Tính cấp thiết của đề tài
Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011-2020 xác định: “Phát triển nông nghiệp-nông thôn đóng vai trò chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái đất nước”.[1]
Thực hiện đường đối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn. Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia.[2] (Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn).
Để thực hiện được mục tiêu đến năm 2030:“Nông nghiệp Việt Nam đứng trong số 15 nước phát triển nhất thế giới, trong đó ngành chế biến nông sản đứng trong số 10 nước hàng đầu thế giới. Việt Nam là một trung tâm chế biến sâu của nông nghiệp thế giới, trung tâm logistics của thương mại nông sản toàn cầu”. [3] Nông nghiệp cần được đầu tư một cách đúng mức, trong đó, đặc biệt là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị.
Đầu tư XDCB là hoạt động có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, đặc biệt là đối với ngành nông nghiệp. Là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, Kon Tum có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nông nghiệp, tạo đà cho kinh tế – xã hội địa phương phát triển. Trong đó, đầu tư XDCB từ vốn NSNN trong nông nghiệp là một vấn đề hết sức quan trọng. Vì vậy, nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư XDCB bằng NSNN trong nông nghiệp phải luôn là một ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của địa phương.
Theo đánh giá của UBND tỉnh Kon Tum, trong thời gian qua, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng, báo cáo giám sát đánh giá đầu tư các dự án trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, công tác lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, quản lý chất lượng công trình chưa được chú trọng, thiếu kiểm tra thực tế, dẫn đến nhiều nhiều công trình phải điều chỉnh dự án, thiết kế và dự toán xây dựng…
Trước thực trạng đó, tác giả nhận thấy việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Kon Tum, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp rất bức thiết cả về lý luận và thực tiễn. Với ý nghĩa đó, tác giả chọn “Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum” làm đề tài luận văn chuyên ngành quản lý kinh tế của mình.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là nhằm làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng về quản lý ĐTXDCB bằng vốn NSNN trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ĐTXDCB bằng vốn NSNN trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum trong thời gian đến.
– Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đầutư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp
– Đánh giá thực trạng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum.
– Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung:
- Nghiên cứu quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp do tỉnh Kon Tum quản lý.
- Đầu tư xây dựng cơ bản trong nông nghiệp bao gồm: đầu tư cho thuỷ lợi, hệ thống điện, đường giao thông, trường học, trạm xá, hệ thống thông tin liên lạc, kho tàng, bến bãi, chợ, hệ thống cung cấp nước sạch…Tuy nhiên, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu vào hai lĩnh vực: giao thông nông thôn và hệ thống thủy lợi.
+ Về mặt không gian: Trong phạm vi địa bàn tỉnh Kon Tum.
+ Về mặt thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.
Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình liên tục kể từ giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án cho đến giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng . Theo đó quá trình đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn Ngân sách nhà nước trong ngành nông nghiệp bao gồm 5 khâu: (i) Quy hoạch, kế hoạch; (ii) Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; (ii) Triển khai, đấu thầu các dự án ĐTXDCB; (iv) Nghiệm thu và quản lý chất lượng công trình; (v) Thanh toán, quyết toán vốn đầu tư XDCB. Trong phạm vi luận văn này tác giả tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước đối với các khâu của quá trình đầu tư xây dựng cơ bản. Quá trình này diễn ra dưới tác động của các yếu tố về môi trường luật pháp, cơ chế chính sách; công tác tổ chức quản lý; năng lực đội ngũ cán bộ quản lý và công tác thanh tra, kiểm tra giám sát của nhà nước. Đây chính là khung nghiên cứu của luận văn.

Phương pháp thu thập số liệu:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Luận văn tiến hành thu thập các dữ liệu từ báo cáo kinh tế xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020, các Báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầu tư hàng năm, Báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu hàng năm (từ năm 2015-2019) của UBND tỉnh; các số liệu do Sở Kế hoạch và Đầu tưvà các đơn vị chức năng của tỉnh cung cấp có liên quan đến công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn NSNN trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Để thu thập số liệu sơ cấp phục vụ cho việc đánh giá công tác quản lý ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum, luận văn tiến hành khảo sát cán bộ, công chức một số đơn vị có liên quan đến lĩnh vực quản lý XDCB, các chủ đầu tư và các nhà thầu trên địa bàn tỉnh về các nội dung: Công tác ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản trong nông nghiệp; Công tác lập và giao kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN; Công tác lập, thẩm định, phê duyệt dự án; Công tác lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế – dự toán; Công tác thẩm định, phê duyệt kế hoạch đấu thầu và lựa chọn nhà thầu; Công tác quản lý tiến độ thi công, lắp đặt thiết bị; Công tác quản lý khối lượng thi công; Công tác quản lý chất lượng công trình và nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng; Công tác quyết toán công trình; Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và Việc phối hợp giữa các đơn vị liên quan.
+ Đối tượng khảo sát: là các cán bộ, công chức trong các đơn vị có liên quan: Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Nông nghiệp và PTNT; Sở Xây dựng; Sở Giao thông vận tải và Kho bạc Nhà nước tỉnh. Các chủ đầu tư và các nhà thầu ở các đơn vị: Công Ty Cổ Phần Khai Thác và Xây Dựng Thủy Lợi Kon Tum, Công ty TNHH tư vấn xây dựng cầu đường Kon Tum, Ban Quản lý khai thác các công trình thủy lợi tỉnh Kon Tum, Ban QLDA đầu tư xây dựng thành phố Kon Tum, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Đăk Hà.
+ Phương pháp chọn mẫu: Tác giả đã tiến hành lựa chọn hình thức chọn mẫu ngẫu nhiên thuận lợi để tiến hành nghiên cứu. Lý do để lựa chọn phương pháp chọn mẫu này vì các cán bộ, công chức, nhân viên trong các đơn vị có liên quan là những người có kiến thức và hiểu biết về ĐTXDCB, họ sẵn sàng trả lời bảng câu hỏi điều tra khảo sát. Ngoài ra phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đảm bảo tính khách quan, ít tốn thời gian và chi phí để thu thập thông tin.
+ Kích thước mẫu: Tác giả đã thực hiện khảo sát 100 phiếu, mỗi đơn vị khảo sát 10 phiếu. Trong đó, các đơn vị quản lý nhà nước gồm: Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Nông nghiệp và PTNT; Sở Xây dựng; Sở Giao thông vận tải và Kho bạc Nhà nước tỉnh. Các chủ đầu tư và các nhà thầu gồm các đơn vị: Công Ty Cổ Phần Khai Thác và Xây Dựng Thủy Lợi Kon Tum, Công ty TNHH tư vấn xây dựng cầu đường Kon Tum, Ban Quản lý khai thác các công trình thủy lợi tỉnh Kon Tum, Ban QLDA đầu tư xây dựng thành phố Kon Tum, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Đăk Hà.
+ Thời gian khảo sát: Trong thời gian từ 25/11/2020 đến 25/12/2020. Với mỗi phiếu khảo sát, tác giả đều gặp trực tiếp các đối tượng được hỏi và trao đổi thông tin chi tiết về nội dung phỏng vấn, nhằm giúp các đối tượng được hỏi nắm được các mục tiêu của khảo sát, từ đó đưa ra các ý kiến đánh giá khách quan và phù hợp nhất.
Với 100 phiếu phát ra, kết quả tác giả đã thu hồi được 90 phiếu, trong đó 44 phiếu là của cán bộ, công chức của các cơ quan chuyên môn về đầu tư XDCB của tỉnh (chiếm 48,9%), 46 phiếu là của cán bộ, nhân viên của các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án và các nhà thầu trên địa bàn tỉnh Kon Tum (chiếm 51,1%).
Về giới tính, trong số 90 phiếu nhận được có 53 là của nam giới (chiếm 58,9%), 37 phiếu là của nữ giới (chiếm 41,1%).
Các phiếu sau khi thu hồi được tác giả rà soát, thống kê, tổng hợp, tiến hành mã hóa để phân tích. Dữ liệu nghiên cứu sau khi được làm sạch sẽ được tiến hành phân tích. Mẫu thu thập được tiến hành phân loại theo các nhóm được định sẵn bằng các kỹ thuật thống kê mô tả hay tính tần suất.
Luận văn đã sử dụng phương pháp thống kê làm phương pháp chính yếu để làm nổi bật kết quả của chủ đề nghiên cứu:
Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý thông tin qua ba nguồn đó là: Dùng dữ liệu thứ cấp của các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn; Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, khảo sát; Dữ liệu ngoại vi thu thập từ các nguồn sách, báo, các phương tiện truyền thông, thông tin thương mại, các tổ chức, hiệp hội.
Phương pháp so sánh, tổng hợp:Luận văn phân tích, so sánh, đốichiếu các số liệu thống kê về tình hình thực trạng quản lý đầu tư XDCB bằng nguồn vốnNSNN trong nông nghiệptại tỉnh Kon Tum trong giai đoạn 2015 dến 2019. Từ đó đề xuấtnhững phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý đầu tư XDCB bằng vốnNSNN trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1:Cơ sở lý luận quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước
Chương 2:Thực trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum
Chương 3:Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNGCƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
KHÁIQUÁT QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
- Đầu tư:
– Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại, để tiến hành một hoạt động nào đó, nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai, lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Các nguồn lực có thể là: tiền, đất đai, đội ngũ lao động, trí tuệ, bí quyết công nghệ,…
Như vậy, đầu tư là sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm thu về những lợi ích trong tương lai tuỳ theo mục đích của chủ thể đầu tư. Nếu chủ đầu tư là tư nhân hay doanh nghiệp thì mục đích đó là thu được số vốn lớn hơn số đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận; còn nếu chủ thể là Nhà nước thì mục đích là thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia.[5, tr.6], [7, tr. 7], [12, tr. 31].
- Đầu tư xây dựng cơ bản:
Theo Nguyễn Văn Thập (2019): “Đầu tư XDCB là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tạo ra tài sản cố định thông qua các hình thức xây dựng mới hoặc khôi phục, sửa chữa các tài sản cố định”.
Việc thực hiện các hoạt động hay các dự án đầu tư XDCB đưa đến kết quả là sự gia tăng về tài sản vật chất và tài sản vô hình. Căn cứ vào điều này, có thể đưa ra khái niệm về đầu tư XDCB như sau: Đầu tư XDCB “là hoạt động đầu tư nhằm tạo tài sản cố định” và “Đầu tư XDCB bao gồm các hoạt động chính như: xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị”.[12, tr. 31].
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
“Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, là toàn bộ vốn bỏ ra để chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng công trình, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán (bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất)”.[4]
- Vốn ngân sách nhà nước:
Điều 4, Khoản 44, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 của Quốc hội khóa 13 quy định: “Vốn nhà nước bao gồm: (i) vốn ngân sách nhà nước; (ii) Vốn công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; (iii) Vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; (iv) Vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; (v) Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; (vi) Vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; (vii) Vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; (viii) Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; (ix) giá trị quyền sử dụng đất. Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào vốn NSNN”.[5] Trong các nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư từ NSNN luôn giữ vai trò quan trọng và đang dần có xu hướng tăng về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỷ trọng (Hải Bình, 2005, trích từ Nguyễn Thị Thanh, 2016). [11, tr. 25].
- Dự án đầu tư XDCB:
Các hoạt động đầu tư XDCB, đặc biệt là đầu tư từ nguồn vốn NSNN đều được thực hiện qua các dự án đầu tư.[8, tr. 11].
Điều 3, Khoản 15, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, của Quốc hội khóa 13 quy định: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng”. Dự án đầu tư xây dựng phải đáp ứng các yêu cầu sau (Điều 51 Luật Xây dựng 2014): “(i) Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại địa phương nơi có dự án đầu tư xây dựng; (ii) Có phương án công nghệ và phương án thiết kế phù hợp; (iii) Bảo đảm chất lượng, an toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; (iv) Bảo đảm cấp đủ vốn đúng tiến độ của dự án, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án; (v) Tuân thủ quy định khác của pháp luật liên quan”.[6]
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là:
- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt.
“Điều kiện thời tiết khí hậu với lượngmưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.v… trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ vớiđiều kiện hình thành và sử dụng đất. Do điều kiện đất đai khí hậu không giốngnhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét. Đặc điểm này của nông nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến công tác thiết kế, thi công cũng như khai thác các công trình giao thông, thủy lợi”.[17].
- Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.
“Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghiệp, giao thông v.v… đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao thông v.v… để con người điều khiến các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động.Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sảnxuất chủ yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích,con người không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuấtruộng đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâucủa ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sảnphẩm”. [17].
Đặc điểm này của sản xuất nông nghiệp đòi hỏi công tác quy hoạch, kế hoạch XDCB trong nông nghiệp phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa quy hoạch với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm kết hợp quản lý ngành với quản lý lãnh thổ, tiết kiệm quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp;
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi.
Đặc điểm này của sản xuất nông nghiệp đòi hỏi đầu tư xây dựng cơ bản trong nông nghiệp phải chú ý đến sự phát triển củacây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng, cơ cấu mùa, vụ. Từ đó đáp ứng tốt nhu cầu phát triển ngành nông nghiệp.
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao.
“Đó là nét đặc thù điểnhình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt sản xuất nông nghiệplà quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên,thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàntoàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Tính thời vụtrong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuấtchỉ tìm cách hạn chế nó. Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khíhậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đếnnhững mùa vụ khác nhau. Như vậy, tính thời vụ có tácđộng rất quan trọng đối với nông dân”. [17, tr. 5-7].
Đặc điểm này của sản xuất nông nghiệp đòi hỏi đầu tư xây dựng cơ bản trong nông nghiệp phải đảm bảo tình trạng giao thông, tưới tiêu luôn sẵn sàng để phục vụ tốt ngành nông nghiệp trong mọi giai đoạn, mọi thời điểm.
Thứ nhất, đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp có các đặc điểm chung của đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN:
(1) Đầu tư XDCBsử dụng nguồn vốn từ NSNN.
– Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN là quá trình mà chủ thể đầu tư là Nhà nước bỏ vốn từ ngân sách (toàn bộ hoặc một phần giá trị đầu tư), để tiến hành các hoạt động xây dựng công trình nhằm tạo ra tài sản cố định, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, vì mục tiêu phát triển quốc gia.
– Vốn chi cho hoạt động đầu tư XDCB từ NSNN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi đầu tư XDCB của toàn xã hội, được cấp phát trực tiếp và không hoàn lại nên là nguồn vốn dễ bị thất thoát, lãng phí nhất, cần phải được quản lý chặt chẽ. Mặt khác, vốn chi cho hoạt động đầu tư XDCB từ NSNN được phân bổ theo dự toán chi hàng năm, là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thi công xây dựng công trình kéo dài để chờ vốn, làm tăng tổng mức đầu tư, thất thoát, lãng phí vốn đầu tư.
(2) Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN đòi hỏi vốn đầu tư lớn và được tiến hành trong thời gian dài.
Đầu tư XDCB đòi hỏi một số lượng vốn, lao động lớn. Nguồn vốn đầu tư vào xây dựng cơ bản trong suốt quá trình đầu tư có thể chưa đem lại hiệu quả ngay, nhưng khi đưa công trình vào vận hành, sử dụng sẽ đem lại hiệu quả cho xã hội.
Do đặc điểm của đầu tư XDCB là từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành đưa vào sử dụng thường kéo dài. Đầu tư XDCB được chia thành nhiều giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị đầu tư; giai đoạn thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc đầu tư đưa công trình vào khai thác. Mỗi giai đoạn lại được chia thành nhiều công việc khác nhau. Tùy theo quy mô, mức độ đầu tư mà thời gian đầu tư xây dựng khác nhau, thông thường từ 3 tháng đến 5 năm, đối với những dự án có mức đầu tư lớn có thể lên đến 10 – 15 năm. Vì vậy, phải có kế hoạch đầu tư XDCB, để từ đó có biện pháp bố trí, huy động các nguồn lực một cách hợp lý nhằm đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn nhất, chống lãng phí, tiêu cực trong đầu tư XDCB.
(3) Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN thường nhằm vào lĩnh vực ít được thương mại hoá, không thu hồi vốn ngay, ít có tính cạnh tranh.
Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN tập trung vào những nơi có sự thất bại của thị trường, khi mà khu vực vốn khác không thể đầu tư, không muốn đầu tư và không được phép đầu tư. Khi Nhà nước cần giải quyết các vấn đề xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng hoặc đầu tư theo vùng miền và theo các ngành kinh tế do Nhà nước lựa chọn. Việc định đoạt phạm vi ĐTXDCB của Nhà nước khác biệt với việc xác định phạm vi đầu tư của khu vực tư nhân ở chỗ nhà nước phải giữ vai trò điều tiết, khắc phục thất bại thị trường, giải quyết vấn đề kinh tế xã hội cùng với việc tính toán lợi ích chung. Trong lúc đó, khu vực đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài nhìn chung chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế.
(4) Chủ đầu tư trong các dự án đầu tư XDCB bằng vốn NSNN không phảilà người sở hữu vốn.
Chủ đầu tư chỉ là người được giao quyền đại diện sở hữu, quản lý và sử dụng vốn mà không phải là chủ sở hữu vốn đích thực. Đây là khó khăn lớn nhất trong quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN. Đặc điểm này đòi hỏi trong quản lý vốn phải quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể đối với từng công việc cụ thể.
(5) Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN liên quan đến nhiều ngành, nghề.
“Một dự án đầu tư XDCB thường do nhiều đơn vị cùng tham gia thực hiện. Mỗi đơn vị có thể đảm nhiệm các hạng mục, các giai đoạn, các công việc khác nhau, từ lập dự án đầu tư, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị, giám sát, quản lý chất lượng công trình,…mỗi công việc đều mang đặc thù riêng đòi hỏi phải có nhiều đơn vị với chức năng nhiệm vụ phù hợp để tham gia. Trên một công trường xây dựng có thể có nhiều đơn vị tham gia, các đơn vị này cùng hoạt động trên một không gian, thời gian, trong tổ chức thi công cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau”.[12].
(6) Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN chủ yếu phục vụ lợi ích công cộng vàkhông có khả năng hoàn vốn trực tiếp.[5, tr. 17].
Đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN thường tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng công cộng, công trình phúc lợi xã hội, những công trình này có tỷ suất lợi nhuận thấp nhưng là cơ sở hạ tầng thiết yếu, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút các nguồn vốn khác, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đây là những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư do vốn bỏ ra để đầu tư không thu hồi trực tiếp hoặc thu hồi rất chậm.
Vì vậy, hiệu quả của dự án đầu tư XDCB bằng vốn NSNN không được đánh giá thông qua khả năng thu hồi vốn, mà sẽ được đánh giá gián tiếp thông qua đánh giá tác động của dự án về kinh tế, văn hóa và xã hội.
Thứ hai, ngoài các đặc điểm chung nêu trên, đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp còn có đặc điểm riêng như sau:
Đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp chịu ảnh hưởng của điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế – xã hội của nơi tiêu thụ:Sản phẩm xây dựng trong nông nghiệp bao giờ cũng gắn liền với một địa điểm, một địa phương nhất định, vì vậy phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của địa phương đó. Những điều kiện đó bao gồm: địa lý, khí hậu, thời tiết, môi trường, tập quán phong tục của địa phương… Đặc điểm đó chi phối tới việc thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan như: khảo sát, thiết kế, lựa chọn phương án thi công, kết cấu công trình, điều kiện mặt bằng thi công…
Thứ nhất, đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trong nông nghiệp tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành nông nghiệp, nông dân và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Cơ sở vật chất – kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được đầu tư bằng nguồn vốn NSNN được xem là loại hàng hóa công cộng, đây là loại hàng hóa không thể loại trừ và không có tính cạnh tranh. Tính chất không thể loại trừ cũng được hiểu trên góc độ tiêu dùng. Hàng hóa công cộng một khi đã cung cấp tại một địa phương nhất định thì không thể hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân không trả tiền cho việc sử dụng hàng hóa của mình. Tính chất không cạnh tranh được hiểu trên góc độ tiêu dùng, việc một cá nhân này đang sử dụng hàng hóa đó không ngăn cản những người khác đồng thời cũng sử dụng nó. Chính vì tính chất này mà người ta cũng không mong muốn loại trừ bất kỳ cá nhân nào trong việc tiêu dùng hàng hóa công cộng. Phần lớn hàng hóa công do Chính phủ cung cấp, bên cạnh đó, có thể huy động sự tham gia của khu vực tư để đáp ứng nhu cầu về hàng hóa công của toàn xã hội. Hàng hóa công cộng có tính tiêu dùng chung, khi tăng thêm một người tiêu dùng thì hàng hóa công cộng sẽ không giảm đi lợi ích của những người tiêu dùng hiện có và chi phí đáp ứng đòi hỏi của đối tượng tiêu dùng tăng thêm là bằng không. Sở dĩ Chính phủ phải đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN cho các công trình công cộng là do sự thất bại của khu vực tư trong việc cung cấp hàng hóa công. Tính không hiệu quả của khu vực tư trong cung cấp hàng hóa công đã làm giảm phúc lợi xã hội. Sự phát triển của xã hội trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại đã cho thấy chi tiêu công hoàn toàn không mất đi mà trái lại nó tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực trong nền kinh tế. Chính phủ đóng vai trò là một trung tâm của quá trình tái phân phối thu nhập thông qua các khoản chi tiêu công.
Thứ hai,là một bộ phận của đầu tư XDCB bằng vốn NSNN, đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động và góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn.
Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp góp phần làm tăng tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, làm tăng sản xuất của các ngành có liên quan, vì vậy sẽ thu hút thêm lao động, làm tăng thu nhập và nâng cao đời sống của người lao động.
Đầu tư XDCB trong nông nghiệp có tác động lớn đến việc tạo thêm việc làm, nâng cao trình độ đội ngũ lao động. Trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư, các công trình, dự án cần rất nhiều lao động phục vụ. Mặt khác, đối với những công trình, dự án phục vụ sản xuất kinh doanh, thì sau khi dự án hoàn thành đưa vào vận hành, khai thác cũng cần không ít công nhân, cán bộ vận hành. Điều này góp phần giải quyết một lượng lao động đáng kể của khu vực nông thôn. Quá trình “ly nông bất ly hương” đó làm chuyển dịch và nâng cao trình độ tay nghề của người lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Thứ ba, đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp góp phần vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp.
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển hạ tầng giao thông, thủy lợi phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng đa chức năng để phục vụ nuôi trồng thủy sản, tưới cho cây trồng cạn và các cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, cung cấp nước cho dân sinh và sản xuất công nghiệp; đầu tư nâng cấp hoàn chỉnh các hệ thống công trình thủy lợi đã có nhưng chưa được hoàn thiện. Rà soát, bổ sung và tổ chức thực hiện nâng cấp đảm bảo an toàn các hồ chứa; từng bước nâng mức đảm bảo cho hồ chứa lớn; tăng cường năng lực dự báo về biến đổi khí hậu và các hiện tượng thiên tai và thực hiện các giải pháp đảm bảo an toàn các công trình thủy lợi; chủ động phòng, chống và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, nâng cao mức đảm bảo tiêu, thoát nước, chống úng ngập, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, các công trình xây dựng còn mang lại hiệu quả tích cực trong việc kết nối sự phát triển giữa thành thị và nông thôn, miền núi, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên – vị trí địa lý – kinh tế – chính trị – xã hội của các vùng, tạo cơ chế lan truyền thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển. Động lực của sự tăng trưởng kinh tế là lợi ích vật chất. Lợi ích vật chất không chỉ được tạo ra trong ngành trồng trọt, chăn nuôi (nông nghiệp thuần tuý), mà quan trọng hơn là được tạo ra từ lâm nghiệp, thuỷ sản (nông nghiệp mở rộng có gắn với đất đai) và công nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống trên địa bàn nông thôn.
Thứ tư, đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học kỹ thuật trong khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Đầu tư XDCB là cơ hội ứng dụng và phát huy hiệu quả của thành tựu khoa học – kỹ thuật. Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng, tất cả các giai đoạn trong dự án đều cần đến sự hỗ trợ của máy móc, thiết bị – thành quả khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin. Sự hỗ trợ này sẽ làm giảm thiểu sự can thiệp của con người đối với các công việc nặng nhọc và độc hại, tăng năng suất lao động, đồng thời giảm chi phí và đảm bảo chất lượng công trình cao hơn.
- Quan niệm về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp.
- Quản lý và quản lý đầu tư:
Theo Nguyễn Thị Bạch Nguyệt (2007): “Quản lý, theo nghĩa chung, là sự tác động có mục đích của chủ thể vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra. Quản lý đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đầu tư và vận hành kết quả đầu tư) và các yếu tố đầu tư, bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế – xã hội, tổ chức, kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả và hiệu quả đầu tư cao nhất”. [7, tr. 71].
- Quản lý đầu tư XDCB:
Theo Nghiêm Văn Dĩnh (2001), “quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng là sựtác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực của nhà nước vào các quá trình, cácquan hệ kinh tế − xã hội trong đầu tư và xây dựng từ bước xác định dự án đầu tư đểthực hiện đầu tư và cả quá trình đưa dự án vào khai thác sử dụng để đạt mục tiêu đãđịnh nhằm đảm bảo hướng ý chí và hành động của các chủ thể kinh tế vào mục tiêuchung, kết hợp hài hòa lợi ích của cá nhân, tập thể và lợi ích của nhà nước”.[6, tr. 16].
- Quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trong nông nghiệp:
Từ những quan niệm nêu trên, luận văn cho rằng, quản lý đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trong nông nghiệp là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý vào quá trình đầu tư XDCB (từ bước chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế, tổ chức, kỹ thuật nhằm đảm bảo chất lượng XDCB và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn vốn NSNN dành cho XDCB trong nông nghiệp.
- Đặc điểm của quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp
Thứ nhất, chủ thể quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp bao gồm các cơ quan chính quyền, các cơ quan chức năng được phân cấp quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN.
Thứ hai, đối tượng quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp là nguồn vốn được cấp phát theo kế hoạch NSNN với quy trình rất chặt chẽ qua nhiều khâu.
Thứ ba, mục tiêu quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp là bảo đảm sử dụng vốn đúng mục đích, đúng nguyên tắc, đúng tiêu chuẩn, chế độ quy định và có hiệu quả cao.
- Vai trò quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp
Một là, quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN, đặc biệt là nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển trong nông nghiệp.
Hai là, quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Ba là, thông qua hoạt động quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp, góp phần đảm bảo tuân thủ các quy định của Nhà nước.
Bốn là, quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp giúp phát huy tính chủ động của các cấp chính quyền trong quản lý đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp.
NỘIDUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG NÔNG NGHIỆP
Việc thực hiện ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp gắn liền với một hệ thống các quy định và thủ tục hành chính trong lĩnh vực ĐTXDCB, quản lý NSNN. Các chủ thể quản lý cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện các dự án. Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có tính khả thi cao, có cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt động của dự án ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đề ra. Trong thời gian qua Nhà nước đã từng bước hoàn thiện các văn bản hướng dẫn công tác quản lý đầu tư, đặc biệt là đầu tư từ ngân sách Nhà nước, cải thiện chính sách và cơ chế để tư vấn, giám sát và quản lý dự án theo hướng rõ ràng, minh bạch hơn. Xác định cụ thể trách nhiệm của từng khu vực và từng cấp, đồng thời với việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và khắc phục các dự án thiếu hiệu quả, các khoản đầu tư không nằm trong quy hoạch tổng thể, thất thoát và tham nhũng. Tuy nhiên, nhìn chung các thủ tục hành chính và các quy định pháp luật trong quản lý ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN ở nước ta còn rườm rà và thiếu đồng bộ. Năng lực của các cơ quan quản lý thay mặt cho chủ đầu tư còn bất cập, điều này thể hiện gần như ở mọi công đoạn từ chuẩn bị dự án đến thực hiện dự án. Việc thay đổi cơ chế vận hành cho phù hợp với Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công, Luật đấu thầu… và những quy định kèm theo còn khá chậm gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý đầu tư. Để khắc phục các hạn chế trên, từ năm 2013 Quốc hội đã thông qua và ban hành mới các luật liên quan đến lĩnh vực đầu tư xây dựng như: Luật Đấu thầu (2013), Luật Xây dựng (2014) , Luật NSNN (2015), Luật Đầu tư công (2014) …Đặc biệt, Luật Đầu tư công năm 2014 có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết bài toán về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công, một nguồn vốn hết sức quan trọng, đóng vai trò chủ chốt trong đầu tư phát triển kinh tế – xã hội nước ta hiện nay.
Việc ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản trong nông nghiệp cần bảo đảm các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, nội dung văn bản QLNN phải phùhợp với điều kiện kinh tế – xã hội, điều kiệnphát triển của địa phương.
Pháp luật là một phạm trù chủ quan, phản ánh hiện thực khách quan. Sự phản ánh đó xuất phát từ đòi hỏi của đời sống hiện thực, không thể cao hơn trình độ phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.
Thứ hai, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất.
Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp của vănbản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bảnlà một trong những tiêu chí quantrọng trong đánh giá thực trạng của hệ thốngvăn bản quản lý nhà nước.
Thứ ba, hệ thống văn bản pháp luật phải toàn diện, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, bảo đảm phát huy vai trò và hiệu lực.
Vềtính toàn diện, Nhà nước là tổ chức công quyềnduy nhất, nhân danh quyền lực của nhân dânthực hiện chức năng quản lý xã hội bằng phápluật trên tất cả các mặt đời sống xã hội. Thựchiện chức năng này đòi hỏi hệ thống văn bảnQLNN phải đầy đủ, toàn diện. Về tính đồngbộ, hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạmpháp luật thể hiện dưới hình thức các văn bảnQLNN bao gồm nhiều bộ phận liên quan chặtchẽ với nhau.Về tính khả thi, chương trình xây dựng,ban hành văn bản QLNN và dự thảo văn bảnQLNN phải dựa trên các căn cứ khách quan,khoa học, dự kiến được các nguồn lực, cân nhắccách thức triển khai thực hiện và kèm theophương án đề xuất về kinh phí và tính toán cácnguồn lực khác cần thiết cho việc triển khaithực hiện. Các quy định trong các văn bảnQLNN cần cụ thể, không dừng lại ở chương,mục mang tính chung chung… Văn bản QLNNchỉ có thể nhận được sự hưởng ứng, đồng tìnhvà bảo đảm khả thi khi tính minh bạch, côngkhai của nó được coi trọng đúng mức.
Thứ tư, văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bảnphải được soạn thảo thông qua kỹ thuật lập quy và đạt yêu cầu về hình thức.
Hình thức thể hiện của văn bảnQLNN chỉ được thừa nhận là tốt khi thông quacác kỹ thuật lập quy và chuyển tải được các nộidung cần pháp luật hoá thành những cấu trúc,phạm trù pháp lý, bảo đảm không thoát ly rakhỏi bản chất, thuộc tính của pháp luật – tínhgiai cấp, tính quy phạm phổ biến, tính chuẩnmực về hình thức biểu đạt, tính bảo đảm thựchiện bằng quyền lực nhà nước…[2].
Tiêu chí đánh giá:
- Bảo đảm tính hợp pháp và tính thống nhất
- Phù hợp với thực tế của địa phương và của ngành nông nghiệp
- Có tầm nhìn và quan điểm chiến lược cho sự phát triển
- Đồng bộ, khả thi, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch.
Quy hoạch đầu tư là việc hoạch định trước những vùng, những ngành cần được đầu tư, mức vốn đầu tư, thời gian bỏ vốn đầu tư. Quy hoạch đầu tư thường có các loại quy hoạch sau: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội chung của cả nước; quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội vùng; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội trong phạm vi địa giới một tỉnh, thành phố; quy hoạch phát triển của các ngành; quy hoạch phân bổ hệ thống các khu công nghiệp; quy hoạch chung xây dựng đô thị và nông thôn và quy hoạch chi tiết các đô thị trung tâm; quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và việc giao quyền sử dụng đất cho tổ chức và cá nhân.[12, tr. 42].
Từ quan niệm trên, luận văn cho rằng: Quy hoạch đầu tư XDCB trong nông nghiệp là quá trình phân bổ, sắp xếp, bố trí đầu tư XDCB vào một không gian nhất định, trong một thời kỳ trung hạn, dài hạn nhằm đạt được mục tiêu đề ra về XDCB trong nông nghiệp.
Quy hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp phải bảo đảm các yêu cầu chung sau đây:
“(i) Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển của các ngành khác, quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch chi tiết xây dựng phải phù hợp với quy hoạch chung xây dựng, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tạo ra động lực phát triển kinh tế – xã hội.
(ii) Tổ chức, sắp xếp không gian lãnh thổ trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử, kinh tế – xã hội, tiến bộ khoa học và công nghệ của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.
(iii) Tạo lập được môi trường sống tiện nghi, an toàn và bền vững, thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân; bảo vệ môi trường, di sản văn hoá, bảo tồn di tích lịch sử – văn hoá, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc.
(iv) Xác lập được cơ sở cho công tác kế hoạch, quản lý đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng; quản lý, khai thác và sử dụng các công trình xây dựng trong đô thị, điểm dân cư nông thôn”. [6, tr. 58].
Quy hoạch đầu tư XDCB trong nông nghiệp có vai trò sau:
– Định hướng hoạt động và là cơ sở cho việc thực hiện đầu tư XDCB. Nếu không có quy hoạch hay quy hoạch không phù hợp, thiếu cơ sở khoa học sẽ làm cho hoạt động đầu tư XDCB trong nông nghiệpchệch hướng quy hoạch tổng thể. Điều đó dẫn đến đầu tư XDCB của ngành không hiệu quả.
– Tạo cơ sở để sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư XDCB trong nông nghiệp. Trong thực tế, phần lớn các sai lầm về đầu tư, về nghiên cứu, triển khai côngnghệ, sử dụng các nguồn lực… đều bắt nguồn từ các sai lầm trong quy hoạch đầu tư XDCB.
Những căn cứ để xây dựng quy hoạch đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trongnông nghiệp:
Thứ nhất, căn cứ vào khả năng tài chính của Nhà nước, vào NSNN cấp chongành nông nghiệp.
Thứ hai, căn cứ vào cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế hiện có và định hướng phát triển của ngànhnông nghiệp trong trung, dài hạn.
Tiêu chí đánh giá:
– Quy hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp phải sát với thực tế, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương cũng như yêu cầu phát triển của ngành nông nghiệp và phải được công bố công khai;
– Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp phải tuân thủ các quy định của Nhà nước, không đầu tư tràn lan, dàn trải, phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn NSNN dành cho ngành nông nghiệp.
– Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp phải đảm bảo tính khoa học, tính đồng bộ và tính chính xác.
– Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp phải đảm bảo đạt hiệu kinh tế – xã hội cao.
– Xây dựng và ban hành kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp phải dựa vào định hướng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
– Xây dựng và ban hành kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp phải phù hợp với các qui định của pháp luật.
- Lập dự án đầu tư
Theo Điều 3 Luật xây dựng 2014: “Lập dự án đầu tư xây dựng gồm việc lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng (nếu có), Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết để chuẩn bị đầu tư xây dựng”.
- Thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là một hoạt động của cơ quan có thẩm quyền nhằm mục đích kiểm tra cơ sở pháp lý, tính cần thiết của dự án, độ tin cậy của các tài liệu cơ bản và các chỉ tiêu liên quan đến quyết định đầu tư như địa điểm, công nghệ, tài chính, lợi ích kinh tế – xã hội của dự án…
Bản chất của hoạt động này là xác định cơ sở khoa học và tính pháp lý của quyết định đầu tư. Thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm thẩm định phần thuyết minh và thẩm định thiết kế cơ sở dự án.[6, tr. 73].
- Thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán
Nội dung thẩm định thiết kế – kỹ thuật bao gồm: Sự phù hợp của thiết kế – kỹ thuật với nội dung đã được phê duyệt trong quyết định đầu tư về quy mô, công nghệ, công suất, các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật, quy hoạch, kiến trúc, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng; Bảo vệ môi trường, sinh thái, phòng, chống cháy nổ, an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp; Sự hợp lý của giải pháp thiết kế – kỹ thuật; Tư cách pháp lý của tổ chức, cá nhân thiết kế.
Khoản 2, Điều 10 Nghị định 68/2019/NĐ-CP quy định: “Nội dung thẩm định dự toán xây dựng, dự toán xây dựng công trình, dự toán xây dựng gói thầu xây dựng gồm: (i) Kiểm tra sự đầy đủ, phù hợp của các căn cứ pháp lý để xác định dự toán xây dựng; (ii) Kiểm tra sự phù hợp khối lượng công tác xây dựng, chủng loại và số lượng thiết bị trong dự toán so với khối lượng, chủng loại và số lượng thiết bị tính toán từ thiết kế xây dựng, công nghệ; (iii) Kiểm tra tính đúng đắn, hợp lý của việc áp dụng định mức, giá xây dựng của công trình và quy định khác có liên quan trong việc xác định các khoản mục chi phí của dự toán; (iv) Xác định giá trị dự toán sau thẩm định. Đánh giá mức độ tăng, giảm của các khoản mục chi phí, phân tích nguyên nhân tăng, giảm so với giá trị dự toán xây dựng công trình đề nghị thẩm định”. [7]
- Quyết định đầu tư
Dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ được phê duyệt, quyết định đầu tư trên cơ sở kết quả thẩm định của cơ quan có thẩm quyền.[5, tr. 77].
Nội dung chủ yếu của quyết định đầu tư xây dựng gồm: “(i) Tên dự án; (ii) Chủ đầu tư; (ii) Tổ chức tư vấn lập dự án, khảo sát (nếu có), lập thiết kế cơ sở; (iv) Mục tiêu, quy mô đầu tư xây dựng, tiến độ thực hiện dự án; (v) Công trình xây dựng chính, các công trình xây dựng và cấp công trình thuộc dự án; (vi) Địa điểm xây dựng và diện tích đất sử dụng; (vii) Thiết kế cơ sở, thiết kế công nghệ (nếu có), quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng được lựa chọn; (viii) Yêu cầu về nguồn lực, khai thác sử dụng tài nguyên (nếu có), vận hành sử dụng công trình; phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, phương án bảo vệ môi trường (nếu có), phòng chống cháy nổ; (ix) Tổng mức đầu tư và dự kiến phân bổ nguồn vốn sử dụng theo tiến độ; (x) Hình thức tổ chức quản lý dự án được áp dụng”.(Khoản 2, điều 12, Nghị định 59-NĐ-CP).[8]
Tiêu chí đánh giá:
- Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng cơ bản đúng qui định.
- Công tác thẩm định dự án đầu tư đúng yêu cầu và mục đích.
- Hồ sơ thẩm định dự án đầu tư xây dựng cơ bản đầy đủ theo qui định.
- Hồ sơ về thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán đáp ứng đầy đủ các yêu cầu.
- Thiết kế – kỹ thuật – tổng dự toán đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng; định mức kinh tế – kỹ thuật.
- Đảm bảo đầy đủ các quy định về thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật, các công nghệ được áp dụng nhằm bảo đảm chất lượng thiết kế và tổng dự toán.
- Quyết định đầu tư các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách trong nông nghiệp ở địa phương có đúng thẩm quyền được phân cấp.
“Lựa chọn nhà thầu là một loại động xây dựng công trình có mục tiêu tìm được nhà thầu chính, tổng thầu, thầu phụ có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng phù hợp với loại và cấp công trình để thực hiện các công việc, nhóm công việc hoặc toàn bộ công việc lập quy hoạch chi tiết xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giám sát và các hoạt động xây dựng khác. Hoạt động lựa chọn nhà thầu là một hoạt động quản lý quan trọng cần được thực hiện theo những nguyên tắc, yêu cầu và trình tự khoa học, phù hợp với luật pháp hiện hành”. [6, tr. 121].
Quản lý về công tác đấu thầu bao gồm việc ban hành, phổ biến, hướng dẫn vàtổ chức thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về đấu thầu; đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác đấu thầu, kiểm tra thanh tra và xử lýcác vi phạm pháp luật liên quan đến đấu thầu. (Điều 81, Luật Đấu thầu).[9]
Tiêu chí đánh giá:
– Tổ chức đấu thầu xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN trong nông nghiệp được thực hiện theo đúng qui trình đấu thầu.
– Hình thức lựa chọn nhà thầu đúng qui định.
– Đánh giá hồ sơ dự thầu chính xác và bám sát nội dung hồ sơ mời thầu.
– Phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu đúng qui định.
– Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu đúng qui định.
– Các hồ sơ tài liệu đấu thầu được giữ bí mật trước khi mở thầu.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong nông nghiệp


