Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình
Nghị quyết 29-NQ/TƯ của Ban chấp hành Đảng cộng sản Việt Nam đặt ra vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, trong đó mục tiêu quan trọng là phát triển đội ngũ giáo viên. Vai trò của giáo viên tiếp tục được khẳng định như mục tiêu Nghị quyết đã đề ra. Điều 72 Luật Giáo dục năm 2005 đã nêu rõ nhiệm vụ của nhà giáo là: “không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học”. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên nói chung và bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh nói riêng là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, là khâu quyết định sự thành công trong chương trình đổi mới giáo dục phổ thông đã được Quốc hội thông qua.
Trong tiến trình hội nhập và thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dạy và học ngoại ngữ trở thành một nhiệm vụ cấp thiết đối với giáo dục của Việt Nam. Ngoại ngữ được xếp vào một trong những lĩnh vực ưu tiên, một mũi nhọn đột phá trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ trong thời đại ngày nay.
Trong các ngoại ngữ trên thế giới hiện nay, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất, do hầu hết các giao dịch trên thế giới đều sử dụng tiếng Anh. Vì vậy, rất nhiều quốc gia trên thế giới qui định tiếng Anh là môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục.
Ngày 30 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1400/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020” với mục tiêu chung là: Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [8].
Hiện nay, đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo nói chung và các trường Trung học cơ sở nói riêng, tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao và mở rộng kiến thức, tư duy, tầm hiểu biết cho học sinh. Chính vì vậy, quan tâm đầu tư việc dạy và học tiếng Anh hiện nay đang là vấn đề nhận được sự quan tâm của cả học sinh, phụ huynh và xã hội. Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở các trường phổ thông. Nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học môn tiếng Anh ở trường THCS là đội ngũ giáo viên tiếng Anh.
Trong thời gian qua, việc dạy và học tiếng Anh các trường THCS đã đạt được những thành quả nhất định, chất lượng dạy và học tiếng Anh đã được cải thiện hơn so với trước đây, nhiều học sinh đã đạt giải cao trong các kỳ thi Olympic tiếng Anh. Tuy nhiên vẫn còn một số bất cập như học sinh chủ yếu học ngữ pháp để nhằm mục đích kiểm tra học kỳ và thi học sinh giỏi, khả năng giao tiếp tiếng Anh của học sinh còn hạn chế. Nguyên nhân chính của thực trạng trên là do chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh chưa đáp ứng được yêu cầu theo khung năng lực trình độ ngoại ngữ chung Châu Âu; Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh đạt chuẩn, trên chuẩn còn nặng về số lượng chưa quan tâm nhiều đến chất lượng; nhận thức của giáo viên chưa đúng về mục tiêu của Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020” của Chính phủ [8].
Đối với huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam trong những năm qua, phòng Giáo dục và Đào tạo và các trường THCS luôn quan tâm đến công tác BDCM cho GV tiếng Anh THCS nhằm nâng cao chất lượng bộ môn tiếng Anh trên địa bàn Huyện và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, trình độ chuyên môn, năng lực giảng dạy của GV tiếng Anh các trường THCS của Huyện chưa đồng đều, còn nhiều hạn chế và khoảng cách khá xa so với chuẩn ngoại ngữ theo khung năng lực trình độ ngoại ngữ chung Châu Âu. Vì vậy, vấn đề BDCM, nâng cao năng lực sư phạm, kỹ năng thực hành tiếng cho GV tiếng Anh các trường THCS là nhiệm vụ quan trọng của ngành GD&ĐT, là yêu cầu vô cùng cấp thiết đồng thời là giải pháp đột phá trong việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
Xuất phát từ các lý do nêu trên, tôi chọn đề tài “Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” để nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý công tác BDCM cho giáo viên tiếng Anh THCS, tiến hành đánh giá thực trạng quản lý công tác BDCM cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam hiện nay, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý công tác BDCM cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS.
Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
– Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý của phòng GD&ĐT đối với công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
– Luận văn sử dụng số liệu thống kê công tác BDCM cho GV tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012-2015.
– Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS.
– Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý công tác BDCM cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
– Đề xuất các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Bao gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a. Điều tra khảo sát
Xây dựng phiếu hỏi để thu thập ý kiến của các đối tượng khảo sát (cán bộ quản lý, giáo viên tiếng Anh) về thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
b. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các Nghị quyết, chiến lược phát triển, báo cáo tổng kết công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GV tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012 – 2015. Đồng thời nghiên cứu nội dung, chương trình, tài liệu bồi dưỡng, báo cáo viên tham gia bồi dưỡng.
c. Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành trao đổi với giáo viên tiếng Anh THCS để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn của họ trong quá trình tham gia bồi dưỡng chuyên môn, đồng thời những đánh giá của họ về thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam hiện nay nhằm thu thập những thông tin cần thiết bổ sung cho phương pháp điều tra khảo sát.
d. Phương pháp chuyên gia
Tiến hành trưng cầu ý kiến chuyên gia và các nhà quản lý về tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GV tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
7.3. Nhóm các phương pháp xử lý thông tin
– Sử dụng một số công thức toán học áp dụng trong nghiên cứu giáo dục. Phương pháp này được sử dụng với mục đích xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời để đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra, phương pháp thử nghiệm.
– Sử dụng bảng và hình để minh họa.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở.
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh các trường THCS huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH
1.1. TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
a. Quản lý
Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát. Nó dùng cho cả quá trình quản lý xã hội, quản lý giới vô sinh cũng như quản lý giới sinh vật. Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.
Theo Từ điển giáo dục học, quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [17].
Ở góc độ kinh tế, quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt đẹp và rẻ nhất.
Dưới góc độ chính trị – xã hội và góc độ hành động, “quản lý là hoạt động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan” [29].
Ngoài ra, còn một số quan niệm khác về quản lý như:
– “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [19].
– “Quản lý là sự phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [19].
Như vậy, có thể khái quát “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [28].
Trong quá trình quản lý đã có nhiều hệ thống phân loại chức năng quản lý, song có thể khái quát lại thành các chức năng cơ bản là:
– Kế hoạch hóa: Là chức năng khởi đầu, là tiền đề, là điều kiện của mọi quá trình quản lý. Kế hoạch là bản thiết kế, trong đó xác định mục đích, mục tiêu đối với tương lai của tổ chức và xác định con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của nội dung kế hoạch hoá:
+ Xác định, hình thành các mục tiêu phát triển của tổ chức, của hoạt động và các mục tiêu của quản lý tương thích;
+ Xác định chương trình hành động, các biện pháp cần thiết để đạt được các các mục tiêu của quản lý và các mục tiêu phát triển của tổ chức;
+ Xác định và phân phối các nguồn lực, các điều kiện cần thiết.
– Tổ chức: Là quá trình hình thành các quan hệ và cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm tạo cơ chế đảm bảo sự phối hợp, điều phối tốt các nguồn lực, các điều kiện cho việc thực hiện thành công kế hoạch, chương trình hành động và nhờ đó mà đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận cùng các công việc của chúng và sau đó là vấn đề nhân sự, gồm việc xác định và nhóm gộp các hoạt động, giao phó quyền hành của người quản lý và tạo ra sự phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức một cách khoa học, có hiệu quả.
– Chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có quá trình tác động chỉ đạo. Chỉ đạo bao hàm cả việc liên kết các thành viên và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ.
– Kiểm tra: Là chức năng của quản lý nhằm đánh giá, phát hiện và điều chỉnh kịp thời giúp cho hệ quản lý vận hành tối ưu, đạt mục tiêu đề ra. Kiểm tra là nhằm xác định kết quả thực tế so với yêu cầu tiến độ và chất lượng vạch ra trong kế hoạch, phát hiện những sai lệch, đề ra những biện pháp uốn nắn điều chỉnh kịp thời. Kiểm tra không chỉ là giai đoạn cuối cùng của chu trình quản lý, mà luôn cần thiết trong suốt từ đầu đến cuối quá trình thực thi kế hoạch.
Ngoài bốn chức năng cơ bản, truyền thống nói trên, nghiên cứu quá trình quản lý trong điều kiện xã hội thông tin, gần đây nhiều công trình đã đưa thông tin quản lý như là một chức năng không thể thiếu. Quá trình quản lý thường diễn ra theo một chu kỳ gọi là chu trình quản lý.
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận hành hợp qui luật và đạt mục tiêu đề ra.
b. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội. Lĩnh vực này ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống. Nó là cái hiện hữu vô hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh thần. QLGD cho thấy điển hình nhất về quản lý con người, quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách. Sự hình thành và phát triển nhân cách đưa ra cái gốc để có dân trí, nhân lực và nhân tài.
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của QLGD, sự phát triển tâm lý, thể lực của trẻ em.” [19].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa của Việt Nam mà mục điểm hội tụ là quá trình dạy học. Giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [23].
Từ những khái niệm nêu trên đưa đến cách hiểu chung nhất: Quản lý giáo dục là quá trình vận dụng nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục. Quản lý giáo dục là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong lĩnh vực giáo dục nhằm đạt mục tiêu xác định.
Trong giai đoạn hiện nay nhiều sự thay đổi đang diễn ra trong giáo dục nói chung, ở nhà trường nói riêng. Đó là thay đổi về tư duy giáo dục, mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình giáo dục và phương pháp giảng dạy… việc thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực của học học sinh theo tinh thần Nghị quyết 40/2000/QH10 đòi hỏi người thầy phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn. Các nhà quản lý giáo dục muốn đảm bảo chất lượng giáo dục, quy mô phát triển của nhà trường phải quan tâm, quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên [25].
a. Bồi dưỡng
Theo từ điển tiếng Việt, BD là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất. Theo các tài liệu của UNESCO, BD được hiểu là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực, trình độ, phấm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó.
Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của lao động nghề nghiệp.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường, “Bồi dưỡng có thể là một quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ” [12].
Từ những khái niệm bồi dưỡng đã trình bày ở trên cho thấy:
– Chủ thể của quá trình bồi dưỡng đã được đào tạo để có một trình độ chuyên môn nhất định;
- Thực chất của quá trình BD là để bổ sung, cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc lạc hậu nhằm nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn dưới một hình thức phù hợp;
- Mục đích bồi dưỡng là nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn đã có sẵn, giúp cho công việc đang làm đạt được hiệu quả tốt hơn.
Tóm lại, bồi dưỡng là một quá trình nhằm trang bị hoặc trang bị thêm kiến thức kỹ năng cho mỗi con người nhằm mục đích hoàn thiện, nâng cao kỹ năng sống và hoạt động thực tiễn trong mỗi lĩnh vực nhất định. Bồi dưỡng là một dạng hoạt động của con người, mà trong hoạt động ấy con người bộc lộ về mặt tâm lý hình thành và phát triển năng lực, phấm chất của mình. Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn qua hình thức đào tạo nhất định. Trong quá trình bồi dưỡng, vai trò chủ thể của người tham gia bồi dưỡng là yếu tố quyết định chất lượng các hoạt động bồi dưỡng, thông qua con đường tự học, tự bồi dưỡng và phát huy nội lực cá nhân.
b. Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
Trong quản lý giáo dục, công tác BDCM cho giáo viên gắn liền với đào tạo và đã từ lâu, cụm từ đào tạo, bồi dưỡng đã trở thành một định danh chỉ một công việc của ngành GD&ĐT nói chung và của các cấp quản lý từ Bộ GD&ĐT và phòng GD&ĐT. Mục đích của BDCM cho GV là nhằm nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GV để đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp GD&ĐT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giúp cho GV có phương pháp, thói quen và nhu cầu tự học, tự nghiên cứu, thực hành và vận dụng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả quá trình dạy – học để nâng cao chất lượng GD&ĐT.
Dưới góc độ lý luận quản lý nguồn nhân lực thì công tác BDCM chính là bước “huấn luyện và phát triển đội ngũ”, công tác này diễn ra thường xuyên, liên tục theo từng chu kỳ đối với toàn thể đội ngũ (ví dụ: Bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ), với cá nhân thì đó có thể là bồi dưỡng để đạt chuẩn, nâng chuẩn… công việc này nhằm “nâng cao năng lực, khả năng cống hiến của mỗi thành viên cho kết quả hoạt động của tổ chức…”.
Chuyên môn là tổ hợp các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành mà con người tiếp thu được qua đào tạo để có khả năng thực hiện một loạt công việc trong phạm vi một ngành nghề nhất định theo phân công của xã hội. Chuyên môn của giáo viên, hay còn gọi là chuyên môn sư phạm là một ngành khoa học về lĩnh vực giáo dục, đào tạo có nội dung và phương pháp sư phạm riêng biệt, đòi hỏi các nhà giáo phải biết truyền thụ tri thức nghề nghiệp cho học sinh.
Ở góc độ khoa học giáo dục, giáo viên tốt là người có hiểu biết về tâm lý học, giáo dục học, hiểu và ý thức được rằng nếu không có những tri thức khoa học về giáo dục thì sẽ không thể cộng tác được với học sinh. Giáo viên tốt là người nắm vững các kỹ năng đến mức hoàn thiện trong một lĩnh vực hoạt động lao động nào đó, là người “lão luyện” trong công việc của mình. [9] Những giáo viên như vậy, ngoài hiệu quả được đào tạo ở các cơ sở đào tạo, còn phụ thuộc vào việc thường xuyên được BDCM.
Quản lý bồi dưỡng chuyên môn là một nội dung trong công tác quản lý nhà trường của hiệu trưởng, đồng thời cũng là nội dung quản lý của các cấp quản lý giáo dục. Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn là những tác động có chủ đích của chủ thể quản lý (Phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng nhà trường) đến đối tượng quản lý (Giáo viên) trong công tác BDCM nhằm đạt mục tiêu BDCM cho giáo viên đã đề ra.
Quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là một khâu rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên bao gồm các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra – đánh giá và các điều kiện phục vụ cho công tác BDCM cho giáo viên.
– Lập kế hoạch BDCM cho giáo viên là cơ sở để thực hiện, áp dụng các biện pháp triển khai nhằm nâng cao hiệu quả của công tác BDCM cũng như năng lực của đội ngũ giáo viên. Kế hoạch BDCM cho giáo viên có thể là kế hoạch ngắn hạn, hay dài hạn, quy mô kế hoạch có thể rộng hay hẹp nhưng phải đảm bảo nội dung cơ bản như: xác định rõ mục tiêu; xác định rõ nguồn năng lực, tài lực để thực hiện; xác định rõ chương trình hành động.
Một kế hoạch đầy đủ và thực thi có ý nghĩa quan trọng để biến mục tiêu, lý tưởng thành hiện thực và phải đảm bảo nội dung, hình thức và các điều kiện cần cho công tác BDCM giáo viên.
– Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên được tiến hành sau khi lập kế hoạch nhằm chuyển hóa những mục đích, mục tiêu BDCM cho giáo viên được đưa ra trong kế hoạch thành hiện thực. Qua việc tổ chức triển khai mà tạo ra mối quan hệ giữa các đơn vị trường học, các bộ phận liên quan trong hoạt động BDCM cho giáo viên được liên kết thành một bộ máy thống nhất, chặt chẽ và nhà quản lý có thể điều phối các nguồn lực phục vụ cho công tác bồi dưỡng. Phương pháp làm việc của cán bộ quản lý có ý nghĩa quyết định cho việc chuyển hóa kế hoạch quản lý công tác BDCM cho giáo viên thành hiện thực.
– Chỉ đạo công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là phương thức hoạt động của chủ thể quản lý nhằm điều hành bộ máy của tổ chức vận hành đúng theo mục tiêu đã định. Về thực chất chỉ đạo là xác lập quyền chỉ huy của người quản lý can thiệp vào quá trình quản lý để huy động các lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm bảo đảm cho tổ chức hoạt động ổn định, trật tự và đạt mục đích.
– Kiểm tra – đánh giá công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là nội dung quan trọng của chủ thể quản lý vì chức năng này xuyên suốt quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp trong công tác quản lý. Kiểm tra là một hoạt động nhằm thấm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định.
Trong công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, kiểm tra giúp nhà quản lý nắm chắc tiến trình công việc hoạt động của bộ máy tổ chức, phát hiện những sai lệch để kịp thời điều chỉnh nhằm đảm bảo công tác bồi dưỡng chuyên môn theo kế hoạch đã xây dựng và đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, kiểm tra để có cơ sở để đánh giá và lập kế hoạch các lớp BDCM tiếp theo.
1.3. CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH TRUNG HỌC CƠ SỞ
Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là tiếp nối quá trình đào tạo sau khi ra trường. Giáo viên sau khi tốt nghiệp ở các trường Cao đẳng sư phạm, Đại học sư phạm chỉ được cung cấp những tri thức nền móng để đảm đương được công tác giảng dạy trong một giai đoạn nhất định.
Nhiệm vụ phát triển giáo dục hiện nay được Đảng và Nhà nước ta xác định là “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học – công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước” [11]. Trong đó nhiệm vụ phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm với yêu cầu là: Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo; tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, THCS, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm [11].
Do đó, đòi hỏi đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên THCS nói riêng cần phải được bồi dưỡng để bổ sung kiến thức, phương pháp giảng dạy hiện đại nhằm thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục đã đề ra và phù hợp với trình độ trong khu vực và thế giới.
Về đối tượng giảng dạy, học sinh THCS (từ mười một đến mười lăm tuổi) có đặc điểm tâm sinh lý khác biệt với trẻ em ở các cấp học khác. Ở giai đoạn này nhân cách học sinh đã và đang hình thành một cách rõ rệt. Thái độ cư xử, tác phong sư phạm, năng lực chuyên môn của giáo viên có tác động quan trọng đến học sinh; vì vậy, bồi dưỡng chuyên môn là một nhu cầu không thể thiếu được.
Về phạm vi hoạt động giao tiếp, giáo viên THCS ít có điều kiện tiếp xúc với nền khoa học hiện đại, kiến thức mới ở nhiều lĩnh vực, nhất là các giáo viên ở vùng sâu, vùng xa – nơi có mặt bằng kinh tế và dân trí thấp. Chính vì thế, Bộ GD&ĐT ban hành chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên là điều kiện thuận lợi để giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn đáp ứng với yêu cầu giáo dục hiện nay.
Về cường độ lao động, giáo viên THCS có số giờ giảng dạy khá cao. Nếu tính 1 tiết lên lớp, giáo viên chỉ dành 1 tiết chuẩn bị thì không còn thời gian nghỉ ngơi để tái sản xuất sức lao động. Do vậy, việc cập nhật những kiến thức mới (thay cho những kiến thức đã lạc hậu và thiếu) thì giải pháp quan trọng nhất là bồi dưỡng (bồi dưỡng chuẩn hóa, bồi dưỡng nâng chuẩn, bồi dưỡng thường xuyên bồi dưỡng thay sách…).
Giáo viên THCS ngoài việc cung cấp các kiến thức cơ bản, còn phải giúp học sinh hình thành và phát triển những kỹ năng hoạt động và khả năng tư duy. Để làm được điều này, nhất thiết giáo viên phải được đào tạo cơ bản. Đối với đội ngũ giáo hiện có phải được đào tạo lại để chuẩn hoá bằng nhiều hình thức, phương thức phù hợp. Đi đôi với việc chuẩn hóa, tất yếu phải hiện đại hóa đội ngũ giáo viên. Vì vậy, muốn chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo viên THCS, công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THCS phải được chú trọng. Vai trò của công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với đội ngũ GV là một giải pháp để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của toàn bộ đội ngũ – một công tác vừa mang tính cấp bách vừa mang tính chiến lược.
Giáo viên tiếng Anh THCS là những người được đào tạo trong các trường cao đẳng hoặc đại học chuyên ngành tiếng Anh có cùng một nhiệm vụ là giáo dục và rèn luyện học sinh, giúp các em có trình độ về môn học để tiếp tục theo học các bậc học cao hơn, đồng thời giúp các em hiểu thêm về nền văn hoá khác qua môn học. Giáo viên tiếng Anh THCS gắn bó với mục đích, mục tiêu đào tạo của tổ chức nhà trường.
Giáo viên nói chung và giáo viên tiếng Anh nói riêng là một trong các thành tố quan trọng của quá trình dạy học, giáo viên có vai trò quyết định cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục. Đảng ta xác định “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh”. Đội ngũ nhà giáo là lực lượng nòng cốt thực hiện mục tiêu GD&ĐT, là người đóng vai trò quan trọng trang bị cho người học thế giới quan, tri thức và tư duy khoa học, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo.
Đề cập đến tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên trong bối cảnh giáo dục đi vào thế kỷ XXI, Tiến sĩ Singh Raja Roy – nhà giáo dục nổi tiếng ở Ấn Độ, chuyên gia giáo dục nhiều năm của UNESCO khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có một lời bình khá ấn tượng: “Giáo viên giữ vai trò quyết định trong quá trình giáo dục và đặc biệt trong việc định hướng lại giáo dục…” [26]. Từ lời bình này cho thấy giáo viên đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục, là người chịu trách nhiệm và quyết định đến chất lượng giáo dục của cấp học. Dù ở bất cứ cấp học nào thì vai trò của giáo viên vẫn trong tư thế chủ đạo.
Tiếng Anh là môn văn hoá cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông, là bộ phận không thể thiếu được của học vấn phổ thông. Bởi vậy, giáo viên tiếng Anh đóng vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện chương trình giáo dục phổ thông đặc biệt là góp phần nâng cao năng lực sử dụng thành thạo tiếng Anh cho nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai.
a. Nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Pu Vông tỉnh Ắttapư Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào\New folder/ Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho gi


