Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang

Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang

Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang

MỞ ĐẦU

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Hạ tầng giao thông (HTGT), đặc biệt là HTGT đường bộ có ảnh hưởng đến quá trình trong phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) của một địa phương. HTGT hoàn thiện sẽ tạo điều kiện để rút ngắn khoảng cách giữa vùng ngược và vùng xuôi, mở rộng giao lưu kinh tế văn hóa xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân ở các địa phương. Vì thế, phát triển HTGT là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay, là nhiệm vụ ưu tiên, phải đi trước một bước trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương.

Tây Giang là một huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, là một trong 62 huyện nghèo thuộc Nghị quyết 30a của Chính phủ, được tái lập năm 2006 trên cơ sở tách huyện Hiên, thành huyện Đông Giang và Tây Giang theo Nghị định số 72/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ. Qua hơn 17 năm tái lập, huyện Tây Giang đi lên từ một huyện ban đầu còn gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao chiếm 54.12% vào năm 2006 và 38,07% vào năm 2019. Năm đầu thành lập huyện, các công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ công tác còn tạm bợ và đều xuất phát từ 5 không, “không điện, không đường, không trường, không trạm, và không có trụ sở làm việc mà đi mượn nhà đồng bào để ở và làm việc, nhưng đến nay huyện cơ bản đã vượt qua và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; đời sống người dân từng bước ổn định và ngày càng đi lên.

Được những kết quả này là nhờ đầu tư mạnh bằng nhiều nguồn ngân sách về hạ tầng kỹ thuật, trong đó HTGT là một trong những vai trò nền móng, là tiền đề vật chất hết sức quan trọng cho mọi hoạt động vận chuyển, lưu thông hàng hoá. Nếu không có một hệ thống đường giao thông đầy đủ, đảm bảo tiêu chuẩn thì các phương tiện sẽ không thể hoạt động tốt. Vì vậy, số lượng và chất lượng các công trình hạ tầng giao thông là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động vận tải nói riêng và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội của huyện Tây Giang.

Vì nguồn vốn đầu tư chủ yếu vào xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông của huyện nhà chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước cùng với đặc thù vốn đầu tư cho các dự án thuộc lĩnh vực giao thông có tổng mức đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên dễ xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí vốn của nhà nước. Vậy, để sử dụng có hiệu quả hơn nguồn vốn ngân sách nhà nước, sử dụng đúng mục đích đóng góp của nhân dân cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, cũng như khắc phục những tồn tại hạn chế trong thời gian qua là việc làm cần thiết. Do vậy, đề tài“Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam” được chọn làm đề tài nghiên cứu.

  1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là nhằm làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng về QLNN trong đầu tư HTGT bằng vốn ngân sách của Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về đầu tư HTGT bằng vốn ngân sách của Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến.

2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận QLNN về đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách.

– Đánh giá thực trạng về QLNN trong đầu tư HTGT bằng vốn ngân sách của Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

– Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về đầu tư HTGT bằng vốn ngân sách của Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
  2. Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận liên quan đến QLNN về đầu tư HTGT bằng nguồn vốn NSNN và thực tiễn công tác QLNN về đầu tư HTGT (đường bộ) bằng vốn ngân sách trên địa bàn huyện Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.

  1. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về đầu tư HTGT đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách của Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

Phạm vi không gian: trên địa bàn Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

Phạm vi thời gian: nghiên cứu công tác QLNN về đầu tư HTGT trên địa bàn Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2015 đến 2019 và các giải pháp trong luận văn có ý nghĩa trong khoảng thời gian đến năm 2025.

  1. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp thu thập số liệu:

a. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

Số liệu thứ cấp tác giả đã sử dụng nghiên cứu như:

– Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam do Cục thống kê tỉnh công bố qua các năm.

– Niên giám thống kê Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam do phòng thống kê Huyện công bố các năm

– Các báo cáo của UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông, Sở Tài chính tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến nay

– Các báo cáo của UBND Huyện, Phòng Kinh tế hạ tầng, Phòng Tài chính Kế hoạch, Phòng Thanh tra, Kho bạc nhà nước Huyện Tây Giang từ năm 2015 đến nay.

b. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp là nguồn số liệu được thu thập thông qua điều tra, khảo sát. Phương pháp điều tra, khảo sát dựa trên phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu điều tra

+ Nội dung khảo sát: Phiếu khảo sát chủ yếu nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về đầu tư HTGT đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách của Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam bao gồm: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, Lập, thẩm định dự án và thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán và quyết định đầu tư, Công tác đấu thầu, Quản lý chất lượng và nghiệm thu công trình, Thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình HTGT, Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm trong đầu tư xây dựng HTGT (Xem phụ lục số 1)

+ Đối tượng khảo sát: là các cán bộ, công chức trong UBND Huyện Tây Giang, các cán bộ, công chức trong UBND các xã thuộc Huyện Tây Giang.

+ Phương pháp chọn mẫu: Tác giả đã tiến hành lựa chọn hình thức chọn mẫu ngẫu nhiên thuận lợi để tiến hành nghiên cứu. Lý do để lựa chọn phương pháp chọn mẫu này vì các cán bộ, công chức trong UBND Huyện Tây Giang, các cán bộ, công chức trong UBND các xã thuộc Huyện Tây Giang là những người có kiến thức và hiểu biết về công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng HTGT, họ sẵn sàng trả lời bảng câu hỏi điều tra khảo sát. Ngoài ra phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đảm bảo tính khách quan, ít tốn thời gian và chi phí để thu thập thông tin.

+ Kích thước mẫu: Tác giả đã điều tra khảo sát 90 phiếu điều tra. Căn cứ danh sách các cán bộ công chức trong UBND, Hội đồng nhân dân Huyện Tây Giang, các cán bộ, công chức trong UBND các xã thuộc Huyện Tây Giang do UBND huyện Tây Giang cung cấp tác giả đã tiến hành khảo sát 30 cán bộ công chức trong UBND, Hội đồng nhân dân Huyện Tây Giang, 60 cán bộ, công chức trong UBND, Hội đồng nhân dân 10 xã: A Nông, A Tiêng, A Vương, A Xan, Bha Lêê, Ch’ơm, Dang, Ga Ri, Lăng, Tr’Hy thuộc Huyện Tây Giang

+ Thời gian khảo sát: Trong thời gian từ 1/4/2020 đến 30/4/2020. Với mỗi phiếu khảo sát, tác giả đều gặp trực tiếp các đối tượng được hỏi và trao đổi thông tin chi tiết về nội dung phỏng vấn, nhằm giúp các đối tượng được hỏi nắm được các mục tiêu của khảo sát, từ đó đưa ra các ý kiến đánh giá khách quan và phù hợp nhất.

Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang
Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang

4.2 Phương pháp phân tích:

Để nghiên cứu QLNN về đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, trong luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

Phương pháp khảo cứu tài liệu:

Để tổng hợp và hệ thống hoá các cơ sở lý thuyết và hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước, của Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam và các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố để phân tích, làm rõ về lý luận và thực tiễn trong QLNN về đầu tư HTGT hiện nay.

Phương pháp Phân tích thống kê:

Phương pháp này gồm nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp đồ thị, phương pháp phân tích dãy số theo thời gian và phương pháp phân tích thống kê mô tả.

Đây là phương pháp được sử dụng trên cơ sở các nguồn số liệu thu thập được để phân tích tình hình đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, phương pháp này cũng được sử dụng trong việc đề xuất các giải pháp QLNN về đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

Phương pháp số bình quân, số tương đối, phương pháp dãy số thời gian để phân tích tình hình đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

Phương pháp thống kê tổng hợp: Sử dụng những bảng thống kê số liệu theo chiều dọc và chiều ngang mô tả hiện trạng và diễn biến tình hình đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.

Phương pháp thống kê mô tả: dựa trên tài liệu thu thập được để phân tích, tổng hợp, so sánh, mô tả các chỉ tiêu, dữ liệu ở các thời điểm, thời kỳ khác nhau. Thông qua việc xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê, thấy được sự thay đổi các chỉ tiêu cần phân tích trong công tác QLNN về đầu tư HTGT bằng nguồn vốn ngân sách Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, đánh giá được thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

– Phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp: Tổng hợp những thông tin thu thập được, tiến hành phân tích và so sánh giữa các năm khác nhau.

  1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
  2. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương.

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng vốn ngân sách của Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.

Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng vốn ngân sách của Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1. Một số khái niệm

a. Khái niệm Quản lý nhà nước

Thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên khái niệm quản lý được nhiều người sử dụng nhất là: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”.

Quản lý bao gồm các yếu tố sau:

– Phải có một chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra. Chủ thể phải thực hành việc tác động.

– Phải có một mục tiêu cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.

Chủ thể

quản lý

Đối tượng

bị quản lý

Mục tiêu

Khách thể

Hình1.1. Sơ đồ lôgic của khái niệm quản lý

b. Khái niệm Quản lý kinh tế

“Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên tập thể những người quản lý trong hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành”.

“Sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý chính là việc tổ chức thực hiện các chức năng của quản lý nhằm phối hợp các mục tiêu và các động lực hoạt động của mọi người lao động trong hệ thống để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống”[3]

“Việc tuân thủ đúng luật và thông lệ hiện hành là việc tiến hành các hoạt động kinh tế theo đúng những điều mà luật pháp trong nước và quốc tế không cấm, những quy ước mà thị trường chấp nhận”[21].

c. Khái niệm Quản lý nhà nước

Nhà nước thực hiện quyền lực chính trị của mình thông qua việc quản lý xã hội. “Quản lý nhà nước đối với xã hội là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của công dân và mọi tổ chức trong xã hội nhằm duy trì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn cũng cố và phát triển quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của công dân và mọi tổ chức trong xã hội nhằm duy trì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, củng cố và phát triển quyền lực nhà nước”[3].

“Chủ thể quản lý là Nhà nước, đối tượng quản lý các quá trình xã hội, hành vi của cá nhân và tổ chức xã hội, phương thức quản lý là bằng quyền lực nhà nước và có tổ chức cao, mục tiêu quản lý là duy trì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, cũng cố và tăng cường quyền lực nhà nước”.

Quản lý nhà nước có những đặc trưng phân biệt đối với các loại quản lý khác như sau:

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức. Tổ chức ở đây được hiểu như là một khoa học về thiết lập những mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể, để thể hiện quá trình quản lý xã hội.Tổ chức là một trong những chức năng quan trọng trong quản lý nhà nước, không có tổ chức thì không thể quản lý. Vấn đề đặt ra là nhà nước phải tổ chức như thế nào để mội công dân đều có thể đóng góp tích cực và chủ động khả năng của mình cho đất nước.

“Quản lý nhà nước là sự tác động có điều chỉnh. Điều chỉnh là sự quy định của Nhà nước thể hiện bằng pháp luật và quyết định quản lý về nguyên tắc, tiêu chuẩn.v.v… nhằm tạo ra sự cân bằng, cân đối các hoạt động của các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người”[3].

“Quản lý nhà nước là sự tác động mang tính quyền lực nhà nước, tức là bằng pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế. Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn phương và tính tổ chức cao. Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”[3].

d. Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

– Cơ sở hạ tầng (HTGT): “Cơ sở hạ tầng là một thuật ngữ tổng hợp dùng để chỉ những bộ phận kết cấu, nền tảng cho việc phát triển nền kinh tế”[1]. “Nó được hiểu là toàn bộ những điều kiện về mặt vật chất, kỹ thuật,… tồn tại trong xã hội và môi trường dùng để phục vụ cho mọi hoạt động sản xuất, đời sống của con người”[1].

Dựa trên những tiêu chí khác nhau, cơ sở hạ tầng được phân chia thành nhiều loại như sau:

+ Cơ sở hạ tầng kinh tế (kỹ thuật)

+ Cơ sở hạ tầng xã hội

+ Cơ sở hạ tầng môi trường

+ Cơ sở hạ tầng an ninh quốc phòng

– Đầu tư

“Thuật ngữ đầu tư được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau. Đầu tư đó là một quá trình sử dụng vốn nhằm tạo nên các tài sản để sinh lợi dần theo thời gian. Đầu tư là sự sử dụng các nguồn lực đã tích lũy được của xã hội vào việc tái sản xuất nhằm nâng cao mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Đầu tư phát triển là việc sử dụng các nguồn lực để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra hoặc gia tăng những tài sản vật chất vì mục tiêu phát triển”[1].

Theo quan điểm của Nhà nước, trong dài hạn, đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia. “Đầu tư phát triển đòi hỏi sử dụng nhiều nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực cho đầu tư phát triển là vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực bao gồm cả vốn, tài nguyên thiên nhiên, lao động, kỹ thuật công nghệ, trí tuệ”[1].

Đầu tư HTGT là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng nhằm tái sản xuất HTGT cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hoá hay khôi phục HTGT.

– Quản lý nhà nước về đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Từ các khái niệm và phân tích ở trên có thể hiểu khái niệm “QLNN về đầu tư HTGT từ nguồn vốn NSNN là việc nhà nước sử dụng cùng các công cụ, chính sách tác động vào các tổ chức tham gia vào trong quá trình xây dựng các công trình HTGT từ nguồn vốn NSNN”.

1.1.2. Đặc điểm của đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

– Nguồn vốn NSNN đầu tư cho HTGT thường có quy mô lớn. Bản chất của hoạt động đầu tư HTGT là nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế. Các loại tài sản này thường có tính chất và kết cấu phức tạp, vì vậy để tạo được một tài sản như thế thường đòi hỏi một lượng vốn lớn. Nên có giải pháp tạo vốn và huy động vốn, quản lí vốn hợp lý, nên quyết định bỏ vốn đầu tư và lĩnh vực nào có lợi nhất, có các chính sách, kế hoạch đầu tư và thực hiện đầu tư trọng điểm.

  • “Sản phẩm đầu tư HTGT thường có kích thước lớn. Số lượng vật tư, thiết bị thi công và lao động của mỗi công trình cũng khác nhau. Bởi vậy việc tính giá thành sản phẩm công trình xây dựng rất phức tạp, thường xuyên thay đổi theo từng địa điểm, từng thời kỳ xây dựng”[1].
  • Đầu tư HTGT liên quan nhiều đến tài nguyên cảnh quan và môi trường tự nhiên, đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi xây dựng công trình.

– Giai đoạn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư kéo dài nhiều năm. Giai đoạn đầu tư được tính từ khi động thổ, “khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Do quy mô các dự án đầu tư thường lớn nên thời gian hoàn thành các dự án thường kéo dài”[1]. Do tính phức tạp của hoạt động đầu tư HTGT đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, sự kỳ công trong suốt quá trình đầu tư cũng như chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài nên nhiều công trình đầu tư HTGT có thời gian đầu tư kéo dài nhiều năm. Thời gian thực hiện các dự án đầu tư kéo dài chi phí đầu tư lại càng lớn làm giảm hiệu quả đầu tư, tăng thời gian thu hồi vốn, gây ảnh hưởng đến việc nghiệm thu công trình, đưa công trình vào khai thác sử dụng. “Vì vậy để nâng cao hiệu quả đầu tư, cần tập trung các nguồn lực hoàn thành dứt điểm từng công trình. Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi đưa vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng công trình. Thời gian vận hành các kết quả đầu tư có thể kéo dài hàng chục năm. Thời gian vận hành các kết quả đầu tư dài hay ngắn do chất lượng công trình, do tác động từ các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội. Do đó, yêu cầu đặt ra là cần quản lý tốt quá trình vận hành hạn chế đến mức thấp nhất hao mòn vô hình và hữu hình”[1].

– Kết quả của hoạt động đầu tư HTGT sẽ phát huy tác dụng ở quanh vùng xây dựng công trình. “Kết quả đầu tư là những công trình được xây dựng sẽ phát huy tác dụng ở quanh vùng xây dựng công trình. Do đó, khi tiến hành xây dựng phải chọn địa điểm xây dựng và tổ chức thi công xâp lắp công trình sao cho hợp lý. Do kết quả đầu tư là những công trình xây dựng kiên cố nên khó di dời và được vận hành ngay tại chỗ nên quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư sẽ ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, xã hội, điều kiện tự nhiên tại khu vực đó”[12].

– “Đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước phải mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội. Nguyên tắc sử dụng vốn đầu tư nói chung là phải mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội. Do vậy, vốn đầu tư khi được huy động và sử dụng thường được chú ý đến tính hiệu quả kinh tế – xã hội của đồng vốn. Khi đưa ra quyết định cho mỗi dự án đầu tư cần xem xét hiệu quả với một cách nhìn toàn diện, xem xét hiệu quả kinh tế đi đôi với hiệu quả xã hội, kết hợp lợi tích trước mắt với lợi ích lâu dài, lợi ích cục bộ của từng bộ phận với lợi ích tổng thể của toàn xã hội”[1].

1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

– “Góp phần hiện đại hóa HTGT, tăng phương tiện vận tải đưa vào sử dụng, làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong SXKD. Sự tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế không phải là quá trình riêng biệt mà nó là sự kết hợp đan xen lẫn nhau, tác động liên tục vào nền kinh tế, góp phần mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước”[11].

– Tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế địa phương, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh, tăng sức thu hút vốn đầu tư. Tạo ra một cơ cấu kinh tế mới, làm xuất hiện các ngành sản xuất mới gắn liền với chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội mới, làm cho nền kinh tế phát triển năng động và hiệu quả hơn.

– Thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ, phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, làm tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân.

– Có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển đời sống vật chất và tinh thần của xã hội vì chính nhờ những dự án đầu tư mà các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội được phát triển, thu nhập của người lao động được tăng thêm.

– “Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Hoạt động đầu tư chiếm một nguồn vốn lớn của Ngân sách Nhà nước, có liên quan đến việc sử dụng hợp lý hay lãng phí tài nguyên và các nguồn lực của sản xuất, liên quan đến bảo vệ môi trường. Đảm bảo kỷ cương, kỷ luật chính sách, bảo đảm tính tập trung thống nhất trong quản lý vốn đầu tư phát triển từ NSNN, bảo đảm tối đa hóa mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng”[12].

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

“Quy hoạch là việc phân bố, sắp xếp các hoạt động và các yếu tố sản xuất, dịch vụ và đời sống trên một địa bàn lãnh thổ cho một mục đích nhất định trong một thời kì trung hạn, dài hạn để cụ thể hoá chiến lược phát triển KT-XH trên lãnh thổ theo thời gian và là cơ sở để lập các kế hoạch phát triển”[5].

Có nhiều loại quy hoạch ở nhiều cấp độ, phạm vi và lĩnh vực khác nhau, như quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội một vùng lãnh thổ, quy hoạch phát triển một ngành kinh tế – kĩ thuật; quy hoạch cán bộ; quy hoạch đô thị; quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp; quy hoạch HTGT.v.v…

Quy hoạch HTGT đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng HTGT. “Thực hiện tốt công tác này sẽ là cơ sở quan trọng để địa phương chủ động đẩy mạnh đầu tư có định hướng, cân đối, tránh được hiện tượng đầu tư chồng chéo, thiếu đồng bộ, lãng phí nguồn lực của đất nước nói chung và địa phương nói riêng”[13].

Xây dựng quy hoạch HTGT trước hết phải xây dựng được chiến lược đầu tư hợp lý, xác định ưu tiên đầu tư vào vùng nào, “đầu tư như thế nào và đầu tư bao nhiêu thì sẽ mang lại hiệu quả cao nhất từ đó xác định được cơ cấu đầu tư theo vùng và cơ cấu đầu tư theo nhóm dự án”[11].

Sau khi xây dựng được chiến lược đầu tư hợp lý phải lập được quy hoạch đầu tư xây dựng HTGT và dựa vào quy hoạch để lập kế hoạch đầu tư nhằm xác định nhu cầu và khả năng đáp ứng vốn đầu tư xây dựng HTGT trong từng thời kỳ nhất định và cho thời hạn xác định.

Quy hoạch xây dựng HTGT khi nghiên cứu lập đồ án phải công bố công khai và trưng cầu ý kiến của nhân dân sống trên vùng quy hoạch. “Đồ án quy hoạch xây dựng (cả quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết) đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải được công bố công khai, thường xuyên tại cơ quan chính quyền các cấp và nơi công cộng trong vùng quy hoạch để nhân dân thực hiện và kiểm tra việc thực hiện”[8].

Công tác xây dựng kế hoạch đầu tư HTGT phải quán triệt được các nguyên tắc sau đây:

*Kế hoạch đầu tư HTGT phải xuất phát từ nhu cầu của địa phương

“Đây là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình xây dựng Kế hoạch đầu tư. Bởi vì suy cho cùng mục đích của hoạt động đầu tư là nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất xã hội, đáp ứng một cách tốt nhất mọi nhu cầu của nền kinh tế. Kế hoạch đầu tư phải có mục tiêu cụ thể, đáp ứng được những nhu cầu cụ thể của nền kinh tế quốc dân. Do đó nhu cầu của nền kinh tế quốc dân chính là căn cứ để lập các Kế hoạch đầu tư”[19].

* Kế hoạch đầu tư HTGT phải đảm bảo tính khoa học, tính đồng bộ và tính chính xác

Để đáp ứng một cách tốt nhất mọi nhu cầu của nền kinh tế đòi hỏi kế hoạch đầu tư phải đảm bảo tính khoa học, tính đồng bộ và tính chính xác. Xây dựng kế hoạch thiếu cơ sở khoa học, không đồng bộ và kém chính xác thì kế hoạch lập ra trở nên không có ý nghĩa thực tiến, mang lại hiệu quả thấp.

*Kế hoạch đầu tư HTGT phải có tính tối ưu, phải đảm bảo đạt hiệu kinh tế xã hội cao

“Trong đầu tư thường có nhiều phương án đầu tư khác nhau, mỗi phương án sẽ đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội khác nhau. Vì vậy Kế hoạch đầu tư phải có tính tối ưu và phải đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao, có như vậy nó mới đảm bảo góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội của toàn bộ nền kinh tế”[1].

* Kế hoạch đầu tư HTGT phải dựa vào định hướng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước

“Các định hướng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước đã được xây dựng một cách khoa học và có tính định hướng lâu dài đối với toàn bộ quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Do đó Kế hoạch đầu tư phải dựa vào định hướng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước mới đảm bảo cho các kết quả đầu tư mang lại lợi ích cho cả đất nước, cộng đồng dân cư trên từng vùng lãnh thổ và cho cả các doanh nghiệp”[15].

* Kế hoạch đầu tư HTGT phải phù hợp với các qui định của luật pháp

Hoạt động đầu tư phải phù hợp với luật pháp đặc biệt là luật đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, luật bảo vệ môi trường.v.v… có như vậy Kế hoạch đầu tư mới đảm bảo phù hợp với lợi ích của toàn xã hội. Kế hoạch đầu tư trực tiếp của Nhà nước phải được xây dựng theo nguyên tắc từ dưới lên, trong đó dự án đầu tư là đơn vị Kế hoạch nhỏ nhất.

“Trong đầu tư xây dựng cơ bản các công trình HTGT, việc xây dựng kế hoạch để thực hiện dự án có ý nghĩa rất quan trọng đối với hiệu quả kinh tế, hiệu qủa xã hội của dự án đầu tư. Đây là một trong những khâu quan trọng, nếu không sẽ những dẫn đến đầu tư không có hiệu quả mà thậm chí còn dẫn đến hậu quả khó lường, cản trở đến phát triển KT-XH của một vùng gây lãng phí, thất thoát vốn tài sản trong xây dựng kế hoạch đầu tư HTGT từ vốn NSNN”[12]

Tiêu chí đánh giá:

Quy hoạch xây dựng HTGT được công bố công khai và trưng cầu ý kiến của nhân dân

Xây dựng Kế hoạch đầu tư HTGT xuất phát từ nhu cầu của địa phương

Kế hoạch đầu tư HTGT phải đảm bảo tính khoa học, tính đồng bộ và tính chính xác

Kế hoạch đầu tư HTGT đảm bảo đạt hiệu kinh tế xã hội cao

Xây dựng và ban hành Kế hoạch đầu tư HTGT dựa vào định hướng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của địa phương

Xây dựng và ban hành Kế hoạch đầu tư HTGT phù hợp với các qui định của luật pháp

1.2.2. Lập, thẩm định dự án và thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán và quyết định đầu tư

a. Lập dự án đầu tư

Những nội dung chủ yếu của lập một dự án đầu tư xây dựng HTGT thường bao gồm: “Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư; Lựa chọn hình thức đầu tư; Chương trình sản xuất và yếu tố phải đáp ứng (đối với các dự án có sản xuất); Các phương án địa điểm cụ thể (hoặc vùng địa điểm, tuyến công trình) phù hợp với quy hoạch xây dựng (bao gồm cả tài liệu về sự lựa chọn địa điểm, trong đó có đề xuất giải pháp hạn chế tới mức tối thiểu ảnh hưởng đối với môi trường và xã hội); Phương án giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư; Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ”[1]; “Các phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng, thiết kế sơ bộ của các phương án đề nghị lựa chọn, giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường; Xác định rõ nguồn vốn, khả năng tài chính, tổng mức đầu tư và nhu cầu vốn theo tiến độ. Phương án hoàn trả vốn đầu tư (đối với dự án có yêu cầu thu hồi vốn đầu tư); Phương án quản lý khai thác dự án và sử dụng lao động; Phân tích hiệu quả đầu tư; Các mốc thời gian chính thực hiện đầu tư. Dự án nhóm C phải lập ngay kế hoạch đấu thầu. Dự án nhóm A, B có thể lập kế hoạch đấu thầu sau khi có quyết định đầu tư (tùy điều kiện cụ thể của dự án). Thời gian khởi công, thời gian hoàn thành đưa công trình vào khai thác sử dụng; Kiến nghị hình thức quản lý thực hiện dự án; Xác định chủ đầu tư; Mối quan hệ và trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến dự án”[13].

b. Thẩm định dự án đầu tư

“Thẩm định dự án đầu tư là quá trình một cơ quan chức năng tổ chức xem xét một cách khách quan và toàn diện các nội dung của một dự án đầu tư để đánh giá xem dự án đầu tư đó tính khả thi hay không, nghĩa là có đạt được các mục tiêu kinh tế-xã hội đã đề ra. Từ đó ra quyết định đầu tư và cấp giấy phép đầu tư”[1].

“Đây là một quá trình kiểm tra, đánh giá các nội dung của dự án một cách độc lập tách biệt với quá trình soạn thảo dự án. Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư”[12].

Yêu cầu: Thẩm định về mặt kỹ thuật như qui hoạch xây dựng, các phương án kiến trúc, công nghệ, về mặt môi trường như vấn đề sử dụng đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, phòng chống cháy nổ… và các khía cạnh xã hội khác của dự án. Đối với các dự án do Nhà nước cấp kinh phí, phải thẩm định tài chính và kinh tế.

Mục đích: Đánh giá tính hợp lý của dự án; Đánh giá tính hiệu quả của dự án; Đánh giá tính khả thi của dự án

“Dự án đầu tư được các cơ quan có thẩm quyền thẩm định khi hồ sơ của dự án được xem là đầy đủ. Bao gồm: Tờ trình xin xét duyệt do chủ đầu tư gởi cơ quan chủ quản đầu tư; Ý kiến đề nghị của cơ quan chủ quản đầu tư; Bản dự án đầu tư, các báo cáo chuyên đề, bản vẽ, bản đồ có ghi người lập: tên, chữ ký và dấu của chủ đầu tư; Ý kiến của cơ quan quản lý ngành, cơ quan quản lý lãnh thổ như ủy ban nhân dân Tỉnh Thành phố trực thuộc Trung ương và các ngành có liên quan; Các văn bản pháp lý về khả năng huy động các nguồn lực; Các văn bản pháp lý khác chẳng hạn như tư cách pháp nhân của chủ đầu tư và các thành viên; Các giải trình bổ sung theo yêu cầu của Hội đồng thẩm định”[12].

Tùy theo qui mô đầu tư, hình thức và nguồn vốn đầu tư, yêu cầu về nội dung quản lý Nhà nước đối với các dự án đầu tư sẽ khác nhau vì vậy mức độ thẩm định dự án có sự khác biệt. Trong đó, một số nội dung quan trọng trong quá trình thẩm định dự án như sau: Thẩm định các văn bản pháp lý; Thẩm định về sự cần thiết phải đầu tư; Thẩm định về thị trường của dự án đầu tư; Thẩm định dự án về mặt địa điểm; Thẩm định khía cạnh công nghệ kỹ thuật của dự án; Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án; Thẩm định khía cạnh kinh tế xã hội của dự án.

c. Thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán

“Sau khi thẩm định dự án đầu tư, nếu dự án đạt được những yêu cầu cơ bản về nội dung thẩm định dự án và có tính khả thi cao thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định phê duyệt dự án đầu tư để có thể triển khai ở khâu thiết kế dự toán. Các dự án đầu tư xây dựng HTGT sử dụng vốn ngân sách nhà nước trước khi đấu thầu phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán. Cơ quan thẩm định thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán để phê duyệt là cơ quan có chức năng quản lý xây dựng đã được phân cấp”[8].

“Việc thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán phải thực hiện đầy đủ các quy định về thủ tục, trình tự kỹ thuật nhằm bảo đảm chất lượng thiết kế và tổng dự toán. Nội dung thẩm định thiết kế kỹ thuật bao gồm: Sự phù hợp của thiết kế kỹ thuật với nội dung đã được phê duyệt trong quyết định đầu tư về quy mô, công nghệ, công suất, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, quy hoạch, kiến trúc, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng; Bảo vệ môi trường, sinh thái, phòng, chống cháy nổ, an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp; Sự hợp lý của giải pháp thiết kế kỹ thuật; Tư cách pháp lý của tổ chức, cá nhân thiết kế. Nội dung thẩm định tổng dự toán bao gồm: Kiểm tra tính đúng đắn của các định mức, đơn giá và việc vận dụng định mức, đơn giá, các chế độ, chính sách có liên quan và các khoản mục chi phí theo quy định của nhà nước; Sự phù hợp giữa khối lượng thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán; Xác định giá trị tổng dự toán kể cả thiết bị để so sánh với tổng mức đầu tư đã duyệt”[1].

d. Quyết định đầu tư

“Nội dung quyết định đầu tư bao gồm:Mục tiêu đầu tư; Xác định chủ đầu tư; Hình thức quản lý dự án; Địa điểm, diện tích đất sử dụng, phương án bảo vệ môi trường và kế hoạch tái định cư và phục hồi (nếu có); Công nghệ, công suất thiết kế, phương án kiến trúc, tiêu chuẩn kỹ thuật và cấp công trình; Chế độ khai thác và sử dụng tài nguyên quốc gia (nếu có); Tổng mức đầu tư; Nguồn vốn đầu tư, khả năng tài chính và kế hoạch vốn của dự án; Các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước mà dự án đầu tư có thể được hưởng theo quy chế chung; Phương thức thực hiện dự án. Nguyên tắc phân chia gói thầu và hình thức lựa chọn nhà thầu. Dự án nhóm C phải lập ngay kế hoạch đấu thầu, dự án nhóm A, B có thể lập kế hoạch đấu thầu sau khi có quyết định đầu tư; Thời gian xây dựng và các mốc tiến độ triển khai chính của dự án. Thời hạn khởi công, thời hạn hoàn thành đưa công trình vào khai thác sử dụng; Mối quan hệ và trách nhiệm các Bộ, ngành, địa phương có liên quan; Hiệu lực thi hành”[11].

“Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu tư các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp”[13].

“Đối với các dự án đầu tư ở cấp huyện dùng vốn ngân sách nhà nước phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận và quản lý chặt chẽ về quy hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội”[8].

Việc đánh giá thất thoát trong khâu lập, thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế – dự toán từ vốn Ngân sách nhà nước là khá lớn, khá phổ biến. Vì thế trong khâu này công tác quản lý nhà nước cần chú ý đến những yêu cầu sau đây:

– Tránh lãng phí do khâu thiết kế: Lãng phí do hồ sơ thiết kế không đúng các quy chuẩn về kỹ thuật đầu tư xây dựng của Nhà nước. Hồ sơ thiết kế chưa bám sát thực tế về địa chất, địa hình, khí hậu, điều kiện và đặc điểm về nguyên liệu, vật tư, thiết bị đầu vào; quy mô sử dụng… dẫn đến thất thoát, lãng phí trong quá trình thi công xây dựng.

– “Tránh lãng phí, tiêu cực có thể xảy ra trong khâu lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý tổng dự toán, dự toán dự án. Đây là khâu không chỉ gây ra lãng phí, thất thoát về vốn đầu tư mà còn là khâu dẫn đến phát sinh tiêu cực trong hoạt động đầu tư. Vì thế để tránh thất thoát, lãng phí vốn đầu tư trong hoạt động ĐTXD vì vậy cần xem xét theo các nội dung như: Khối lượng từng loại công việc theo thiết kế kỹ thuật, thiết kế tổ chức thi công; từ đó đánh giá khối lượng thực tế theo thiết kế. Qua đó phát hiện những thất thoát do khâu thiết kế sai gây ra như kê khống khối lượng, thiết kế sai dẫn đến phải phá bỏ khối lượng đã làm lại theo thiết kế điều chỉnh hoặc bổ sung, tính toán khối lượng sai quy phạm, quy chuẩn; sử dụng sai định mức kinh tế – kỹ thuật của Nhà nước; Áp dụng sai giá cả theo từng loại vật tư thiết bị tại thời điểm tính toán, nghiệm thu thanh toán; Áp dụng hoặc tính toán sai về khối lượng định mức, giá cả”[12].

Tiêu chí đánh giá:

Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng HTGT đúng qui định

Công tác thẩm định dự án đầu tư đúng yêu cầu và mục đích

Hồ sơ thẩm định dự án HTGT đầy đủ theo qui định

Hồ sơ về thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán đáp ứng đầy đủ các yêu cầu

Thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán đúng quy phạm, quy chuẩn; định mức kinh tế – kỹ thuật.

Đảm bảo đầy đủ các quy định về thủ tục, trình tự kỹ thuật nhằm bảo đảm chất lượng thiết kế và tổng dự toán.

Quyết định đầu tư các dự án đầu tư xây dựng HTGT bằng nguồn vốn ngân sách ở địa phương có đúng thẩm quyền được phân cấp

1.2.3. Công tác đấu thầu

Đấu thầu là quá trình bên mời thầu (chủ đầu tư) lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của chủ đầu tư  trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu theo quy định của luật pháp. “Mục tiêu của công tác đấu thầu là nhằm thực hiện tính cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong quá trình đấu thầu để lựa chọn nhà thầu phù hợp, bảo đảm hiệu quả kinh tế của dự án. Cơ sở việc đấu thầu được thực hiện trên cơ sở từng gói thầu”[8].

“Qui trình đấu thầu gồm: Chuẩn bị đấu thầu; Tổ chức đấu thầu; Xét thầu; Thẩm định và phê duyệt; Công bố trúng thầu; Thương thảo hoàn thiện hợp đồng và ký hợp đồng. Đối tượng áp dụng đấu thầu là các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động đấu thầu”[1].

“Các hình thức lựa chọn nhà thầu bao gồm: Đấu thầu rộng rãi; Đấu thầu hạn chế; Chỉ định thầu”[12].

“Các phương thức đấu thầu bao gồm: Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ; Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ; Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ; Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ”[1]

“Việc tổ chức đấu thầu được thực hiện theo trình tự sau: Sơ tuyển nhà thầu (nêú có); Lập hồ sơ mời thầu; Gởi thư mời thầu hoặc thông báo mời thầu; Nhận và quản lý hồ sơ dự thầu; Mở thầu; Đánh giá, xếp hạng nhà thầu; Trình duyệt kết quả đấu thầu; Công bố trúng thầu, thương thảo hoàn thiện hợp đồng; Trình duyệt nội dung hợp đồng và ký hợp đồng”[7].

“Nhà thầu có hồ sơ dự thầu hợp lệ, đáp ứng cơ bản các yêu cầu của hồ sơ mời thầu, có giá đánh giá thấp nhất và có giá đề nghị trúng thầu không vượt giá gói thầu hoặc dự toán, tổng dự toán được duyệt (nếu dự toán, tổng dự toán được duyệt thấp hơn giá gói thầu được duyệt) sẽ được xem xét trúng thầu. Kết quả đấu thầu phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt. Bên mời thầu sẽ mời nhà thầu trúng thầu đến thương thảo hoàn thiện hợp đồng”[9].

“Trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã: Phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu; Thực hiện công việc khác thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư; Thực hiện các công việc khác về lựa chọn nhà thầu theo ủy quyền của cấp trên”[8].

“Bộ phận có chức năng về kế hoạch, tài chính cấp huyện chịu trách nhiệm thẩm định kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện”[12].

Tất cả các cơ quan tổ chức cá nhân tham gia đấu thầu và xét thầu phải giữ bí mật các hồ sơ tài liệu thông tin. Không tiết lộ, tiếp nhận những tài liệu, thông tin về quá trình lựa chọn nhà thầu,

Tiêu chí đánh giá:

– Tổ chức đấu thầu xây dựng HTGT được thực hiện theo đúng qui trình đấu thầu

– Hình thức lựa chọn nhà thầu đúng qui định

– Đánh giá hồ sơ dự thầu chính xác và bám sát nội dung hồ sơ mời thầu

– Phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu đúng qui định

– Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu đúng qui định

– Các hồ sơ tài liệu đấu thầu được giữ bí mật trước khi mở thầu.

1.2.4. Quản lý chất lượng và nghiệm thu công trình xây dựng

“Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng. Trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư được quy định như sau: Thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành của Nhà nước về lập, thẩm định và trình duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, tổ chức đấu thầu hoặc lựa chọn nhà thầu; Tuyển chọn tổ chức tư vấn, cung ứng vật tư thiết bị, xây lắp có tư cách pháp nhân và có đủ năng lực phù hợp để đảm nhận các công việc chuẩn bị đầu tư thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, cung ứng vật tư thiết bị, xây lắp và giám sát chất lượng công trình; Kiểm tra chất lượng các loại vật liệu, cấu kiện xây dựng, thiết bị lắp đặt đúng theo yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật được duyệt”[1].

“Công tác nghiệm thu công trình phải được tiến hành từng đợt ngay sau khi làm xong những khối lượng công trình khuất, những kết cấu chịu lực, những bộ phận hay hạng mục công trình và toàn bộ công trình. Việc nghiệm thu từng phần và toàn bộ công trình xây dựng do chủ đầu tư tổ chức thực hiện với sự tham gia của các tổ chức tư vấn, thiết kế, xây lắp, cung ứng thiết bị (nếu có) và cơ quan giám định chất lượng theo phân cấp”[13].

Tiêu chí đánh giá:

– Năng lực chủ đầu tư cấp Huyện, cấp Xã .

– Cán bộ cấp Huyện, cấp Xã đảm bảo có trình độ chuyên môn phù hợp về quản lý XDCB

– Công tác quản lý chất lượng đảm bảo đúng thiết kế kỹ thuật phê duyệt.

– Công tác quản lý khối lượng công việc hoàn thành đúng theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật

– Công tác nghiệm thu thực hiện đúng trình tự qui định

– Công tác nghiệm thu từng phần và toàn bộ công trình xây dựng thực hiện đúng hồ sơ thiết kế kỹ thuật

1.2.5. Thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình HTGT

“Thanh toán vốn đầu tư là việc chủ đầu tư trả tiền cho nhà thầu khi có khối lượng công việc hoàn thành. Thanh toán vốn đầu tư có thể được thanh toán theo kỳ, tức là sau một thời gian thi công chủ đầu tư sẽ thanh toán cho nhà thầu một khoản tiền, có thể được thanh toán theo giai đoạn qui ước hay điểm dừng kỹ thuật hợp lý, có thể được thanh toán theo khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành hay thanh toán theo công trình, hạng mục công trình hoàn thành”[8].

“Dự án đầu tư xây dựng HTGT sau khi hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng đều phải quyết toán vốn đầu tư. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quyết toán vốn đầu tư. Chậm nhất là 6 tháng sau khi dự án hoàn thành đưa vào vận hành, chủ đầu tư phải hoàn thành báo cáo quyết toán vốn đầu tư gửi người có thẩm quyền quyết định đầu tư. Báo cáo quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác số vốn đầu tư thực hiện hàng năm, tổng mức vốn đã đầu tư thực hiện dự án; giá trị tài sản bàn giao cho sản xuất sử dụng. Đối với các dự án đầu tư kéo dài nhiều năm, khi quyết toán chủ đầu tư phải quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá trị tại thời điểm bàn giao đưa vào vận hành để xác định giá trị tài sản cố định mới tăng và giá trị tài sản bàn giao”[12].

“Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí theo đúng hợp đồng đã ký kết và thiết kế dự toán đã được phê duyệt, bảo đảm đúng quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính – kế toán và những qui định hiện hành của nhà nước có liên quan”[1].

Tiêu chí đánh giá:

– Thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình HTGT theo hợp đồng đã kí kết.

– Xác định đúng vốn đầu tư được quyết toán.

– Quyết toán vốn đầu tư đảm bảo tính kịp thời.

1.2.6. Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm trong đầu tư xây dựng HTGT

Thanh tra, kiểm tra, xử lí vi phạm trong đầu tư xây dựng HTGT là hoạt động theo dõi, kiểm tra và đánh giá mức độ đạt được của quá trình đầu tư so với yêu cầu và mục tiêu đầu tư; là công cụ theo dõi tiến độ thực hiện dự án nhằm cung cấp cho cơ quan quản lý xác định được mức độ phù hợp, mức độ hoàn thành, tính hiệu quả việc đầu tư.

Công trình HTGT thường là những công trình đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn với những yêu cầu khắt khe về kỹ thuật. QLNN về đầu tư HTGT đạt hiệu quả là vấn đề phức tạp.

“Việc thất thoát, lãng phí có thể xảy ra trong tất cả quá trình thực hiện dự án, từ chủ trương đầu tư, lập quy hoạch, kế hoạch, đấu thầu đến thi công, thanh quyết toán công trình”[16].

Muốn hạn chế điều đó cần tăng cường công tác Thanh tra, kiểm tra, xử lí vi phạm đầu tư.

“Thanh tra, kiểm tra đầy đủ và đúng quy trình chặt chẽ, bằng chính sách, pháp luật, và các chế tài xử phạt nghiêm minh. Với nguồn vốn đầu tư từ NSNN rất dễ xảy ra tình trạng thấy thoát thì việc quản lý thông qua thanh tra, kiểm tra thường xuyên đối với nguồn vốn này sẽ giúp Nhà nước giám sát được nguồn lực đầu tư, tránh tình trạng tham nhũng, thất thoát trong quá trình đầu tư công, nâng cao hiệu quả đầu tư”[15].

Tiêu chí đánh giá:

– Số lần thanh tra, kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng HTGT

– Công tác tổ chức thanh tra, kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng HTGT đúng qui định pháp luật

– Số vụ vi phạm trong đầu tư xây dựng HTGT

– Số vụ vi phạm được xử lí trong đầu tư xây dựng HTGT

– Công tác xử lí vi phạm trong đầu tư xây dựng HTGT đúng qui định pháp luật

1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên như thời tiết khí hậu, địa hình, đất đai, tài nguyên nước… có ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư xây dựng và quản lý HTGT. Nó có thể gây ra những khó khăn cũng như thuận lợi cho đầu tư và quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông của địa phương. Về mặt gây khó khăn của điều kiện tự nhiên có thể nhận thấy ở những vùng có địa hình phức tạp nhiều đồi núi, sông ngoài thì việc đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông phải cần nhiều vốn đầu tư cho việc xây dựng cầu, cống, san ủi mặt bằng. Ở những vùng có khí hậu nắng nóng, mưa nhiều, lũ lụt sẽ dễ dàng gây hư hỏng công trình giao thông. Ở những vùng có cấu tạo địa chất không ổn định, lòng đất xấu sẽ làm gia tăng vốn cho việc thi công mặt đường giao thông. Về mặt tạo điều kiện thuận lợi của điều kiện tự nhiên có thể nhận thấy ở những vùng có nhiều mỏ đá, mỏ cát xây dựng sẽ góp phần vào việc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho đầu tư xây dựng và phát triển của HTGT.

1.3.2. Đặc điểm kinh tế

Đây là nhân tố khách quan, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu và nguồn vốn đầu tư cho phát triển HTGT. Mỗi một địa phương khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế khác nhau mà có nhu cầu và nguồn lực vốn đầu tư khác nhau.

Điều kiện kinh tế ở các địa phương khác nhau làm cho nguồn lực vốn đầu tư của địa phương khác nhau. Ở các địa phương có nền kinh tế phát triển, việc huy động vốn ngân sách nhà nước đầu tư cũng dễ dàng hơn so với các địa phương gặp nhiều khó khăn.

“Ở một địa phương kinh tế tăng trưởng, phát triển nhanh chóng thì nhu cầu đầu tư xây dựng HTGT cũng tăng nhanh, mặc khác HTGT cần đầu tư đi trước một bước để tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Khi kinh tế tăng trưởng nhanh thì nguồn thu từ ngân sách tăng lên. Điều này giúp cho chính quyền địa phương có nguồn ngân sách đảm bảo cho việc đầu tư xây dựng HTGT. Những địa phương có điều kiện kinh tế phát triển, nguồn vốn ngân sách dồi dào thì việc đầu tư vốn vào phát triển giao thông càng thuận lợi”[3].

Hiện nay HTGT thường phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở những nơi có điều kiện thuận lợi về phát triển kinh tế. Ở những vùng sâu, vùng xa kinh tế chưa phát triển thì nhu cầu về đầu tư xây dựng HTGT rất lớn nhưng chưa được chú trọng đầu tư.

1.3.3. Đặc điểm xã hội

a. Dân số

Dân số của một địa phương có ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng HTGT bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Dân số nhiều hay ít là nhân tố quyết định đến nhu cầu giao thông đi lại cao hay thấp của người dân ở các địa phương. Do đó nó quyết định đến nhu cầu đầu tư xây dựng HTGT. Mặt khác mức độ tăng dân số thường đòi hỏi phải phát triển sản xuất kinh doanh để đảm bảo việc làm, thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân từ đó đòi hoải phải đầu tư xây dựng HTGT

b. Nguồn lao động

Nguồn lao động sẽ tác động đến việc cung cấp lao động cho quá trình đầu tư xây dựng HTGT, đây cũng là nguồn lực quan trọng để phát triển của địa phương. Nguồn lao động là yếu tố không thể thiếu của tất cả các doanh nghiệp xây dựng các công trình HTGT. Một nơi mà nguồn cung lao động dồi dào thì thuận lợi cho doanh nghiệp rất nhiều trong tuyển dụng. Các doanh nghiệp xây dựng các công trình HTGT rất cần lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn cao, có trách nhiệm trong công việc. Hay nói cách khác, họ quan tâm đến chất lượng nguồn lao động. Hiện nay, chất lượng nguồn lao động ở các địa phương đang từng bước được cải thiện. Điều đó có lợi trong tiến trình phát triển nhanh chóng của nền kinh tế địa phương

c. Truyền thống, phong tục tập quán

“Truyền thống tập quán gắn liền với mỗi dân tộc, mỗi vùng miền, mỗi địa phương. Các yếu tố truyền thống, tập quán như: văn hoá lịch sử truyền thống, phong tục tập quán ảnh hưởng trực tiếp đến cách sống, cách ăn mặc, phương thức sản xuất từ đó có ảnh hưởng đến nhu cầu giao thông đi lại của người dân ở các địa phương. Ngoài ra, những nơi vùng sâu vùng xa thường tập trung người dân tộc thiểu số với những nét văn hoá lịch sử, phong tục tập quán thu hút khách du lịch nên thường có nhu cầu cao về đầu tư xây dựng HTGT để phát triển du lịch”[18].

Trên đây là những nhân tố khách quan, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu và nguồn vốn đầu tư cho phát triển HTGT. Mỗi một địa phương khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau mà có nhu cầu và nguồn lực vốn đầu tư khác nhau.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 luận văn đã làm rõ các khái niệm có liên quan đến đề tài. “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”. “Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên tập thể những người quản lý trong hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành”. “QLNN về đầu tư HTGT từ nguồn vốn NSNN là việc nhà nước sử dụng cùng các công cụ, chính sách tác động vào các tổ chức tham gia vào trong quá trình xây dựng các công trình HTGT từ nguồn vốn NSNN”.

Luận văn đã trình bày đặc điểm của đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước: Nguồn vốn NSNN đầu tư cho HTGT thường có quy mô lớn; Sản phẩm đầu tư HTGT thường có kích thước lớn; Đầu tư HTGT liên quan nhiều đến tài nguyên cảnh quan và môi trường tự nhiên; Giai đoạn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư kéo dài nhiều năm; Kết quả của hoạt động đầu tư HTGT sẽ phát huy tác dụng ở quanh vùng xây dựng công trình; Đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước phải mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội.

Vai trò của quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước được thể hiện qua những khía cạnh sau: Góp phần hiện đại hóa HTGT, knh tế, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong SXKD; Tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế địa phương; Thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn.

Luận văn đã xác định được nội dung quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước bao gồm: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước; Lập, thẩm định dự án và thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán và quyết định đầu tư; Công tác đấu thầu; Quản lý chất lượng và nghiệm thu công trình xây dựng; Thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình HTGT; Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm trong đầu tư xây dựng HTGT

Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng vốn ngân sách nhà nước bao gồm: Đặc điểm điều kiện tự nhiên; Đặc điểm kinh tế của địa phương; Đặc điểm xã hội của địa phương

Đây là những nhân tố khách quan, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu và nguồn vốn đầu tư cho phát triển HTGT.

Nội dung chương 1 là cơ sở lí luận để vận dụng phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông bằng vốn ngân sách của huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG VỐN NGÂN SÁCH CỦA HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH CỦA HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên

a. Vị trí địa lí

Huyện Tây Giang được thành lập vào ngày 25 tháng 12 năm 2003 trên cơ sở chia tách huyện Hiên thành 2 huyện Đông Giang và Tây Giang. Huyện Tây Giang nằm về phía Tây Bắc tỉnh Quảng Nam, cách trung tâm thành phố Tam Kỳ 180 km về phía Tây Bắc; cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 120km về phía Tây, cách thành phố Hội An 150 km, cách thành phố Huế 220 km. Huyện có đường Hồ Chí Minh huyền thoại đi qua, có chung đường biên giới với nước CHDCND Lào. Ranh giới của huyện như sau:

– Phía Đông giáp huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam;

– Phía Tây giáp huyện Kạlừm và huyện Đắc Chưng, tỉnh Sêkông, nước CHDCND Lào;

– Phía Nam giáp huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam;

– Phía Bắc giáp huyện ALưới và huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Huyện Tây Giang có toạ độ địa lý từ 15045’ đến 16005’ vĩ độ Bắc. Từ 107005’ đến 107035’ kinh độ Đông.

Tây Giang là huyện có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh Quảng Nam và cả nước. Cửa khẩu Tây Giang – Kạlừm được khai trương ngày 25/4/2013, đây là cửa khẩu khai thông vùng Tây Bắc Quảng Nam với các tỉnh miền núi của nước bạn Lào, tạo điều kiện để phát triển kinh tế – xã hội của vùng miền núi Quảng Nam cũng như của tỉnh Sê Kông, Lào. Tạo điều kiện thuận lợi cho bà con hai bên đi lại, mua bán, khám chữa bệnh, giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế, thương mại, du lịch. Hiện nay, khu vực cửa khẩu đã lập quy hoạch và chuẩn bị triển khai các dự án đầu tư xây dựng.

b. Địa hình

Địa hình huyện phân thành 3 dạng chính sau:

– Địa hình gò đồi: Các xã Anông, Avương, Dang, diện tích 29.070,35 ha chiếm 32,19% diện tích tự nhiên, đây là khu vực diện tích có khả năng sản xuất nông nghiệp của huyện.

– Địa hình núi cao: ở các xã Gari, Ch’ơm, Axan và Tr’hy, diện tích 25.324,47 ha, chiếm 28,05% diện tích tự nhiên. Đặc điểm địa hình phức tạp, chia cắt mạnh làm giảm khả năng giữ nước và cung cấp nước mặt, nước mưa đến nước ngầm.

– Địa hình núi thấp: Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và từ Bắc sang Nam, diện tích 35.901,74 ha, chiếm 39,76% diện tích tự nhiên.

Nhìn chung, địa hình Tây Giang phần lớn núi và thung lũng, bị chia cắt bởi sông, suối nên cũng tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp. Các con sông, dòng suối, khu rừng, dãy núi hùng vĩ là tài nguyên cho phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao.

c. Khí hậu

Huyện miền núi Tây Giang nằm trong vùng khí hậu Đông Trường Sơn, nóng ẩm, mưa nhiều theo mùa. Khí hậu chia làm mùa khô và mùa mưa. Nhiệt độ trung bình năm 220C, cao nhất 380C, thấp nhất 80C. Theo các tài liệu thống kê và từ thực tế quan sát tại địa bàn huyện, trung bình cứ lên cao +100m, nhiệt độ giảm xuống khoảng 1,00C. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 hàng năm; tháng có nhiệt độ thấp nhất vào tháng 12. Mùa hè vùng có nhiệt độ trung bình xuống thấp và mát mẻ so với đồng bằng, nhất là ở các xã (vùng 3) Axan, Ch’ơm, Gari, Tr’hy, đặc biệt từ chiều tối và ban đêm.

– Lượng mưa: Tổng lượng mưa bình quân/năm lớn so với các huyện trong tỉnh phổ biến từ 2.000-2.500mm, có khi lên đến 4.000mm-5.000mm. Lượng mưa không đều theo thời gian, hàng năm thường có 4-5 tháng lượng mưa <100mm, lượng mưa ít nhất xảy ra vào tháng 6 và nhiều nhất tập trung vào tháng 10, 11 dương lịch.

– Độ ẩm không khí

+ Độ ẩm tuyệt đối: Trung bình/năm 26,2 – 26,7mb (milibaz). Độ ẩm tuyệt đối lớn nhất trong tháng mùa Hè (tháng 5 đến tháng 8) đạt từ 29-30mb, trái lại thấp nhất trong các tháng mùa Đông (tháng 12 đến tháng 2 năm sau): 21-22mb.

+ Độ ẩm tương đối: Biến đổi theo thời gian rõ rệt hơn không gian; Tiến trình của độ ẩm có xu hướng ngược lại với nhiệt độ. Ban đêm thường ẩm, ấm nhất vào sáng sớm, tương đối khô vào trưa chiều. Mùa mưa có độ ẩm trung bình từ 83-93% (tháng 9 đến tháng 3 năm sau) và mùa khô có độ ẩm trung bình từ 83 – 84% (từ tháng 4 đến tháng 8).

– Gió: Gió thịnh hành theo hai hướng chính: gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam.

+ Gió mùa Đông Bắc: Xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, thời tiết lạnh, kèm theo mưa lớn, lượng mưa tập trung nhiều vào tháng 10, 11 dương lịch.

+ Gió Tây Nam: Xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 8, từ tháng 5 đến tháng 7 thường xuất hiện gió Tây Nam (gió Lào) thời tiết khô hanh và nóng.

– Bão: Xuất hiện vào tháng 9-12, tốc độ gió có khi đạt >30m/s.

– Lũ lụt: Xuất hiện vào tháng 9, 10, 11 xuất hiện thường kèm theo các đợt gió mùa Đông Bắc.

d. Tài nguyên thiên nhiên

+ Tài nguyên rừng: Huyện Tây Giang có diện tích rừng chiếm 57,92% diện tích tự nhiên. Các khu rừng có giá trị như: Rừng nguyên sinh dọc sông M’roong, thuộc xã Avương; rừng sinh thái Tr’lêê, thuộc xã Atiêng, đặc hữu Lim xanh bên dòng sông Lăng, thuộc xã Lăng; rừng Pơmu đỉnh núi Zi’liêng +1.500m, thuộc 2 xã Axan và Tr’hy…“Vương quốc Pơmu” là tên gọi cho quần thể 725 cây Pơmu (Fokienia hodginsii) nằm trong một khu rừng Pơmu trải dài trên diện tích 240 ha thuộc xã Axan và Tr’hy. Toàn bộ khu rừng có 1.366 cây nằm ở độ cao khoảng +1.500 m so với mực nước biển. Năm 2016, khu rừng Pơmu có 725/1.366 cây tuổi từ 200 – 1.328 năm cùng với 2 cây Đa sộp được công nhận là cây Di sản Việt Nam.

Ngoài Pơmu, rừng Tây Giang còn có rất nhiều loại gỗ quý, hiếm như Chò, Dổi, Lim, Kiền kiền,…các cây dược liệu quý như: Củ Bakích, Đảng sâm, sâm Ngọc Linh, Sa nhân,…các loài động vật như: Sao La, Nai, Mang, Heo rừng, Sơn Dương, Nhím…

Rừng Đỗ Quyên diện tích khoảng 430 ha ở độ cao +2.005 mét, trên đỉnh núi K’lang, thuộc xã Tr’hy và một phần thuộc xã Lăng, có quần thể rừng nguyên sinh, hệ động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng về số lượng, chủng loại còn nguyên vẹn chưa có sự tác động của con người.

Rừng ở Tây Giang có nhiều nguồn gen sinh học quý hiếm, có giá trị cho nghiên cứu khoa học, kinh tế, cảnh quan, môi trường…nên từ hôm nay cần phải tăng cường quản lý, bảo vệ để lưu giữ cho các thế hệ mai sau. Khu rừng cây Pơmu, Đỗ Quyên, Lim xanh, Thông, Dổi…cần được gìn giữ để nghiên cứu khoa học, giáo dục bảo vệ môi trường và phát triển du lịch.

+ Tài nguyên đất

– Đất phù sa 1.401,65 ha, chiếm 1,55% tổng diện tích tự nhiên, gồm đất phù sa ngòi suối chua, cơ giới nhẹ và đất phù sa ngòi suối chua, cơ giới trung bình, hình thành do quá trình bồi lắng phù sa của các sông, suối trong khu vực. Tầng đất dày 70-80cm, tập trung ven các con sông, suối lớn và một ít ở chân gò đồi. Phân bố ở hầu hết các xã, tập trung nhiều ở các xã Atiêng, Bhalêê, Axan, Avương và Lăng. Đây là loại đất phù hợp với cây lương thực, cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày.

– Nhóm đất đỏ 87.579,93 ha, chiếm 96,99% tổng diện tích tự nhiên, gồm đất vàng đỏ, đất mùn vàng đỏ trên núi, được hình thành tại chỗ, trên các mảnh bazan phun trào xen giữa các vùng mácma-axít rộng lớn ở xã Avương, Anông, Atiêng, Bhalêê, Dang, Lăng, Tr’hy là loại đất phù hợp với nhiều loại cây công nghiệp, cây ăn quả.

– Nhóm đất vàng đỏ 57.483,58, ha chiếm 63,66% tổng diện tích, phân bố ở xã Avương, Anông, Atiêng, Bhalêê, Dang, Lăng và Tr’hy. Nhóm đất này thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây công nghiệp, cây ăn quả.

– Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi 30.096,35ha, chiếm 33,33% tổng diện tích, phân bố ở độ cao trên 1.000m, thuộc ở xã Avương, Axan, Anông, Atiêng, Ch’ơm, Dang, Gari, Lăng và Tr’hy, chủ yếu rừng tự nhiên, trồng cây dược liệu Đảng sâm, Bakích, ở độ cao < 200, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả.

– Nhóm đất dốc tụ 280,68 ha, chiếm 0,31% tổng diện tích tự nhiên, được phân bố tập trung tại các xã: Dang, Avương, Gari và Atiêng.

Tóm lại, đất đai ở Tây Giang chủ yếu là nhóm đất vàng đỏ, phân bố trên địa hình cao, trên các đồi, núi nên bị bào mòn, rửa trôi diễn ra mạnh. Vì vậy, cần có các biện pháp bảo vệ rừng, trồng rừng để chống xói mòn, lở đất,…khai thác rừng hợp lý, giảm tác hại xấu đến môi trường sinh thái, đất đai, nguồn nước.

– Đất nông nghiệp 55.057,43 ha chiếm 60,97% tổng diện tích tự nhiên, đất sản xuất nông nghiệp 4,76%, đất trồng cây hàng năm 2.462,12ha; đất lâm nghiệp 94,9% diện tích đất nông nghiệp (rừng phòng hộ 76,57%, đất rừng sản xuất 14,42%, đất rừng đặc dụng 9% đất lâm nghiệp); đất nuôi trồng thủy sản: chiếm 0,05% diện tích đất nông nghiệp; đất nông nghiệp khác: 25,53ha.

– Đất phi nông nghiệp 1,45% tổng diện tích tự nhiên gồm đất ở 8,44%, đất chuyên dùng 28,33%, đất phi nông nghiệp khác: 0,8ha.

– Đất chưa sử dụng chiếm 37,57% diện tích tự nhiên gồm đất núi đồi, núi, ven sông.

+ Tài nguyên nước

Trên địa bàn huyện có mật độ sông, suối dày và có 4 sông chính là Sông Avương, Lăng, M’roong, K’ool. Sông bắt nguồn từ biên giới Việt – Lào chảy qua địa phận các xã Axan, Tr’hy, Lăng, Atiêng, Bhalêê, Avương huyện Tây Giang, đổ vào địa phận huyện Đông Giang.

– Nguồn nước mặt: Từ các sông, suối như các sông Avương, Lăng, M’roong, K’ool; suối Nal, Ra’nool,…

Nguồn nước thay đổi theo mùa, mùa mưa nước dồi dào, mùa khô nguồn nước thấp. Ngoài cấp nguồn nước mặt, thủy năng các sông, suối còn có cảnh quan đẹp như thác Tr’lêê, Nal, Arầng, R’cung, hồ thủy điện Avương, Tr’hy; suối Ra’ai,…

– Nguồn nước ngầm: thay đổi theo cấp độ địa hình, những nơi có địa hình cao, mức nước ngầm ở độ sâu từ 8-15m, địa hình thấp, mực nước ngầm ở độ sâu từ 4 – 8m. Hiện nay, người dân chưa sử dụng nguồn nước ngầm, có 01 nhà máy cấp nước cho khu trung tâm hành chính huyện và chủ yếu sử dụng từ nước suối qua các bể lọc cho sinh hoạt.

+ Tài nguyên khoáng sản

– Vàng sa khoáng: huyện Tây Giang có vàng sa khoáng phân bố rải rác ở một số địa bàn các xã.

– Đá xây dựng: Các cơ sở khai thác đá có quy mô nhỏ, được khai thác phục vụ nhu cầu xây dựng tại chỗ, chưa có cơ sở khai thác quy mô và có 1 cơ sở đã và đang khai thác, hoạt động phục vụ đảm bảo nhu cầu cho xây dựng trên địa bàn huyện.

– Cát, sỏi xây dựng: phân bố trên các sông, suối phục vụ các công trình xây dựng.

+ Tài nguyên du lịch

– Về tài nguyên du lịch tự nhiên, Tây Giang là một trong những nơi còn có diện tích độ che phủ rừng lớn nhất miền Trung. Tây Giang có núi, sông, suối, rừng nguyên sinh, cây di sản, địa chất, cảnh quan. Phong cảnh thiên nhiên: Núi, thác, sông rất đẹp; rừng nguyên sinh lớn, núi cao so mực nước biển từ 1.400m-2.000m, nhiều khu rừng nguyên sinh có nhiều cây cổ thụ quý như: rừng Pơmu, Lim xanh, Dổi,…và nhiều loài cây đẹp như: Thông 5 lá, hoa Đỗ Quyên, Lan rừng, các loại thú: Sao la, Vượn… Khí hậu mát mẻ, môi trường tự nhiên trong lành, là những điều kiện lý tưởng và đặc thù của Tây Giang để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao, mạo hiểm, nghiên cứu khoa học…

– Về tài nguyên du lịch nhân văn, Tây Giang có thế mạnh về văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo, giàu bản sắc văn hóa Cơtu, là tiền đề phát triển du lịch đặc trưng. Về các di tích lịch sử, ở huyện có đường Trường Sơn 559 huyền thoại, địa đạo Axoò gắn với lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc; các di chỉ khảo cổ, đường muối, trống đồng,…làm phong phú, đa dạng các loại hình và sản phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn Tây Giang đậm đà bản sắc, phong phú và có giá trị phục vụ du lịch. Hiện nay, các tài nguyên này đang từng bước đưa vào khai thác để phát triển du lịch, phục vụ du khách tham quan, nghiên cứu.

– Về phân bố, tài nguyên du lịch, phân bố cả 3 vùng, thuận lợi khi nối các điểm, khu du lịch thành các tuyến, là cơ sở hình thành địa bàn trọng điểm du lịch, các khu vực tập trung đầu tư tạo động lực phát triển toàn huyện.

2.1.2. Đặc điểm tình hình kinh tế

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ L.VAN LĂNG TỐI CHÍNH THỨC23.7

Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang

Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang  Quản lý nhà nước về đầu tư hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Tây Giang

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *