Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm

Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm

Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm

1. Lí do chọn đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn công học tập của các cháu” (Hồ Chí Minh – Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, 9/1945) là để khẳng định vai trò to lớn của việc học tập đối với thế hệ trẻ.

Loài người tiến bộ đang vươn tới một xã hội phát triển mà ở đó chất lượng cuộc sống được nâng cao, do đó phải có động lực và định hướng đúng đắn cho sự phát triển. Một trong những yếu tố tạo nên chuyển biến nhanh chóng cho sự phát triển là con người với hành trang tri thức hiện đại, kỹ năng phù hợp, phát triển toàn diện.

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 (Khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đề cao sự chủ động, sáng tạo của học sinh và đẩy mạnh các hình thức học tập cho học sinh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học….”.

Trong giai đoạn kinh tế hội nhập quốc tế, giáo dục kỹ năng sống càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ, đảm bảo cho học sinh phát triển tốt về thể chất và tinh thần, thúc đẩy những hành vi, ứng xử mang tính xã hội tích cực

Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội đã có những biểu hiện xem nhẹ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, chạy theo thị hiếu không lành mạnh. Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa lối sống lành mạnh trung thực, có lý tưởng… với lối sống ích kỉ, thực dụng… đang diễn ra hàng ngày. Bên cạnh những hệ giá trị mới được hình thành trong quá trình hội nhập, những cái tiêu cực cũng đang xâm nhập vào đạo đức, lối sống của nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là học sinh, sinh viên. Mặt khác cũng phải thừa nhận một điều: Rất nhiều giáo viên (GV) hiện nay thiếu quan tâm và rất ngại việc giáo dục đạo đức cho học sinh (HS). Vì giáo dục đạo đức thì phải căn dặn, nhắc nhở, phê bình và xử lý kỷ luật HS chưa ngoan hay còn vì cuộc sống có quá nhiều bận rộn…

Học sinh lứa tuổi THCS đang ở giai đoạn hình thành nhân cách, nhiều học sinh chưa có kỹ năng sống tốt dễ bị lôi kéo, sa ngã vào các tệ nạn xã hội, không có kỹ năng xử lý các tình huống, không có kỹ năng nhận thức từ thực tiễn trở nên thụ động, thiếu linh hoạt, e dè hoặc dễ hư hỏng.

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm là một cách học thông qua thực hành, với quan niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có. Như vậy, thông qua các hoạt động trải nghiệm, học sinh được cung cấp các kiến thức, kĩ năng từ đó hình thành những năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm”.

Như vậy mục đích giáo dục phải đáp ứng 2 yêu cầu: Giúp cho người học tiếp thu kiến thức và có kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức để từng bước hoàn thiện, phát triển nhân cách nhân cách. Mặt khác, nó không chỉ yêu cầu người học sinh nắm vững và vận dụng kiến thức; mà còn đi xa hơn, giáo dục cho người học sinh biết chuyển từ tri thức sách vở gắn với thực tiễn sinh động đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ xung quanh các em; trong cuộc sống, trong lao động sản xuất, trong ứng xử, giao tiếp, định hướng giá trị với sứ mệnh trở thành chủ nhân tương lai của đất nước.

Nhận thức rõ vấn đề này, trong những năm qua, các trường THCS trên địa bàn thành phố Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã có những hình thức phong phú, sáng tạo trong giáo dục kỹ năng sống để học sinh có hứng thú tham gia, phát huy tối đa việc vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm tri thức đã học, khắc sâu kiến thức, mở rộng vốn hiểu biết, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, kích thích sự phát triển tư duy. Từ đó rèn luyện phẩm chất, nhân cách, tài năng, thiên hướng cá nhân, hình thành mối quan hệ giữa con người với đời sống xã hội, với thiên nhiên và môi trường sống trong đó đặc biệt là giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm.

Với những lí do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm” để nghiên cứu thực hiện luận văn thạc sĩ, chuyên ngành quản lí giáo dục.

2. Mục đích nghiên cứu

Đề xuất biện pháp Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THCS trên địa bàn thành phố.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS thông qua hoạt động trải nghiệm.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm.

4. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh 04 trường THCS gồm: Trường THCS Phúc Yên; trường THCS Nam Viêm; Trường THCS Hùng Vương; Trường THCS Xuân Hoà trên địa bàn thành phố Phúc Yên – Vĩnh Phúc.

– Phạm vi nội dung: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

– Phạm vi thời gian: Các số liệu được sử dụng cho nghiên cứu và điều tra khảo sát phục vụ cho nghiên cứu đề tài được sử dụng từ năm 2018 – 2019.

5. Giả thuyết nghiên cứu

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên – Vĩnh Phúc còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân. Nếu đề xuất được các biện pháp hoạt động quản lí giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS theo hướng tăng cường các hoạt động trải nghiệm thì chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên – Vĩnh Phúc sẽ được nâng cao, góp phần nâng cao hiệu quả quản lí các trường THCS trên địa bàn thành phố.

Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm
Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu cơ sở lí luận về Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở Trường THCS thông qua hoạt động trải nghiệm.

– Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên – Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm.

– Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên – Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở Trường THCS (các bài báo trong các tạp chí; thông tin internet; sách và các công trình nghiên cứu khoa học,…);

Hệ thống hóa, khái quát hóa và phân tích để làm rõ cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở trường THCS.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp cán bộ giáo viên nhà trường.

+ Tham dự, quan sát các HĐTN.

+ Phương pháp chuyên gia.

Lấy ý kiến chuyên gia đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lí HĐTN ở do tác giả đề xuất.

7.3. Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê, tính tỷ lệ %, để xử lí số lượng, kiểm định tính có ý nghĩa và tương quan các đại lượng nghiên cứu.

Các bảng số liệu và các biểu đồ minh họa,…

8. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS thông qua hoạt động trải nghiệm

Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS trên địa bàn thành phố Phúc Yên – Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm

Chương 3: Biện pháp Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Phúc Yên – Vĩnh Phúc

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống

1.1.2. Nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lí, quản lí giáo dục

Quản lí

Thuật ngữ Quản lí đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một khái niệm thống nhất. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm quản lý từ các góc độ khác nhau:

F.W.Taylo (1856 – 1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lí là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”. [1, tr 16]

Tác giả Trần Hồng Quân cũng nhấn mạnh: “Quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. [18, tr 176]

Những quan niệm về quản lý của các tác giả trên tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều thể hiện một số điểm chung nhất về quản lý như sau:

Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.

Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp, công cụ quản lý.

Công tác quản lý là một trong năm tác nhân của sự phát triển kinh tế – xã hội: vốn, tài nguyên, nguồn lao động, khoa học kỹ thuật và quản lý. Trong 5 tác nhân này, quản lý có vai trò mang tính quyết định đến sự thành công hay thất bại. Những người làm công tác quản lý phải là những người hội tụ đầy đủ kiến thức chuyên môn, phẩm chất và được trang bị kiến thức khoa học quản lý, xác lập được mục tiêu rõ ràng và có bản lĩnh, quyết tâm điều hành toàn bộ hệ thống tổ chức của mình đi tới đích bằng hệ thống các biện pháp quản lý.

Quản lí giáo dục

Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành, người nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục nói chung mà hạt nhân của hệ thống đó là các cơ sở trường học. Về khái niệm quản lý giáo dục các nhà nghiên cứu đã quan niệm như sau:”

Theo tác giả M.I.Kondacov: “Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hóa, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng” [15, tr 93]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái chất lượng mới về chất” [17,tr.68]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”. [8,tr.89]

– Tác giả Đặng Quốc Bảo khái quát “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [1, tr 31].

Tác giả Trần Kiểm quan niệm quản lý giáo dục được chia thành 2 cấp độ là: Quản lý vĩ mô (quản lý nhà nước về giáo dục) và quản lý vi mô (quản lý nhà trường) trong giáo dục [13]:

Đối với cấp độ vi mô, quản lý giáo dục “Là quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường bao gồm hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động giáo dục, đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, v.v…), đến ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật ( quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.v…) nhằm đạt mục tiêu giáo dục”.

Trong giai đoạn hiện nay với xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa về giáo dục, cần phải đổi mới, nâng cao năng lực QLGD. Do vậy cần phải nâng cao trình độ quản lý, kỹ năng, kỹ xảo, công cụ, kỹ thuật, CNTT&TT vào hệ thống quản lý giáo dục.

Đối với cấp độ vĩ mô, QLGD “Là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” .

Như vậy, quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động này có tính khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch trong việc dạy và học theo mục tiêu đào tạo chung.

Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản như xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển gió dục, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, về tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn về cơ sở vật chất thiết bị trường học, tổ chức bộ máy quản lý giáo dục, tổ chức chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên; huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực phục vụ phát triển sự nghiệp giáo dục…

Quản lí giáo dục thường được thực hiện ở 3 cấp: cấp trung ương, cấp địa phương và cấp cơ sở. Cấp trung ương và cấp chính quyền địa phương tỉnh, thành phố được gọi chung là cấp cao. Cấp ngành ở tỉnh, thành phố và cấp chính quyền quận. huyện gọi là cấp trung, và cấp trường là cấp cơ sở.

Những cấp quản lí này có lẽ không đồng nhất với ý tưởng quản lí vĩ mô và quản lí vi mô. Ở cấp quản lí nào cũng có cả quản lí vĩ mô lẫn quản lí vi mô. Đối tượng của quản lí giáo dục vĩ mô là những yếu tố ảnh hưởng đến toàn cục, đến toàn bộ hệ thống giáo dục. Đối tượng của quản lí giáo dục vi mô là những yếu tố chỉ ảnh hưởng cục bộ, đơn lẻ. Nội dung sách giáo khoa tuy là sự vật nhỏ bé nhưng là đối tượng quản lí vĩ mô và việc quản lí nó được thực hiện ở mọi cấp. Nhưng việc bổ nhiệm, tuyển dụng các hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học… ở quận, huyện nào đó tuy là việc to tát nhưng đó chỉ là đối tượng của quản lí vi mô, và chỉ được thực hiện cục bộ tại địa phương đó.”

1.2.2. Quản lý nhà trường

Trường học là một tổ chức, ở đó tiến hành quá trình dạy học. Hoạt động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học là hoạt động có tổ chức, có nội dung, có phương pháp và phương tiện, có mục đích, có sự lãnh đạo của nhà giáo dục, có sự hoạt động tích cực, tự giác của người học.

Bên cạnh đó, trường học còn là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục và để tiến hành quá trình giáo dục đào tạo nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội. Thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai. Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương. Như vậy “Quản lý nhà trường” chính là bộ phận của “Quản lý giáo dục”. Có thể thấy công tác quản lý trường học bao gồm xử lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường. Người ta có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm 6 thành tố: Mục đích yêu cầu; Nội dung giáo dục; Phương pháp giáo dục; Thầy giáo; Học sinh; Cơ sở vật chất và các phương tiện, thiết bị phục vụ cho giáo dục

Các thành tố này được chia ra làm 3 loại: Thành tố con người, thành tố tinh thần và thành tố vật chất.

Nội hàm của khái niệm quản lý nhà trường được nhiều tác giả trong và ngoài nước diễn tả theo nhiều góc độ khác nhau.

Tác giả M.I.Kondacov đã khái quát “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường là một hệ thống xã hội- sư phạm chuyên biệt). Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội – kinh tế, tổ chức – sư phạm của quá trình dạy – học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” .[15]

Trong thực tiễn Việt Nam, tác giả Thái Duy Tuyên đã xác định: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục – đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”. [23]

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý nhà trường phổ thông là quản lý dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác, để dần tới mục tiêu giáo dục”. [7]

Như vậy nhà trường là một bộ phận của QLGD. Quản lý nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm khoa học và có tính định hướng của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng trong thực tiễn Việt Nam. Người quản lý nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn.

1.2.3. Kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống

Kĩ năng sống

Thuật ngữ kỹ năng sống (Life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Thuật ngữ này xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi nơi trên thế giới. Việc sử dụng thuật ngữ này có ở tất cả các nước: phát triển, đang phát triển, có thu nhập cao, trung bình, thấp và các vùng giáo dục cho mọi người.

Có nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm kỹ năng sống:

– Có quan niệm cho rằng: Kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.

– Quan niệm khác lại cho rằng kỹ năng sống là những kỹ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn và khoẻ mạnh.

– Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là khả năng thích nghi, hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử một cách có hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.

– Có quan niệm cho rằng kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.

Song tựu trung thì kỹ năng sống là những khả năng tâm lí xã hội của mỗi cá nhân để tương tác với người khác và giải quyết những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày một cách tích cực, có hiệu quả. Nói một cách khác, nó còn có khả năng nhận biết và thích ứng với những vấn đề của cuộc sống của mỗi cá nhân để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả. Nó được thể hiện trong hành vi thích nghi và tích cực của cuộc sống thường nhật.

Kỹ năng sống là tập hợp nhiều kỹ năng mà cá nhân có được nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại như: cách tổ chức cuộc sống, cách ăn nói giao tiếp, cách ứng xử trong xã hội, sinh hoạt cộng đồng – có liên quan với các kỹ năng khác của cá nhân, như kỹ năng nghề nghiệp.

Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. Kỹ năng sống mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân. Kỹ năng sống còn mang tính xã hội vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi vùng, miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có những kỹ năng sống thích hợp. Nó chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hoá của gia đình, cộng đồng, dân tộc. Kỹ năng sống cần thiết đối với thanh thiếu niên để họ có thể ứng phó một cách tự tin, tự chủ và hoàn thiện hành vi của bản thân trong giao tiếp, giải quyết các vấn đề của cuộc sống với mọi người xung quanh, mang lại cho mỗi cá nhân cuộc sống thoải mái, lành mạnh về thể chất, tinh thần và các mối quan hệ xã hội.

Kỹ năng sống được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và trải nghiệm của bản thân, nó giúp cho mỗi cá nhân nâng cao năng lực ứng phó trong mọi tình huống căng thẳng mà mỗi người phải gặp hàng ngày.

Giáo dục kĩ năng sống

Bàn về giáo dục, có nhiều cách tiếp cận, hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp độ xã hội và cấp độ nhà trường. Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục chỉ quá trình giáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục. Khi tham gia các hoạt động giáo dục, người học được tiến hành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc chung, những mục tiêu chung, những chuẩn mực giá trị chung và những biện pháp thực hiện chung, nhờ vậy học sinh được giáo dục theo những tiêu chí chung.

Từ điển Từ và ngữ Hán Việt, thì: “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết để họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội”. [14, tr.269]

Từ nội hàm của khái niệm kỹ năng sống và quan niệm về hoạt động giáo dục, chúng tôi cho rằng: Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp học sinh có kiến thức, thái độ, hành động hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách học sinh.”

1.2.4. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm

Quản lý hoạt động GDKNS là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên,học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao chất lượng hoạt động GDKNS trong nhà trường.

Hoạt động giáo dục, rèn kỹ năng sống và các hoạt động trải nghiệm, trải nghiệm sáng tạo rất bổ ít trong các nhà trường giúp các em rèn luyện kĩ năng ứng xử thân thiện, phù hợp trong các tình huống; có thói quen và kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng hoạt động xã hội; giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khoẻ, ý thức bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội. Giúp các em có thể học tập ngay trên các di tích, di sản nắm được sâu sắc vấn đề; tự hào về truyền thống dân tộc Việt Nam, sự hy sinh anh dũng của các thế hệ ông cha để dành lại hòa bình, độc lập hôm nay cho các em. Giúp học sinh phát huy và rèn luyện “Năng lực: tự phục vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề; Phẩm chất: chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương.

Giáo dục KNS đối với HS THCS là một trong những nội dung giáo dục tại nhà trường. Dù thông qua phương thức, hình thức nào đi nữa thì nội dung giáo dục này cũng đặt ra yêu cầu phải được quản lý như các hoạt động giáo dục khác tại các trường THCS.

Theo đó, quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS THCS thông qua trải nghiệm chính là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng nhằm tác động đến phương thức trải nghiệm được áp dụng trong quá trình GD KNS đối với HS bậc THCS. Đối tượng được áp dụng các nội dung quản lý chính các lực lượng tham gia vào quá trình đó, chủ yếu là học sinh và giáo viên (tùy từng nội dung, giáo viên bộ môn hoặc GVCN, hoặc cả hai tham gia chính vào hoạt động này cùng HS). Mối quan hệ qua lại giữa HS và GV trong quá trình triển khai phương thức là yếu tố cần thiết để phản ánh hoạt động quản lý này. Theo đó, điều chỉnh tương tác giữa giáo viên, học sinh để vận hành có hiệu quả những tương tác khác trong các yếu tố cấu thành nên quá trình giáo dục KNS cho học sinh TH, hướng tới mục tiêu giúp HS hình thành được thói quen phù hợp với thực tế hoặc thay đổi, điều chỉnh hành vi thói quen theo hướng tích cực, an toàn, hiệu quả.

1.3. Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS

1.3.1. Vai trò, vị trí của giáo dục kỹ năng sống thông qua trải nghiệm ở trường THCS

Quản lý giáo dục kỹ năng sống chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống. Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy kỹ năng sống cho học sinh. Từ đó có hiểu: Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở là những tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, để đạt được mục tiêu giáo dục kỹ năng sống đã đề ra.

Đối với học sinh THCS (12-16 tuổi) là lứa tuổi có nhiều thay đổi mạnh mẽ về thể chất, sức khỏe và tâm sinh lý. Tuổi dậy thì các em dễ thay đổi tình cảm, hành vi, chóng vui chóng buồn giáo dục kỹ năng sống có tầm quan trọng đặc biệt. Học sinh THCS bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đến bản thân, đến những phẩm chất nhân cách của mình, các em có biểu hiện nhu cầu tự đánh giá, so sánh mình với người khác. Điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, dễ bị kích động, vui buồn thường hay đan xen, tình cảm còn mang tính bồng bột. Đặc điểm này là do ảnh hưởng của sự phát dục và sự thay đổi về tâm sinh lí, nhiều khi do hoạt động hệ thần kinh không cân bằng, quá trình hưng phấn thường mạnh hơn quá trình ức chế, khiến các em không tự kiềm chế được bản thân. Khi tham gia các hoạt động vui chơi, học tập, lao động các em đều thể hiện tình cảm rõ rệt và mạnh mẽ.

Về học tập, động cơ học tập của học sinh THCS rất phong phú đa dạng, nhưng chưa bền vững, nhiều khi còn thể hiện sự mâu thuẫn. Nhìn chung, các em đều ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập, nhưng thái độ và sự biểu hiện rất khác nhau. Trong quá trình học tập, các em có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng. Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn. Ở lứa tuổi này trí nhớ thay đổi về chất, mang tính chất của những quá trình được điều khiển, điều chỉnh và có tổ chức. Các em có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ, bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc biệt để ghi nhớ và nhớ lại.

Ở lứa tuổi này, giao tiếp là một hoạt động đặc biệt giúp các em rèn kĩ năng sống cho bản thân. Đối tượng giao tiếp hàng ngày thường là thầy, cô, bạn bè và những người thân trong gia đình. Qua hoạt động giao tiếp giúp các em nhận thức được người khác và bản thân mình, từng bước phát triển các kĩ năng cần thiết như: so sánh, phân tích, khái quát hành vi của mình và của người khác, trên cơ sở đó từng bước tự điều chỉnh hành vi, hoạt động để hoàn thiện nhân cách bản thân..

Do vậy giáo dục KNS sẽ góp phần giúp các em ứng phó có hiệu quả với những thách thức trong cuộc sống; rút ngắn thời gian mày mò, tìm hiểu; giúp các em trưởng thành sớm hơn. KNS giúp cho các em có khả năng tự bảo vệ tinh thần và sức khỏe của chính mình và những người khác trong cộng đồng.

HĐTN là một bộ phận của quá trình giáo dục, được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học. Thông qua các hoạt động thực hành, những việc làm cụ thể và các hành động của học sinh, HĐTN có mục đích, có tổ chức sẽ giúp phát triển, nâng cao các tố chất và tiềm năng của bản thân học sinh, nuôi dưỡng ý thức sống tự lập, đồng thời quan tâm, chia sẻ tới những người xung quanh. Thông qua việc tham gia vào các HĐTN, học sinh được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân. Các em được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả,… Từ đó, hình thành và phát triển cho các em những giá trị sống và các năng lực cần thiết.

HĐTN về cơ bản mang tính chất của hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ, với sự nỗ lực giáo dục nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. HĐTN có nội dung đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng nhiều môn học, nhiều lĩnh vực giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội.

Trong Đề án đổi mới căn bản và toàn diện GD-ĐT, mục tiêu giáo dục chuyển hướng từ coi trọng trang bị kiến thức sang tăng cường trang bị những năng lực và phẩm chất cần thiết cho người học. Điều đó càng khẳng định tầm quan trọng trong việc giáo dục KNS cho HS thông qua việc tích hợp, lồng ghép trong các môn học chính khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, trong đó có giáo dục TN sáng tạo. Các hoạt động TN sáng tạo có thể thực hiện dưới các hình thức rất phong phú và đa dạng, hấp dẫn đối với HS, giúp các em hình thành, phát triển năng lực như: năng lực tự phục vụ thông qua các hoạt động tham quan dã ngoại, tổ chức sinh nhật, tự học ở lớp và ở thư viện… Năng lực giao tiếp thông qua các hoạt động hội thi, mít tinh, các trò chơi, tổ chức sinh nhật, tổ chức các trò chơi dân gian, năng lực tự học, từ các hoạt động, các cuộc thi vui mà học, tham gia trồng và chăm sóc cây xanh… Các sự kiện sinh hoạt tập thể như: mít tinh, tham quan các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước, nhà máy, xí nghiệp, một số đơn vị quân đội,… giúp các em có sự trải nghiệm một cách toàn diện trong mọi mặt của đời sống xã hội.”

1.3.2. Mục tiêu và nguyên tắc giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS

Mục tiêu giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS

Mục tiêu của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giúp học sinh ứng xử và giải quyết có hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được tiến hành với những chức năng cụ thể như lập kế hoạch giáo dục, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện nội dung, chương trình và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường. Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được tiến hành trong mối quan hệ mật thiết với quản lý giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động giáo dục khác.

Nguyên tắc giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS

Giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS thông qua nguyên tắc 5 chữ T: Tương tác; Trải nghiệm; Tiến trình; Thay đổi hành vi; Thời gian – môi trường giáo dục.

– Nguyên tắc tương tác: KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác. Việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp HS thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó. Nhiều KNS được hình thành trong quá trình HS tương tác với bạn cùng học và những người xung quanh (kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết vấn đề…) thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trong nhà trường. Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, HS có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác. Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu quả.

– Nguyên tắc trải nghiệm: KNS chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế. HS chỉ có kĩ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó. Kinh nghiệm có được khi HS được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với điều kiện thực tế. Giáo viên (GV) cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động trong và ngoài giờ học sao cho HS có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác.

– Nguyên tắc tiến trình: Giáo dục KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức – hình thành thái độ – thay đổi hành vi. Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới. Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kì mắt xích nào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ.

– Nguyên tắc thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực, có kĩ năng hành động, thể hiện thái độ và lựa chọn giá trị của cá nhân qua các hành động. Giáo dục KNS thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình. Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, không đồng thời. Có thời điểm người học lại quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước.

Do đó, các nhà giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động liên tục để HS duy trì hành vi mới và hình thành thói quen mới; tạo động lực cho HS điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và những hành vi trước đây, thích nghi hoặc chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới.

– Nguyên tắc thời gian – môi trường giáo dục: Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em. Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho HS áp dụng kiến thức và kĩ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống. Giáo dục KNS được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng. Người tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, là thầy cô, là bạn cùng học hay các thành viên cộng đồng. Trong nhà trường phổ thông, giáo dục KNS được thực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể – xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác.

1.3.3. Nội dung và phương thức giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS

Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở

Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở bao gồm quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; quản lý nội dung chương trình giáo dục kỹ năng sống cho họcsinh; quản lý đội ngũ giáo viên giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; quản lý việc phối hợp các lực lượng thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Chủ thể quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở là các lực lượng giáo dục trong nhà trường (Ban Giám hiệu đứng đầu là Hiệu trưởng, giáo viên, các tổ chức của nhà trường), các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường và phụ huynh học sinh. Chủ thể giáo dục đề ra các kế hoạch, nội dung, mục đích, phương pháp và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Đối tượng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở là nội dung giáo dục, các lực lượng trực tiếp hoặc gián tiếp tiến hành các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và học sinh những đối tượng trực tiếp tiếp nhận nội dung giáo dục.

Phương thức quản lý, bao gồm các cách thức, biện pháp của người quản lý nhằm tác động đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống của học sinh ở nhà trường. Các phương pháp quản lý bao gồm phương pháp quản lý hành chính pháp luật, phương pháp giáo dục – tâm lý, phương pháp kích thích. Đây là những phương pháp chủ đạo, được sử dụng phổ biến, các nhà quản lý cần lựa chọn và sử dụng các phương pháp cho phù hợp với đối tượng quản lý để mang lại hiệu quả.

Phương thức giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS

Có rất nhiều phương pháp GDKNS cho học sinh THCS, nhưng đối với học sinh THCS thường được GDKNS thông qua các phương pháp sau:

– Phương pháp hợp tác theo nhóm:

Trong dạy học hợp tác, giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động cùng trao đổi, thảo luận để đưa ra suy nghĩ, quan điểm, quyết định và giải quyết một vấn đề nào đó trong những nhóm nhỏ để học sinh cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định. Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, học sinh chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao. Phương pháp này giúp hình thành nhóm kỹ năng giao tiếp học tập trong nhóm; hình thành nhóm kỹ năng xây dựng và duy trì sự tin tưởng lẫn nhau và giải quyết bất đồng.

– Phương pháp giải quyết vấn đề:

Sự lĩnh hội tri thức của học sinh diễn ra thông qua việc tổ chức cho học sinh hoạt động nêu và giải quyến vấn đề. Sau khi giải quyết vấn đề, học sinh sẽ thu nhận được kiến thức, kỹ năng mới hoặc thái độ tích cực. Dạy học nêu và giải quyết vấn đề tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính chủ động,tích cực, sáng tạo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực giải quyến vấn đề. Phương pháp này giúp học sinh rèn luyện và phát triển các kỹ năng: Kỹ năng nhận biết và xác định các vấn đề; kỹ năng thu nhập và xử lý thông tin; kỹ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạo; kỹ năng ra quyết định và giải quyến vấn đề.

– Phương pháp đóng vai:

Là phương pháp cho học sinh thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong tình huống giả định. giáo viên đặt ra một tình huống thật hoặc tưởng tượng trong đó có nhiều nhân vật hoặc nhiều vai khác nhau. học sinh được khuyến khích nghiên cứu những tình huống đó với các nhân vật khác nhau rồi ứng biến các phản ứng của nhân vật cho các bạn trong lớp cùng theo dõi. Phương pháp này rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo; sự tự tin; khả năng lắng nghe tích cực, khích lệ sự thay đổi, thái độ, cảm xúc và hành vi của học sinh theo hướng tích cực; tạo điều kiện cho học sinh đặt mình vào vị trí của người khác và hiểu được quan điểm của người khác; sự cảm thông; kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề; kỹ năng thương lượng hoặc quyết định tuỳ thuộc vào tình huống, kỹ năng quản lý thời gian.

– Phương pháp trò chơi:

Là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu mọi vấn đề hoặc thể hiện hành động. Trò chơi gồm nhiều loại, ví dụ: Đố ô chữ, lắp ghép nội dung, tìm hiểu điều bí mật, thi giữa các đội,… trò chơi có thể điều chỉnh theo nội dung bài học và sử dụng khi ôn tập, làm bài tập hay làm bài kiểm tra. Trò chơi có thể được sử dụng bởi cá nhân, trong nhóm nhỏ hay cả lớp. Phương pháp trò chơi giúp rèn luyện và phát triển kỹ năng đảm nhận trách nhiệm; sự bình tĩnh; kỹ năng tư duy sáng tạo.

– Phương pháp động não (công não):

Là phương pháp nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận. Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng nhằm tạo “cơn lốc” các ý tưởng. Phương pháp này giúp học sinh rèn luyện và phát triển kỹ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạo; kỹ năng tự tin và trình bày suy nghĩ ý tưởng; kỹ năng lắng nghe tích cực.

– Phương pháp nghiên cứu tình huống (nghiên cứu các trường hợp điển hình):

Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống “thật” để chứng minh một vấn đề hay hàng loạt các vấn đề. Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện thông qua các đoạn phim mà không phải trên dạng chữ viết. Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản.

– Phương pháp dự án:

Phương pháp dự án được hiểu như là một phương pháp trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và thực hiện kết quả.”

1.4. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường THCS thông qua hoạt động trải nghiệm

1.4.1. Quản lý nội dung, chương trình GD KNS thông qua hoạt động trải nghiệm

Trong trường THCS, việc quản lý thực hiện chương trình, nội dung GDKNS phải hướng vào tăng cường, nâng cao nhận thức GDKNS cho học sinh. Hình thành cho học sinh những KNS cơ bản, giúp học sinh phát huy hết tiềm năng của bản thân, tạo nên sự khác biệt và thấy mình có đủ khả năng tạo dựng một sống tốt đẹp. Thông qua các hoạt động giáo dục KNS, học sinh có được năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu, thách thức của cuộc sống, có lối sống lành mạnh, có ý thức về giá trị bản thân, biết tôn trọng và quan tâm giúp đỡ người khác.

Các nội dung nhà trường thực hiện để quản lý tốt việc thực hiện chương trình, nội dung GDKNS bao gồm: Thành lập Ban chỉ đạo xây dựng chương trình GDKNS; phân công nhiệm vụ cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, các đơn vị tham gia xây dựng chương trình; phân công cán bộ quản lý, giáo viên tham gia viết nội dung GDKNS theo các chủ đề tăng cường các hoạt động sinh hoạt tập thể lồng ghép GDKNS; phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn khác trong việc xây dựng chương trình, nội dung GDKNS; phối hợp với Đoàn thanh niên trong trường, với cha mẹ học sinh trong việc xây dựng chương trình, nội dung GDKNS; tổ chức các phong trào thi đua nhằm tăng cường các hoạt động GDKNS trong nhà trường; tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm từng hoạt động khi thực hiện nội dung GDKNS cho học sinh.

Để quản lý tốt việc thực hiện chương trình, nội dung GDKNS, người CBQL cần quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch. Trong xây dựng kế hoạch phải đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GDKNS với mục tiêu giáo dục chung trong trường THCS, phối hợp với kế hoạch dạy học trên lớp. Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để đạt hiệu quả giáo dục cao.

Trong tổ chức và chỉ đạo thực hiện, kế hoạch GDKNS cần quan tâm đến các công việc cụ thể, các mục tiêu, nội dung đã được thực hiện trong kế hoạch cần phải đạt được; chú ý đến việc huy động và phối hợp với các lực lượng trong và ngoài trường để góp phần thực hiện tốt chương trình, nội dung GDKNS.

1.4.2. Quản lý hoạt động của giáo viên và học sinh

Giáo viên và học sinh chính là chủ thể và đối tượng GDKNS cho học sinh THCS. Chủ thể trực tiếp giáo dục kỹ năng sống là đội ngũ giáo viên mà trước hết là giáo viên chủ nhiệm lớp. Do đó họ có vai trò rất lớn đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách người học. Ngoài ra, còn có các tổ chức như: Đoàn thanh niên, Công đoàn, Đội thiếu niên… tham gia giáo dục kỹ năng sống. Học sinh THCS vừa là đối tượng giáo dục, đối tượng bị quản lý, vừa là chủ thể tự giáo dục. Quản lý đối tượng giáo dục kỹ năng sống, chính là quản lý quá trình học tập và rèn luyện, hình thành, phát triển kỹ năng sống của học sinh. Học sinh và tập thể lớp vừa là khách thể tiếp nhận các tác động giáo dục, chịu sự điều khiển chi phối bởi mục tiêu và sự tác động thông qua các phương pháp, hình thức và các tác động khác của nhà giáo dục, lại vừa là chủ thể tự tổ chức, tự chỉ đạo quá trình học tập, rèn luyện kỹ năng sống của chính mình.

Vì vậy, giáo viên quản lý chỉ đạo các lực lượng, tổ chức trong nhà trường thực hiện chương trình nội dung GDKNS được thực hiện thông qua các hoạt động như: Dạy lồng ghép trong các môn học như Ngữ văn, Giáo dục công dân, Sinh học, Địa lý; tổ chức các chuyên đề trong các buổi hoạt động giáo dục ngoài giờ, tổ chức các hoạt động ngoại khoá; thông qua công các chủ nhiệm, các giờ sinh hoạt tập thể, chào cờ đầu tuần, hoạt động tham quan, dã ngoại, thể dục thể thao, nhân đạo xã hội, từ thiện; thông qua tổ chức các hội thảo, chuyên đề cho phụ huynh HS,…

1.4.3. Quản lý các nguồn lực giáo dục

Các nguồn lực giáo dục bao gồm: cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật (tài sản vật chất). Cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc GDKNS nâng cao chất lượng đào tạo. Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ của nhà trường là hệ thống các phương tiện vật chất – kỹ thuật được sử dụng để phục vụ cho việc giáo dục của nhà trường.

Cán bộ quản lý cần chú trọng tăng cường các điều kiện, cơ sở vật chất, trang bị thiết bị để phục vụ hoạt động GDKNS cho học sinh như:

– Xây dựng hệ thống các quy định, tiêu chí phục vụ cho hoạt động GDKNS; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ hoạt động GDKNS: sân bãi, dụng cụ thể dục thể thao, nhạc cụ, phòng, sách tham khảo, loa đài, máy chiếu, máy tính nối mạng…;

– Xây dựng phòng truyền thống để giáo dục truyền thống nhà trường cho học sinh, phục vụ một số hoạt động giáo dục theo chủ đề tháng;

– Xây dựng phòng hội trường có đầy đủ các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho một số hoạt động tập thể;

– Xây dựng tủ sách GDKNS phục vụ việc tra cứu tư liệu, tài liệu của giáo viên và học sinh; trang bị băng đĩa các bài hát, các tình huống dành cho học sinh phục vụ chủ đề hoạt động trong năm học để hỗ trợ GDKNS;

– Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục để huy động các nguồn lực cho hoạt động GDKNS.

– Tổ chức phối kết hợp với cha mẹ học sinh để cùng nâng cao chất lượng GDKNS.

Cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật là điều kiện thực hiện mục tiêu dạy học; hiệu trưởng cần nhận thức đúng ý nghĩa của nó trong GDKNS. Để có đủ cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật, hiệu trưởng lập kế hoạch mua sắm, bổ sung hàng năm, sửa chữa, kế hoạch phân bố thời gian sử dụng giữa các Giáo viên. Cần khai thác triệt để các nguồn lực, huy động sự đóng góp của cộng đồng, động viên Giáo viên, HS làm đồ dùng phục vụ GDKNS… Để khai thác các thiết bị dạy học hiện có, hiệu trưởng cần chỉ đạo bộ phận quản lý chuyên môn thường xuyên tổ chức các chuyên đề hướng dẫn sử dụng trang thiết bị; kết hợp với khen thưởng những tập thể, cá nhân làm tốt, thông qua việc kiểm tra sổ sách mượn trả của Giáo viên và đăng ký sử dụng các phòng chức năng để tổ chức hoạt động.

1.4.4. Quản lý việc đánh giá kết quả GDKNS thông qua hoạt động trải nghiệm

Kiểm tra đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong quá trình quản lý. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giúp người án bộ quản lý xác định mức độ đạt được so với kế hoạch, phát hiện những sai lệch, xem xét những gì chưa đạt được hoặc ở mức độ thấp cùng những nguyên nhân của chúng và những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn để điều chỉnh cho kịp thời, phù hợp. Muốn kiểm tra, đánh giá chính xác việc thực hiện kế hoạch GDKNS, người cán bộ quản lý phải chú ý tới các nội dung sau:

– Xác định được cách kiểm tra.

– Xây dựng được tiêu chí đánh giá.

– Tổng kết đánh giá, xếp loại từ đó khen, chê kịp thời và có những điều chỉnh hợp lý nhằm thực hiện tốt những mục tiêu đề ra.

Trong kiểm tra, người CBQL cần được quan tâm đến việc thực hiện kế hoạch, chương trình, nội dung hoạt động GDKNS; kiểm tra hoạt động GDKNS thông qua dự một số hoạt động, sinh hoạt tập thể; việc kiểm tra đánh giá xếp loại thực hiện hoạt động GDKNS và việc phối hợp các lực lượng trong việc thực hiện hoạt động GDKNS.

Việc kiểm tra, đánh giá đòi hỏi phải khách quan, toàn diện, hệ thống, công khai. Sau kiểm tra, có nhận xét, kết luận. Nhà quản lý, qua đó, phải động viên, khen thưởng, nhắc nhở kịp thời những thiếu sót. Hiệu trưởng có thể kiểm tra thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất; kiểm tra trực tiếp hoặc gián tiếp. Bên cạnh đó, hiệu trưởng cần xây dựng chuẩn đánh giá phù hợp với đặc điểm của nhà trường thì việc kiểm tra, đánh giá mới khách quan, công bằng, rõ ràng, chính xác.

Để việc đánh giá đạt mục tiêu, kế hoạch đề ra, nhà quản lý cần phải bám sát vào những nội dung đánh giá, các mức đánh giá, sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học.

1.4.5. Quản lý các hoạt động phối hợp với các thiết chế xã hội khác (Đoàn, Đội, Công đoàn, các tổ chức chính trị xã hội, phụ huynh HS, cộng đồng dân cư, doanh nghiệp…) trong GDKNS

Việc GDKNS cho học sinh không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà còn là trách nhiệm của cả gia đình và xã hội. Quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh là một quá trình không đơn giản. Mỗi phẩm chất đạo đức của học sinh là kết quả tác động của rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan. Mặt khác, con người chịu sự chi phối bởi môi trường tự nhiên và môi trường xã hội mà họ đang sống. Trong đó, gia đình, nhà trường, xã hội là môi trường liên kết, gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân.

Để tạo sự phối hợp thống nhất giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức đoàn thể trong việc GDKNS cho học sinh, người quản lý cần xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và quản lý chặt chẽ sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức hoạt động GDKNS về cả nội dung, hình thức tổ chức và cách phối hợp nhằm phát huy tối đa tiềm năng của các lực lượng giáo dục, tạo nên sức mạnh tổng hợp để công tác GDKNS cho học sinh đạt hiệu quả như mong muốn.

Ngoài ra, nhà trường cần phối hợp với chính quyền địa phương để tăng cường biện pháp hành chính, tạo lập trật tự và môi trường lành mạnh xung quanh trường học. Xây dựng một số điển hình về giáo dục KNS trong gia đình, nhà trường để phổ biến, tuyên truyền trong cha mẹ học sinh; phát huy tính tích cực, chủ động trong tu dưỡng, rèn luyện pẩm chất đạo đức của học sinh, để cho học sinh tự ý thức về vai trò và trách nhiệm của mình, tự học tập, rèn luyện bản thân mình để tiến bộ.

Khi các cơ sở giáo dục liên kết với các đơn vị để tổ chức hoạt động giáo dục KNS phải có cam kết giữa hai bên. Cam kết phải quy định rõ về nội dung dạy học, kinh phí, đội ngũ giáo viên, huấn luyện viên, địa điểm tổ chức và trách nhiệm của mỗi bên. Sau khi ký kết hợp đồng phải báo cáo với cơ quan quản lý trực tiếp. Chịu sự thanh tra, kiểm tra của chính quyền, cơ quan quản lý giáo dục các cấp; thực hiện báo cáo đầy đủ theo yêu cầu của cơ quan quản lý giáo dục.”

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS

1.5.1. Về phía cán bộ quản lí và đội ngũ giáo viên

Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS chính là cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên.

Trước tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng, không ít bộ phận học sinh thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích kỷ, vô tâm, thiếu trách nhiệm với gia đình và bản thân, vi phạm pháp luật, đạo đức, nạo phá thai, xâm phạm tình dục, đắm chìm trong thế giới ảo của Internet… Gây bức xúc cho nhà trường, gia đình và xã hội. Nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu hụt về kỹ năng sống. Do vậy, cần giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người chung quanh, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống phức tạp, muôn hình, muôn vẻ của cuộc sống. Trước tình hình đó nhận thức và kỹ năng GDKNS của cán bộ quản lý và giáo viên chưa được đề cập và quan tâm nhiều trong việc GDKNS cho học sinh trường THCS hiện nay là yếu tố cơ bản có ảnh hưởng lớn đến việc GDKNS cho học sinh.

Cán bộ quản lý có khả năng đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể hay không. Nếu năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục của cán bộ quản lý yếu kém, cách thức quản lý cũng như các loại hình hoạt động không đổi mới, không có sự lôi cuốn, thiếu hứng thú thì chất lượng giáo dục KNS qua TN ở trường THCS sẽ không đạt hiệu quả cao. Vì vậy, việc bồi dưỡng kỹ năng, năng lực giáo dục KNS qua TN ở trường THCS cho CB, GV là công việc cần thiết trong quản lý, chỉ đạo các HĐTN của hiệu trưởng. Cần dựa trên kế hoạch hoạt động chungcủa nhà trường, tổ chức các buổi tập huấn phù hợp với khả năng hiện có để đội ngũ này có điều kiện giao lưu, học tập, rút kinh nghiệm, từ đó nângcao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm.

Tiếp theo, trình độ năng lực của đội GV, đặc biệt là GVCN đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch giáo dục KNS. Đội ngũ GVCN phải được tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về năng lực tổ chức, phương pháp hoạt động giáo dục KNS, nắm vững các KNS cần rèn luyện cho HS, nắm vững nội dụng chương trình giáo dục KNS. Có thể nhận thấy, GVCN có vai trò quan trọng trong việc triển khai hoạt động và định hướng nội dung giáo dục về KNS đối với HS. Sự kết nối giữa gia đình và nhà trường góp phần đánh giá hiệu quả của các phương pháp GD tại nhà trường khi được HS sử dụng, vận dụng vào thực tiễn đời sống hàng ngày của các em. Nếu không có sự gắn kết chặt chẽ, sự giáo dục của nhà trường có thể chỉ hình thành giúp các em các hành động một cách nền tảng mà không đánh giá được mức độ thường xuyên hoặc rèn luyện các hành động ấy trở thành thói quen, các kỹ năng thực sự có được của HS. Sự phản ánh của gia đình về mức độ vận dụng kỹ năng của HS cũng góp phần cải thiện được chất lượng giáo dục KNS của nhà trường thông qua việc tiếp nhận những ưu điểm, nhược điểm của HS từ những giám sát, nhận xét của CMHS từ môi trường sống ngoài nhà trường. Theo đó, sự tương tác giữa gia đình và nhà trường là nền tảng đánh giá hiệu quả của những HĐ TN được áp dụng trong giáo dục KNS cho HS.

Như vậy, nhận thức đúng của các lực lượng quản lý và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở có ảnh hưởng không nhỏ đến việc quản lý tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cá trường trung học cơ sở hiện nay. Vì vậy, đòi hỏi nhà quản lý tổ chức các hoạt động giáo dục cần có sự tuyên truyền vận động, hướng dẫn, động viên khuyến khích kịp thời các lực lượng tham gia quản lý và tổ chức giáo dục thì công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh mới được nâng tầm và đạt hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu giáo dục của bậc học trung học cơ sở.

1.5.2. Về phía các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường

Các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường đặc biệt là ban đại diện CMHS phải được tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục KNS, đặc biệt là các phương pháp giáo dục thông qua trải nghiệm để hỗ trợ nhà trường trong việc triển khai thực hiện kế hoạch định hướng giáo dục KNS. Đồng thời, cùng với nhà trường, xem xét và đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục KNS của HS tại các môi trường khác ngoài nhà trường, từ đó phản ánh được chất lượng và hiệu quả của hoạt động này trong thực tiễn đời sống.

Hiện nay sự quan tâm, chỉ đạo của cấp trên về hoạt động thực hiện GDKNS cho học sinh chưa sâu sát, chưa đồng bộ, mạnh đâu làm đấy. Các gia đình luôn mải làm ăn, kiếm tiền không thực sự chăm lo, quan tâm đến con cái. Nhận thức của các gia đình vẫn chủ yếu là phó mặc, giao trách nhiệm cho nhà trường, chưa chú trọng phối kết hợp với nhà trường trong việc GDKNS cho học sinh. Dưới góc độ giáo dục, gia đình, xã hội không chỉ là lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục mà còn là môi trường giáo dục quan trọng. Trong lĩnh vực giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở, môi trường gia đình và môi trường xã hội có thể tác động theo hướng tích cực hoặc không tích cực đối với quá trình hình thành và phát triển kỹ năng sống của học sinh. Do kỹ năng sống thuộc phạm trù năng lực nên sự trải nghiệm có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành và phát triển kỹ năng sống cho học sinh. Đòi hỏi quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cần phát huy tốt sức mạnh của các yếu tố gia đình và xã hội.

Địa bàn dân cư nơi học sinh cư trú, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể xã hội, có ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh nói chung và học sinh trung học cơ sở nói riêng. Môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, văn minh là điều kiện thuận lợi cho giáo dục kỹ năng sống và hình thành nhân cách học sinh. Vì vậy, cần phải có sự phối hợp, thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Sự phối hợp này tạo ra môi trường thuận lợi, sức mạnh tổng hợp để giáo dục nói chung, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả.

Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường; mối quan hệ giữa các môi trường giáo dục: gia đình – nhà trường – xã hội về GDKNS còn chưa chặt chẽ. Nhiều nhà trường không chú trọng trong việc phát huy các mối quan hệ với các lực lượng giáo dục trên địa bàn dân cư, các tổ chức giáo dục trong xã hội dẫn đến không huy động được các nguồn lực tập trung cho GDKNS.

1.5.3. Về phía các điều kiện hỗ trợ

Yếu tố ảnh hưởng phải kể đến nữa chính là về phía các điều kiện hỗ trợ quản lý hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS.

Chương trình và nội dung GDKNS của các trường chưa sát với đối tượng và đặc điểm của học sinh, còn chung chung và đại trà. KNS vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá nhân vì đó là năng lực của cá nhân. KNS còn mang tính xã hội vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội đòi hỏi KNS đa dạng và phức tạp hơn, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có những KNS thích hợp. Ví dụ: KNS của người sống ở vùng đồng bằng khác với KNS của người sống ở miền núi Tây Bắc, KNS của người sống ở vùng nông thôn khác với KNS của người sống ở thành phố… Vì thế chương trình và nội dung GDKNS phải được tổ chức và thiết kế phù hợp với từng đối tượng và vùng miền.

Cơ sở vật chất,trang thiết bị và nguồn tài chính dành cho các hoạt động GDKNS chưa được chú trọng, đầu tư. Tất cả các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở ở nhà trường phải phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất hiện có của nhà trường, tránh đặt ra các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh quá cao mà điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật hạn chế sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kỹ năng sống của học sinh tại nhà trường.

Thực tiễn ở các trường trung học cơ sở, kinh phí bảo đảm cho quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được sử dụng theo kinh phí giáo dục hàng năm nên có phần bị hạn chế trong chủ động tổ chức các sự kiến để giáo dục cho học sinh. Tuy nhiên, các trường đã từng bước phát huy sự sáng tạo của các lực lượng, các tổ chức trong và ngoài nhà trường nhằm huy động sự tham gia của các cấp, các ngành để xã hội hóa cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt kết quả, tạo niềm tin vững chắc cho cha mẹ học sinh trong quá trình dạy học, giáo dục đang diễn ra tại các trường trung học cơ sở hiện nay.”

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở là một bộ phận của quá trình giáo dục trong nhà trường, có vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách của học sinh bậc THCS. Là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, có vai trò quan trọng trong việc hình thành con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu xã hội.

Trong Chương 1, luận văn đã phân tích, trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về GDKNS và quản lý hoạt động GDKNS thông qua hoạt động trải nghiệm, các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường THCS. Đây sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để luận văn triển khai nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Phúc Yên, Vĩnh Phúc để từ đó đề xuất các giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS thông qua hoạt động trải nghiệm một cách khoa học và sát thực với tình hình của các trường THCS thành phố Phúc Yên, Vĩnh Phúc hiện nay.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ PHÚC YÊN – VĨNH PHÚC

2.1. Khái quát về tình hình giáo dục THCS thành phố Phúc Yên

2.1.1. Khái quát tình hình kinh tế – xã hội

Thành phố Phúc Yên là đô thị cửa ngõ của tỉnh Vĩnh Phúc, là một trong những đô thị vệ tinh của Vùng thủ đô Hà Nội; là trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, thể dục thể thao và đào tạo, là trung tâm kinh tế công nghiệp – dịch vụ, trung tâm khoa học kỹ thuật và công nghệ, giữ vị trí chiến lược quan trọng về phát triển công nghiệp và thương mại – du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc, góp phần kết nối giao lưu phát triển kinh tế với vùng thủ đô Hà Nội.

Là một đô thị lớn của tỉnh Vĩnh Phúc, thành phố Phúc Yên đạt tiêu chuẩn đô thị loại III vào năm 2013 và cơ bản đạt các tiêu chí đô thị loại II vào năm 2020, là trung tâm công nghiệp, thương nghiệp, du lịch và dịch vụ tổng hợp của tỉnh, đồng thời còn là một trong những trung tâm của vùng. Thành phố Phúc Yên còn có hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hệ thống cung cấp dịch vụ tương đối hoàn chỉnh.

Điều kiện Kinh tế

Cơ cấu kinh tế của thành phố Phúc Yên được xác định là: công nghiệp – dịch vụ, du lịch – nông, lâm nghiệp.

Thành phố Phúc Yên có nhiều tiềm năng, lợi thế để thu hút đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Kinh tế trên địa bàn luôn đạt mức tăng trưởng cao, 5 năm gần đây bình quân tăng 23,05%/năm, trong đó, công nghiệp tăng 21,78%; dịch vụ tăng 25,57%; nông nghiệp tăng 5,37%/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố luôn cao hơn mức bình quân chung của tỉnh. Cơ cấu kinh tế của thành phố trong những năm vừa qua chuyển biến theo hướng tích cực, có sự chuyển dịch phù hợp với xu thế chung của toàn tỉnh, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp.

Tình hình kinh tế thành phố Phúc Yên đã có sự tăng trưởng đáng mừng sau một thời gian trầm lắng. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (giá so với năm 2010) quý I năm 2019 ước tăng 9,93% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do sản lượng ô tô các loại ước tăng 7,73%, xe máy các loại ước tăng 1,15% và lĩnh vực sản xuất thương mại dịch vụ ước đạt 1,3 nghìn tỉ đồng tăng 9,7% so với cùng kỳ. Tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và thương mại – dịch vụ – du lịch trong cơ cấu kinh tế là 99,51%. Tổng thu ngân sách các thành phần kinh tế trên địa bàn chiếm trên 2/3 tổng thu Ngân sách của tỉnh Vĩnh Phúc. Thành phố Phúc Yên luôn xứng đáng là vùng trọng điểm kinh tế, là đầu tàu kinh tế của Vĩnh Phúc.

Thành phố Phúc Yên còn có hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hệ thống cung cấp dịch vụ tương đối hoàn chỉnh. Trên địa bàn thành phố có trên 500 cơ quan, doanh nghiệp, các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, dạy nghề của trung ương, của tỉnh, của Hà Nội, là điều kiện thuận lợi để Phúc Yên khai thác các thế mạnh, phát triển kinh tế xã hội.

Bên cạnh các ngành công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ sản xuất phát triển thì sản xuất nông nghiệp trên đại bàn còn gặp nhiều khó khăn. Ước tính giá trị sản xuất ngành nông nghiệp quý I năm 2018 đạt 97,2% so với cùng kỳ.

Điều kiện xã hội

Thành phố Phúc Yên có nguồn lao động dồi dào, lao động trong độ tuổi chiếm trên 60% tổng dân số; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm trong tổng cơ cấu không cao.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế – xã hội đều đạt và vượt so với cùng kỳ.

Kinh tế xã hội ổn định và phát triển là tiền đề quan trọng để thành phố Phúc Yên trở thành hạt nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển chung của tỉnh. Để đạt được mục tiêu Nghị quyết của Đảng bộ Thành phố đề ra, toàn dân thành phố cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa phát huy thế mạnh, xây dựng thành phố phát triển toàn diện về mọi mặt, xứng danh với truyền thông cách mạng của địa phương.

2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục THCS

Năm học 2018 – 2019, do ngành giáo dục và đào tạo thực hiện sắp xếp lại các trường học trên địa bàn đảm bảo hoạt động hiệu quả, tinh gọn bộ máy, do vậy, hiện nay trên địa bàn thành phố Phúc Yên có 38 trường học (giảm 3 trường so với năm học 2017 – 2018) bao gồm 14 trường Mầm non, 12 trường Tiểu học và 12 trường THCS. Trong những năm gần đây, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố tích cực đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất cho các nhà trường; các khu phòng học, phòng chức năng được xây dựng khang trang. Các nhà trường có đủ điều kiện triển khai dạy học 2 buổi/ngày. Quy mô trường lớp phù hợp, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trên địa bàn. Chất lượng giáo dục ở các cấp học tiếp tục được giữ ổn định và phát triển. Mặt bằng chất lượng chung được nâng lên, chất lượng học sinh mũi nhọn có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều học sinh đạt giải cấp tỉnh, cấp Quốc gia. Phúc Yên là một trong 2 đơn vị đầu tiên trong tỉnh có 100% các trường học đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 5 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2. Công tác thu chi tài chính được thành phố thực hiện công khai, đảm bảo đúng quy định, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả. Công tác phổ cập được quan tâm duy trì. Chất lượng các mặt công tác của phòng GD&ĐT Phúc yên năm học 2017 – 2018 được Sở GD&ĐT xếp thứ 3/9 đơn vị trong tỉnh.

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, hiện nay, Phúc Yên gặp nhiều khó khăn trong công tác giáo dục, đào tạo. Tình trạng thiếu giáo viên ở các cấp học gây khó khăn trong công tác giảng dạy; Việc đánh giá học sinh không đồng bộ ở các cấp học nên tạo ra sự chênh lẹch rất lớn về chất lượng giáo dục. Chất lượng học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh đạt được chưa cao, có sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các nhà trường, vùng miền; Số học sinh/lớp ở nhiều trường khu vực trung tâm đông, vượt quá điều lệ trường quy định từ 10 – 15 học sinh/lớp; Cơ sở vật chất trường, lớp và trang thiết bị dạy học ở nhiều trường chưa đáp ứng điều kiện nhu cầu phát triển quy mô học sinh hiện nay, nhiều trường thiếu phòng học, thiết bị dạy học, thiếu bàn ghế… do số học sinh tăng nhanh; Chương trình học rộng và quá năng, việc thi cử nặng nề, bệnh thành tích đã gây áp lực không nhỏ cho giáo viên và học sinh. Thời gian tới, để dáp ứng tiêu chí của trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 cần đầu tư về cơ sở vật chất như: bổ sung phòng học, phòng bộ môn, phòng chức năng, thiết bị dạy học, đồ dùng đồ chơi, sân chơi bãi tập, công trình vệ sinh…; Việc huy động nguồn kinh phí xã hội hóa còn gặp nhiều khó khăn.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ gd ky nang song

Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm

Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm

Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm

Quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS thành phố Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động trải nghiệm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *