường – PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh 2003)

1.1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước về môi trường

Theo quy định tại Điều 4, Luật Bảo vệ môi trường 2014, có 08 nguyên tắc bảo vệ môi trường như sau:

  • Nguyên tắc 1: Bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân. [10]
  • Nguyên tắc 2: Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Hoạt động bảo vệ môi trường phải gắn kết với phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên và được xem xét, đánh giá trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển. [10]
  • Nguyên tắc 3: Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với an sinh xã hội, quyền trẻ em, bình đẳng giới, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành. [10]
  • Nguyên tắc 4: Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch; ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường, quản lý rủi ro về môi trường, giảm thiểu phát sinh, chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để khai thác giá trị tài nguyên của chất thải. [10]
  • Nguyên tắc 5: Bảo vệ môi trường phải phù hợp vái quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, cơ chế thị trường, trình độ phát triển kinh tế – xã hội; thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. [10]
  • Nguyên tắc 6: Cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường; gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải chi trả, bồi thường thiệt hại, khắc phục, xử lý và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. [10]
  • Nguyên tắc 7: Hoạt động bảo vệ môi trường bảo đảm không gây phương hại chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia, gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu. [10]

1.1.4. Vai trò của công tác quản lý nhà nước về môi trường

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định phương hướng phát triển cơ bản của nước ta là “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 nêu quan điểm “Phát triển kinh tế – xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường”. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đó, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước trong bảo vệ môi trường. Hệ thống chính sách, pháp luật và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được hình thành tương đối đồng bộ và đang từng bước được hoàn thiện. Các chủ trương, quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường cơ bản đã được thể chế hóa thành chính sách, pháp luật của Nhà nước. Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản và các văn bản luật có liên quan, các văn bản dưới luật đã quy định khá đầy đủ, chi tiết, cụ thể những nội dung phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, phục hồi môi trường và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân, về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, các cơ chế, công cụ, chế tài bảo vệ môi trường cũng được quy định trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Thuế bảo vệ môi trường góp phần sớm đưa các chủ trương, quan điểm bảo vệ môi trường của Đảng vào cuộc sống. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được thiết lập đồng bộ cả ở Trung ương, địa phương và từng bước được kiện toàn. Năm 2002, Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập. Năm 2008, Tổng cục Môi trường được thành lập, thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ở các bộ, ngành đã có các đơn vị trực thuộc chuyên trách công tác bảo vệ môi trường. Lực lượng phòng chống tội phạm môi trường đã được thành lập, góp phần ngăn ngừa, hạn chế hành vi gây ô nhiễm môi trường. Tại các địa phương, đã có Sở Tài nguyên và Môi trường ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường ở các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và có cán bộ kiêm nhiệm quản lý môi trường ở xã, phường, thị trấn. Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty, ban quản lý khu công nghiệp, doanh nghiệp lớn đã có phòng, ban, bộ phận hoặc bố trí cán bộ chuyên trách về môi trường. Nguồn lực tài chính và các điều kiện cần thiết cho bảo vệ môi trường được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA được huy động cho bảo vệ môi trường cũng tăng nhanh. Một số thể chế tài chính về bảo vệ môi trường được hình thành, đi vào hoạt động, như Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam, quỹ bảo vệ môi trường của một số ngành, địa phương đã góp phần tăng cường các nguồn vốn hỗ trợ thực hiện công tác bảo vệ môi trường. Một số công cụ kinh tế, như thuế, phí bảo vệ môi trường đã góp phần tạo nguồn thu từ xã hội để đầu tư cho bảo vệ môi trường. Việc xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường cũng được triển khai rộng khắp. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường, như cấp thoát nước, xử lý nước thải, khí thải, thu gom và xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, hoạt động tư vấn, thiết kế… Nước ta đã tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế, tham gia 20 điều ước quốc tế về môi trường; đã có gần 40 chương trình, dự án lớn về bảo vệ môi trường được thực hiện với các đối tác trên cơ sở song phương và đa phương. Công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm đã góp phần kiềm chế, làm chậm lại tốc độ gia tăng ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ chức năng, tính hữu ích của các thành phần môi trường.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

1.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường

a. Về tổ chức bộ máy quản lý

Tổ chức bộ máy nhà nước về môi trường là một cơ cấu quản lý về khía cạnh môi trường của cấu trúc quản lý tổng thể của một tổ chức, bao gồm các phương pháp tổ chức, các thủ tục, nguồn nhân lực, vật lực và những trách nhiệm…đủ khả năng thực thi trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức.

Tổ chức bộ máy về môi trường là thiết yếu để tổ chức có khả năng nhìn thấy trước sự tiến triển thực thi môi trường sẽ diễn ra và bảo đảm tuân thủ các yêu cầu quốc gia và quốc tế về bảo vệ môi trường. Hệ thống quản lý nhà nước về môi trường thu được kết quả tốt khi mà công việc quản lý nhà nước về môi trường được tiến hành cùng với các ưu tiên hàng đầu khác của các tổ chức.

Về tổ chức bộ máy quản lý môi trường, năm 1992 Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được thành lập, mà tiền thân của nó là Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, với chức năng là quản lý Nhà nước về môi trường. Các sở Khoa học – Công nghiệp – Môi trường các địa phương sau đó được thành lập với chức năng là quản lý Nhà nước về môi trường ở địa phương. Do yêu cầu nhiệm vụ của công tác quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường phù hợp với xu thế phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam khoá XI, ngày 05 tháng 8 năm 2002 đã quyết định thành lập Bộ tài nguyên và môi trường trên cơ sở 3 đơn vị chủ yếu hiện có gồm cục môi trường; tổng cục địa chính và tổng cục khí tượng thuỷ văn. Cho đến nay, ở Việt Nam đã hình thành hệ thống tổ chức Quản lý Nhà nước về Môi trường từ trung ương đến địa phương.

Chính phủ

Tổng bộ MT

Bộ TN&MT

Cục thẩm định và ĐTM

Sở TN&MT

UBND cấp tỉnh

Cục bảo tồn đa dạng sinh học

Phòng TN&MT

UBND cấp huyện

Cục QL chất thải và cải thiện MT

UBND cấp xã

Cục kiểm soát ô nhiễm

Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam

Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII ngày 23 tháng 6 năm 2014 thông qua Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 và thay thế Luật bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11. Tại điều 143: Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Ủy ban nhân dân các cấp, nêu rõ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm như sau:

  • Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chương trình, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường; [10]
  • Tổ chức thực hiện pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường; [10]
  • Xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường của địa phương phù hợp với quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia; [10]
  • Tổ chức đánh giá và lập báo cáo môi trường. Truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường; [10]
  • Tổ chức thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, hướng dẫn và tổ chức kiểm tra xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường theo thẩm quyền; [10]
  • Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép bảo vệ môi trường theo thẩm quyền; [10]
  • Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về môi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quy định của pháp luật có liên quan; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan giải quyết các vấn đề môi trường liên tỉnh; [10]
  • Chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn. [10]

b. Tiêu chí đánh giá:

Các tiêu chí đánh giá về công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường:

  • Hình thành và vận hành mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở một đầu mối tập trung, thống nhất chịu trách nhiệm trước UBND thành phố về quản lý Nhà nước về tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu.
  • Gắn kết chặt chẽ các lĩnh vực quản lý với nhau thông qua việc lồng ghép ngay từ khâu xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch… đến triển khai thực hiện nhiệm vụ, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
  • Phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý có liên quan giữa các bộ, ngành cũng được tăng cường thông qua việc ban hành các thông tư liên tịch, các quy chế phối hợp liên ngành; chỉ đạo thực hiện của Bộ với các địa phương được tập trung, thống nhất.
  • Công tác tổ chức bộ máy của ngành tài nguyên và môi trường ở địa phương.
  • Công tác cải cách thủ tục hành chính về lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

1.2.2. Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

a. Ban hành Luật và các văn bản pháp quy dưới luật:

“Trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, việc ban hành các văn bản pháp quy về môi trường do Chính phủ; Thủ tướng và Bộ TN&MT chịu trách nhiệm xây dựng các chính sách, chiến lược môi trường phù hợp với tình hình thực tế của quốc gia trên nguyên tắc phát triển bền vững. Dựa trên các bộ luật, các mục tiêu chiến lược, đặc điểm cơ cấu tổ chức và nguồn lực cụ thể của từng địa phương, các cơ quan chức năng của nhà nước chịu trách nhiệm QLMT sẽ phối hợp hành động tạo ra các công cụ, chính sách, giải pháp trong từng giai đoạn và từng lĩnh vực quản lý. Ban hành các văn bản dưới luật như: Pháp lệnh do Ủy ban thường vụ Quốc hội soạn thảo thông qua, Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành, Nghị định và Quyết định do Chính phủ ban hành để hướng dẫn và cụ thể hóa luật; Quyết định và Quy định do các Bộ và UBND các cấp ban hành; Chỉ thị và Thông tư hướng dẫn do Cục Môi trường; Bộ Khoa học công nghệ ; Bộ TN&MT ban hành”. [10]

* Riêng nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh (được quy định tại Điều 143, khoản 1) có một số nhiệm vụ trọng tâm được như sau:

Một là, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chương trình, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường;

Hai là, tổ chức thực hiện pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường;

Ba là, Xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường của địa phương phù hợp với quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia;

Bốn là, tổ chức đánh giá và lập báo cáo môi trường. Truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường;

Năm là, tổ chức thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, hướng dẫn và tổ chức kiểm tra xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường theo thẩm quyền;

Sáu là, cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường theo thẩm quyền;

Bảy là, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về môi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quy định của pháp luật có liên quan; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan giải quyết các vấn đề môi trường liên tỉnh;

Tám là, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn.

b. Tiêu chí đánh giá:

Các tiêu chí đánh giá về công tác xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường:

Thứ nhất, văn bản QLNN phải được soạn thảo thông qua kỹ thuật lập quy và đạt yêu cầu về hình thức. Hình thức thể hiện của văn bản QLNN chỉ được thừa nhận là tốt khi thông qua các kỹ thuật lập quy và chuyển tải được các nội dung cần pháp luật hoá thành những cấu trúc, phạm trù pháp lý, bảo đảm không thoát ly ra khỏi bản chất, thuộc tính của pháp luật… Cho nên, khi đánh giá công tác ban hành văn bản QLNN qua tiêu chí trên cần xem xét các yêu cầu cụ thể như: cách thức thể hiện nội dung của dự thảo văn bản QLNN đã tuân thủ các quy luật của chính quá trình làm luật hay chưa? Có bảo đảm sự tương quan giữa nội dung và hình thức của pháp luật hay không? Các nội dung ở các điều khoản của văn bản QLNN có bảo đảm về tính thống nhất, phối hợp giữa các thành tố của quy phạm pháp luật, giữa các quy phạm pháp luật hay không?… [16]

Thứ hai, nội dung văn bản QLNN phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, điều kiện phát triển của địa phương. Pháp luật là một phạm trù chủ quan, phản ánh hiện thực khách quan. Sự phản ánh đó xuất phát từ đòi hỏi của đời sống hiện thực, không thể cao hơn trình độ phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Pháp luật có phản ánh đúng hiện thực khách quan thì mới điều chỉnh được các quan hệ xã hội, cũng như mới được xã hội chấp nhận. Tính khách quan trong xây dựng văn bản QLNN đòi hỏi người có thẩm quyền, cán bộ soạn thảo văn bản QLNN phải bám sát đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; Hiến pháp, luật, các văn bản QLNN của cấp trên; tình hình thực tiễn xã hội; nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của QLNN; thái độ, tâm lý của cộng đồng dân cư đối với vấn đề, nội dung của văn bản QLNN sắp ban hành… Tính khách quan trong xây dựng văn bản QLNN cũng đòi hỏi phải loại trừ tình trạng đề cao lợi ích của địa phương mình, coi thường lợi ích chung, lợi ích của toàn xã hội và lợi ích của các địa phương khác. [16]

Thứ ba, văn bản QLNN phải thể hiện trọn vẹn và ghi nhận đầy đủ ý chí, quyền lợi của nhân dân. Xác định tiêu chí này nhằm bảo đảm việc ban hành các văn bản QLNN đúng định hướng chính trị, giữ vững bản chất dân chủ nhân dân và đánh giá đúng mức sự tác động của tâm lý pháp luật vào quá trình xây dựng pháp luật. Đó cũng là một trong những điều kiện đưa pháp luật phát triển đúng hướng, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự công minh của pháp luật, nâng cao chất lượng, uy tín của pháp luật và tăng cường hiệu lực thi hành của pháp luật trong thực tế. [16]

Thứ tư, hệ thống văn bản pháp luật phải toàn diện, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, bảo đảm phát huy vai trò và hiệu lực. Về tính toàn diện, Nhà nước là tổ chức công quyền duy nhất, nhân danh quyền lực của nhân dân thực hiện chức năng quản lý xã hội bằng pháp luật trên tất cả các mặt đời sống xã hội. Thực hiện chức năng này đòi hỏi hệ thống văn bản QLNN phải đầy đủ, toàn diện . Về tính đồng bộ, hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật thể hiện dưới hình thức các văn bản QLNN bao gồm nhiều bộ phận liên quan chặt chẽ với nhau. Tính đồng bộ của hệ thống văn bản QLNN đòi hỏi văn bản QLNN được ban hành phải đảm bảo trọn vẹn, hạn chế và loại trừ khả năng xảy ra tình trạng chia cắt trong áp dụng pháp luật. Muốn vậy, cần tuân thủ nguyên tắc: văn bản QLNN phải được quy định cụ thể để khi các văn bản đó có hiệu lực thì được thi hành ngay; văn bản hướng dẫn phải được soạn thảo cùng lúc với văn bản QLNN được hướng dẫn; bảo đảm tính chắc chắn, tính ổn định, tính trong sáng, rõ ràng của pháp luật… Về tính khả thi, chương trình xây dựng, ban hành văn bản QLNN và dự thảo văn bản QLNN phải dựa trên các căn cứ khách quan, khoa học, dự kiến được các nguồn lực, cân nhắc cách thức triển khai thực hiện và kèm theo phương án đề xuất về kinh phí và tính toán các nguồn lực khác cần thiết cho việc triển khai thực hiện. Các quy định trong các văn bản QLNN cần cụ thể, không dừng lại ở chương, mục mang tính chung chung… Văn bản QLNN chỉ có thể nhận được sự hưởng ứng, đồng tình và bảo đảm khả thi khi tính minh bạch, công khai của nó được coi trọng đúng mức. [16]

1.2.3. Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường

a. Nội dung công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường:

Công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường là một nội dung rất quan trọng trong công cuộc bảo vệ môi trường. Hiện nay, bảo vệ môi trường trở thành vấn đề toàn cầu cần sự phối hợp, chung tay của tất cả các quốc gia trên thế giới. Các vấn đề về môi trường như: ô nhiễm môi trường, lỗ thủng tầng ozôn, biến đổi khí hậu toàn cầu, hiệu ứng nhà kính, nước biển dâng …đang từng ngày, từng giờ tác động xấu đến cuộc sống của con người. Để ngăn chặn, phòng ngừa, ứng phó với những vấn đề trên, các quốc gia trên thế giới đều đưa ra các căn cứ pháp luật để làm cơ sở có công tác bảo vệ môi trường. Căn cứ vào luật pháp và điều kiện thực tế về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, phong tục tập quán riêng của mỗi nước, ban hành Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành để điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân, tổ chức. Nhưng để các văn bản pháp luật mới ban hành đi vào cuộc sống thì cần phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục để mọi người biết và thực hiện; khi hiểu rõ, hiểu đúng các quy định của pháp luật thì hành động mới đúng mang lại hiệu quả tốt nhất. Nhận thức đúng về tầm quan trọng của tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường nên Đảng và Nhà nước đã quy định cụ thể trong các chủ trương, đường lối, nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể (Khoản 1 Điều 6 và Điều 154, Luật Bảo vệ môi trường 2014; giải pháp thực hiện trong Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…).

b. Tiêu chí đánh giá:

Các tiêu chí đánh giá về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường:

– Đội ngũ Tuyên truyền viên của cấp tỉnh, phường, xã được bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nghiệp vụ trong năm.

Tuyên truyền viên là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất của công tác tư tưởng để tiến hành hoạt động tuyên truyền và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật đến người dân. Do đó, cần được quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp và đặc biệt chú trọng đến công tác đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền theo hướng đa dạng, phong phú tạo được nhiều kết quả tích cực, luôn luôn cập nhật các thông tin mới nhất về pháp luật để truyền tải tới người dân, nâng cao trách nhiệm, ý thức của người dân trong công tác giữ gìn, bảo vệ môi trường.

– Có mạng lưới truyền thanh cơ sở, truyền thông thông tin tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường.

Hệ thống truyền thanh đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc truyền tải những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cấp ủy, chính quyền địa phương tới người dân. Đây là kênh thông tin có khả năng tiếp cận rộng rãi và kịp thời thông tin tới người dân những nội dung cần thiết, ngắn gọn, dễ hiểu nhất.

– Tỷ lệ văn bản quy phạm pháp luật về môi trường liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được phổ biến cho người dân.

 Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường được tiếp cận với người dân là một nột dung quan trọng trong việc đánh giá công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường. Đây là cơ sở thông tin có thể truyền tải mà người dân tiếp nhận được. Từ đó tạo nên sự tác động của pháp luật về môi trường tớ nhận thức, ý thức và biến thành hành động thực thi bảo vệ môi trường của nhân dân. Ý nghĩa của sự tồn tại một văn bản quy phạm pháp luật giờ đây còn được xem xét ở góc độ, đó là tính hiệu quả, là kết quả của sự tác động của các quy phạm pháp luật đến các quan hệ xã hội được điều chỉnh, đến các đối tượng được áp dụng. Hiệu quả của việc truyền tải một văn bản quy phạm pháp luật thể hiện sự phản ánh của dư luận xã hội về văn bản đó. Thực tế, tác động của dư luận xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến ý thức pháp luật, đến tâm lý pháp luật của người dân, từ đó tác động đến hiệu quả của quy phạm pháp luật.

1.2.4. Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường

a. Nội dung công tác cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường:

Trên nhiều phương tiện thông tin truyền thông, giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường được nhắc đến nhiều và là điều quan tâm của nhiều doanh nghiệp. Bởi lẽ, việc bảo vệ môi trường là việc làm hết sức cần thiết trong xu hướng toàn cầu hóa gắn liền với cuộc sống xanh. Giấy chứng nhận về môi trường chính là bằng chứng rõ ràng nhất cho việc làm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp.

Vậy, giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường là gì? Chúng ta sẽ đi làm rõ nội dung trên:

  • Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường là một loại chứng thư có tính pháp lý được cấp bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền dành cho những cơ sở công nghiệp nhằm mục đích xác định các chỉ tiêu môi trường mà những cơ sở này phải đảm bảo đạt được trong cả quá trình hoạt động do nhà nước đặt ra.
  • Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận môi trường: Bộ tài nguyên và môi trường; Bộ quốc phòng, bộ công an; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp huyện. Cụ thể các đối tượng được các cơ quan trên cấp phép được quy định tại điều 41, luật bảo vệ môi trường 2020 được thống qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV ngày 17/11/2020.

Giấy phép môi trường là một công cụ quản lý có tính thống nhất và pháp lý cao để giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động bảo vệ môi trường đối với các dự án trong giai đoạn thực hiện (xây dựng, vận hành thử nghiệm, vận hành thương mại) và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động.

Việc cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, chứng nhận về bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, khoa học, đúng theo quy định của pháp luật. Luật đã quy định rõ các nội dung về thẩm quyền cấp phép, nội dung của giấy phép, nguyên tắc, căn cứ cấp phép, quyền và nghĩa vụ của chủ giấy phép, tương quan giữa giấy phép môi trường và các công cụ quản lý môi trường khác có liên quan, các thủ tục hành, điều khoản chuyển tiếp để bảo đảm sự phù hợp, hạn chế tối thiểu xáo trộn tiêu cực khi ban hành chính sách, những vấn đề liên quan đến điều chỉnh, gia hạn, thu hồi, cấp lại giấy phép, thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp phép, các luật có liên quan khi ban hành giấy phép môi trường.

Bên cạnh đó, hoạt động gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường cũng là nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về môi trường. Hàng năm, các cơ quan chức năng phải tiến hành thanh tra, kiểm tra điều kiện về bảo vệ môi trường theo quy định của các tổ chức, cá nhân. Qua đó, thực hiện việc gia hạn giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường đối với cá nhân, tổ chức đảm bảo tốt các điều kiện về bảo vệ môi trường. Đồng thời, kiên quyết thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về môi trường đối với cá nhân, tổ chức không đảm bảo các điều kiện và không thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

b. Tiêu chí đánh giá:

Tiêu chí đánh giá về công tác cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường:

– Thứ nhất, tính hợp pháp, hợp lý và tính cần thiết của công tác cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường.

Việc tiến hành cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường cho các đơn vị, dự án đầu tư dựa trên các cơ sở pháp luật mà nhà nước ban hành. Đó là những quy định có giá trị thi hành trực tiếp. Tính hợp pháp thể hiện của nguyên tắc pháp chế. Tính hợp lý thể sự khả thi và hiệu quả cao nhất về kinh tế – chính trị, xã hội. Bên cạnh đó, việc cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường là nhu cầu cấp thiết của mọi dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát sinh chất thải đưa vào vận hành.

– Thứ hai, thủ tục gia hạn, cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường có số lượng đối tượng tuân thủ lớn, tần suất thực hiện cao.

– Thứ ba, công tác Thực hiện thanh tra, kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hoạt động bảo vệ môi trường đối với các đơn vị xin cấp và đã được cấp giấy phép, giấy chứng nhận về bảo vệ môi trường.

1.2.5. Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

a. Nội dung công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường:

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quản lý nhà nước về môi trường. Hoạt động này được thực hiện song song với việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, công tác thanh tra, kiểm tra hàng năm được các cơ quản chức năng quản lý nhà nước về môi trường quan tâm để triển khai một cách sâu rộng, toàn diện. Qua đó, nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong bảo vệ môi trường gắn với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Việc thanh tra, kiểm tra còn là cầu nối, là kênh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường khá hiệu quả thông qua việc rà soát tình hình thực thi pháp luật tại địa phương để lồng ghép, phổ biến quy định mới, giải đáp vướng mắc của địa phương, doanh nghiệp. Đồng thời, tiếp nhận những phản hồi của doanh nghiệp và địa phương, người dân về bất cập trong chính sách, pháp luật về môi trường để đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.

b. Tiêu chí đánh giá:

Các tiêu chí đánh giá về công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường:

– Công tác thanh tra, kiểm tra: có kế hoạch rõ ràng, làm căn cứ cung cấp những chỉ tiêu xác đáng cho việc kiểm tra; sắp xếp tổ chức khoa học, hợp lý nhằm xác định chính xác nhiệm vụ của từng bộ phận, cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch; tiến hành thường xuyên và kết hợp linh hoạt nhiều hình thức kiểm tra: kiểm tra lường trước, kiểm tra những điểm trọng yếu, kiểm tra trực tiếp, kiểm tra gián tiếp, kiểm tra định kỳ, kiểm tra bất thường, kiểm tra từ trên xuống, kiểm tra từ dưới lên…

– Công tác tiếp dân, xử lý vi phạm: mọi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh phải được xem xét, giải quyết với tinh thần trách nhiệm cao, đúng pháp luật, dứt điểm từ cơ sở. Thực hiện nghiêm túc việc tiếp công dân đột xuất và định kỳ theo đúng quy định của pháp luật; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và địa phương trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nghiêm khắc xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

1.3.1. Các yếu tố bên trong

Trong điều kiện của Việt Nam, có 4 yếu tố bên trong chủ yếu tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường, đó là”

Thứ nhất, năng lực, chất lượng của nền quản lý nhà nước biểu hiện ở sự kết hợp hài hòa các yếu tố: thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, tài chính công.

Thứ hai, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị. Hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy quản lý nhà nước về môi trường phụ thuộc vào nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng; sự tham gia, phối hợp của các tổ chức chính trị – xã hội; sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Thứ ba, sự tham gia, ủng hộ của người dân đối với Nhà nước nói chung và bộ máy quản lý nhà nước về môi trường nói riêng.

Thứ tư, các nhân tố khác như văn hóa, tập quán, sự phát triển của khoa học, công nghệ, hội nhập quốc tế…

Hiệu quả

Sơ đồ 1.2: Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý nhà nước về môi trường

a. Năng lực của nền quản lý nhà nước

– Hệ thống thể chế quản lý nhà nước

Là căn cứ và tiền đề pháp lý cho các hoạt động quản lý, điều hành của bộ máy quản lý nhà nước, chủ yếu tập trung ở 2 nhóm:

Một là, hệ thống các quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, chủ yếu là xác định địa vị pháp lý, chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể quản lý nhà nước về môi trường. Phần lớn những quy định này được thể hiện trong các luật như Luật, các nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ, về cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện… và hệ thống các quy chế làm việc của các cơ quan, văn bản có liên quan đến nội dung phân công, phân cấp quản lý nhà nước về môi trường.

Hai là, hệ thống văn bản do các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ban hành theo thẩm quyền để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở lĩnh vực môi trường. Hầu hết các thủ tục quản nhà nước về môi trường liên quan đến mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân và doanh nghiệp đều nằm ở nhóm quy định này.

Môi trường thể chế là điều kiện tiên quyết để duy trì và bảo đảm sự vận hành của cả hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường chỉ có thể hoạt động hiệu quả trong môi trường thể chế thuận lợi, gồm hệ thống văn bản chứa đựng các quy định được ban hành đúng thẩm quyền, kịp thời, phù hợp với yêu cầu quản lý và trình độ phát triển của các quan hệ kinh tế – xã hội và bảo đảm sự bao quát toàn bộ các ngành, lĩnh vực quản lý từ trung ương đến địa phương.

– Tổ chức bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường

Hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường là hoạt động chịu sự chi phối, tác động của rất nhiều yếu tố và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, khi một yếu tố thay đổi sẽ kéo theo các nhân tố khác thay đổi. Đó là các yếu tố như cơ cấu, tổ chức, chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, đội ngũ cán bộ, công chức, chế độ công vụ… Vấn đề chủ yếu ở đây là sự phân công trong nội bộ hệ thống tổ chức, việc xác định nhiệm vụ cho các cơ quan khác nhau để tạo được sự điều hoà, phối hợp cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện được mục tiêu tổng thể của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và cả bộ máy nhà nước nói chung. Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tránh được sự chồng chéo, vướng mắc, dễ dàng phối hợp, điều chỉnh công việc trong thực hiện nhiệm vụ, tiết kiệm thời gian; ngược lại nếu cơ cấu bất hợp lý sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động. Bộ máy quản lý nhà nước về môi trường là một chỉnh thể và mỗi cơ quan quản lý nhà nước về môi trường là một bộ phận, cả bộ máy chỉ hoạt động tốt khi mỗi bộ phận vừa thực hiện tốt nhiệm vụ của mình vừa phối hợp tốt với các bộ phận khác để hoàn thành được mục tiêu chung.

– Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Chất lượng nguồn nhân lực luôn là yếu tố quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường. Một nền quản lý chuyên nghiệp chỉ có thể hình thành trên cơ sở xây dựng và phát triển nguồn nhân lực tương ứng mang tính chuyên nghiệp. Việc xem xét, đánh giá tính chuyên nghiệp chủ yếu và trước hết dựa trên các tiêu chí sau:

Một là, có sự phân biệt rõ từng nhóm đối tượng phù hợp với yêu cầu và nội dung quản lý.

Hai là, trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trình độ, năng lực chuyên môn của từng loại đối tượng phụ thuộc trước hết vào chất lượng và chuyên môn đào tạo.

Ba là, nắm vững kỹ năng quản lý nhà nước. Kỹ năng, nghiệp vụ gắn với chuyên môn đào tạo và kinh nghiệm làm việc. Xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động quản lý nhà nước về môi trường, các kỹ năng cần thiết trong hoạt động công vụ được cụ thể hóa thành quy trình, quy phạm đòi hỏi phải được thực hiện một cách thống nhất. Ngoài việc tinh thông nghiệp vụ, nắm vững trình tự, thủ tục giải quyết công việc, tính chuyên nghiệp của công chức, viên chức còn thể hiện thông qua nhiều khía cạnh khác, kể cả sử dụng các công cụ hỗ trợ (như ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin…) cũng như khả năng thích nghi, giao tiếp, hợp tác thông qua phối hợp nhóm hoặc giải quyết mâu thuẫn, …

Bốn là, ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương và đề cao văn hóa công vụ, nhất là văn hóa giao tiếp, ứng xử. Cũng như đối với các hình thức lao động quyền lực khác, ý thức tôn trọng và chấp hành kỷ luật, kỷ cương, việc gương mẫu thực hiện văn hóa công vụ là đòi hỏi khách quan, bắt nguồn từ tính chất của hoạt động quản lý, không chỉ là biểu hiện của đạo đức công vụ mà còn là thước đo tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức.

b. Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị

Xuất phát từ đặc điểm hệ thống chính trị của Việt Nam là “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, vai trò tác động của đảng cầm quyền đối với tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về môi trường cơ bản có sự khác biệt với nhiều nước, mà chủ yếu và trước hết là ở tính độc lập tương đối của chúng.

Tương tự như vậy, mối quan hệ giữa bộ máy quản lý nhà nước về môi trường với các bộ phận khác của hệ thống chính trị như các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ quan lập pháp và tư pháp… cũng có nhiều nét đặc thù và đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước.

c. Sự tham gia và ủng hộ của người dân

Sự tham gia và ủng hộ của người dân đối với quản lý nhà nước về môi trường không chỉ góp phần đảm bảo việc phát huy dân chủ của Nhà nước ta, đảm bảo quyền của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước về môi trường, khẳng định bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mà còn là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường. Thực tiễn cho thấy, sự tham gia, ủng hộ của người dân đối với cơ quan nhà nước càng lớn thì hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước càng dễ dàng đạt được mục tiêu và chỉ khi nào người dân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới thực sự thành công. 

Nhân dân tham gia quản lý nhà nước về môi trường đảm bảo tính khách quan trong công tác quản lý nói chung và quản lý nhà nước về môi trường nói riêng, giúp nhân dân hiện thực hóa địa vị pháp lý cũng như thể hiện nguyện vọng chính đáng, phát huy vai trò làm chủ của mình trong công tác quản lý nhà nước. Nhân dân không chỉ có quyền giám sát đối với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo mà còn có quyền tự mình tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước về môi trường, trực tiếp thể hiện quyền lợi của mình. Điều này thể hiện vai trò đặc biệt của nhân dân trong quản lý nhà nước về môi trường, đồng thời xác định những nhiệm vụ mà nhà nước phải thực hiện trong việc đảm bảo những điều kiện để nhân dân được tham gia vào quản lý quản lý nhà nước về môi trường.

Nhân dân có thể trực tiếp tham gia hoạt động quản lý nhà nước về môi trường thông qua việc trực tiếp làm việc tại các cơ quan nhà nước hoặc thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình. Nhân dân cũng có thể gián tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước về môi trường thông qua việc tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội, các hoạt động tự quản ở cơ sở. 

d. Những yếu tố tác động khác

– Các yếu tố văn hóa, lịch sử, tập quán, truyền thống…

Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về môi trường nói riêng luôn mang tính kế thừa và chịu sự tác động của các yếu tố xã hội như văn hóa, lịch sử, truyền thống, tập quán, thói quen… Sự tác động của các yếu tố này luôn bao hàm cả hai khả năng tích cực và tiêu cực. Vấn đề đặt ra là phải biết kế thừa, vận dụng, phát huy các yếu tố tích cực, nhất là các giá trị văn hóa, truyền thống đã được kết tinh qua nhiều thời kỳ và hạn chế những yếu tố tiêu cực, lạc hậu làm cản trở quá trình hiện đại hóa của việc quản lý nhà nước.

– Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế

Sự phát triển của khoa học, công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế đang tạo ra những thay đổi trong tư duy và phương pháp tổ chức quản lý trên quy mô toàn xã hội. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ trong Quản lý nhà nước giúp thu hẹp khoảng cách không gian, rút ngắn thời gian, giảm chi phí thực tế và nhờ vậy trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành. Quá trình hội nhập quốc tế càng được đẩy nhanh thì áp lực về quá trình hiện đại hóa công tác quản lý, cũng như đòi hỏi về việc nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng gia tăng.

1.3.2. Các yếu tố bên ngoài

  • Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên được hiểu là tất cả những gì thuộc về thiên nhiên. Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí, vùng tiếp giáp, khí hậu, song ngòi, đất, khoáng sản… Mỗi vùng miền sẽ có một điều kiện tự nhiên nhất định, có những yếu tố tương đồng, cũng có những yếu tố tạo nên sự đặc trưng của vùng miền đó. Bởi vậy, công tác quản lý nhà nước về môi trường chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên của từng khu vực quản lý. Cơ quan quản lý nhà nước và môi trường trực tiếp quản lý, căn cứ vào đặc điểm, tính chất, sự đặc trưng từng khu vực để có những chính sách, biện pháp quản lý cho phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất.

  • Hệ thống kinh tế – xã hội

Hệ thống kinh tế – xã hội bao hàm hệ thống kinh tế và hệ thống xã hội.

Hệ thống kinh tế là hệ thống sản xuất, phân bổ tài nguyên và phân phối hàng hóa và dịch vụ trong một xã hội hoặc một khu vực địa lý nhất định. Nó bao gồm sự kết hợp của các tổ chức, cơ quan, thực thể khác nhau, quá trình ra quyết định và mô hình tiêu dùng bao gồm cấu trúc kinh tế của một cộng đồng nhất định. Như vậy, một hệ thống kinh tế là một loại hệ thống xã hội. [32]

Hệ thống xã hội là mạng lưới các mối quan hệ khuôn mẫu tạo thành một tổng thể thống nhất tồn tại giữa các cá nhân, nhóm và tổ chức. Đó là cấu trúc chính thức của vai trò và trạng thái có thể hình thành trong một nhóm nhỏ, ổn định. Một cá nhân có thể thuộc nhiều hệ thống xã hội cùng một lúc; ví dụ về các hệ thống xã hội bao gồm các đơn vị gia đình hạt nhân, cộng đồng, thành phố, quốc gia, trường đại học, tập đoàn kinh tế và ngành công nghiệp. Tổ chức và định nghĩa của các nhóm trong một hệ thống xã hội phụ thuộc vào các thuộc tính chung khác nhau như vị trí, tình trạng kinh tế xã hội, chủng tộc, tôn giáo, chức năng xã hội hoặc các đặc điểm khác biệt. [32]

Vì vậy, hệ thống kinh tế – xã hội của một quốc gia nói chung hay một địa phương nói riêng có tác động rất lớn đến việc xây dựng chính sách quản lý môi trường. Yếu tố kinh tế vừa là mục tiêu chính sách vừa là phương tiện động lực của chính sách. Căn cứ từ những điều kiện kinh tế – xã hội, đặc trưng của từng vùng miền là cơ sở cho công tác quản lý nhà nước về môi trường. QLMT chính là để giúp cho sự phát triển kinh tế cũng như xã hội được bền vững. Kinh tế – xã hội phát triển giúp chúng ta có đủ điều kiện để đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc. Điều đó lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội để kinh tế – xã hội phát triển. QLMT là việc làm không chỉ có ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn, cao cả hơn là nó có ý nghĩa cho tương lai. Công tác QLMT tốt, hiệu quả mang lại lợi ích kinh tế cho kinh tế và xã hội (tài nguyên thiên nhiên, điều kiện sống…) là động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế, xã hội. Hệ thống kinh tế xã hội và QLMT có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau trong quá trình phát triển.

+ Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và tăng trưởng kinh tế

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi mang tính chất căn bản và toàn diện về những hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế xã hội. Từ việc sử dụng sức lao động thủ công là chính sẽ được chuyển sang sử dụng sức lao động với công nghệ, phương tiện và các phương pháp hiện đại, tiên tiến để giúp tạo ra năng suất lao động hiệu quả nhất. Đi liền với quá trình CNH – HĐH đó sự chuyển dịch về cơ cấu nền kinh tế, tăng tỷ trọng về các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Đây là các ngành có sự tác động rất lớn đến môi trường, gây nên nhiều mối đe dọa cho môi trường, đó là sự thay đổi cấu trúc và mô hình phát triển do sự cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngày càng lộ rõ.

Mặt khác, cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ và sự hình thành, phát triển vượt bậc của các ngành nghề sản xuất trong thời gian qua, một mặt thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, mặt khác đã làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng và cũng làm gia tăng gây sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp, v.v… tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự nhiên gây nên tình trạng ô nhiễm ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống con người.

Tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế “quá nóng”, gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội tăng lên vì sự chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng ở nông thôn và đô thị. Chính điều này là nguy cơ tiềm ẩn nhiều yếu tố tác động xấu đến đời sống và môi trường sống của người dân. Thời gian qua, để đạt bằng được các mục tiêu phát triển kinh tế tỉnh, các mối liên quan về môi trường sinh thái đã bị bỏ qua, thiếu sự tôn trọng khi ứng dụng khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách quá mức, dẫn đến hệ sinh thái bị mất cân đối nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường có xu hướng gia tăng.

Trước tình hình đó, ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị có Nghị quyết 41- NQ/TW “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước” đã khẳng định bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH. Do đó, công tác quản lý nhà nước về môi trường muốn đạt được hiệu quả cao nhất cần bám sát những chuyển biến của tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và tăng trưởng kinh tế.

1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

1.4.1. Kinh nghiệm Quản lý nhà nước về môi trường của TP.Hà Nội.

Hà Nội là thủ đô, thành phố trực thuộc trung ương và cũng là một đô thị loại đặc biệt của Việt Nam. Hà Nội đã sớm trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Với vai trò thủ đô, Hà Nội là nơi tập trung nhiều địa điểm văn hóa giải trí, công trình thể thao quan trọng của đất nước, đồng thời cũng là địa điểm được lựa chọn để tổ chức nhiều sự kiện chính trị và thể thao quốc tế. Từ rất lâu, Thăng Long đã trở thành điểm đến của những người dân tứ xứ. Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số Hà Nội là 8.053.663 người, trong đó 49,2% dân số (tức 3,96 triệu người) sống ở thành thị, và 50,8% dân số sống ở nông thôn (tức 4,09 triệu người). Về kinh tế, Quy mô GRDP năm 2020 theo giá hiện hành ước đạt 1.016 nghìn tỷ đồng, xếp thứ hai các tỉnh thành cả nước. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế – xã hội, Hà Nội thường xuyên nằm ở top đầu các thành phố ô nhiễm, thậm chí nhiều ngày trong năm là thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới, với chỉ số bụi mịn ở mức nguy hiểm cho sức khỏe con người. Chất lượng môi trường đang có dấu hiệu ngày càng đi xuống: sông, hồ nước đen đặc, bốc mùi hôi thối, tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, đất… tại Thủ đô đang có diễn biến xấu. Đứng trước những nguy cơ về môi trường, UBND thành phố Hà Nội đã bàn thảo về thực trạng công tác quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn Thủ đô và đề xuất sửa đổi, quy định một số cơ chế, chính sách trong công tác bảo vệ môi trường. 

Nhằm nâng cao chất lượng môi trường, hướng tới xây dựng Hà Nội thành đô thị thông minh, sáng – xanh – sạch đẹp, TP đáng sống, Hà Nội sẽ tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước về môi trường từ TP xuống các quận, huyện, thị xã; xã, phường, thị trấn cho phù hợp với thực tế và theo quy định đặc thù của Luật Thủ đô, thống nhất quản lý đến từng xã, phường.

Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách về bảo vệ môi trường gắn với phát triển bền vững Thủ đô: Theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, công tác tuyên truyền sẽ tập trung làm rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, trách nhiệm của các cấp, các ngành và người dân đối với việc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đất nước được nêu trong các nghị quyết của Đảng qua các nhiệm kỳ, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng… Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền các văn bản chỉ đạo của Thành phố về công tác này, trong đó có Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 31/5/2017 của Thành ủy Hà Nội về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020 và những năm tiếp theo”.

Hà Nội triển khai áp dụng công nghệ mới về xử lý ô nhiễm môi trường nước trên hệ thống hồ, ao. Phát triển hệ thống thoát nước và xử lý nước thải. Triển khai thực hiện đề án cải tạo môi trường sông Nhuệ, sông Đáy; từng bước làm sống lại các sông: Nhuệ, Đáy, Tô Lịch, Tích… Nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch mạng lưới thu gom, xử lý nước thải của thành phố theo hướng nước thải phải được thu gom xử lý tại đầu nguồn, khắc phục tình trạng xử lý nước thải cuối nguồn như hiện nay.

1.4.2. Kinh nghiệm Quản lý nhà nước về môi trường của Tp. Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm hàng đầu về kinh tế trong nước mang tầm cỡ khu vực. Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,5% tổng sản phẩm GDP, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 37,9% dự án nước ngoài; là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế. Từ những thuận lợi trên, trong thời gian qua, cùng với cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân đã được cải thiện rõ nét. Tuy nhiên, Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức một số người dân lại quá kém trong nhận thức và bảo vệ môi trường chung,… Vì vậy, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường rất lớn: ô nhiễm môi trường không khí, môi trường đất, môi trường nước…

Trước những bức xúc về thực trạng môi trường, trong những năm qua, Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo các Sở – ngành, Ủy ban nhân dân các quận – huyện, các doanh nghiệp thực hiện ngay các nhiệm vụ cấp bách nhằm tăng cường công tác quản lý và bảo vệ môi trường. UBND thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ đạo kịp thời các ngành, các cấp tổ chức thực hiện Luật môi trường, cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về quản lý môi trường; ban hành các văn bản để triển khai các kế hoạch hành động về quản lý môi trường trên địa bàn thành phố.

UBND TP.Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch triển khai các chương trình giảm thiểu ô nhiễm môi trường; đồng thời, chỉ đạo các Sở, ngành, UBND các quận huyện tập trung công tác chỉ đạo, điều hành triển khai các giải pháp để hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra. Điển hình như: Chương trình giảm ô nhiễm môi trường giai đoạn 2016 – 2020 đề ra 4 nhóm mục tiêu với 16 chỉ tiêu cụ thể và 5 nhóm giải pháp thực hiện.

Trong quá trình xây dựng, ban hành và triển khai các Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của thành phố, luôn lồng ghép với nhiệm vụ quản lý môi trường theo quan điểm phát triển bền vững, đồng bộ trên cả ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường, trong đó đặc biệt quan tâm đến các chỉ tiêu về môi trường. Các giải pháp bảo vệ môi trường trong các dự án phát triển kinh tế – xã hội đã được quan tâm đầu tư thực hiện. Đã xuất hiện một số mô hình đô thị xanh, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất xanh, mô hình kinh tế sinh thái như: khu chế xuất Linh Trung I, Khu chế xuất Tân Thuận, Khu công nghiệp Hiệp Phước… Trong các chương trình, kế hoạch hành động của thành phố đều xác định rõ trách nhiệm và phân công, phân cấp hợp lý giữa các ngành, các cấp để làm tốt công tác quản lý về môi trường thuộc địa bàn và phạm vi quản lý.

Bên cạnh việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật và các nhiệm vụ liên quan đến công tác quản lý môi trường; các ngành, các cấp trong tỉnh cũng thường xuyên phối hợp tổ chức học tập, quán triệt và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục những chủ trương, chính sách, pháp luật này đến tất cả cán bộ, nhân dân. Đầu tháng 2/2021 Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về phòng, chống rác thải nhựa giai đoạn 2021 – 2025”. UBND thành phố, đặc biệt là Sở TN&MT đã phát huy vai trò định hướng, hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện công tác truyền thông tại các địa phương và đơn vị, thông qua việc xây dựng đội ngũ báo cáo viên và duy trì việc định kỳ tổ chức các lớp tập huấn nhằm bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho báo cáo viên cấp thành phố và cán bộ truyền thông, lực lượng tuyên truyền viên nòng cốt ở địa phương. Đồng thời, xây dựng và phát hành các tài liệu, công cụ hỗ trợ cho công tác truyền thông; tổ chức các mô hình bảo vệ môi trường và hướng dẫn nhân rộng (bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng theo mô hình tổ nhân dân tự quản, mô hình Trường học Xanh…).

Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo thẩm quyền được phân cấp; công tác hậu kiểm việc chấp hành các kết luận kiểm tra, quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành, xử phạt nghiêm vi phạm theo quy định để đảm bảo tính nghiêm minh pháp luật. Mặt khác, ban hành kết luận kiểm tra doanh nghiệp sau khi kết thúc đoàn kiểm tra, để doanh nghiệp biết, thực hiện và làm cơ sở để người dân, cơ quan chức năng giám sát.

1.4.3. Bài học đối với thành phố Đà Nẵng trong công tác quản lý nhà nước về môi trường

Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng tình trạng vi phạm pháp luật về môi trường xảy ra thường xuyên, liên tục và có chiều hướng tăng. từ kinh nghiệm quản lý nhà nước về môi trường tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh Minh có thể khẳng định rằng:

Thứ nhất, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường theo hướng quy định cụ thể, rõ ràng hơn, nghiêm khắc hơn và có thể thục thi ngay mà không cần phải có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như hiện nay.

Thứ hai, cần phải đẩy mình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, nâng cao trách nhiệm của công dân, sự tham gia của các tổ chức dân sự, tổ chức phi chính phủ:

– Tăng cường tuyên truyền, giáo dục và thống nhất nhận thức chung và xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.

– Điều chỉnh chính sách, nâng cấp các ưu đãi tài chính, tạo thuận lợi cao nhất cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư tham gia xã hội hóa công tác môi trường.

– Thể chế hóa sự giám sát của xã hội và dân chủ hóa quá trình xã hội hóa đầu tư bảo vệ môi trường.

– Thực hiện phân phối công bằng các lợi ích thụ hưởng và các chi phí phải gánh chịu cho mục đích bảo vệ môi trường.

Thứ ba, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường.

Trên cơ sở các quy định của luật bảo vệ môi trường năm 2014, cần tiếp tục kiện toàn và tăng cường năng lực tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường; bảo đảm thực hiện hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ cấp tỉnh đến địa phương. Cần xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp. Cần có sự phân công trách nhiệm cho từng cơ quan chuyên trách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Việc phân cấp về trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn phải gắn liền với việc phân cấp về nguồn nhân lực, vật lực.

Thứ tư, cần áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý nhà nước về môi trường.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, nếu chỉ dùng các biện pháp hành chính, cưỡng chế thì rất khó đưa các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và cuộc sống. Phải để cho các nhà doanh nghiệp thấy được và có được lợi ích thiết thực trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường. Vì vậy để đảm bảo tính khả thi của pháp luật bảo vệ môi trường, cần phải chú trọng đến các công cụ kinh tế như: phí bảo vệ môi trường, ký quỹ môi trường, quỹ bảo vệ môi trường… thực hiện việc thu thuế, phí, lệ phí, ký quỹ bảo vệ môi trường, buộc bồi thường thiệt hại về môi trường.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2021/QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng  Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng  Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng  Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng  Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng  Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *