Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Thi đua khen thưởng luôn là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, nhiều sắc lệnh, văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng được Nhà nước ban hành làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng và để khuyến khích, động viên phong trào thi đua yêu nước phát triển. Các phong trào thi đua yêu nước luôn gắn với quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc. Nhiều phong trào thi đua đã đi vào lịch sử như ”Tuần lễ vàng”, phong trào ”Nam tiến” chi viện cho miền Nam kháng chiến… Đó là những phong trào thi đua đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động.
Hiện nay, trước xu thế mở cửa hội nhập, giao lưu và đa phương hóa các quan hệ quốc tế. Bên cạnh những yếu tố tác động tích cực thì mặt trái của cơ chế thị trường cũng để lại nhiều vấn đề đáng báo động, do vậy việc thay đổi nhận thức, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội nói chung, cũng như công tác thi đua khen thưởng và quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng là vấn đề có tính cấp bách và quan trọng. Chính vì thế, ngày 03/6/1998, BCT đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW “về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới”; sau đó ngày 21/5/2004, BCT ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW “về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào yếu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiến tiến” và ngày 07/4/2014 ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW “về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”. Trên cơ sở đó, Luật thi đua, khen thưởng đã được QH nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 26 tháng 11 năm 2003, được sửa đổi, bổ sung năm 2005, năm 2013 cùng nhiều NĐ của CP, TT của bộ, ngành liên quan hướng dẫn thực hiện các vấn đề liên quan đến công tác thi đua, khen thưởng đã góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay.
Ở tỉnh Quảng Nam, thực tiễn công tác thi đua, khen thưởng trong những năm qua cho thấy: công tác thi đua, khen thưởng đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận; sau khi tái lập tỉnh Quảng Nam (1997), thi đua, khen thưởng đã trở thành “người bạn song hành” ở hầu hết các ban, ngành, lĩnh vực của tỉnh; việc ban hành các chính sách, pháp luật về thi đua, khen thưởng và tuyên dương, khen thưởng một số mô hình mới, nhân tố mới, gương người tốt, việc tốt đạt được một số kết quả khích lệ.
Từ thực tế đó, việc đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp, kiến nghị để tăng cương quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, tạo ra “sân chơi lành mạnh” và công bằng đó là vấn đề có tính cấp thiết trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Do vậy, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng và quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu, luận văn có nhiệm vụ:
– Nghiên cứu, đánh giá làm rõ vấn đề lý luận về thi đua, khen thưởng và quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng.
– Phân tích thực trạng để làm rõ những hạn chế, yếu kém trong hoạt động quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng ở tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen của địa phương, chủ yếu ở tỉnh Quảng Nam từ năm 2005 đến nay, có so sánh, đối chiếu những thời kỳ trước đó.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa Mác-Lênin với phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng.
Đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Luân văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học, góp phần tạo sự nhận thức đúng, đầy đủ, toàn diện các phương diện của công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng và thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng ở địa phương. Qua đó thấy được ý nghĩa, vai trò, tác dụng to lớn của công tác thi đua, khen thưởng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu, nguồn tham khảo trong quá trình nghiên cứu, học tập. Đồng thời cũng là nguồn tài liệu để các cá nhân, tổ chức sử dụng trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của mình.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phần phụ lục; nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thi đua, khen thưởng và quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng ở tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong những năm tới.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI ĐUA, KHEN THƯỞNG
VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƯỞNG
1.1. Một số vấn đề lý luận về thi đua, khen thưởng
- 1.1.1. Khái niệm thi đua
Thi đua hiểu theo nghĩa thông thường là đem tài năng, sức lực ra nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong học tập, sản xuất, công tác và chiến đấu.
Xét về nguồn gốc lịch sử hình thành, thi đua là một phạm trù diễn ra khách quan trong quá trình sản xuất, hợp tác lao động của con người trong xã hội. Nó xuất hiện một cách tự nhiên, đó là kết quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình lao động. Karl Marx cho rằng “Không nói đến thế lực mới do việc phối hợp nhiều sức thành một sức duy nhất mà có được thì chỉ riêng sự tiếp xúc xã hội cũng đã sinh ra thi đua, sinh ra kích thích làm cho năng suất cá nhân tăng còn khá cao. “Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người. Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt nghị lực sinh động tăng thêm nghị lực cho riêng từng người”. Như vậy, thi đua xuất hiện ở bất cứ đâu, nơi nào nếu ở đó diễn ra hoạt động lao động hợp tác của con người.
Để nâng cao năng suất lao động, thiết lập một chế độ xã hội chủ nghĩa cao hơn chủ nghĩa tư bản đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hiệp lực, hợp tác lao động trong sản xuất “Lê-nin nhìn thấy trước rằng thi đua xã hội chủ nghĩa có tính chất quần chúng sẽ giữ vai trò ngày càng to lớn trong việc nâng cao năng suất lao động, phát triển nền kinh tế quốc dân dựa trên chế độ công hữu” [28, tr.XXI].
Có thể nói “những tư tưởng của Lê-nin về thi đua xã hội chủ nghĩa là một phát hiện hết sức lớn làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Thi đua xã hội chủ nghĩa là một phương pháp đã được khảo nghiệm của công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản; lấy những chỉ dẫn của Lê-nin làm kim chỉ nam, Đảng ta đang cố gắng phát triển bằng mọi cách thi đua xã hội chủ nghĩa và các hình thức lao động cộng sản chủ nghĩa”. [28, tr.XXI-XXII], và lênin cũng khẳng định “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới lần đầu tiên mở đường – nhờ đã xóa bỏ được các giai cấp, và do đó, xóa bỏ được sự nô dịch quần chúng – cho một cuộc thi đua thực sự có tính chất quần chúng. Và chính tổ chức Xôviết, trong khi chuyển từ nền dân chủ hình thức của chính thể cộng hòa tư sản sang việc quần chúng lao động thực sự tham gia công tác quản lý, lần đầu tiên đã tổ chức phong trào thi đua một cách rộng rãi” [28, tr.232].
Để đạt được mục tiêu thi đua của chủ nghĩa xã hội, nguyên tắc quan trọng nhất của thi đua là đoàn kết, tương thân, tương ái hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển, phổ biến sáng kiến, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau trong lao động, sản xuất. Thi đua xã hội chủ nghĩa vừa hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế, vừa nhằm xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
Theo Luật thi đua, khen thưởng được QH nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [42, tr.1].
Từ khái niệm trên, thi đua bao gồm các nội dung sau:
– Thi đua là hoạt động có tổ chức: vì các phong trào thi đua được thực hiện theo trình tự nhất định từ khâu lập kế hoạch, xác định mục tiêu, phương hướng, phân loại hình thức, đối tượng, tổ chức phát động, ký giao ước thi đua đến kiểm tra, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, biểu dương, nhân rộng điển hình tiên tiến… Hoạt động thi đua do người đứng đầu địa phương, đơn vị phát động để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu chung do địa phương, đơn vị đề ra.
– Thi đua là hoạt động tự nguyện: đây là quy định thể hiện rõ tính “nhân văn” trong thi đua. Bởi thi đua tự nguyện sẽ hướng con người đi vào tính tự giác, kích thích sự say mê, tìm tòi, sáng tạo, thậm chí “cạnh tranh lành mạnh” để tạo động lực mạnh mẽ trong lao động, sản xuất. Nếu thi đua bị ép buộc thì sẽ triệt tiêu sự sáng tạo, thậm chí dẫn đến tiêu cực nảy sinh.
– Thi đua là hoạt động có mục tiêu và đích đến rõ rệt: mục đích thi đua nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thi đua giúp nâng cao chất lượng, năng suất trong lao động, học tập công tác, thúc đẩy xã hội phát triển.
Hiện nay, trước xu thế mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thuật ngữ “cạnh tranh” được Nhà nước Việt Nam thừa nhận và thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam. Chúng ta không thừa nhận sự cạnh tranh ở lĩnh vực thi đua, khen thưởng.
Theo quan điểm của tác giả, thi đua và cạnh tranh không thể tách rời nhau bởi:
– Cạnh tranh là sự thể hiện rõ nhất bản chất cơ bản và là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, là sản phẩm tiến bộ của nhân loại. Kinh tế thị trường là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Tuy lâu nay thi đua là khái niệm rất giản dị, gần gũi và “thân thương”, nhưng quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải chấp nhận và phải thừa nhận cạnh tranh là quy luật tất yếu và là phương thức phát triển cao nhất của thi đua.
– Từ quan điểm trên, tác giả cho rằng thuật ngữ “thi đua” không chỉ là giá trị tinh thần, tư tưởng, sự hợp tác lao động sản xuất, đoàn kết phát triển, mà bao hàm cả sự cạnh tranh, sự ganh đua để cùng tồn tại và phát triển. Khái niệm thi đua tuy rộng lớn và sâu sắc hơn khái niệm cạnh tranh, nhưng cạnh tranh mới chính là nhân tố quan trọng để loại bỏ cái “lạc hậu, cũ kỹ, lỗi thời” của thi đua và sự hình thành nên cái mới, cái tiến bộ, ngược lại thi đua sẽ “kìm hãm” những mặt trái của cạnh tranh mà kinh tế thị trường đem lại. Do vậy, việc kết hợp hài hòa giữa thi đua với cạnh tranh không những tạo ra động lực kinh tế, mà còn tạo ra động lực chính trị để ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp.
Khen hiểu theo nghĩa thông thường là thể hiện sự hài lòng, bằng việc ghi nhận, đánh giá tốt về người nào đó, tổ chức nào đó. Thưởng là việc tặng, cho bằng tiền, hoặc hiện vật theo quy định của pháp luật. Nguyên cố Tổng Bí thư BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam Trường Chinh khẳng định: “Khen thưởng là vấn đề thuộc phạm trù khoa học xã hội. Công tác khen thưởng cũng như trừng phạt là một vấn đề thực hiện phát sinh và tồn tại trong quá trình phát sinh, phát triển của con người”.
Khen thưởng là phạm trù xuất hiện từ lâu, cùng với sự hình thành và phát triển của mỗi nhà nước trong mỗi chế độ xã hội khác nhau. Ở các triều đại phong kiến nước ta, khen thưởng đã trở thành việc làm thường xuyên gắn với các hình thức thưởng – phạt của nhà nước.
Theo Luật thi đua, khen thưởng năm 2003 “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với tập thể, cá nhân có thành tích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [42, tr.1].
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, khen thưởng không những thể hiện sự ghi nhận của Nhà nước bằng lợi ích vật chất, tinh thần mà còn có ý nghĩa, tác dụng thúc đẩy thi đua, phát triển sản xuất, tạo động lực khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
1.1.3. Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng
Nếu thi đua là hành động tự nguyện, tự giác của cá nhân, tổ chức có sự “điều tiết” của nhà nước, thì khen thưởng chính là một chức năng quản lý của nhà nước gắn liền với sự ghi nhận, tôn vinh công trạng đối với các tổ chức, cá nhân.
Thi đua và khen thưởng xét về bản chất đó là tiến trình để dẫn đến một kết quả. Nó có mối quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng qua lại lẫn nhau. Karl Marx cho rằng “Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người. Sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt nghị lực sinh động tăng thêm nghị lực cho riêng từng người”.
Thi đua và khen thưởng là cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả. Thi đua là nguyên nhân và khen thưởng là kết quả. Điều đó thể hiện ở chỗ: thi đua là cơ sở của khen thưởng, bởi nếu tổ chức tốt phong trào thi đua thì khen thưởng sẽ đúng, thực chất. Ngược lại, khen thưởng đúng người, đúng việc sẽ có tác dụng động viên, cổ vũ cho thi đua, làm cho thi đua ngày càng phát triển.
Thực tế cho thấy, nếu nơi nào tổ chức tốt phong trào thi đua, thi đua đúng, công khai, chặt chẽ, thật sự trở thành động lực nội sinh, ở đó xã hội sẽ hưởng ứng, và khen thưởng sẽ chuẩn xác. Ngược lại, nếu thi đua chỉ là hình thức, tràn lan, qua loa, chiếu lệ, không thực chất thì khen thưởng sẽ không chuẩn xác, xã hội thiếu ủng hộ, thậm chí phát sinh nhiều tiêu cực, phản tác dụng, gây ra những hậu quả khó lường.
Chính vì thế, khen thưởng phải được đánh giá khách quan, công bằng trên cơ sở phong trào thi đua. Muốn làm tốt công tác khen thưởng phải làm tốt phong trào thi đua và muốn làm tốt phong trào thi đua thì khen thưởng phải chính xác, thực chất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá mối quan hệ giữa thi đua với khen thưởng bằng câu nói rất giản dị nhưng đầy sâu sắc, nhân văn, đó là: “thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch” [23, tr.264]. Nghĩa là có tổ chức tốt phong trào thi đua, bình bầu chính xác thì kết quả- khen thưởng mới chính xác, mới động viên, khuyến khích mọi người hăng say phát triển sản xuất. Thi đua sẽ tạo động lực thúc đẩy mọi tổ chức, cá nhân phát huy sự sáng tạo, phấn đấu vươn lên hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế – xã hội đề ra. Qua kết quả thi đua sẽ lựa chọn, ghi nhận những tập thể và cá nhân xứng đáng để khen thưởng. Khen thưởng chính là việc phản ánh, đánh giá kết quả từ phong trào thi đua.
1.2. Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng
1.2.1. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng
Không phải tất cả các quan hệ xã hội đều cần sự quản lý của nhà nước, tuy nhiên nhiều lĩnh vực, trong đó lĩnh vực thi đua, khen thưởng đòi hỏi xuyên suốt phải có sự quản lý của nhà nước mới thật sự phát huy hiệu quả, tác dụng. Bởi: thi đua, khen thưởng là lĩnh vực rộng lớn, liên quan đến tất cả các ngành, các cấp, từ Trung ương đến địa phương với hàng triệu người, hàng ngàn người tham gia, nếu không có sự quản lý, điều tiết của nhà nước thì thi đua, khen thưởng sẽ tràn lan, “mạnh ai nấy làm”, vô tổ chức và cũng không có cơ sở pháp lý để thừa nhận, ghi nhận kết quả thực tế của mỗi cá nhân, tổ chức; không tạo được động lực, quyết tâm mạnh mẽ trong thi đua, sản xuất. Chính vì thế, cần thiết phải có sự quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng để tạo căn cứ pháp lý, những định hướng cụ thể cho mọi tầng lớp nhân dân phát huy nội lực, ra sức thi đua phát triển sản xuất.
Đồng thời khi có sự quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng sẽ tăng cường mối quan hệ hiểu biết, học hỏi và kích thích sự tìm tòi, sáng tạo lẫn nhau. Qua đó tạo ra sự thống nhất, đồng bộ trong phấn đấu vươn lên đạt mục tiêu chung của từng cá nhân, cơ quan, tổ chức, địa phương và của toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển và tăng cường hội nhập quốc tế.
Có sự quan lý của nhà nước, việc thi đua, khen thưởng mới được sự ghi nhận, đánh giá một cách khách quan, đúng đắn, công bằng và kịp thời, đó là cơ sở để khuyến khích mọi tầng lớp trong xã hội tham gia phong trào thi đua.
Để thi đua, khen thưởng đi vào thực chất và có hiệu quả phải có sự quản lý thống nhất của nhà nước với những cơ chế, chính sách khả thi, đảm bảo dân chủ, công bằng. Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 03/5/1998 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới đã chỉ rõ: “Làm rõ vị trí, vai trò quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước đối với công tác thi đua, khen thưởng; kiện toàn và đổi mới tổ chức – cán bộ của cơ quan tham mưu thi đua, khen thưởng, đổi mới nội dung và hình thức thi đua, khen thưởng…”. Do vậy, tất yếu cần phải có sự quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng.
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng
Nội dung quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng được quy định tại Luật thi đua, khen thưởng năm 2003, gồm các nội dung sau: “Ban hành các văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng; xây dựng chính sách về thi đua, khen thưởng; tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng; sơ kết, tổng kết, tặng thưởng các hình thức khen thưởng; đánh giá hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng; hợp tác quốc tế về thi đua, khen thưởng; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về thi đua, khen thưởng và giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng.”
- Ban hành các văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng
Mỗi một sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động, phát triển đều có nguồn gốc phát sinh (cái nguyên thủy) cùng với đó là các quy luật của nó, nghĩa là luôn có mối tương quan giữa cái nguyên thủy với các sự vật, hiện tượng và giữa các sự vật hiện tượng với nhau để tạo một quy luật. Montesquie từng nói “Luật, theo nghĩa rộng nhất là những quan hệ tất yếu trong bản chất của sự vật. Với nghĩa này thì mọi vật đều có luật của nó. Thế giới thần linh, thế giới vật chất, những trí tuệ siêu việt, cho đến các loài vật và loài người đều có luật của mình” [41, tr.37]. Như vậy dù là con người, động vật hay đấng siêu nhiên nào đó đều có quy luật hoạt động của nó.
Trước tiên cần khẳng định, Nhà nước quản lý công tác thi đua, khen thưởng bằng pháp luật. Trong điều kiện nước ta một đảng cầm quyền, các văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng không những thể hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân mà còn cụ thể hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng trong từng giai đoạn cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mĩ xâm lược (giai đoạn 1954-1975) và thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 trở đi), nước ta đã ban hành nhiều sắc lệnh, nghị quyết, thông tư, nghị định để tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng; đặc biệt ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Quốc lệnh ban hành 10 điều thưởng phạt- đây là cơ sở pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách khen thưởng của nước ta sau này.
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi đua, khen thưởng, ngày 03/6/1998, BCT ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW “về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới”; đến ngày 21/5/2004, BCT ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW “về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến”; và sau đó vào ngày 07/4/2014, BCT ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW “về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”. Trên cơ sở đó, Luật thi đua, khen thưởng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 26 tháng 11 năm 2003, được sửa đổi, bổ sung năm 2005, năm 2013, cùng với đó nhiều NĐ của CP, TT hướng dẫn của bộ, ngành Trung ương đã góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay.
- Xây dựng chính sách về thi đua, khen thưởng
Xây dựng chính sách về thi đua, khen thưởng là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta nhận thức rõ, xuyên suốt trong từng giai đoạn cách mạng. Sau khi giành chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh ban hành 10 điều thưởng- đây là chủ trương đầu tiên của Nhà nước về thi đua, khen thưởng, nhằm động viên, khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và để phát phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đi đến kháng chiến thắng lợi.
Sau đó các chỉ thị về thi đua, khen thưởng được BCT ban hành như: Chỉ thị số 35-CT/TW “về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới”; Chỉ thị số 39-CT/TW “về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến”; và Chỉ thị số 34-CT/TW “về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”- đây là những chính sách định hướng lớn, quan trọng của Đảng trong giai đoạn đổi mới. Luật thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành là sự cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thi đua, khen thưởng- đây là chính sách tác động trực tiếp đến công tác thi đua, khen thưởng ở tất cả các ngành, lĩnh vực.
Hiện nay, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ngày càng phát triển và đa dạng hóa. Do vậy, việc xây dựng chính sách thi đua, khen thưởng phải sát thực tế, phù hợp với điều kiện của đất nước, của từng địa phương, đơn vị; tránh tình trạng ban hành “chính sách trên trời, cuộc đời dưới đất”. Việc xây dựng chính sách về thi đua, khen thưởng bên cạnh bám sát chủ trương chung, cần chú trọng đến chế độ khen thưởng bằng lợi ích vật chất để tạo động lực cho những cá nhân, tập thể thi đua, phấn đấu, góp phần thúc đẩy phát triển toàn diện đất nước.
- Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng
Việc tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng là khâu rất quan trọng mà nhà nước cần quản lý. Trên thực tế, nhận thức ở mỗi ngành, mỗi địa phương, đơn vị về các quy định của pháp luật đối với công tác thi đua, khen thưởng có lúc, có nơi chưa thống nhất, không đồng đều, do vậy cần tuyên truyền, hướng dẫn để tạo sự thống nhất tổ chức thực hiện từ trên xuống dưới. Điều 12 và điều 13 Luật thi đua, khen hưởng năm 2003 nêu rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: tuyên truyền, động viên các thành viên của mình tham gia với các cơ quan chức năng tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng; tổ chức hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước tổ chức các cuộc vận động, các phong trào thi đua; giám sát việc thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng. Các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, nêu gương các điển hình tiên tiến, người tốt việc tốt, cổ động phong trào thi đua, khen thưởng” [42, tr.3]
Như vậy, khi được phân công, phân cấp rõ ràng, cụ thể và được vận dụng đúng, phù hợp sẽ tạo được sự thống nhất về nhận thức và hành động từ Trung ương đến cơ sở đối với các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.
– Hiện nay, ở cấp tỉnh có hai hình thức tổ chức thi đua phổ biến đó là: thi đua thường xuyên và thi đua theo chuyên đề.
+ Thi đua thường xuyên là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao của cá nhân, tập thể để tổ chức phát động, nhằm thực hiện tốt công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng năm của cơ quan, đơn vị. Đối tượng thi đua thường xuyên là các cá nhân trong một tập thể, đơn vị, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tương đồng nhau.
+ Thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt) là hình thức thi đua nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm được xác định trong khoảng thời gian nhất định hoặc tổ chức thi đua để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đột xuất, cấp bách của cơ quan, đơn vị. Cơ quan, tổ chức khi phát động thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt) cần xác định rõ mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp và thời gian cụ thể.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng
Muốn có đội ngũ cán bộ làm tốt công tác thi đua, khen thưởng phải thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về trình độ, chuyên môn nghiệp vụ để tiến đến tiêu chuẩn hóa.
Bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ là đòi hỏi tất yếu đối với cán bộ nói chung và cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng nói riêng. Trong điều kiện hiện nay, đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng nhìn chung còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là đối với cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng ở cơ sở. Do vậy cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ để giải quyết những yếu kém trong việc tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền về tổ chức phong trào thi đua ở địa phương để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra.
- Sơ kết, tổng kết, tặng thưởng các hình thức khen thưởng; đánh giá hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng
Nội dung sơ kết, tổng kết cần tập trung đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, phát động và tổ chức triển khai phong trào thi đua, khen thưởng của các cấp ủy đảng, chính quyền về tình hình thực hiện các chỉ tiêu, phong trào thi đua; những nội dung, công việc đã làm được, những việc chưa làm được và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém. Những đơn vị nào thực hiện tốt, đơn vị nào thực hiện chưa tốt và bài học kinh nghiệm. Các hình thức, nội dung, phương pháp để tổ chức phong trào thi đua có hiệu quả; về kinh nghiệm xây dựng điển hình tiên tiến; các hình thức, nội dung, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng và kết quả tổ chức tặng thưởng các hình thức khen thưởng.
- Hợp tác quốc tế về thi đua, khen thưởng
Việc hợp tác quốc tế về thi đua, khen thưởng đã thể hiện sự nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nên việc kêu gọi đầu tư, hỗ trợ của quốc tế là cần thiết, do vậy tất yếu phải hợp tác quốc tế về thi đua, khen thưởng. Nội dung hợp tác quốc tế về thi đua, khen thưởng, gồm:
Hợp tác, trao đổi kinh nghiệm về xây dựng chính sách, pháp luật và việc đào tạo, sử dụng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng của các nước trên thế giới.
Việc giao lưu, học hỏi về trình độ phát triển sản xuất, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của các nước tiến để áp dụng vào thực tiễn sản xuất Việt Nam.
Giới thiệu, trao đổi, so sánh các hình thức, danh hiệu thi đua, khen thưởng của Nhà nước Việt Nam với các nước trên thế giới.
Muốn thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng phải tiến hành thanh tra, kiểm tra. Trên thực tế, không phải lúc nào các quy định của pháp luật đều được thực hiện đúng đắn, có những nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến những khuyết điểm, sai phạm trong công tác thi đua, khen thưởng, do vậy phải tiến hành thanh tra, kiểm tra để uốn nắn, chấn chỉnh và xử lý nghiêm túc.
Ðiều 96, Luật thi đua, khen thưởng năm 2003 quy định: “Người nào gian dối trong việc kê khai thành tích để được khen thưởng thì bị hủy bỏ quyết định khen thưởng và bị thu hồi hiện vật và tiền thưởng đã nhận; tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà còn bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” [42, tr.27].
Việc thanh tra, kiểm tra thường được tiến hành theo định kỳ hằng quý, hằng năm, hoặc theo đợt phát động, kết thúc phong trào thi đua. Đồng thời tiến hành thanh tra đột xuất theo yêu cầu nhiệm vụ đặt ra và thanh tra khi có khiếu nại, tố cáo. Nếu làm tốt chức năng này sẽ nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước trên lĩnh vực thi đua, khen thưởng.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng
Ðiều 98, Luật thi đua, khen thưởng năm 2003 quy định: “Cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo về thi đua, khen thưởng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Tổ chức có quyền khiếu nại về thi đua, khen thưởng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi đua, khen thưởng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo” [42, tr.27].
Sau khi giải quyết, phải kết luận cụ thể nội dung khiếu nại, tố cáo nào đúng, nội dung nào chưa đúng để trả lời người tố cáo. Nếu người bị tố cáo có sai phạm đến mức xử lý phải xử lý nghiêm túc, không được kiểm điểm rút kinh nghiệm như vẫn thường xuyên diễn ra ở nước ta.
Việc thực hiện tốt công tác khiếu nại, tố cáo và xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng sẽ tạo ra động lực, sự công bằng và niềm tin để mọi cá nhân, tổ chức hăng hái tham gia thi đua, yêu nước, đóng góp cho sự nghiệp phát triển của đất nước; đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, đảm bảo nguyên tắc “chính xác, công khai, công bằng, kịp thời ”, với “mục tiêu của thi đua nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [44, tr.1]
1.3. Hệ thống cơ quan làm công tác thi đua, khen thưởng
1.3.1. Ở Trung ương
Khi mới thành lập, Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương là cơ quan trực thuộc Chính phủ, giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong phạm vi cả nước (NĐ 158/2004/NĐ-CP ngày 25/8/2004 của Chính phủ). Nhằm giảm bớt đầu mối, tinh gọn các cơ quan trực thuộc thuộc Chính phủ và phát huy hiệu quả quản lý, ngày 08/8/2007 Chính phủ ban hành NĐ số 08/2007/NĐ-CP về việc chuyển Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương trực thuộc Bộ Nội vụ.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương được quy định tại Quyết định số 05/2015/QĐ-TTg, ngày 12/02/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Căn cứ theo Quyết định này thì nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Thi đua – Khen thưởng Trung khá toàn diện và là cơ sở để các cấp chính quyền địa phương vận dụng, cụ thể hóa cho phù hợp điều kiện và tình hình thực tế.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\CHÍNH SÁCH CÔNG\Đổi mới hoạt động thi đua, khen thưởng của thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang\ĐỀ ÁN\THAM KHẢO/ Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng từ thực tiễn Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng từ thực tiễn Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng từ thực tiễn Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng từ thực tiễn


