Quản lý chi ngân sách cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My
1. Tính cấp thiết của đề tài
NSNN được coi là huyết mạch của nền kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cho sự phát triển nhanh và vền vững. Cấp xã là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng. Xuất phát từ thực tiễn về hoạt động quản lý chi NSX có những vấn đề cần đặt ra là:
Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế, công tác quản lý chi NS cấp xã cũng đã có những đổi mới và mang lại những hiệu quả bước đầu quan trọng. Công tác quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch đã được thực hiện theo đúng quy định của luật NSNN, tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: về mặt pháp lý, hệ thống các văn bản quản lý chi NS còn nhiều bất cập, một số quy định thiếu chặt chẽ, còn nhiều sơ hở dễ bị lợi dụng, thất thoát lãng phí, chưa tạo sự chủ động cho các đơn vị sử dụng ngân sách trong sử dụng kinh phí. Bên cạnh đó, việc phân công nhiệm vụ quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch còn bất cập, quy trình xử lý hồ sơ, chứng từ còn phức tạp và thông qua nhiều công chức nghiệp vụ, gây ảnh hưởng đến thời gian xử lý theo quy định.
Huyện Nam Trà My là một trong những miền núi của tỉnh Quảng Nam, với điều kiện vị trí địa lý khó khăn, việc tiếp cận và triển khai những văn bản và quy trình mới gặp nhiều trở ngại, đặc biệt là trình độ kế toán của các đơn vụ sử dụng ngân sách cấp xã còn hạn chế phần nào ảnh hưởng đến quá trình thực hiện, dẫn đến chất lượng công tác quản lý chi NSX chưa cao.
Nhận thức được tầm quan trọng, sự cần thiết trong việc tăng cường công tác quản lý chi NS cấp xã trong điều kiện hiện nay, đồng thời khắc phục những hạn chế và nêu trên, tôi chọn đề tài: “Quản lý chi ngân sách cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu của đề tài
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về chi ngân sách cấp xã và quản lý chi ngân sách cấp xã; Khảo sát, phân tích, đánh giá thực công tác quản lý chi ngân sách cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
Trên cơ sở phân tích, hệ thống hóa lý về chi NSNN và quản lý chi NS cấp xã, luận văn tập trung phân tích làm rõ thực trạng quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, từ đó rút ra những nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My trong thời gian tới.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sẽ tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu chi tiết sau:
– Công tác quản lý chi ngân sách cấp xã bao gồm những nội dung gì? Tiêu chí nào được sử dụng để đánh giá kết quả hoạt động quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My?
– Thực trạng công tác quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My trong thời gian qua như thế nào? Những kết quả đạt được là gì? Những vấn đề còn hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó?
– Những giải pháp nào để hoàn thiện công tác quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam?
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý chi ngân sách cấp xã tại Phòng Tài chính – kế hoạch huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu các khoản chi và quyết toán ngân sách trong thời gian qua và đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi ngân sách cấp xã trong thời gian đến.
Về thời gian: khảo sát số liệu về chi ngân sách cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My giai đoạn 2015 – 2019
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp điều tra, tổng hợp thống kê, kết hợp với phương pháp so sánh đối chiếu dữ liệu để có những đánh giá, nhận định về công tác quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, từ đó rút ra những kết luận và đề xuất các giải pháp, kiến nghị.
– Tổng hợp lý luận: Nghiên cứu các tài liệu về công tác quản lý chi NS của các luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, các bài báo cáo khoa học, các tạp chí … chọn lọc, tổng hợp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin để đưa ra hệ thống cơ sở lý luận về công tác quản lý chi NS cấp xã.
– Phương pháp thu thập dữ liệu: Để nghiên cứu về thực tiễn công tác quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, luận văn sử dụng nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn và các lĩnh vực có liên quan.
– Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu:
+ Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các dữ liệu nhằm phân tích những nội dung chủ yếu của đề tài, phân tích số liệu thống kê từ nhiều nguồn rút ra những nhận xét, đánh giá mang tính khái quát cao làm nổi bật những nội dung chính của luận văn. Trên cơ sở chuỗi số liệu thu thập được từ năm 2015 đến năm 2019, luận văn sẽ phân tích và đưa ra những tiêu chí nhằm đánh giá kết quả công tác quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My.
+ Thống kê, đối chiếu, so sánh dữ liệu thu thập qua các năm trong phạm vi nghiên cứu, so sánh các chỉ số qua các năm để rút ra những nhận xét chung, đánh giá cơ bản.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Đề tài góp phần làm rõ thêm những vấn đề về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn đối với hoạt động quản lý chi NS cấp xã, đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam.
Hệ thống những vấn đề lý luận và các quan điểm của Đảng về quản lý ngân sách nhà nước đối với chi ngân sách cấp xã, phân cấp quản lý ngân sách giữa cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã để phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong công cuộc đổi mới và đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Đánh giá tổng quát thực trạng, bất cập trong công tác quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực trạng về hoạt động quản lý chi ngân sách cấp xã tại tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, tác giả đưa ra những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, cụ thể: về hoàn thiện công tác lập dự toán ngân sách, công tác chấp hành ngân sách, công tác quyết toán ngân sách; hoàn thiện công tác kiểm tra, giám sát ngân sách; nâng cao nhận thức, năng lực lãnh đạo cấp xã và công chức tài chính – kế toán trong công tác tham mưu; tăng cường kiểm soát nhiệm vụ chi ngân sách; hoàn thiện bộ máy quản lý ngân sách cấp xã…

7. Bố cục đề tài
Bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận và phần danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn xếp thành 3 chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về NS xã và quản lý chi ngân sách cấp xã.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam.
8. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH XÃ VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CẤP XÃ
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước
NSNN là một phạm trù rộng, mang tính lịch sử gắn liền với sự ra đời của nhà nước. Bất cứ nhà nước nào ra đời tất yếu phải có nguồn lực tài chính để trang trải cho hoạt động của bộ máy và thực hiện chức năng KT – XH của nhà nước. NSNN xét ở thể tĩnh và hình thức biểu hiện bên ngoài là toàn bộ các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. NSNN xét ở thể động và trong suốt một quá trình, NSNN là khâu cơ bản, chủ đạo của tài chính nhà nước, được Nhà nước sử dụng động viên phân phối một bộ phận nguồn lực xã hội về cho Nhà nước để đảm bảo điều kiện vật chất duy trì hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước.
Ở nước ta khi bàn về khái niệm ngân sách và NSNN có nhiều quan niệm khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề khác nhau. Theo quy định của Luật NSNN đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [1]
1.1.2. Đặc điểm về ngân sách nhà nước
Thứ nhất: Khác biệt của NSNN với các khoản tài chính khác là mọi hoạt động NSNN luôn gắn liền giữa quyền lực nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được tiến hành trên cơ sở hệ thống luật lệ nhất định.
Thứ hai: NSNN luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước và chứa đựng những lợi ích chung và công.
Thứ ba: Ngoài những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác, NSNN còn là một quỹ tiền tệ của nhà nước, gồm nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng và được dùng cho những mục đích đã nhất định.
Thứ tư: Hoạt động NSNN là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính thông qua thu và chi NSNN. Việc sử dụng NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
1.1.3. Vai trò của ngân sách nhà nước
NSNN có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, đối nội, đối ngoại của một quốc gia. Vai trò của NSNN luôn gắn bó mật thiết với chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Vai trò của NSNN được thể hiện:
Thứ nhất: NSNN là công cụ chủ yếu phân bổ các nguồn lực tài chính đảm bảo cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, ổn định và bền vững. Nhà nước sử dụng nhiều công cụ để phân bổ các nguồn lực tài chính từ các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung của Nhà nước. Tuy nhiên, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước. Vì vậy, NSNN là công cụ chủ yếu để phân bổ các nguồn lực tài chính của Nhà nước. Đây cũng chính là vai trò quan trọng bậc nhất của NSNN đối với nền kinh tế của các quốc gia, dưới các chế độ chính trị khác nhau và trong mọi thời đại.
Thứ hai: NSNN là công cụ tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia, góp phần ổn định tiền tệ, giá cả và kiềm chế lạm phát. Hoạt động của NSNN là sự kết hợp gắn bó hữu cơ của hai quá trình thu và chi ngân sách. Thu ngân sách là để đáp ứng nhu cầu chi ngân sách. Mặt khác, chi ngân sách là điều kiện để tạo ra các nguồn thu lâu dài cho Nhà nước. Đối với một nền kinh tế kém phát triển, Nhà nước thường xuyên phải đối mặt với tình trạng bội chi ngân sách. Nguồn bù đắp bội chi ngân sách từ các khoản vay nợ và phát hành tiền. Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến lạm phát. Để loại bỏ lạm phát, biện phát cơ bản và tích cực nhất là đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, bảo đảm sự cân đối giữa lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ; hạn chế vay nợ, chấm dứt việc phát hành tiền để trang trải các khoản chi của ngân sách. Những giải pháp này chỉ được thực hiện thành công khi có sự can thiệt và hỗ trợ tích cực của NSNN.
Thứ ba: NSNN là công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Để giảm bớt sự tách biệt giữa người giàu và người nghèo, với vai trò của mình, NSNN có thể điều chỉnh nền kinh tế ở tầm vĩ mô, nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đảm bảo sự ổn định cuộc sống vật chất, tinh thần của người lao động và của cộng đồng dân cư. Bên cạnh đó, NSNN là công cụ chủ yếu phân bổ các nguồn lực tài chính, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, ổn đinh và bền vững. Cùng với ưu tiên đầu tư cho các chương trình phát triển KT -XH, Chính phủ cũng rất quan tâm các khoản chi cho sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thể dục thể thao …
Thứ tư: NSNN là công cụ củng cố bộ máy quản lý Nhà nước, tăng cường sức mạnh quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia. NSNN đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước gồm 3 hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp thực hiện chức năng quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động của nền KT – XH. Ngoài ra, NSNN còn đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, với tư cách là cơ quan lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị. Một lĩnh vực quan trọng khác đòi hỏi NSNN phải đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động, mà không một khâu tài chính nào có thể thay thế được, đó là lực lượng vũ trang thuộc hai hệ thống quốc phòng và an ninh, nhằm củng cố sức mạnh quân sự, bảo đảm mọi hoạt động KT -XH, hoạt động bộ máy quản lý Nhà nước và toàn hệ thống chính trị.
Thứ năm: NSNN là công cụ mở rộng quan hệ đối ngoại, đẩy nhanh quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế. Vai trò quan trọng của NSNN đối với các quan hệ quốc tế thể hiện ở chỗ: Mọi khoản thu chi tài chính phát sinh trong quan hệ quốc tế đều có liên quan trực tiếp đến hoạt động của NSNN, đặc biệt là những khoản thu chi về đầu tư trực tiếp và gián tiếp; các khoản viện trợ và tiếp nhận viện trợ; các khoản đi vay và cho vay do Nhà nước quản lý. Mọi khoản thu của NSNN từ nước ngoài, dưới mọi hình thức đều phải được quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả, riêng đối với các khoản vay nợ phải hoàn trả đúng thời hạn. Các khoản chi của NSNN ra nước ngoài phải được tính toán kỹ lưỡng trên cơ sở đáp ứng các mục tiêu nhiệm vụ quốc tế của Nhà nước trước mắt và lâu dài.
1.1.4. Phân cấp ngân sách nhà nước
Hệ thống phân cấp NSNN là tổng thể các cấp ngân sách, mỗi cấp ngân sách đều có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau trong thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp ngân sách đó.
Tại Việt Nam, bộ máy quản lý hành chính nhà nước được tổ chức 4 cấp: – Trung ương;
– Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh);
– Quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện);
– Xã, phường, thị trấn (cấp xã).
NSNN
NS CẤP TỈNH
NS CẤP HUYỆN
NS CẤP XÃ
NS TRUNG ƯƠNG
NS ĐỊA PHƯƠNG
Hình 1.1: Mô hình phân cấp ngân sách nhà nước Việt Nam
1.2. NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CẤP XÃ
1.2.1. Chi ngân sách cấp xã
1.2.1.1. Khái niệm chi ngân sách xã
Chi ngân sách cấp xã là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách xã nhằm đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên địa bàn xã. Đó là toàn bộ các khoản chi của ngân sách cấp xã có trong dự toán, được cơ quan có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện cấc chức năng nhiệm vụ của chính quyền địa phương cấp xã và các mục tiêu phát triển KT- XH trên địa bàn xã.
1.2.1.2. Đặc điểm chi ngân sách cấp xã
Là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN nên ngân sách xã cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của ngân sách các cấp chính quyền địa phương đó:
– Được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định của pháp luật
– Được quản lý và điều hành theo dự và theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định.
– Hoạt động của NS cấp xã luôn gắn chặt với hoạt động của chính quyền Nhà nước cấp xã.
– Các khoản chi ngân sách cấp xã mang tính cấp phát không hoàn lại.
– Quản lý NS cấp xã nhất thiết phải tuân theo một chu trình chặt chẽ và khoa học. Tuy nhiên, với vị trí là cấp cuối cùng trong hệ thống NSNN, NSX cũng có những đặc điểm riêng đó là:
NS cấp xã là một loại quỹ tiền tệ của cơ quan chính quyền Nhà nước cấp cơ sở. Hoạt động của quỹ được thể hiện ở hai phương diện: huy động nguồn thu vào của quỹ gọi là thu ngân sách xã, phân phối và sử dụng quỹ gọi là chi NS cấp xã.
Đằng sau quan hệ thu chi NS cấp xã là quan hệ lợi ích phát sinh trong quá trình thu chi NSNN giữa hai chủ thể: một bên là lợi ích chung của cộng đồng cấp cơ sở mà đại diện là chính quyền xã, một bên là các chủ thể kinh tế xã hội.
NSX vừa là một cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, xã là một đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí ngân sách mà không phân bổ trực tiếp cho cấp ngân sách nào khác. Chính quyền cấp xã là đơn vị dự toán đặc biệt cuối cùng. Đặc điểm riêng này có ảnh hưởng lớn đến việc thiết lập các chính sách trong quản lý NSX và chi phối lớn đến quá trình tổ chức lập, chấp hành, quyết toán NSX.
1.2.1.3. Vai trò chi ngân sách cấp xã
Vai trò của chi NS cấp xã được thể hiện trên các nội dung chủ yếu sau:
Một là cung cấp nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo duy trì hoạt động của hệ thống chính quyền cấp xã.
Hai là điều kiện quan trọng thúc đẩy phát triển KT- XH trên địa bàn xã
Ba là góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu công đảm bảo công bằng xã hội
Bốn là chi ngân sách có tác động nhất định đến việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
1.2.1.4. Nội dung chi ngân sách cấp xã
Chi NSX gồm: Chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
* Chi đầu tư phát triển bao gồm:
– Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT – XH không có khả năng thu hồi vốn do cấp xã quản lý theo phân cấp của tỉnh.
– Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT -Xh của xã từ ngồn huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân cho từng dự án nhất định theo quy định của pháp luật, do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý.
– Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.
* Chi thường xuyên bao gồm:
– Chi quốc phòng: Chi thực hiện chế độ, chính sách đối với lực lượng dân quân tự vệ và các khoản chi khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của Luật dân quân tự vệ; chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
– Chi an ninh và trật tự an toàn xã hội: Chi tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
– Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ hoạt động giáo dục, đào tạo trên địa bàn xã;
– Chi cho nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao công nghệ (không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ);
– Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn xã;
– Chi hoạt động văn hóa, thông tin;
– Chi hoạt động phát thanh, truyền thanh;
– Chi hoạt động thể dục, thể thao;
– Chi hoạt động bảo vệ môi trường, bao gồm thu gom, xử lý rác thải;
– Chi các hoạt động kinh tế bao gồm: Duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình khác do xã quản lý; hỗ trợ khuyến khích phát triển các hoạt động kinh tế như: khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm theo chế độ quy định; các hoạt động kinh tế khác;
– Chi hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị – xã hội; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp theo quy định của pháp luật:
– Chi hoạt động của các cơ quan nhà nước: Tiền lương cho cán bộ, công chức; tiền công lao động và hoạt động phí đại biểu HĐND; các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước; công tác phí; chi về hoạt động, văn phòng, như: chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, phí bưu điện, điện thoại, hội nghị, chi tiếp tân, khánh tiết; chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc và tài sản cố định khác; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn cho cán bộ xã và các đối tượng khác theo chế độ quy định; chi khác theo chế độ quy định;
– Kinh phí hoạt động của tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam ở xã;
– Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội ở xã (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) sau khi trừ các khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác (nếu có);
– Kinh phí hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp ở xã theo quy định của pháp luật;
– Chi cho công tác xã hội do xã quản lý: Trợ cấp hằng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc theo chế độ quy định (không kể trợ cấp hằng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc và trợ cấp thôi việc 01 lần cho cán bộ xã nghỉ việc từ ngày 01 tháng 01 năm 1998 trở về sau do bảo hiểm xã hội chi trả); chi thăm hỏi các gia đình chính sách; trợ giúp xã hội và công tác xã hội khác;
– Các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể định mức chi thường xuyên cho từng công việc phù hợp với tình hình, đặc điểm và khả năng ngân sách địa phương.
Chính vì vậy, đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương thì chi NS cấp xã giữ vai trò rất quan trọng. Một khi việc chi NS cấp xã hiệu quả nó sẽ tác động tích cực đến việc phát triển các nguồn thu của xã.
1.2.2. Khái niệm nguyên tắc quản lý chi ngân sách cấp xã
1.2.2.1. Khái niệm quản lý chi ngân sách cấp xã
Quản lý chi NSNN là sự tác động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đến các hoạt động chi NSNN, làm cho quỹ NSNN được phân bổ, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do cơ quan quản lý nhà nước đảm nhận.
Quản lý chi ngân sách cấp xã là quá trình các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sử dụng hệ thống các biện pháp tác động vào hoạt động chi ngân sách cấp xã, đảm bảo cho các khoản chi ngân sách xã được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
Ở đây, chủ thể quản lý chi ngân sách cấp xã là các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với lĩnh vực chi NSNN trên địa bàn các xã ( Hội đồng nhân dân, UBND, Ban Tài chính các xã, Kho bạc nhà nước, Phòng Tài chính huyện).
Đối tượng quản lý là hoạt động chi ngân sách cấp xã. Hoạt động đó bao gồm việc lập dự toán; phân bổ dự toán; chấp hành dự toán; kiểm tra, kiểm soát, thanh tra các khoản chi NS cấp xã; quyết toán các khoản chi ngân sách cấp xã.
Sự tác động của chủ thể quản lý đối tượng, quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản của quản lý chi ngân sách cấp xã. Đó là mục tiêu sử dụng ngân sách cấp xã một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả cho phát triển KT – XH và ổn định kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội … trên địa bàn các xã.
1.2.2.2. Nguyên tắc cơ bản trong quản lý chi ngân sách cấp xã
Quản lý chi NSNN cấp xã phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong quản lý và một số nguyên tắc riêng của quản lý chi ngân sách nhà nước cấp xã.
Một là nguyên tắc tập trung dân chủ;
Hai là nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích;
Ba là nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả;
Bốn là nguyên tắc hợp pháp, công khai, minh bạch;
Năm là nguyên tắc bảo đảm cân đối ngân sách;
1.2.3. Nội dung quản lý chi ngân sách cấp xã
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp xã do HĐND quyết định phù hợp với phân cấp quản lý KT – XH, quốc phòng an ninh trên địa bàn, phù hợp với trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ cấp xã trong từng thời kỳ ổn định ngân sách.
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp xã do ngân sách cấp xã đảm bảo; NS cấp huyện trợ cấp cân đối cho cấp xã trong trường hợp ngân sách cấp xã không tự cân đối được thu chi ngân sách.
Khi cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp xã thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì kinh phí được chuyển từ ngân sách cấp trên cho cấp xã để thực hiện nhiệm vụ đó thông qua chi chuyển giao ngân sách các cấp.
Ngoài việc được cấp trên ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi, ngân sách cấp xã không được dùng ngân sách cấp mình chi cho nhiệm vụ của ngân sách cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định.
Nội dung quản lý chi bao gồm: đầu tiên là lập dự toán, tiếp đến là chấp hành dự toán và cuối cùng là quyết toán. Xuyên suốt trong cả quá trình là công tác thanh tra, kiểm tra theo mô hình sau:

Hình 1.2: Mô hình quản lý chi ngân sách cấp xã
1.2.3.1. Lập dự toán chi ngân sách cấp xã
Vị trí, vai trò của lập dự toán chi NS
Lập dự toán là khâu đầu tiên của quy trình quản lý chi NSNN, quyết định nhiệm vụ và quy mô chi NSNN trong một niên độ ngân sách. Lập dự toán quyết định chất lượng quản lý chi NSNN vì quản lý chi NSNN trước hết là quản lý theo dự toán.
Căn cứ lập dự toán [2]
Các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội của xã;
Chính sách, chế độ thu ngân sách nhà nước, cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách xã và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định;
Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách địa phương, là định mức phân bổ chi ngân sách do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định;
Số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do UBND cấp huyện thông báo;
Tình hình thực hiện dự toán ngân sách xã năm hiện hành và năm trước;
Báo cáo dự toán ngân sách của các cơ quan, đơn vị sử dụng NS xã.
Ngoài ra còn phải căn cứ vào phân cấp quản lý KT-XH và phân cấp NSNN được giao. Trong thời ký ổn định ngân sách còn căn cứ vào tỉ lệ điều tiết, số bổ sung cân đối được giao, tình hình thực hiện dự toán năm trước và một số năm liền kề.
Quy trình lập dự toán ngân sách xã:
Bộ phận tài chính, kế toán xã phối hợp với cơ quan thuế hoặc đội thu thuế xã (nếu có) tính toán các khoản thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (trong phạm vi phân cấp cho xã quản lý);
Các đơn vị, tổ chức thuộc Ủy ban nhân dân xã căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được giao và chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi lập dự toán chi của đơn vị, tổ chức mình;
Bộ phận tài chính, kế toán xã lập dự toán thu, chi và cân đối ngân sách xã trình Ủy ban nhân dân xã báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân xã xem xét, cho ý kiến trước khi gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện và Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện tổng hợp. Thời gian báo cáo dự toán ngân sách xã do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định;
Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện làm việc với Ủy ban nhân dân xã về cân đối thu, chi ngân sách xã thời kỳ ổn định mới theo khả năng bố trí cân đối chung của ngân sách địa phương. Đối với các năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định ngân sách, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện chỉ tổ chức làm việc với Ủy ban nhân dân xã về dự toán ngân sách khi có đề nghị của Ủy ban nhân dân xã;
Quyết định dự toán ngân sách xã: Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân xã hoàn chỉnh dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn được giao quản lý; dự toán thu, chi ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách xã báo cáo Ban Kinh tế – Xã hội xã thẩm tra, Thường trực Hội đồng nhân dân xã xem xét, cho ý kiến, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định theo thời hạn do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Sau khi dự toán ngân sách xã được Hội đồng nhân dân xã quyết định, Ủy ban nhân dân xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện và cơ quan Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để tổ chức thực hiện;
Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện có trách nhiệm thẩm định dự toán ngân sách xã, trường hợp có sai sót phải báo cáo UBND cấp huyện yêu cầu Hội đồng nhân dân xã điều chỉnh dự toán theo đúng quy định, đồng thời gửi Kho bạc Nhà nước cùng cấp làm căn cứ để thực hiện dự toán theo quy định.
Việc quản lý quá trình lập dự toán chi ngân sách cấp xã do UBND xã và Ban Tài chính xã thực hiện. Trong đó, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan được quy định cụ thể như sau:
UBND xã có nhiệm vụ:
Một là, hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và chính quyền cấp xã lập dự toán chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý;
Hai là, tổng hợp và lập dự toán chi ngân sách cấp xã; báo cáo Thường trực HĐND xã xem xét trước khi báo cáo UBND huyện;
Ba là, căn cứ nhiệm vụ thu, chi ngân sách được UBND huyện giao, UBND cấp xã trình HĐND xã quyết định dự toán ngân sách địa phương và phương án phân bổ ngân sách cấp xã, đồng thời báo cáo UND huyện, Phòng Tài chính dự toán ngân sách cấp xã và kết quả phân bổ dự toán NS cấp xã đã được HĐND xã quyết định;
Bốn là, tổ chức giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng ban, tổ chức trực thuộc, nhiệm vụ thu, chi trên cơ sở phương án phân bổ ngân sách cấp xã được Nghị quyết của HĐND xã thông qua;
Năm là, lập phương án điều chỉnh dự toán ngân sách cấp xã và phương án phân bổ dự toán thu, chi ngân sách cấp xã trình HĐND xã quyết định theo yêu cầu của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trong trường hợp nghị quyết của HĐND xã không phù hợp với nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao;
Ban Tài chính xã có nhiệm vụ:
Một là, tổ chức làm việc với các ban, tổ chức thuộc UBND xã về dự toán chi ngân sách hàng năm.
Hai là, chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc tổng hợp, lập dự toán ngân sách và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp xã theo lĩnh vực, nhiệm vụ chi được phân cấp.
Ba là, lập dự toán chi đầu tư phát triển của ngân sách cấp xã; tổng hợp dự toán và phương án phân bổ dự toán chi đầu tư phát triển, chi Chương trình mục tiêu quốc gia do cấp xã quản lý.
Bốn là, đề xuất các phương án cân đối ngân sách và các biện pháp nhằm thực hiện chính sách tăng thu, tiết kiệm chi cho ngân sách cấp xã.
1.2.3.2. Chấp hành dự toán chi ngân sách cấp xã
Phòng Tài chính – Kế hoạch có nhiệm vụ thực hiện thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách nhà nước cấp xã. Theo dõi, cập nhật tình hình thu, chi ngân sách trên địa bàn và các khoản trợ cấp của ngân sách cấp trên để bố trí nguồn chi, đáp ứng nhu cầu chi trả, thanh toán của các đơn vị dự toán. Kiểm tra, giám sát việc chấp hành dự toán và sử dụng ngân sách ở các đơn vị sử dụng ngân sách cấp xã.
Kho bạc Nhà nước huyện có nhiệm vụ thực hiện việc kiểm soát thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước.
Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách cấp xã, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản nhà nước theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức; đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả.
Chủ tịch UBND xã quyết định chi phải kiểm tra, bảo đảm khoản chi đáp ứng các điều kiện sau: Đúng dự toán được giao, trừ trường hợp đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phân bổ dự toán chưa được cấp có thẩm quyền quyết định và các khoản chi từ nguồn tăng thu, nguồn dự phòng ngân sách, kết dư ngân sách năm trước theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Đối với chi đầu tư phát triển, phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công và xây dựng. Đối với chi thường xuyên phải đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định. Chứng từ, hồ sơ thanh toán phải hợp lệ, hợp pháp; đối với các khoản mua sắm, sửa chữa tài sản có giá trị lớn phải thực hiện đấu thầu theo quy định.
+ Chi thường xuyên: Ưu tiên chi trả tiền lương, các khoản phụ cấp và các khoản đóng góp cho cán bộ, công chức xã, chi an sinh xã hội, trợ cấp đối tượng bảo trợ xã hội…
+ Chi đầu tư phát triển: Việc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách xã phải thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật về đầu tư công và phân cấp của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; việc thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách xã thực hiện theo quy định riêng của Bộ Tài chính…
Bộ phận tài chính – kế toán xã: [2]
+ Thẩm tra nhu cầu sử dụng kinh phí của các đơn vị, tổ chức;
+ Bố trí nguồn theo dự toán năm để đáp ứng nhu cầu chi. Trường hợp nhu cầu chi lớn hơn thu tại một thời điểm, thì ưu tiên bố trí kinh phí đảm bảo nhiệm vụ chi lương, các khoản chi có tính chất lương, các khoản chi an sinh xã hội, trợ cấp đối tượng bảo trợ xã hội đầy đủ, kịp thời. Trường hợp vẫn không đảm bảo nguồn, bộ phận tài chính, kế toán xã báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã đề nghị Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện tăng tiến độ cấp bổ sung cân đối hoặc tạm thời sắp xếp lại nhu cầu chi phù hợp với nguồn thu;
+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi ngân sách, sử dụng tài sản của các đơn vị sử dụng ngân sách, phát hiện và báo cáo đề xuất kịp thời với Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã về những vi phạm chế độ, tiêu chuẩn, định mức để có biện pháp xử lý;
1.2.3.3. Công tác quyết toán chi ngân sách cấp xã
Các tổ chức, đơn vị sử dụng vốn, kinh phí ngân sách nhà nước và quản lý các khoản thu, chi tài chính bao gồm Ban Tài chính xã, KBNN huyện, Phòng Tài chính – Kế hoạch phải tổ chức hạch toán kế toán, lập báo cáo kế toán và quyết toán các khoản chi của ngân sách nhà nước theo quy định. Ban Tài chính xã có trách nhiệm thực hiện công tác hạch toán kế toán và quyết toán ngân sách xã theo Phụ lục ngân sách nhà nước và chế độ kế toán ngân sách xã hiện hành; thực hiện chế độ báo cáo kế toán và quyết toán theo quy định. KBNN là nơi giao dịch thực hiện công tác kế toán thu, chi quỹ ngân sách xã theo quy định; định kỳ hàng tháng, quý báo cáo tình hình thực hiện thu, chi ngân sách xã, tồn quỹ ngân sách xã gửi UBND xã; và báo cáo đột xuất khác theo yêu cầu của UBND xã. Công tác kế toán và quyết toán ngân sách xã phải thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật về chứng từ thu, chi ngân sách nhà nước; phụ lục ngân sách nhà nước; hệ thống tài khoản, sổ sách, mẫu biểu báo cáo; mã số đối tượng nộp thuế và mã số đơn vị sử dụng ngân sách.
Hết kỳ kế toán (tháng, quý, năm), Ban Tài chính thực hiện khoá sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán chi ngân sách trình UBND xã và gửi Phòng Tài chính – Kế hoạch.
Kho bạc Nhà nước huyện tổ chức thực hiện hạch toán, kế toán toàn bộ các khoản chi ngân sách nhà nước cấp xã. Định kỳ hàng tháng, quý, năm, KBNN huyện lập báo cáo chi ngân sách UBND xã và gửi Phòng Tài chính- Kế hoạch để làm căn cứ tổng hợp báo cáo chi ngân sách huyện.
Ban Tài chính, lập báo cáo chi ngân sách tháng, quý, năm và báo cáo quyết toán chi ngân sách xã theo các biểu mẫu quy định gửi Phòng Tài chính – kế hoạch. Riêng đối với báo cáo quyết toán chi ngân sách cấp xã hàng năm, Ban Tài chính xã trình UBND xã xem xét để trình HĐND xã phê chuẩn, đồng thời gửi Phòng Tài chính huyện để tổng hợp.
1.2.3.4. Thanh tra, kiểm tra trong quản lý chi ngân sách cấp xã
Hàng năm, cơ quan Thanh tra huyện xây dựng kế hoạch thanh tra tình hình sử dụng ngân sách trên địa bàn trình Chủ tịch UBND huyện phê duyệt và triển khai thực hiện. Thanh tra huyện có nhiệm vụ thanh tra tình hình sử dụng ngân sách và việc chấp hành các chế độ về quản lý chi ngân sách của các xã, các tổ chức được ngân sách xã hỗ trợ và cá nhân thụ hưởng ngân sách theo quy định của pháp luật.
Việc kiểm tra được thực hiện trong tất cả các khâu của chu trình quản lý chi ngân sách, từ khâu lập, phân bổ, giao dự toán chi ngân sách đến việc chấp hành dự toán và quyết toán chi ngân sách cấp xã. Việc thanh tra, kiểm tra được gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện.
Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện, KBNN huyện, theo chức năng nhiệm vụ được phân công có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, định kỳ đối với các xã trên địa bàn. Trong quá trình kiểm tra, xét duyệt và thẩm định quyết toán, nếu phát hiện các khoản chi không đúng chế độ quy định của pháp luật phải thu hồi ngay cho NSNN và hạch toán giảm chi ngân sách cấp xã.
Phòng Tài chính – Kế hoạch chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra toàn bộ các khâu trong chu trình quản lý chi ngân sách, đảm bảo cho dự toán được lập chính xác; đảm bảo việc phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị sử dụng đúng định mức; đảm bảo hạch toán kế toán đúng chế độ và quyết toán ngân sách đầy đủ, đúng thời gian.
KBNN huyện có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát quá trình chấp hành dự toán của các xã thông qua việc kiểm soát, thanh toán các khoản chi của NS cấp xã.
UBND xã tự tổ chức kiểm tra việc chấp hành dự toán và kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí theo tiêu chuẩn định mức chi tiêu hiện hành của Nhà nước.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CẤP XÃ
Công tác quản lý chi NS cấp xã là hoạt động liên quan đến nhiều lĩnh vực, đơn vị, cá nhân. Việc quản lý NS cấp xã chịu tác động của nhiều nhân tố với mức độ và phạm vi khá nhau; có thể chia làm 02 nhóm: nhóm nhân tố bản thân Phòng Tài chính – Kế hoạch và nhân tố bên ngoài.
1.3.1. Nhân tố bản thân Phòng Tài chính – Kế hoạch
Năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch: là lực lượng trực tiếp thực hiện quản lý chi NS cấp xã. Vì vậy, cán bộ Phòng Tài chính – Kế hoạch phải đảm bảo có đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ để có thể đảm đương nhiệm vụ quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch một cách chặt chẽ. Bởi lẽ, với chu trình NS cấp xã, Phòng Tài chính – Kế hoạch tham gia quản lý không chỉ ở một giai đoạn hay một pha của chu trình NSNN mà được thực hiện quản lý ở tất cả các giai đoạn của quá trình này.
Cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ phục vụ quản lý chi: việc quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch đòi hỏi một số điều kiện khác như hiện đại hóa công nghệ thông tin Phòng Tài chính – Kế hoạch, hoàn thiện hệ thống kế toán và quyết toán NSNN, hiện đại hóa công nghệ thanh toán trong nền kinh tế và của Phòng Tài chính – Kế hoạch. Việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng như các phần mềm ứng dụng giúp giảm thiểu rủi ro trong quá trình quản lý chi, thuận tiện trong việc khai thác và sử dụng số liệu; phục vụ cho việc đối chiếu số liệu, điện báo, báo cáo cho công tác quản lý và điều hành NSNN.
Quy trình nghiệp vụ quản lý chi NSNN tại Phòng Tài chính – Kế hoạch: quy trình nghiệp vụ quản lý chi NSNN là nhân tố quan trọng then chốt ảnh hưởng đến công tác quản lý chi của Phòng Tài chính – Kế hoạch. Bao gồm các yếu tố: lập dự toán quản lý chi, chấp hành dự toán chi, công tác quyết toán chi. Quy trình quản lý chi phù hợp, đầy đủ, gọn nhẹ sẽ giúp cho công tác quản lý chi thực hiện chính xác, nhanh chóng.
1.3.2. Nhân tố bên ngoài
Cơ chế, chính sách về thu chi NS cấp xã: Đó là sự ảnh hưởng của những văn bản của Nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối hoạt động của các cơ quan nhà nước. Cụ thể là các văn bản quy định phạm vi, đối tượng thu, chi NSNN của các cấp chính quyền; quy định, chế định việc phân công, phân cấp nhiệm vụ quản lý ngân sách của các cấp chính quyền; quy định quy trình, nội dung lập, chấp hành, quyết toán ngân sách; quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý ngân sách và sử dụng quỹ NSNN; quy định, chế định những nguyên tắc, chế độ, định mức chi tiêu… Các văn bản này có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý ngân sách trên địa bàn, do vậy đòi hỏi nhà nước phải ban hành những văn bản đúng đắn, phù hợp thực tế.
Tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý NSX: Việc phân định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn giữa các cấp, các bộ phận trong tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý; việc quy định mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận và cán bộ quản lý thu chi, giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa cấp trên với cấp dưới trong quá trình phân công, phân cấp quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý quỹ NSNN. Nếu việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền không rõ ràng, cụ thể thì dễ xảy ra thiếu trách nhiệm, hoặc lạm dụng quyền hạn.
Trình độ phát triển KT-XH trên địa bàn. Hoạt động quản lý chi NS cấp xã chịu ảnh hưởng của trình độ phát triển KT-XH và mức thu nhập của người dân trên địa bàn. Khi trình độ phát KT-XH và mức thu nhập bình quân của người dân tăng thì huy động ngân sách cũng tăng, do đó quản lý NS cấp xã ít phải đối mặt với mâu thuẫn giữa nhu cầu chi cao mà nguồn thu thấp như các địa phương có trình độ phát triển kinh tế thấp. Khi ý thức tuân thủ pháp luật và các chính sách nhà nước của các tổ chức, cá nhân được nâng cao, năng lực sử dụng NSNN tại các tổ chức và cá nhân thụ hưởng NSNN được cải thiện thì việc sử dụng NSNN sẽ có hiệu quả cao hơn, giảm thiểu được những khoản chi sai mục đích, sai chế độ.
Chất lượng dự toán NSNN: đây là một trong những căn cứ quan trọng nhất để Phòng Tài chính – Kế hoạch thực hiện quản lý chi NSNN. Vì vậy, dự toán NSNN phải đảm bảo tính kịp thời, chính xác, đầy đủ và chi tiết. Việc nâng cao chất lượng dự toán NSNN góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch.
Về ý thức chấp hành của các đơn vị sử dụng NS cấp xã: Xuất phát từ vị trí của con người – con người là nhân tố cơ bản nhất, chất lượng và trình độ của con người là yếu tố then chốt quyết định thành công. Vì vậy nâng cao nhận thức và chấp hành Luật NSNN, làm cho đơn vị sử dụng NS cấp xã thấy rõ quản lý chi là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các đơn vị, cá nhân có liên quan đến quản lý quỹ NSNN chứ không phải là công việc riêng của Tài chính, KBNN. Từ đó thấy rõ vai trò của mình trong quá trình quản lý chi NSNN từ khâu lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát, thanh toán, kế toán và quyết toán các khoản chi NSNN.
1.4. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ QUẢN LÝ CHI NS CẤP XÃ
– Tính hiệu lực:
+ Thực hiện nghiêm túc và kịp thời các nhiệm vụ chi;
+ Đảm bảo chi đúng mục đích, chi đúng kế hoạch, chi đủ, không chi bội ngân sách. Tính hiệu lực của quản lý chi ngân sách cấp xã có thể đo lường bằng kết quả/mục tiêu.
– Tính hiệu quả: Quản lý ngân sách cấp xã đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ trong điều kiện tiết kiệm, không gây thất thoát, lãng phí. Ngoài ra trong quản lý chi ngân sách cấp xã cần minh bạch công khai, được thể hiện cao trong khâu lập dự toán và quyết toán ngân sách.
– Tính bền vững:
+ Tác động tích cực từ quản lý chi ngân sách nhà nước cấp xã đối với sự phát triển KT – XH, an ninh quốc phòng là lâu dài và ổn định.
+ Cân bằng lợi ích giữa các đơn vị dự toán ngân sách.
– Tính phù hợp: Quản lý chi ngân sách cấp xã theo đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phù hợp với thực tiễn, tình hình đặc thù của cấp xã nhằm đáp ứng được nhiệm vụ chính trị, phát triển KT – XH trên địa bàn nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Tổng kết chương I
Trong chương I, luận văn đã trình bày được những nội dung chính sau:
Luận văn đã khái quát cơ sở lý luận về NSNN và quản lý chi NS cấp xã
Trong đó đặc biệt nhấn mạnh về nội dung của công tác quản lý chi NS cấp xã.
Luận văn cũng tập trung làm rõ một số khái niệm như khái niệm NSNN, phân cấp NSNN hiện nay, chi ngân sách nhà nước cấp xã. Từ đó, luận văn tập trung làm rõ bản chấp của công tác quản lý chi NS cấp xã là quá trình lập, phân bổ dự toán, chấp hành, quyết toán và thanh kiểm tra chi NS cấp xã đúng mục đích hiệu quả, góp phần thực hiện các mục tiêu chung của quá trình phát triển KT- XH trên nguyên tắc đảm bảo thực hành tiết kiệm và hiệu quả, cấp phát và sử dụng phải dựa trên dự toán, chi đúng theo những mục tiêu đã quy định, đảm bảo cân đối giữa khả năng và nhu cầu trong quản lý, điều hành chi NS cấp xã.
Dự trên việc phân tích nội dung công tác quản lý chi cấp xã, các tiêu chí
đánh giá hiệu quả chi NS cấp xã và những nhân tố ảnh hưởng tới quản lý chi NS cấp xã. Luận văn đã chỉ ra vai trò và mối liên hệ giữa chi NS cấp xã với sự phát triển KT- XH ở huyện Nam Trà My.
Với những cơ sở lý luận cơ bản nêu trên, sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về công tác quản lý chi NS cấp xã, những khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý chi NS cấp xã, những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi NS cấp xã tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nam Trà My. Từ đó đề ra những khuyến nghị nhằm hoàn thieenjcoong tác quản lý chi NS cấp xã ở những chương tiếp theo.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CẤP XÃ TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH – KẾ HOẠCH HUYỆN NAM TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM
2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA HUYỆN NAM TRÀ MY
2.1.1. Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên
Huyện Nam Trà My là một huyện miền núi cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Quảng Nam, cách tỉnh lỵ tỉnh lỵ 100km theo tuyến quốc lộ 40B; phía Đông giáp huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi và huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum; phía Tây giáp huyện Phước Sơn; phía Bắc giáp huyện Bắc Trà My; phía Nam, Tây Nam, Đông Nam giáp các huyện ĐăkGlei, huyện Tumơrông thuộc tỉnh Kon Tum.
Toàn huyện có 10 xã, 35 thôn, với 224 điểm điểm dân cư, hiện nay đang quy hoạch sắp xếp lại đến năm 2025 còn lại 115 khu. Dân số hiện nay là 7.367 hộ với 30.448 khẩu, là huyện miền núi đặc biệt khó khăn được đưa vào diện đầu tư theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, Chương trình 135 của Chính phủ năm 2016, giai đoạn 2016 – 2020 theo Quyết định 204/QĐ-TTg ngày 01/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là địa bàn khó khăn hiểm trở, nằm ở đầu nguồn các lưu vực sông, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm trên 97% (gồm các dân tộc: Cadong, Xê Đăng, Bhnoong, Mơ Nông và một số ít người Cor); hộ nghèo năm 2019 chiếm tỷ lệ 37.37%; Đường giao thông về các thôn, làng còn nhiều khó khăn, chủ yếu đường đất dân sinh. Điện lưới quốc gia chỉ phục vụ được khoảng 65% hộ dân. Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi.
Đây là vùng căn cứ Cách mạng của Khu uỷ khu V trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Đây cũng là địa bàn sinh sống của đa số đồng bào dân tộc thiểu số (Ca dong, Xê đăng, M’nông). Huyện Nam Trà My là khu vực được quản lý, bảo vệ theo Quyết định số 229/1999/QĐ-TTg ngày 16/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ về an toàn khu. Nay có vị trí chiến lược quan trọng trong các lĩnh vực KT – XH, quốc phòng – an ninh, đặc biệt là an ninh biên giới quốc gia.
2.1.2. Tình hình kinh tế – xã hội
Tiềm năng kinh tế: sản xuất nông lâm nghiệp, trồng Sâm và các loại cây dược liệu, chưa hình thành khu công nghiệp, hiện nay trên địa bàn huyện có 02 nhà máy thuỷ điện: Trà Linh 3 và thủy điện Sông Tranh 2.
Sản phẩm đặc sản của địa phương là: Gạo đỏ, Mật ong, Quế Trà My, các loại cây dược liệu khác, đặc biệt là cây Sâm Ngọc Linh (Sâm Việt Nam) có giá trị cao.
Thu nhập bình quân đầu người 12 triệu đồng/người/năm
Thực trạng doanh nghiệp: 37 doanh nghiệp, hoạt động chủ yếu trên các lĩnh vực trồng rừng, xây dựng, khai thác khoáng sản…
Thực trạng xuất khẩu lao động: Trên 300 người tham gia xuất khẩu lao động chủ yếu là xuất khẩu lao động sang thị trường Malaysia, Nhật Bản, Ả Rập Xê Út…
2.1.3 Tổ chức bộ máy chính quyền
2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức
Thực hiện theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/05/2014 của Chính phủ, UBND huyện Nam Trà My và các cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp UBND huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương, cụ thể có 13 cơ quan chuyên môn gồm:
– Văn phòng HĐND và UBND huyện;
– Thanh tra;
– Phòng Nội vụ;
– Phòng Tư pháp;
– Phòng Tài chính – Kế hoạch;
– Phòng Tài nguyên và Môi trường;
– Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
– Phòng Kinh tế và Hạ tầng;
– Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội;
– Phòng Văn hóa và Thông tin;
– Phòng Giáo dục và Đào tạo;
– Phòng Y tế;
2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
UBND huyện do HĐND huyện bầu ra, là cơ quan hành chính nhà nước ở huyện, thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các quy định khác của pháp luật có liên quan; chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
UBND huyện là cơ quan thực thi pháp luật, thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đảm bảo phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể UBND; đề cao trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên UBND huyện. Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh Quảng Nam; có trách nhiệm chấp hành mọi văn bản của HĐND huyện, UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh; thực hiện báo cáo định kỳ, đột xuất theo chế độ quy định hoặc theo yêu cầu của UBND tỉnh; chịu sự giám sát của HĐND huyện trong việc chỉ đạo, điều hành thực hiện các Nghị quyết của Huyện ủy, HĐND huyện, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, trước HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. UBND huyện thường xuyên giữ mối liên hệ chặt chẽ với các Sở, Ngành trong tỉnh.
– Cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện làm việc theo chế độ thủ trưởng.
– Trưởng phòng căn cứ các quy định của pháp luật và phân công của UBND huyện xây dựng quy chế làm việc, chế độ thông tin báo cáo của cơ quan và chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện quy chế đó. Chịu trách nhiệm về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan mình và các công việc được UBND, Chủ tịch UBND huyện phân công hoặc ủy quyền; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm khi để xẩy ra tình trạng tham nhũng, gây thiệt hại trong cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý của mình.
– Trưởng phòng có trách nhiệm báo cáo với UBND, Chủ tịch UBND huyện và sở quản lý ngành, lĩnh vực về tổ chức, hoạt động của cơ quan mình; báo cáo công tác trước HĐND và UBND huyện khi được yêu cầu; phối hợp với người đứng đầu cơ quan chuyên môn, các tổ chức chính trị – xã hội cùng cấp giải quyết những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
2.1.4. Cơ cấu tổ chức Phòng Tài chính – Kế hoạch
Thực hiện Thông tư số 220/2015/TTLT-BTC-BNV ngày 31/12/2015 của Bộ Tài chính và Bộ nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài chính thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tài chính – Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Phòng Tài chính – Kế hoạch cấp huyện được cơ cấu như sau:
2.1.4.1. Vị trí và chức năng
Là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật.
Tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư; đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về kinh tế tập thể, hợp tác xã, kinh tế tư nhân của Phòng Tài chính – Kế hoạch do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Nội vụ hướng dẫn.
Có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ thuộc lĩnh vực tài chính của Sở Tài chính.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CẤP XÃ


