Hoàn thiện công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các quỹ tín dụng nhân dân tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm hoạt động, các QTDND tại địa bàn tỉnh Quảng Bình phát triển nhanh về số lượng và quy mô hoạt động. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có 24 quỹ tín dụng. Dư nợ cho vay của các QTDND hàng năm đều tăng. Năm 2017 là 2.799.756 triệu đồng, tăng 7,76% so với năm 2016. Năm 2018 là 3.027.076 triệu đồng, tăng 8,12% so với năm 2017. Năm 2019 là 3.461 tỷ đồng, tăng 14,3% so với năm 2018. Dư nợ cho vay của các QTDND chủ yếu là ngắn hạn. Tỷ lệ cho vay ngắn hạn/ tổng dư nợ qua các năm lần lượt là 81%; 82%; 79%; 80%. Tỷ lệ này rất cao do nguồn vốn để cho vay từ các khoản huy động vốn ngắn hạn từ dân cư, ít có các nguồn tài trợ trung và dài hạn. Chất lượng tín dụng của các QTDND trên địa bàn khá tốt, nợ xấu chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng dư nợ. Năm 2016, nợ xấu là 9.852 triệu đồng, chiếm 0,38% tổng dư nợ. Năm 2017, nợ xấu là 8.751 triệu đồng, chiếm 0,31% tổng dư nợ. Năm 2018, nợ xấu là 7.582 triệu đồng, chiếm 0,25% tổng dư nợ. Năm 2019, nợ xấu 9.231 triệu đồng, chiếm 0,27 % tổng dư nợ.
Bên cạnh những kết quả đạt được như phát triển ổn định, góp phần thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và hạn chế “tín dụng đen” cho vay nặng lãi. Hoạt động của QTDND còn nhiều bất ổn do năng lực tài chính hạn chế, địa bàn hoạt động nhỏ hẹp, trình độ quản lý, điều hành còn thấp, hệ thống kiểm tra, kiểm soát chưa phát huy hiệu quả tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ngoài ra, cùng với sự gia tăng số lượng các Chi nhánh các NHTM thì việc cạnh tranh dành thị phần ngày càng trở nên khốc liệt cho các QTDND. Cuộc chiến lôi kéo khách hàng gay gắt hơn bao giờ hết. Dẫn đến nhiều tiêu cực, vi phạm và tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro.
Hiện nay, hoạt động tín dụng (chủ yếu là hoạt động cho vay) là hoạt động kinh doanh chính, cơ bản mang lại phần lớn lợi nhuận của QTDND (chiếm trên 90% thu nhập) nhưng cũng đồng thời đây là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Do đó cần phải nâng cao chất lượng công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND để tránh nguy cơ đổ vỡ, mất an toàn không những tại địa bàn hoạt động của QTDND mà có thể mất an toàn cho cả hệ thống các TCTD trên địa bàn tỉnh.
Với quy mô hoạt động của QTDND ngày càng tăng, tính chất hoạt động có nhiều chuyển biến thay đổi tuy nhiên lực lượng thanh tra đối với Quỹ tín dụng của chi nhánh còn mỏng. Hiện tại số lượng cán bộ tại Thanh tra, giám sát Chi nhánh gồm 14 cán bộ, trong đó lãnh đạo 04 Phó Chánh thanh tra, giám sát (trong đó có 01 Phó Chánh thanh tra Phụ trách), 10 nhân viên (01 thanh tra viên chính và 09 thanh tra viên), 100% trình độ đại học và sau đại học. Cơ cấu của phòng thanh tra được phân thành 04 tổ: (1) Tổ tổng hợp gồm: 01 Phó Chánh thanh tra, Phụ trách trực tiếp chỉ đạo và 02 cán bộ chuyên trách tổng hợp (2) Tổ thanh tra các NHTM, Ngân hàng Chính sách xã hội gồm: 01 Phó Chánh thanh tra làm tổ trưởng và 03 cán bộ là thành viên (3) Tổ thanh tra tín dụng hợp tác gồm: 01 Phó Chánh thanh tra trực tiếp làm tổ trưởng và 03 cán bộ là thành viên (4) Tổ giám sát từ xa; khiếu nại, tố cáo; phòng chống tham nhũng, rửa tiền; thực hành tiết kiệm chống lãng phí; thanh tra ngoại hối gồm: 01 Phó Chánh thanh tra trực tiếp làm tổ trưởng và 02 cán bộ. Theo đó, số biên chế trực tiếp thanh tra, giám sát hệ thống QTDND là 04 người. Trung bình mỗi cán bộ quản lý 8 QTDND. Vấn đề đặt ra là cần nâng cao chất lượng thanh tra để đáp ứng được nhu cầu quản lý khi các QTDND tăng quy mô hoạt động, tính chất hoạt động nhiều thay đổi.
Quy trình hoạt động thanh tra QTDND chủ yếu thực hiện là thanh tra tuân thủ, việc thanh tra trên cơ sở rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế và các nguyên tắc của Ủy ban Giám sát ngân hàng Base chưa được triển khai. Các kiến nghị thanh tra tập trung vào các sai phạm mang tính chất tuân thủ và tính phát hiện chưa cao. Việc theo dõi, giám sát và xử lý kiến nghị sau thanh tra chưa quyết liệt, chưa tăng cường hiệu lực, hiệu quả cho công tác thanh tra, giám sát, nâng cao trật tự, kỷ cương trên thị trường tiền tệ – ngân hàng trên địa bàn.
Từ tình hình thực tế công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND như trên và dựa trên kinh nghiệm thực tiễn công tác Thanh tra, giám sát NHNN Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình, cùng với việc vận dụng những lý luận, kiến thức học tập tại trường, tôi lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các quỹ tín dụng nhân dân tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Quảng Bình” để nghiên cứu. Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu đặc thù về mặt lý luận và thực tiễn công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND của NHNN Chi nhánh, với mong muốn hoàn thiện hoạt động thanh tra của NHNN Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình đối với hoạt động tín dụng, một hoạt động có nhiều yếu tố rủi ro nhất của các QTDND trên địa bàn, từ đó đề xuất, khuyến nghị một số giải pháp hoàn thiện thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND cho phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế để đảm bảo hoạt động của các QTDND tăng trưởng bền vững, an toàn và hiệu quả đúng theo quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các quỹ tín dụng nhân dân tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Quảng Bình phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND tại Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND, tại NHNNVN – CN Quảng Bình.
Từ đó, có các đề xuất, khuyến nghị nhằm hoàn thiện thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND tại NHNNVN – CN Quảng Bình.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu
Câu 1: Công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND tại NHNNVN – CN Quảng Bình như thế nào? có những kết quả, những hạn chế gì? vì sao?
Câu 2: NHNNVN – CN Quảng Bình cần phải lưu ý đến những vấn đề gì để hoàn thiện công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề về lý luận và thực tiễn về công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND tại NHNNVN – CN Quảng Bình.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Đề tài chỉ đề cập đến công tác thanh tra trong hoạt động tín dụng của các QTDND tại NHNNVN – CN Quảng Bình.
+ Về không gian: tại NHNNVN – CN Quảng Bình;
+ Về thời gian: Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp trong 3 năm 2017, 2018, 2019. Dữ liệu sơ cấp được thu thập dự kiến từ tháng 10/2020 đến hết tháng 11/2020. Các khuyến nghị nhằm được đề xuất đến năm 2025.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Cách tiếp cận
Luận văn sử dụng cách tiếp cận định tính dựa trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đây, kết hợp so sánh giữa lý thuyết và thực tiễn về hoạt động thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND để nhận diện và giải quyết vấn đề gặp phải. Từ đó đưa ra những khuyến nghị một số giải pháp hoàn thiện thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND.

4.2. Nguồn thu thập dữ liệu
– Dữ liệu sơ cấp: Tác giả thực hiện chọn mẫu thuận tiện phỏng vấn đối với lãnh đạo NHNN, Chánh thanh tra, Phó Chánh thanh tra, các thanh tra viên hiện đang trực tiếp công tác tại Thanh tra, giám sát của Chi nhánh nhằm khảo sát t́nh h́nh thực tế trong hoạt động tín dụng của các QTDND và công tác thanh tra hoạt động này. Tác giả thực hiện phỏng vấn dựa trên một số câu hỏi mở như sau:
+ Trong quá trình QTDND thực hiện cho vay vốn đối với thành viên, khách hàng có đáp ứng được các quy định nội bộ, quy định pháp luật không?
+ Công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND còn tồn tại những hạn chế gì và cần làm gì để khắc phục được tình trạng này?
+ Quá trình thanh tra hoạt động tín dụng QTDND có được thực hiện thường xuyên và đồng bộ với nhau chưa? Và anh/chị gặp khó khăn gì đối với công tác thanh tra hoạt động này? Anh/chị có ý kiến, góp ý gì để khắc phục những khó khăn đó?
– Dữ liệu thứ cấp: Tác giả sử dụng các số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo hoạt động thanh tra của NHNNVN – CN Quảng Bình, các báo cáo giám sát hoạt động của các QTDND các năm 2017-2019.
4.3. Xử lý dữ liệu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài gồm các phương pháp sau:
4.3.1. Phương pháp thống kê
Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức0 khác nhau. Phương pháp cơ bản của mô tả dữ liệu: biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc giúp so sánh dữ liệu, biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu, thống kê tóm tắt (dưới dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu.
Trong luận văn, phương pháp này được sử dụng để thu thập số liệu về:
– Tình hình nhân sự, phân công phần hành công việc của thanh tra.
– Tình hình hoạt động của các QTDND trên địa bàn tỉnh Quảng Bình gồm các chỉ tiêu: dư nợ cho vay; nợ xấu; nợ xử lý rủi ro; phân loại nợ; lợi nhuận ròng; ROA; ROE; cho vay theo các ngành nghề, lãi suất cho vay; số lượng thành viên tham gia QTDND; tổng nguồn vốn; vốn chủ sở hữu; vốn điều lệ; vốn huy động;
– Các sai phạm phát hiện qua thanh tra tại chỗ của NHNN Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình đối với các QTDND;
– Số kiến nghị của đoàn thanh tra và số kiến nghị đã được khắc phục chỉnh sửa sau thanh tra.
– Số hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính.
Sau khi thu thập, các số liệu này được hệ thống hóa dưới dạng các bảng biểu, biểu đồ.
Nguồn số liệu được lấy từ các báo cáo giám sát, báo cáo công tác thanh tra của NHNN Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình từ 2017-2019.
4.3.2. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Để tiến hành được cần xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện để so sánh, mục tiêu để so sánh.
Trong luận văn, tác giả so sánh tình hình hoạt động thanh tra (số sai phạm, số kiến nghị…) và các chỉ tiêu hoạt động của các QTDND (về cơ cấu nguồn vốn, về kết quả hoạt động kinh doanh …). So sánh số liệu năm 2018 so với 2017, năm 2019 so với năm 2018. Kết quả so sánh được biểu hiện dưới dạng số tương đối để thấy được sự sự biến động qua các thời điểm.
4.3.3. Phương pháp phân tích
Phân tích là phương pháp phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để nhận thức các bộ phận đó. Trong luận văn, tác giả phân chia đối tượng nghiên cứu là thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND tại NHNNVN – CN Quảng Bình, thành những bộ phận sau để tiến hành nghiên cứu:
– Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của NHNN Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình. Nội dung phân tích: sơ đồ bộ máy tổ chức; số lượng, trình độ cán bộ; chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra, giám sát Chi nhánh.
– Phân tích công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND: nội dung, quy trình, kết quả hoạt động thanh tra.
4.3.4. Phương pháp tổng hợp
Tổng hợp là phương pháp liên kết, thống nhất các kết quả của phân tích nhằm nhận thức cái toàn bộ. Nhờ có tổng hợp con người nắm bắt, hiểu được sự vật dưới dạng chỉnh thể của nó. Từ đó mới có điều kiện khái quát tìm ra sự vận động nội tại bên trong của sự vật. Phân tích và tổng hợp là 2 phương pháp gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu.
Từ kết quả phân tích các bộ phận của thanh tra hoạt động tín dụng, đối chiếu với các quy định của pháp luật, với các tiêu chuẩn đã được xác định, các chuẩn mực quốc tế đưa ra những nhận xét, đánh giá về công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND tại NHNN Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình. Chỉ ra nguyên nhân của tồn tại, hạn chế để từ đó đề xuất các biện pháp, kiến nghị phù hợp nhằm hoàn thiện thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND tại NHNN Chi nhánh Quảng Bình.
5. Bố cục luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết thúc, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND của NHTW.
Chương 2: Thực trạng thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND tại NHNNVN – CN Quảng Bình.
Chương 3: Khuyến nghị hoàn thiện công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND tại NHNNVN – CN Quảng Bình.
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.1.1. Khái niệm quỹ tín dụng nhân dân
Quỹ tín dụng nhân dân là một loại hình tồ chức tín dụng được thành lập, quản lý và kiểm soát bởi những pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình có cùng những đặc điểm về nơi cư trú, nghề nghiệp hoặc các đặc điểm chung khác, trên tinh thần tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhằm mục đích tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Trên thế giới, loại hình quỹ tín dụng xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ 19 ở các nước Châu Âu và đầu thế kỷ 20 ở Canada và Hoa Kỳ. Trước sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất từ bản chủ nghĩa, những người nông dân bị bần cùng hoá buộc phải tìm cách hợp tác, giúp đỡ nhau về vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống. Từ những tổ chức sơ khai hình thành ở từng vùng, mang tính tương trợ đơn thuần, dần dần phát triển thành các QTD hợp tác trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Đến nay, các tổ chức này được thành lập ở nhiều nước trên thế giới dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau như ngân hàng hợp tác xã, hợp tác xã tín dụng, QTDND, quỹ tín dụng và tiết kiệm,..
Tại Việt Nam, QTDND là một loại hình TCTD hợp tác, được Chính phủ cho phép thành lập từ năm 1993 theo Quyết định 390/QDD9-TTg ngày 27/7/1993. QTDND nhằm góp phần đa dạng hóa loại hình TCTD hoạt động trên địa bàn nông thôn, tạo lập một mô hình kinh tế hợp tác xã kiểu mới hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Góp phần xóa đói, giảm nghèo, hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn, thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn nông thôn. Mô hình QTDND được thiết kế trên cơ sở học tập kinh nghiệm của hệ thống Quỹ Nhân dân Desjardins, Quebec (Canada).
Trong thực tế, các nước trên thế giới sử dụng rất nhiều tên gọi khác nhau để nói về loại hình TCTD này, ví dụ : Quỹ nhân dân Desjardins (Quebec- Canada); Ngân hàng HTX (Đức); Liên minh tín dụng (Mỹ); Quỹ Tiết kiệm và cho vay nông thôn (Côte d’Ivoire); Quỹ Tiết kiệm và tín dụng nhân dân (Burkina Faso); Ngân hàng Nhân dân (Rwanda); Quỹ tiết kiệm và tín dụng làng (Mali); QTD tương hỗ nông nghiệp (Benin),… Mặc dù tên gọi có thể khác nhau tuỳ theo từng nước nhưng loại hình TCTD này có những nét đặc trưng chung rất nổi bật. Và trong phạm vi đề tài này, tác giả sử dụng tên QTDND để gọi chung cho loại hình TCTD này.
Theo Hiệp hội Liên minh tín dụng Quốc gia Hoa Kỳ, thì QTDND là một định chế tài chính phi lợi nhuận, được làm chủ và kiểm soát bởi các thành viên – đồng thời là những người sử dụng các dịch vụ của QTDND. QTDND phục vụ cho các nhóm người có cùng những đặc tính chung, như có cùng nơi làm việc, cùng nơi cư trú, cùng học một trường hoặc cùng đi lễ ở một nhà thờ. QTDND cũng là nơi an toàn, thuận tiện để các thành viên gửi tiền tiết kiệm, vay vốn và thực hiện các dịch vụ tài chính khác với giá cả hợp lý. Theo Hội đồng Liên minh Tín dụng Thế giới: QTDND là một loại hình trung gian tài chính mang tính tư nhân và hợp tác. Việc gia nhập vào QTDND là rộng mở và tự nguyện. QTDND thuộc quyền sở hữu cúa các thành viên – những người quản lý QTDND một cách dân chù. QTDND hoạt động nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về tài chính cùa mọi thành viên thông qua việc khuyến khích tiết kiệm, cho vay thành viên và thông qua các thể thức hoạt động khác do chính các thành viên quyết định. Để đảm bảo thoả mãn nhu cầu của các thành viên một cách tốt nhất và lâu dài nhất, QTDND quan tâm đến sự ồn định về tài chính.
Tại Việt Nam, theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2010, khái niệm về QTDND được diễn đạt như sau: quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.
1.1.2 Các đặc điểm của quỹ tín dụng nhân dân
Về hình thức sở hữu: đây là một điểm khác biệt so với NHTM, QTDND có nền tảng hợp tác xã, tổ chức và hoạt động của QTDND tuân thủ nguyên tắc hợp tác xã. QTDND thuộc sở hữu tập thể, do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập, dẫn đến sự khác biệt về cách thức quản lý và hình thức ra quyết định. Mọi thành viên vừa là khách hàng, vừa là chủ sở hữu của QTDND. Nói cách khác, QTDND là loại hình tổ chức “của thành viên, do thành viên và vì thành viên”. Các thành viên tham gia QTDND đều bình đẳng như nhau về quyền và nghĩa vụ, không phụ thuộc số lượng vốn góp vào QTDND, thể hiện trong việc tham gia và có quyền quyết định các vấn đề về định hướng, cách thức hoạt động, nhân sự, các đối tượng thụ hưởng và giá cả dịch vụ, việc phân chia lợi nhuận. Thu nhập của QTDND được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên.
Nền tảng hợp tác xã: hình thức hoạt động của QTDND mang tính hợp tác xã, nghĩa là nó liên kết các thành viên (khách hàng – chủ sở hữu); tổ chức và hoạt động của QTDND tuân thủ nguyên tắc HTX, nguyên tắc tự nguyện, tự trợ giúp thông qua hợp tác tương trợ lẫn nhau; nguyên tắc tự quản lý một cách dân chủ, bình đẳng; nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm;
Sứ mệnh và mục đích: sứ mệnh và mục đích của QTDND là tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân muốn gia nhập QTDND được hưởng các dịch vụ tài chính tại chỗ với những điều kiện tốt nhất; thông qua QTDND để hợp tác, tương trợ lẫn nhau có hiệu quả trên nguyên tắc quản lý dân chủ, bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình, đảm bảo đủ bù đắp chi phí hoạt động và có tích lũy để phát triển an toàn và bền vững.
Mục tiêu hoạt động của QTDND
Thông thường, mọi doanh nghiệp thường lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động. Tuy nhiên, QTDND lại hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Điều này được lý giải bởi căn nguyên của sự hình thành QTDND, đó là: QTDND ra đời vì mục tiêu tương trợ giữa các thành viên và góp phần phát triển cộng đồng. Nhưng hoạt động QTDND phải đảm bảo bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển.
Mục tiêu tương trợ thành viên và phát triển cộng đồng là hết sức quan trọng đối với sự tồn tại của QTDND, nếu QTDND sẽ theo đuổi mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận đơn thuần, xa rời mục tiêu thì sẽ có những hậu quả tiêu cực, thậm chí phá sản. Bởi vì, để đạt mục tiêu lợi nhuận cao nhất, QTDND sẽ mạo hiểm hơn trong các khoản đầu tư, bỏ qua các nguyên tắc quản lý dân chủ, bình đẳng và các quy định đảm bảo an toàn hoạt động dẫn đến những rủi ro có thể khiến QTDND đổ vỡ, phá sản. Ngoài ra, khi chạy theo lợi nhuận, QTDND buộc phải dần dần xa rời đối tượng phục vụ truyền thống là các thành viên QTDND bởi vì đây là những đối tượng khách hàng nhỏ lẻ, chi phí cho vay lớn, hiệu quả thấp. Khi xa rời mục tiêu tương trợ thành viên và phát triển cộng đồng, QTDND sẽ không phát huy được những ưu thế của loại hình hợp tác xã nên khó có thể cạnh tranh được với các loại hình TCTD khác để có thể tồn tại.
Vì vậy, có thể nói mục tiêu “tương trợ thành viên và phát triển cộng đồng” là kim chỉ nam, là mục đích tự thân và là động lực thúc đẩy sự phát triển của các QTDND.
1.1.3. Vai trò của quỹ tín dụng nhân dân
Về vai trò kinh tế: với loại hình tổ chức trung gian tài chính, QTDND góp phần khơi thông nguồn vốn tại chỗ, đặc biệt ở khu vực nông thôn, nơi sự hiện diện của các NHTM rất hạn chế. Nhờ đó, mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng để phát triển sản xuất, kinh doanh và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng trong cuộc sống. Thực tế cho thấy, QTDND đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế trên cơ sở phát huy tính tự chủ, tự cường và phát huy nội lực của từng địa phương.
Về vai trò xã hội: cùng với vai trò kinh tế, QTDND có vai trò xã hội hết sức tích cực. Thông qua việc cho vay phát triển sản xuất kinh doanh, QTDND gián tiếp góp phần tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo và hạn chế cho vay nặng lãi ở địa bàn nông thôn; đồng thời tăng cường mối quan hệ liên kết, giáo dục ý thức phát triển cộng đồng và là cầu nối trong việc thực hiện các chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn của Nhà nước.
1.1.4. Hoạt động tín dụng của quỹ tín dụng nhân dân
a. Khái niệm tín dụng của quỹ tín dụng nhân dân
Tín dụng của quỹ tín dụng nhân dân, mà chủ yếu là cho vay là việc QTDND giao hoặc cam kết giao cho thành viên của QTDND một khoản tiền để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
b. Phân loại tín dụng của quỹ tín dụng nhân dân
* Căn cứ vào thời hạn:
Tín dụng ngắn hạn là việc QTDND giao hoặc cam kết giao một khoản tiền đối với thành viên có thời hạn hoàn trả toàn bộ gốc và lãi dưới 12 tháng. Khoản tiền này thường được thành viên sử dụng trong các trường hợp bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh, chăn nuôi, trồng trọt hoặc các trường hợp tiêu dùng có tính cấp bách như khám chữa bệnh, học tập …
Tín dụng trung hạn là việc QTDND giao hoặc cam kết giao một khoản tiền cho thành viên có thời hạn hoàn trả cả gốc và lãi từ 12 tháng đến 60 tháng. Mục đích sử dụng khoản tiền này chủ yếu là đầu tư con giống, trồng cây, đầu tư mua sắm máy móc, xây dựng nhà xưởng, hoặc trường hợp tiêu dùng mua sắm dụng cụ gia đình, phương tiện hoặc sửa và xây mới nhà…
Tín dụng dài hạn là việc QTDND giao hoặc cam kết giao một khoản tiền cho thành viên có thời hạn hoàn trả cả gốc và lãi trên 60 tháng. Khoản tiền này phục vụ chủ yếu cho mục đích đầu tư vào xây dựng cơ bản, đầu tư cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm tài sản cố định, đầu tư dài hạn cho thành viên.
* Căn cứ vào đối tượng tín dụng
Tín dụng vốn lưu động là việc QTDND giao hoặc cam kết giao một khoản tiền đối với thành viên trên nguyên tắc hoàn trả gốc, lãi để hình thành vốn lưu động, phục vụ sản xuất kinh doanh. Các thành viên QTDND là tổ chức, công ty sẽ sử dụng loại tín dụng này.
Ngoài ra, việc sử dụng khoản tiền này để hình thành tài sản cố định: nhà xưởng, phương tiện vận tải, máy móc … là tín dụng vốn cố định.
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa là việc cấp tín dụng cho các thành viên để bổ sung vốn lưu động hoặc đầu tư mở rộng sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa. Người sử dụng loại hình này thường là các thành viên là tổ chức, doanh nghiệp.
Tín dụng tiêu dùng là việc cấp tín dụng cho thành viên để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm, xây dựng nhà cửa, xe cộ. Thành viên sử dụng loại hình này thường là các cá nhân.
* Căn cứ vào hình thức bảo đảm
Cho vay có tài sản bảo đảm là việc cấp tín dụng đối với thành viên có biện pháp bảo đảm cho khả năng trả nợ, thông thường là thế chấp hoặc cầm cố tài sản. Tài sản sử dụng bảo đảm có thể là của chính người vay, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc tài sản của bên thứ ba.
Cho vay không có tài sản bảo đảm là việc cấp tín dụng đối với thành viên mà thành viên không sử dụng tài sản để bảo đảm cho khả năng trả nợ. Lưu ý ở đây, việc không sử dụng tài sản để bảo đảm cho khả năng trả nợ không có nghĩa là không có biện pháp bảo đảm, mà có thể là sử dụng biện pháp bảo đảm khác không có tính chất tài sản chẳng hạn như biện pháp bảo lãnh bởi các tổ chức có uy tín như chính quyền địa phương hoặc các hội đoàn thể. Loại hình cho vay này chủ yếu áp dụng đối với các thành viên có uy tín, thường là thành viên có tài chính vững mạnh, thu nhập ổn định.
c. Đặc điểm hoạt động tín dụng của quỹ tín dụng nhân dân
Thứ nhất, đối tượng vay là thành viên của QTDND. Đặc điểm hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân chủ yếu nhằm mục đích tương trợ giữa các thành viên để thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống của các thành viên quỹ tín dụng nhân dân. Nên các đối tượng sử dụng vốn đầu tiên là thành viên của quỹ. Ngoài ra, khi điều kiện cho phép (về mặt pháp lý từng quốc gia và về mặt kinh tế như khi thừa vốn), QTDND có thể cho vay đối với doanh nghiệp, cá nhân không phải là thành viên. Đặc biệt, để thực hiện tốt chức năng đảm bảo khả năng thanh khoản cho hệ thống, QTDND đầu mối thực hiện quy trình tín dụng đơn giản và không cần tài sản đảm bảo khi cho vay đối với các QTDND thành viên. Bên cạnh đó, để tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu cúa khách hàng, QTDND đầu mối có thể thực hiện cho vay đồng tài trợ cùng với QTDND cơ sở, nhất là đối với những món cho vay lớn hoặc những dự án nằm ngoài khả năng thẩm định của QTDND thành viên.
Thứ hai, quy mô món vay nhỏ. Do đặc điểm giới hạn về quy mô vốn và địa bàn hoạt động. Hơn nữa, nhu cầu vốn trên địa bàn nông thôn thông thường cũng không lớn, chủ yếu phục vụ nhu cầu đời sống, sản xuất nhỏ lẻ tại địa phương.
Thứ ba, một đặc điểm ưu việt của QTDND là nhờ có sự am hiểu tường tận về khách hàng (vì khách hàng đồng thời là thành viên – chủ sở hữu) nên quy trình, thủ tục và điều kiện cho vay của QTDND thường đơn giản; thời gian xử lý hồ sơ xin vay vốn nhanh hơn nhiều so với các NHTM. Đây cũng chính là một trong những lợi thế cúa các QTDND trong cạnh tranh với các NHTM.
Thứ tư, sự giới hạn về địa lý hoạt động của QTDND, thông thường sẽ là một vùng, một địa phương. Theo đó, QTDND sẽ am hiểu tình hình kinh tế, cơ cấu ngành nghề địa phương. Ngoài ra việc kiểm tra, giám sát khoản vay cũng sẽ tiện lợi và sâu sát hơn NHTM.
d. Vai trò hoạt động tín dụng của quỹ tín dụng nhân dân
Đối với khách hàng: thông qua hoạt động tín dụng, QTDND hỗ trợ nguồn vốn để các thành viên mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh dịch vụ, từ đó cải thiện đời sống của các thành viên quỹ tín dụng nhân dân.
Đối với QTDND: Cho vay là hoạt động chủ yếu của QTDND, góp phần nâng cao thu nhập, hiệu quả hoạt động của QTDND. Góp phần giúp QTDND tích lũy vốn phát triển hoạt động. Qua đó, giúp QTDND đạt được các mục tiêu tương trợ thành viên, phát triển kinh tế địa phương.
1.2. CÔNG TÁC THANH TRA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.2.1. Khái niệm ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia, nhóm quốc gia, vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ, là người cho vay cuối cùng, đảm bảo an toàn, tránh nguy cơ đổ vỡ của cả hệ thống ngân hàng. Mặc dù vậy, hoạt động kinh doanh của NHTW cũng nhằm mục tiêu quản lý chứ không vì mục đích lợi nhuận. NHTW là ngân hàng duy nhất được phép phát hành tiền của mỗi quốc gia, là một định chế công cộng chịu trách nhiệm trong việc quản lý và điều tiết các vấn đề liên quan đến tiền tệ, nhằm phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng.
Tùy thuộc vào đặc điểm ra đời của NHTW, thể chế chính trị, nhu cầu của nền kinh tế cũng như truyền thống văn hóa của từng quốc gia mà NHTW có thể được tổ chức theo mô hình trực thuộc hay độc lập với Chính phủ.
NHTW có các hoạt động chủ yếu như sau:
Thứ nhất, hoạt động phát hành tiền: NHTW độc quyền phát hành tiền, đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia. Đồng tiền do NHTW phát hành là đồng tiền pháp định, tính chất cưỡng chế lưu hành. NHTW phát hành tiền vào lưu thông qua bốn kênh: cho vay đối với nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM, cho vay đối với chính phủ, phát hành qua thị trường mở, phát hành tiền để tăng dự trữ ngoại tệ.
Thứ hai, hoạt động ngân hàng của các ngân hàng: NHTW không trực tiếp giao dịch với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, mà chỉ giao dịch với các tổ chức tín dụng, bao gồm các hoạt động sau: Trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ, quản lý hoạt động dự trữ bắt buộc, cho vay cuối cùng của hệ thống ngân hàng trung gian
Thứ ba, cung cấp dịch vụ ngân hàng cho chính phủ: Là một định chế tài chính công cộng, NHTW được xác định ngay từ thời khai sinh là ngân hàng của chính phủ. Các giao dịch tiền tệ của chính phủ trong và ngoài nước thường phải thông qua NHTW.
Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính hệ thống tài chính quốc gia: NHTW chịu trách nhiệm chính trong việc củng cố, nghiên cứu để phát triển, giám sát các hoạt động của Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính trong nước nhằm luôn đảm bảo được rằng toàn bộ hoạt động tiền tệ, ngân hàng đã và đang diễn ra theo quy trình, hợp luật lệ trong chiều hướng phục vụ tốt nhất cho các mục tiêu kinh tế của đất nước.
1.2.2. Công tác thanh tra hoạt động tín dụng của quỹ tín dụng nhân dân của ngân hàng trung ương
a. Khái niệm công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND của NHTW
Thanh tra hoạt động tín dụng của các quỹ tín dụng nhân dân của ngân hàng trung ương là hoạt động kiểm tra, xem xét của ngân hàng trung ương đối với hoạt động tín dụng của các QTDND trong việc thi hành chính sách, pháp luật về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các QTDND nói riêng và toàn bộ hệ thống TCTD nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, phục vụ thực thi chính sách tiền tệ quốc gia của ngân hàng trung ương.
Trong Từ điển Tiếng Việt, “thanh tra” được hiểu là “Kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Tại Điều 6 của Luật NHNN năm 2010 định nghĩa: “TTNH là hoạt động thanh tra của NHNN đối với các đối tượng TTNH trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng”. Như vậy có thể nói, thanh tra ngân hàng là việc xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét và rút ra những kết luận cần thiết nhằm phát huy những nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý những vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế Nhà nước, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và công dân, bảo vệ lợi ích quốc gia trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
b. Mục đích công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND của NHTW
Thanh tra hoạt động tín dụng của quỹ tín dụng nhân dân có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhằm vào các mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất, góp phần bảo đảm an toàn của chính QTDND được thanh tra và hệ thống QTDND.
Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu của QTDND. Để đảm bảo an toàn hoạt động, nhà nước có các quy định pháp luật đối với hoạt động này. Hoạt động thanh tra đảm bảo cho QTDND thực thi và chấp hành các quy định đó. Qua đó, đảm bảo an toàn hoạt động cho QTDND và toàn bộ hệ thống QTDND.
Thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và thành viên của QTDND.
Do tính chất tự nguyện, tương trợ giữa các thành viên, các thành viên của QTDND sẽ góp vốn, gửi tiền để cho các thành viên khác vay. Để đảm bảo nguồn tài chính nhằm trả gốc là lãi tiền gửi cho người gửi tiền, thì hoạt động động cho vay, một hoạt động chủ yếu của QTDND phải luôn đảm bảo an toàn. Như vậy, thông qua việc đảm bảo cho hoạt động tín dụng an toàn, thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND sẽ góp phần bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, trong đó là đa số thành viên của QTDND.
Thứ ba, phục vụ việc thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
Các chính sách tiền tệ của quốc gia, được NHTW đảm bảo việc thực thi bằng hệ thống các quy định và pháp luật liên quan. Việc chấp hành các quy định đó sẽ giúp cho chính sách phát huy được hiệu quả. Trong khi đó, thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND là hoạt động kiểm tra, xem xét hoạt động tín dụng của QTDND trong việc thi hành chính sách, pháp luật về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng. Do đó, công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND sẽ góp phần cho việc thực thi chính sách tiền tệ của quốc gia.
c. Đối tượng công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND của NHTW
Thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND có đối tượng thanh tra là chính bản thân pháp nhân QTDND và các cá nhân, tổ chức liên quan đến hoạt động tín dụng của QTDND trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng thuộc phạm vi quản lý của NHTW.
Để thực hiện hoạt động tín dụng của QTDND, gồm nhiều cá nhân tham gia vào hoạt động này. Mỗi cá nhân đều có trách nhiệm trong hoạt động tín dụng của QTDND. Do đó, đối tượng chịu sự kiểm tra, giám sát ngoài QTDND, còn có các cá nhân, tổ chức liên quan khác đến hoạt động tín dụng: từ người đi vay, các cán bộ tín dụng, kiểm soát khoản vay, người phê duyệt khoản vay…
d. Nội dung công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND của NHTW
Thanh tra NHTW thành lập các đoàn thanh tra tới trực tiếp tại QTDND để tiến hành thanh tra, kiểm tra hoạt động tín dụng tại QTDND, trên cơ sở xem xét, kiểm tra các hồ sơ, tài liệu, chứng từ gốc liên quan đến hoạt động tín dụng, do đối tượng thanh tra ghi chép và từ các nguồn thông tin khác nhằm xác định tính trung thực của vấn đề, từ đó đánh giá về từng mặt hoặc toàn bộ hoạt động tín dụng của QTDND tại thời điểm thanh tra.
Nội dung công tác tra hoạt động tín dụng của quỹ tín dụng nhân dân của ngân hàng trung ương được thể hiện tại các hoạt động: kiểm tra, xét hoạt động tín dụng của QTDND trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, việc thực hiện các quy định trong giấy phép hoạt động ngân hàng; phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm trong hoạt động tín dụng của QTDND theo thẩm quyền của NHTW; kiến nghị với lãnh đạo NHTW và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện các quy chế, quy định hoạt động tín dụng của QTDND.
Thứ nhất, về kiểm tra, xem xét hoạt động tín dụng của QTDND trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, việc thực hiện các quy định trong giấy phép hoạt động ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của QTDND bao gồm nhiều hoạt động từ khi thẩm định, phê duyệt khoản vay, việc kiểm tra, giám khoản vay đến việc quản lý chất lượng khoản vay. Hầu hết các hoạt động này đều được NHTW quy định cứng ở nguyên tắc, hoặc văn bản pháp luật. Do vậy việc kiểm tra, xem xét sẽ tiến hành rà soát các khâu của hoạt động tín dụng đối với các nguyên tắc, quy định. Tuy nhiên, với lượng khách hàng và dư nợ lớn, đoàn thanh tra lại tổ chức trong một thời gian nên khó có thể làm toàn bộ dư nợ và khách hàng của QTDND. Thông thường NHTW sẽ tiến hành chọn mẫu để tiến hành kiểm tra, xem xét. Các khách hàng được lựa chọn thường là các khách hàng có dư nợ lớn, nợ xấu, khách hàng có liên quan đến người quản lý, điều hành, khách hàng điều chỉnh, gia hạn nợ, khách hàng vay vốn các mục đích rủi ro cao …. Các nội dung được kiểm tra xem xét gồm:
Kiểm tra, xem xét chính sách quy định nội bộ của QTDND về hoạt động tín dụng. Qua các chính sách, quy định nội bộ và văn bản hướng dẫn nghiệp vụ liên quan hoạt động tín dụng do QTDND cung cấp, Đoàn thanh tra sẽ phân tích đánh giá mức độ đầy đủ, phù hợp của các văn bản đó theo quy định của Nhà nước, của NHTW đảm bảo các nội dung tối thiểu như: Quy định cụ thể việc cho vay đối với thành viên là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân, hộ nghèo không phải là thành viên gồm quy trình thẩm định, đánh giá nhu cầu, mục đích vay vốn, tính khả thi dự án, quy trình xét duyệt cho vay, giải ngân, kiểm soát khoản vay, quy định về tài sản bảo đảm, lãi suất cho vay, mức cho vay; Quy định về bảo đảm tiền vay; Quy định về gia hạn nợ; Quy định về việc cho vay hợp vốn.
Xem xét năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của khách hàng, để đảm bảo khách hàng đủ điều kiện ký kết hợp đồng vay vốn với QTDND.
Xem xét các tài liệu xác định tư cách thành viên và điều kiện trở thành thành viên của khách hàng như Sổ góp vốn, thẻ thành viên, sổ theo dõi góp vốn.
Xem xét việc phân tích tài chính, đánh giá khả năng tài chính, phương án sản xuất kinh doanh, phân tích khả năng trả nợ của khách hàng. Đối với các cá nhân: đánh giá phân tích các tài liệu chứng minh vốn tự có khách hàng tham gia kinh doanh, các tài liệu liên quan hoạt động kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động như sổ bán hàng, sổ thu chi … Đối với pháp nhân: phân tích tình hình sản xuất kinh doanh thông qua số liệu báo cáo tài chính (xem xét sự tăng trưởng, cơ cấu tài sản, nguồn vốn, khả năng thanh toán, hệ số nợ, các hệ số phản ánh hiệu quả hoạt động …). Qua phân tích về quy mô kinh doanh, mức độ tăng trưởng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của tổ chức có hợp lý, đúng kế hoạch, phương án hay không. Phân tích sự cân đối nguồn vốn với sử dụng vốn liên quan đến dư nợ cho vay. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ số về lợi nhuận, thu nhập, trích nộp ngân sách, thu nhập người lao động … Từ việc đánh giá sự lành mạnh về tài chính và khả năng thanh toán của khách hàng vay, kết hợp với tình hình trả nợ gốc, lãi của khách hàng để tiến hành xác định mức độ rủi ro của khách hàng đó.
Xem xét thủ tục và phân quyền phê duyệt tín dụng thủ QTDND, đối với các khoản tín dụng của Hội đồng tín dụng, Giám đốc và Trưởng phòng Giao dịch theo các mức tín dụng khác nhau.
Xem xét việc lập hợp đồng tín dụng: số tiền, kỳ hạn, mục đích cho vay, các điều kiện kèm theo. Đảm bảo tình hình tài chính và phương án của khách hàng phù hợp với mục đích vay vốn, kỳ hạn trả nợ, tránh rủi ro về thanh khoản (gia hạn và quá hạn nợ). Ngoài ra, xem xét thẩm quyền ký hợp đồng của các bên liên quan.
Căn cứ vào các chứng từ chứng minh sử dụng vốn của khách hàng để giải ngân (hóa đơn, chứng từ, hợp đồng và tiến độ hoàn thành dự án … ) xem xét việc giải ngân cho vay, các thủ tục khi rút vốn có đúng thẩm quyền, tính đầy đủ, chính xác của việc hạch toán khoản vay của QTDND.
Kiểm tra QTDND có thực hiện kiểm tra, giám sát khoản vay hay không?
Kiểm tra hợp đồng thế chấp, cầm cố về mặt hình thức, giá trị tài sản, tính pháp lý, đăng ký giao dịch bảo đảm, bảo hiểm tài sản đối với các động sản như xe, máy …
Kiểm tra việc các loại phí trong cho vay, nhằm đảm bảo QTDND thu đúng các loại phí được quy định, tránh việc nâng lãi suất thông qua phí.
Sau khi kiểm tra từng khách hàng, xác định lại khả năng trả nợ của từng khách hàng hàng, từ đó xác định tính chính xác của số liệu phân loại nợ, để xác định tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của QTDND, xác định số liệu dự phòng phải trích lập so với số đã trích để xác định QTDND có trích đủ hay thừa, thiếu.
Ngoài ra, thực hiện kiểm tra các khoản cấp tín dụng đã xử lý rủi ro tín dụng về các hồ sơ đôn đốc thu hồi khoản nợ của QTDND, trình tự xử lý rủi ro tín dụng.
Sau khi thực hiện kiểm tra trên hồ sơ, thành viên đoàn thanh tra sẽ thực hiện chọn mẫu một số khách hàng có nghi ngờ để thực hiện đối chiếu thực tế. Các nội dung thường được xem xét khi đi đối chiếu thực tế tại khách hàng gồm: đối chiếu về thông tin người vay vốn, so sánh số tiền khách hàng thực nhận, thực trả so với số liệu theo dõi tại QTDND, đối chiếu việc sử dụng vốn của khách hàng có đúng mục đích trong thỏa thuận vay vốn. Xem xét tình hình tài sản thế chấp, tuy nhiên việc kiểm tra tài sản chỉ mang tính hình thức, ước đoán. Chưa phối hợp với địa chính xã để xác định đúng tài sản đó là của chủ sở hữu, hay các thông tin khác.
Thứ hai, phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm trong hoạt động tín dụng của QTDND thuộc thẩm quyền của NHTW.
Sau khi thực hiện kiểm tra, xem xét các nội dung trong hoạt động tín dụng của các QTDND và thực hiện đối chiếu với các quy định, nếu có những sai phạm thì NHTW cần có các biện pháp ngăn chặn kịp thời chẳng hạn: buộc chấm dứt hoạt động có vi phạm tạm thời, buộc nhân viên, nhà quản lý QTDND thôi giữ chức vụ, công việc để ngăn chặn kịp thời vi phạm đó, tránh các hậu quả nghiêm trọng xảy ra.
Ngoài ra, để đảm bảo tín răn đe, và thực thi của các nguyên tắc đó thì NHTW cũng có các biện pháp xử lý các cá nhân và QTDND vi phạm. Đối với các khoản cấp tín dụng thì buộc nâng mức rủi ro khoản vay lên mức độ rủi ro cao hơn, tăng khoản trích lập dự phòng, hoặc tăng các biện pháp bảo đảm cho khoản vay hoặc bắt buộc thu hồi khoản nợ trước hạn, thực hiện các biện pháp khởi kiện, bán tài sản để thu hồi khoản nợ …Đối với người quản lý, cán bộ làm việc tại QTDND thì có các biện pháp nhắc nhở, kỷ luật, thôi giữ chức vụ, chuyển công tác, hoặc có biện pháp xử phạt bằng tiền. Ngoài ra, đối với các QTDND, NHTW có thể xem xét việc hạn chế việc mở rộng phạm vi, quy mô và địa bản hoạt động, thu hồi giấy phép toàn bộ hoặc một số hoạt động tín dụng liên quan, quyết định giới hạn tăng trưởng tín dụng, hoặc áp dụng một số tỷ lệ an toàn cao hơn quy định. Ngoài các biện pháp kinh tế, biện pháp hạn chế kinh doanh, một số NHTW còn có các biện pháp theo pháp luật từng nước như: bồi thường thiệt hại dân sự, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhằm mục đích, đảm bảo các quy định, quy chế được thực hiện và sự công bằng trong hoạt động kinh doanh của các QTDND nói riêng và hệ thống TCTD nói chung, đảm bảo hoạt động tín dụng được an toàn và bền vững.
Thứ ba, kiến nghị với Lãnh đạo Ngân hàng Trung ương và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc, quy định trong hoạt động tín dụng của QTDND.
Sau khi thực hiện các biện pháp kiểm tra, xử lý các vi phạm các quy định trong hoạt động tín dụng của NHTW, nếu có những bất cập thì cơ quan thanh tra sẽ đưa ra những kiến nghị tới Lãnh đạo hoặc các cơ quan liên quan khác các biện pháp để đảm bảo cho các quy định được thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo hoạt động các QTDND luôn phát triển an toàn và bền vững.
e. Trình tự thủ tục tiến hành công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND của NHTW
Trình tự thủ tục tiến hành công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND gồm các giai đoạn thanh tra tại chỗ gồm ba bước: khảo sát, thu thập thông tin; thành lập đoàn và tiến hành xem xét, kiểm tra và cuối cùng là đưa ra các kiến nghị xử lý. Cụ thể:
Bước đầu tiên là khảo sát, thu thập thông tin chung về QTDND, về hoạt động tín dụng của QTDND như: về cơ cấu dư nợ, tỷ lệ nợ xấu, nợ nghi ngờ, việc tự kiểm tra, kiểm soát của QTDND, việc thực hiện các kiến nghị về hoạt động thanh tra trước đây, việc cho vay đối với các đối tượng quản trị điều hành và người liên quan tại QTDND.
Sau khi khảo sát, cơ quan thanh tra tiến hành thành lập đoàn thanh tra. Đoàn thanh tra tiến hành chuẩn bị kế hoạch thanh tra theo từng nội dung, chẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến hành thanh tra.
Bước tiếp theo là tiến hành các thủ tục xem xét, kiểm tra đối với hoạt động tín dụng của QTDND. Bước này thường được thực hiện tại QTDND. Cụ thể như: thủ tục mượn tài liệu, đối chiếu hồ sơ, tài liệu đối với các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động cho vay, tiến hành xác minh làm rõ số liệu, nghiệp vụ, hoặc gặp gỡ trực tiếp đối với khách hàng, hoặc tiến hành chất vấn các cán bộ liên quan. Nhằm mục đích xác minh rõ sự việc, có cơ sở để đưa ra các biện pháp xử lý về sau. Ngoài ra, nếu trong quá trình thanh tra hoạt động tín dụng, đoàn thanh tra phát hiện các sai phạm cần ngăn chặn và xử lý vi phạm, thì sẽ thực hiện ngay tại bước này.
Bước cuối cùng là thành viên đoàn thanh tra sẽ tiến hành báo cáo kết quả thanh tra trên cơ sở các kết quả xem xét, kiểm tra ở bước trước, trưởng đoàn tiến hành báo cáo kết quả thanh tra của đoàn thanh tra. Từ đó, NHTW sẽ đưa ra các kiến nghị, biện pháp xử lý tới QTDND và các tổ chức, cá nhân liên quan. Đảm bảo các nguyên tắc, quy định trong hoạt động tín dụng được thực thi và an toàn hoạt động trong lĩnh vực tín dụng nói riêng và lĩnh vực ngân hàng nói chung.
Sau khi, thực hiện đưa ra các kiến nghị, biện pháp xử lý của hoạt động thanh tra tại chỗ. NHTW sẽ theo dõi, giám sát việc thực hiện các kiến nghị thanh tra, việc thực thi các biện pháp xử lý của QTDND và các tổ chức, cá nhân liên quan. Nhằm đảm bảo, các biện pháp xử lý được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo an toàn hoạt động tín dụng của QTDND.
Ngoài ra đối với một số mô hình thanh tra trên cơ sở rủi ro, trước khi thực hiện ba bước cho cuộc thanh tra tại chỗ, NHTW còn có bước giám sát, nắm bắt tình hình thường xuyên đối với QTDND, thực hiện các phân tích đánh giá rủi ro mới thực hiện các biện pháp thanh tra tại chỗ. Đây có thể coi là bước đánh giá rủi ro, hiểu rõ QTND trước khi ra quyết định thanh tra tại QTDND. Bước này khác với bước khảo sát, thu thập thông tin chung. Bước khảo sát, thu thập có tính chất tại một khoảng thời gian trước thanh tra, trong khi bước nắm bắt tình hình là thường xuyên, liên tục và trên giác độ là đánh giá rủi ro, thể hiện vai trò giám sát hệ thống QTND và TCTD nói chung của NHTW.
Và sau khi thanh tra, đối với mô hình trên cơ sở rủi ro, NHTW sẽ tiếp tục các phân tích đánh giá rủi ro thường xuyên, để đánh giá mức độ rủi ro QTND chứ không chỉ là giám sát việc thực thi các kiến nghị của đoàn thanh tra tại chỗ.
1.3. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.3.1. Tiêu chí đánh giá trực tiếp
Các chỉ tiêu này đánh giá công tác triển khai, kết quả trực tiếp của thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND. Cụ thể:
– Tính chính xác trong việc đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của QTDND tại thời điểm thanh tra
Độ chính xác, đầy đủ trong nhận định, đánh giá và chỉ ra các rủi ro, tồn tại, sai phạm trong hoạt động tín dụng của QTDND được thanh tra là rất quan trọng. Hoạt động thanh tra nhằm đảm bảo những QTDND có vấn đề có những vấn đề nảy sinh cần được thanh tra kịp thời. Chất lượng của công tác thanh tra được thể hiện ở kết quả thanh tra, với việc chỉ ra một cách chính xác các yếu kém trong hoạt động tín dụng của QTDND, có những kiến nghị và yêu cầu cụ thể để QTDND khắc phục và điều chỉnh. Có như vậy thanh tra mới đưa ra được những kết luận chính xác đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của các QTDND tại thời điểm thanh tra giúp cho hoạt động tín dụng của QTDND được an toàn, hiệu quả.
– Số lượng những sai phạm trọng yếu của QTDND hoặc những vấn đề cần khắc phục, bổ sung, chỉnh sửa được thanh tra phát hiện.
Tiêu chí này được thể hiện qua số lượng và chất lượng của các kiến nghị, xử lý mà thanh tra đã phát hiện trong hoạt động tín dụng của QTDND. Nếu các sai phạm được thanh tra phát hiện chỉ mang tính chất đơn lẻ, mức độ chưa nghiêm trọng thì việc xử lý vi phạm sẽ chỉ đơn thuần khắc phục, bổ sung, chỉnh sửa trong phạm vi vụ việc đó, nó có thể chưa gây tác động đến hoạt động của QTDND. Tuy nhiên, khi các sai phạm mang tính hệ thống, nhất là các vi phạm quy chế an toàn về vốn, về giới hạn tín dụng… vi phạm với tần suất lớn, mang tính trọng yếu, liên quan đến hoạt động của QTDND, ảnh hưởng tới rủi ro hoạt động của chính QTDND đó và có nguy cơ gây mất an toàn hệ thống, những sai phạm trọng yếu này, khi được thanh tra phát hiện thì đòi hỏi thanh tra phải kết luận chính xác, phản ánh đúng thực chất tình trạng vi phạm. Đây cũng là một cảnh báo, giúp phòng ngừa và hạn chế những sai phạm trong hoạt động của các QTDND khác.
– Kết quả khắc phục các tồn tại, sai phạm trong hoạt động tín dụng của QTDND từ những kiến nghị do thanh tra ngân hàng đưa ra.
Tiêu chí này thể hiện số lượng các kiến nghị sau thanh tra được các QTDND nghiêm túc thực hiện trong thời gian quy định. Sự đảm bảo tính khả thi của kiến nghị, hay nói cách khác những kiến nghị xử lý của thanh tra nhằm khắc phục những tồn tại, sai phạm trong hoạt động tín dụng của QTDND được tiếp thu, thực hiện một cách triệt để, nghiêm túc sẽ giúp cho hoạt động của các QTDND hạn chế bớt rủi ro, đồng thời hoạt động thanh tra ngân hàng mới đảm bảo mục tiêu là góp phần đảm bảo cho hoạt động của các QTDND an toàn và hiệu quả đúng theo quy định của luật pháp về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
– Những đề xuất, kiến nghị của thanh tra ngân hàng với các cơ quan có thẩm quyền về cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
Tiêu chí này là bước đảm bảo làm tăng tính hoàn thiện cho hoạt động thanh tra của NHTW đối với các QTDND khi thanh phát hiện những bất cập, thiếu thực tiễn về cơ chế, chính sách cùng với các kết quả và nhận định trong quá trình thanh tra sẽ là cơ sở và tiền đề để NHTW và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có những sự thay đổi thích hợp đối với cơ sở pháp lý cũng như các yêu cầu bắt buộc đối với QTDND. Có như vậy, hoạt động của các QTDND được đảm bảo là luôn có những điều chỉnh thích nghi với những điều kiện mới, với những biến động của nền kinh tế. Từ đó, mục tiêu về hoạt động thanh tra của NHTW đối với các QTDND là đảm bảo hoạt động của hệ thống QTDND an toàn và hiệu quả ngày càng được cải thiện.
1.3.2. Tiêu chí đánh giá gián tiếp
Hoạt động thanh tra nhằm đảm bảo an toàn hoạt động, sự phát triển của hệ thống QTDND. Như vậy, việc thanh tra có hiệu quả hay không, thì chúng ta có thể đánh giá thông qua các kết quả hoạt động của QTDND, như:
– Kết quả tăng trưởng quy mô tín dụng của các QTDND thuộc đối tượng thanh tra hoặc theo yêu cầu quản lý của NHTW.
Đánh giá tốc độ tăng trưởng quy mô tín dụng của các QTDND thông qua các tiêu chí: Kết quả tăng trưởng có phù hợp với quy định của NHTW về định hướng tăng trưởng trong từng thời kỳ; mức độ tập trung cho vay theo nhóm khách hàng, ngành, lĩnh vực… Cơ cấu tín dụng và mức độ tập trung tín dụng.
– Mức giảm rủi ro tín dụng thông qua các chỉ tiêu: Tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2-5; Tỷ lệ nợ xấu; Cơ cấu dư nợ theo nhóm nợ.
Đây là một tiêu chí chủ yếu đánh giá chất lượng tín dụng, nếu tiêu chí này có xu hướng tăng cho thấy chất lượng tín dụng có chiều hướng xấu đi. Thanh tra ngân hàng cần phải tập trung vào việc xem xét các yếu tố nào làm chất lượng dư nợ giảm, phân tích nguyên nhân của việc tăng tỷ lệ nợ xấu, nợ xấu là nợ mới phát sinh hay nợ tồn đọng. Từ đó đưa ra những khuyến cáo kịp thời và yêu cầu các QTDND có biện pháp trong việc thu hồi nợ giúp nâng cao chất lượng tín dụng.
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC THANH TRA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.4.1. Nhân tố bên ngoài
Thứ nhất, khung pháp lý đối với hoạt động thanh tra ngân hàng. Nhân tố này được hiểu là các quy định của pháp luật đối với hoạt động tiền tệ và ngân hàng, quy định của pháp luật về thanh tra của NHTW đối với các QTDND đảm bảo rõ ràng và chặt chẽ, phù hợp với tình hình mỗi quốc gia và thông lệ quốc tế.
Thứ hai là cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan trong hoạt động thanh tra ngân hàng. Sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau sẽ giúp thông tin cụ thể rõ ràng, đa chiều về đối tượng thanh tra, đồng thời nâng cao hiệu quả xử lý, giám sát xử lý đối với đối tượng thanh tra.
Thứ ba là nhận thức của QTDND về lợi ích của hoạt động thanh tra ngân hàng. Hoạt động thanh tra của NHTW đối với QTDND sẽ có kết quả tốt khi có sự phối hợp hoạt động tích cực của cả hai phía: cơ quan thanh tra và đối tượng được thanh tra. QTDND cần thấy lợi ích và tác dụng của hoạt động thanh tra là cơ sở để giúp cho QTDND đánh giá được thực trạng hoạt động của mình, là căn cứ để điều chỉnh và xây dựng các hoạt động quản trị rủi ro cho QTDND, đảm bảo an toàn, hiệu quả trong các hoạt động của QTDND.
Thứ tư là công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại các QTDND. Mục tiêu của kiểm soát nội bộ và mục tiêu của hoạt động thanh tra ngân hàng có những điểm chung, đó là phòng ngừa, phát hiện và giảm thiểu rủi ro cho các QTDND. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất là kiểm soát nội bộ của các QTDND chỉ phục vụ cho lợi ích của các QTDND đó, trong khi hoạt động thanh tra ngân hàng lại quan tâm tới lợi ích của hệ thống QTDND và trên hết là của nền kinh tế. Chính vì vậy, trong quá trình thanh tra, NHTW nên chú ý đặc biệt đến hoạt động kiểm soát nội bộ cũng như sử dụng hoạt động này như một kênh thông tin quan trọng hỗ trợ cho hoạt động thanh tra ngân hàng. Một mặt, NHTW đưa ra yêu cầu tối thiểu mà kiểm soát nội bộ phải đáp ứng, mặt khác tạo ra động lực khuyến khích các QTDND hướng tới việc áp dụng những chuẩn mực cao hơn trong hoạt động kiểm soát. Qua đó, NHTW sử dụng kiểm soát nội bộ như một căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ rủi ro và năng lực quản trị rủi ro của QTDND, đồng thời là căn cứ để tiến hành phân bổ nguồn lực thanh tra một cách hiệu quả và tiết kiệm hơn.
Thứ năm là hệ thống quản lý thông tin của QTDND. Thông tin do QTDND cung cấp đòi hỏi phải đầy đủ, kịp thời và chính xác vì đây là cơ sở để giúp cho NHTW có những đánh giá ban đầu đúng đắn về hoạt động của QTDND. Sự che dấu thông tin, làm sai lệch nguồn tin sẽ dẫn đến nguy cơ mất an toàn và thiếu lành mạnh, tiếp đến là những đổ vỡ của QTDND, gây ra những ảnh hưởng đến uy tín của chính bản thân QTDND và hoạt động của toàn hệ thống. Do đó, hệ thống thông tin quản lý của QTDND cần được đầu tư và phát triển, vừa đảm bảo yêu cầu quản lý của chính bản thân các QTDND, đồng thời đáp ứng những yêu cầu thông tin của NHTW.
1.4.2. Nhân tố bên trong
Thứ nhất là việc lựa chọn phương pháp thanh tra phù hợp. Việc lựa chọn phương pháp thanh tra phù hợp với mức độ phát triển của hệ thống QTDND, cũng như trình độ và khả năng của NHTW sẽ là nhân tố tích cực nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra của NHTW đối với QTDND. Đối với các nước có hệ thống tài chính đã ổn định, phát triển ở một mức đáng kể thì thường có sự kết hợp giữa thanh tra tuân thủ với thanh tra trên cơ sở đánh giá rủi ro. Còn đối với những nước mà hệ thống QTDND mới đang phát triển ở giai đoạn đầu như Việt Nam (số lượng QTDND chưa nhiều, các dịch vụ gia tăng ở mức hạn chế) thì thường sử dụng phương pháp CAMELS. Do đó, có thể tiến hành phân tích đánh giá định kỳ cho từng QTDND thông qua báo cáo đánh giá xếp hạng CAMELS. Do vậy, sự hoàn thiện của hoạt động thanh tra đối với các QTDND còn chịu ảnh hưởng của việc lựa chọn phương pháp thanh tra phù hợp.
Thứ hai là sự chuẩn hóa nội dung thanh tra QTDND. Nội dung thanh tra các mảng hoạt động của QTDND được thể hiện trên nhiều khía cạnh như: hoạt động đảm bảo an toàn vốn, hoạt động tín dụng, hoạt động huy động, hoạt động đảm bảo thanh khoản… Chính vì hoạt động thanh tra đối với QTDND bao gồm rất nhiều nội dung cho nên việc đảm bảo sự thống nhất của nội dung thanh tra cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động TTNH.
Thứ ba là nguồn nhân lực. Hoạt động thanh tra của NHTW là hoạt động đa dạng, dàn trải trên nhiều lĩnh vực hoạt động của QTDND. Bên cạnh đó, hoạt động TTNH không phải là hoạt động riêng lẻ mà là sự phối hợp của các thành viên thanh tra. Do vậy, mỗi thành viên phải có kiến thức sâu rộng trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, vừa có chuyên môn sâu trong một lĩnh vực cụ thể được phân công, có khả năng phân tích, đánh giá, dự đoán xu hướng… Ngoài ra, một yếu tố quan trọng là trách nhiệm và công tâm trong công việc của người làm công tác thanh tra. Chính vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan thanh tra của NHTW là vô cùng cần thiết và là nhân tố quyết định nhằm hoàn thiện hoạt động TTNH.
Thứ tư là cơ sở vật chất kỹ thuật. Ngày nay, xu thế hiện đại hóa công nghệ trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động thanh tra là phải chủ động nắm bắt kịp sự thay đổi đó, từ đó nhằm hỗ trợ đắc lực cho hoạt động TTNH được diễn ra thuận lợi với thông tin được cập nhật một cách đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các QTDND của NHTW có vai trò quan trọng, góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của QTDND; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và thành viên của QTDND; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống QTDND và TCTD; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Để có cơ sở phân tích và đưa ra các giải pháp cho NHNNVN – CN Quảng Bình, tác giả đã trình bày ở Chương I những cơ sở lý luận về thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND của NHTW, trình bày các quy định về quy trình thanh tra tín dụng của QTDND, các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND. Từ đó, tác giả có cơ sở để so sánh, phân tích và đánh giá thực trạng công tác thanh tra hoạt động tín dụng của QTDND tại NHNNVN – CN Quảng Bình tại Chương II.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
CHI NHÁNH TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1.1. Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình
a. Cơ cấu tổ chức bộ máy
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình được thành lập theo Quyết định số 85/NH-QĐ ngày 19/6/1989, với số lượng cán bộ nhân viên 95 người, kể cả 46 cán bộ nhân viên của 5 phòng đại diện Ngân hàng Nhà nước. Từ đó đến nay, cơ cấu tổ chức được hoàn thiện theo quy định của Luật NHNN Việt Nam và các Nghị định của Chính Phủ.
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của NHNN CN Quảng Bình

Hiện nay, bộ máy tổ chức của NHNN Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình, gồm Ban lãnh đạo (Giám đốc và 01 Phó Giám đốc) và 04 phòng chức năng: Phòng Tiền tệ – Kho quỹ và Hành chính, phòng Kế toán – Thanh toán, phòng Tổng hợp – Nhân sự và Kiểm soát nội bộ và Thanh tra, giám sát Ngân hàng.
Tổng số cán bộ nhân viên là: 44 người.
b. Chức năng, nhiệm vụ
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Quảng Bình là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chịu sự lãnh đạo và điều hành tập trung, thống nhất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, có chức năng tham mưu, giúp Thống đốc quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn và thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng Trung ương theo sự uỷ quyền của Thống đốc. Chi nhánh là đơn vị hạch toán, kế toán phụ thuộc; có con dấu và bảng cân đối tài khoản theo quy định của pháp luật.
NHNN Việt Nam – Chi nhánh Quảng bình thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
(1) Tổ chức phổ biến, tuyên truyền và triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, văn bản chỉ đạo, điều hành của Thống đốc về tiền tệ, hoạt động NH và ngoại hối đến các TCTD, các tổ chức khác và người dân trên địa bàn;
(2) Thống kê, thu thập thông tin, nghiên cứu, phân tích tình hình kinh tế tiền tệ trên địa bàn để tham mưu cho Thống đốc trong điều hành, thực hiện chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương về lĩnh vực liên quan đến tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội; thực hiện công tác thông tin tín dụng;
(3) Thực hiện việc cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của TCTD, chấp thuận việc mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể TCTD và chấp thuận nội dung khác của TCTD trên địa bàn theo ủy quyền của Thống đốc;
(4) Giám sát, chỉ đạo việc mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, kiểm soát đặc biệt và giải thể TCTD trên địa bàn theo ủy quyền của Thống đốc;
(5) Thực hiện TT,GS, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối;
(6) Thực hiện công tác phòng, chống rửa tiền, phòng chống tài trợ khủng bố;
(7) Cung ứng dịch vụ thanh toán, ngân quỹ và các dịch vụ NHTW khác cho các TCTD và Kho bạc Nhà nước;
(8) Quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng;
(9) Thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn và cho vay thanh toán đối với các TCTD trên địa bàn khi được Thống đốc uỷ quyền;
(10) Quản lý nhà nước về tiền tệ, kho quỹ, bảo đảm an toàn về tài sản, tiền giấy, tiền kim loại và các giấy tờ có giá bảo quản tại chi nhánh và khi giao nhận theo quy định;
(11) Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo phân công, ủy quyền của Thống đốc;
(12) Thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng và tội phạm; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tiếp công dân, xử lý đơn thư, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định;
(13) Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, cải cách hành chính, văn hóa công sở;
(14) Báo cáo, trả lời chất vấn theo yêu cầu của cấp ủy, chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân và Đoàn đại biểu Quốc hội; trả lời kiến nghị của các cơ quan báo chí về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối;
(15) Quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định;
(16) Thực hiện công tác quốc phòng, an ninh; công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, phòng chống thiên tai, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn tại trụ sở Chi nhánh và các cơ sở vật chất khác thuộc thẩm quyền quản lý của Chi nhánh;
(17) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định;
(18) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thống đốc giao.
2.1.2. Tình hình hoạt động tín dụng của các quỹ dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ THANH TRA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
Hoàn thiện công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các quỹ tín dụng nhân dân tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam Hoàn thiện công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các quỹ tín dụng nhân dân tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam Hoàn thiện công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các quỹ tín dụng nhân dân tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam Hoàn thiện công tác thanh tra hoạt động tín dụng của các quỹ tín dụng nhân dân tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam


