Tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nhà nước pháp quyền (NNPQ) là xu thế phát triển tất yếu của thời đại, thể hiện qua sự đảm bảo cho nhà nước được tổ chức và hoạt động phù hợp với những tư tưởng chính trị tiến bộ của nhân loại, đó là công bằng, dân chủ, tự do và quyền con người. Mô hình tổ chức nhà nước theo NNPQ được coi là mô hình nhà nước lý tưởng của mọi thời đại.

Ở Việt Nam, yêu cầu xây dựng NNPQ được Đảng ta chính thức đưa vào Văn kiện Đại hội VII. Từ đó cho đến nay, lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQ XHCN) không ngừng được bổ sung và hoàn thiện. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã khẳng định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ số một, bao trùm, chi phối các nhiệm vụ khác”, là một trong những nhiệm vụ mang tính chiến lược trong quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội (KT – XH). Đây chính là quyết tâm chính trị của Đảng trong việc tiến hành đẩy mạnh công tác cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, đánh dấu một bước phát triển mới của sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới – một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đại hội X và Đại hội XI của Đảng đã chủ trương tiếp tục hoàn thiện NNPQ XHCN trên cơ sở xây dựng cơ chế vận hành nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nâng cao năng lực quản lý và điều hành của nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN)…

Sau gần 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận về lý luận và thực tiễn trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam, thì những năm gần đây đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết như: cần phải làm rõ những đặc trưng XHCN trong NNPQ, vấn đề dân chủ hóa đời sống xã hội trong NNPQ, phối hợp, phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước, vai trò lãnh đạo của Đảng trong NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân…

Trong dòng chảy xuyên suốt của lịch sử tư tưởng nhân loại, thời kỳ cận đại ở phương Tây nổi lên tư tưởng pháp quyền của các đại diện tiêu biểu như: J. Locke, Montesquieu, J. Rousseau. Các ông được đánh giá là những con người khơi nguồn tri thức cho phong trào Khai sáng. Trong hệ thống tư tưởng chính trị, tư tưởng pháp quyền giữ vị trí quan trọng và được trình bày trong một số tác phẩm như: “Khảo luận thứ hai về chính quyền – Chính quyền dân sự” (1689), “Tinh thần pháp luật” (1748), “Khế ước xã hội” (1762)… Những giá trị và ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng pháp quyền thời kỳ này đã thôi thúc nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều thế hệ trên thế giới khai thác và tìm cách luận giải để vận dụng trong quá trình tạo lập nhà nước hợp lý, có hiệu quả. Nó đã trở thành cơ sở nền tảng trong nghiên cứu lý luận để xây dựng NNPQ hiện đại.

Tuy nhiên, là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp, luôn không ngừng biến đổi, cho nên những tri thức, sự hiểu biết về chính trị, nhà nước vẫn chưa bao giờ được xem là đầy đủ, hoàn bị. Việc tạo lập một nhà nước thật sự hợp lý, có hiệu quả vẫn luôn là sự tìm tòi, thể nghiệm của các lực lượng cầm quyền và cũng là đòi hỏi, mong muốn của các cộng đồng dân cư ở mỗi quốc gia trong thế giới đương đại.

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đối tượng nghiên cứu của luận văn thạc sĩ triết học của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những giá trị của tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại, từ thực tiễn hoạt động của NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay, luận văn xây dựng các giải pháp nhằm phát huy những yếu tố tích cực của tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại nhằm hoàn thiện NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn sẽ là:

Thứ nhất, phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại

Thứ hai, phân tích thực trạng xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay

Thứ ba, xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện NNPQ XHCN ở Việt Nam

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã quy định phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài. Đối tượng nghiên cứu của đề là:

– Những nội dung tư tưởng, quan điểm pháp quyền phương Tây cận đại.

– Vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những quan điểm pháp quyền phương Tây cận đại thông qua một số đại biểu tiêu biểu và vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

4.1. Cơ sở lý luận

4.2. Phương pháp nghiên cứu

* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

5. Bố cục của luận văn

6. Tổng quan tài liệu

Tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG 1

KHÁI LƯỢC VỀ TƯ TƯỞNG

PHÁP QUYỀN PHƯƠNG TÂY CẬN ĐẠI

1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

      1. 1.1.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền

Trong tiến trình phát triển của lịch sử, nhân loại luôn đặt ra những câu hỏi rằng: quyền lực nhà nước đã có nguồn gốc từ đâu, con người đã làm gì để quyền lực nhà nước không bị tha hóa, làm cách nào để tìm được một hình thức tổ chức và hoạt động nhà nước tốt nhất nằm đáp ứng được sự phát triển của xã hội. Thực tế, nhân loại đã tìm ra câu trả lời cho vấn đề nêu trên, đó là phải tổ chức nhà nước dưới hình thức NNPQ.

Vậy, NNPQ là gì ? Khái niệm này có được hiểu và sử dụng một cách nhất quán trong xây dựng nhà nước của các quốc gia hay không ?

Có thể nói rằng, “Nhà nước pháp quyền” là một thuật ngữ luật học xuất phát đầu tiên từ những học giả Đức, bắt nguồn từ các học thuyết của chủ nghĩa tự do ở Đức trong thời kỳ sơ khai, đó là việc họ đặt luật pháp của nhà nước trên nền tảng của lý trí. Theo ngôn ngữ của Đức, Recht có nghĩa là luật pháp, còn Staat có nghĩa là nhà nước, nên Rechtsstaat có thể hiểu là nhà nước luật pháp [108].

Năm 1829, Robert Von Mohl đã dùng khái niệm “Nhà nước luật pháp” trong cuốn sách Luật học mang tên “Staatsrecht des Königsreich Würtemberg” (Nhà nước và pháp luật của Königsreich Würtemberg). Kể từ đây, khái niệm “Nhà nước luật pháp” chính thức được các nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến ở Đức. Về sau các học giả ở Đức vẫn tiếp tục nghiên cứu và bổ sung cho khái niệm theo hướng chú trọng về hình thức của luật pháp. Trong đó, Otto Mayer đã đưa ra định nghĩa NNPQ như sau: “Nhà nước pháp quyền là một nhà nước có được một hệ thống luật hành chính được quy định chặt chẽ, lấy hiến pháp làm cơ sở” [108].

Trong khi đó, ở nước Anh không có khái niệm “Nhà nước pháp quyền” chỉ được gọi là Rule of law (pháp quyền), phạm trù “nhà nước” dường như không hiện diện ở đây. Nó được hiểu ngắn gọn là pháp luật về quyền. Theo đó, luật pháp đứng ở địa vị cao nhất, mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật. Ở Hoa kỳ cũng có những quan niệm tương tự, NNPQ (due process of law) của người Mỹ được đề cập trong Hiến pháp thứ 14 (1868). Theo đó, NNPQ không phải chỉ là việc buộc chính quyền phải tôn trọng đúng thể thức khi áp dụng luật, mà còn buộc phải xem xét luật pháp về mặt nội dung.

Ở nước ta, trong từ điển Xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên, NNPQ được quan niệm như sau: NNPQ là:

“Nhà nước được xây dựng gắn với nền dân chủ, vận hành theo nguyên tắc dân chủ, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được bầu cử tự do với sự tham gia trực tiếp của mọi công dân và các quyền lực đó phải được tổ chức sao cho độc lập thật sự và những người được cử vào các cơ quan đó phải chịu trách nhiệm trước nhân dân – những người trực tiếp bầu ra họ.

Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật là thước đo, là cơ sở bảo đảm các quyền và tự do của mọi công dân, không ai được đứng trên pháp luật.

Nhà nước pháp quyền là loại hình nhà nước có nhiều khả năng nhất trong việc chống lại xu hướng độc quyền về quyền lực và xu hướng quan liêu hóa bộ máy quyền lực” [99, tr.205-230].

Với cách hiểu như trên, NNPQ là nhà nước bị hạn chế quyền lực, nhà nước ấy đối lập với nhà nước độc tài, chuyên chế, là nhà nước đảm bảo cho mọi công dân có được nhiều quyền nhất.

Đối với Trần Ngọc Liêu:

“Nhà nước pháp quyền là khái niệm dùng để chỉ xã hội tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật và được đảm bảo thực thi bằng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị – xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân” [50, tr.70].

Theo tác giả, đầu tiên cần phải hiểu NNPQ tồn tại với tư cách là một khái niệm, nó tồn tại trong tư duy, là sản phẩm của tư duy, không nên đồng nhất nó với một nhà nước nào đang hiện hữu. Thứ hai, nhà nước với tính cách nội dung khách quan được phản ánh trong khái niệm NNPQ là sự thống nhất giữa xã hội được tổ chức theo một cách thức xác định với bộ máy nhà nước. Thứ ba, bản chất của NNPQ được phản ánh trong khái niệm nói trên là “quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành pháp luật và đảm bảo thực thi bằng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị – xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân”. Đây chính là nội hàm căn bản nhất của khái niệm “Nhà nước pháp quyền”.

Tóm lại, có thể khẳng định rằng, NNPQ là mô hình nhà nước gắn liền với nền dân chủ, là nhà nước hoạt động dựa trên quyền lực của nhân dân. Nó không phải là mô hình nhà nước lý tưởng, mà chỉ là một công cụ, một phương tiện tổ chức, quản lý xã hội sao cho mối tương quan giữa nhà nước và pháp luật, nhà nước và công dân, pháp luật và công dân… cân bằng và hiệu quả nhất. Và như thế, tính pháp quyền của nhà nước không phụ thuộc vào chế độ chính trị mà chỉ phụ thuộc vào nền dân chủ và trình độ dân trí. Thế nên, nó Nó không phải là “cái đơn nhất” của nhà nước tư bản chủ nghĩa (TBCN), mà nhà nước XHCN cũng có thể xác lập cho mình một mô hình NNPQ thích hợp.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ĐCSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc các giá trị tinh hoa của nhân loại, trong đó có tư tưởng về NNPQ, về cách thức tổ chức quyền lực trong nhà nước vào xây dựng và củng cố nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân. Nhưng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” chỉ được sử dụng kể từ bài phát biểu của Tổng Bí thư Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (29/11/1991).

Bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến nay “là thời kỳ thể hiện sự tập trung nhất sự phát triển các quan điểm và đường lối của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [77, tr.109]. Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” và nêu khá cụ thể, toàn diện những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam với nội dung chủ yếu là:

“Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng ta lãnh đạo” [18, tr.56].

Đây là lần đầu tiên trong Văn kiện của Đảng chính thức nêu cụ thể, toàn diện quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng NNPQ Việt Nam. Điều này chứng tỏ tư tưởng về NNPQ Việt Nam đã có bước phát triển rõ nét và toàn diện, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Nhận thức lý luận và thực tiễn về xây dựng NNPQ Việt Nam không ngừng được sáng tỏ dần qua các kỳ Đại hội Đảng. Mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng NNPQ XHCN luôn được khẳng định và xem đây là chủ trương lâu dài có tính chiến lược. Gần đây nhất, Đại hội XI (1/2011) đã làm sâu sắc thêm nhận thức về xây dựng NNPQ XHCN và khẳng định phải tiếp tục “đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [28, tr.52], bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội, giải quyết đúng mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường.

Nghiên cứu và luận giải sáng tỏ khái niệm về NNPQ và NNPQ XHCN Việt Nam là việc làm cần thiết, góp phần làm rõ nội dung, nguyên tắc, mục đích… trong xây dựng nhà nước vì sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh. Từ những luận điểm trên, có thể đưa ra khái niệm mang tính tổng quát về NNPQ như sau:

Nhà nước pháp quyền là tổ chức quyền lực công khai trong hệ thống chính trị của xã hội công dân, được xây dựng trên nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại như: công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế, nhằm đảm bảo những giá trị xã hội được thừa nhận chung của nền văn minh thế giới – sự tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của con người, sự ngự trị, tính tối cao của luật pháp trong các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, trong các lĩnh vực hoạt động nhà nước, sự phân công quyền lực và quyền làm chủ của nhân dân.

      1. 1.1.2. Cơ sở hình thành nhà nước pháp quyền

Nhìn trong toàn bộ lịch sử của loài người, “nhà nước chứa một dấu ngoặc đơn của lịch sử”. Vì rằng, xã hội loài người đã trải qua hàng triệu năm, song nhà nước thì mới xuất hiện chỉ có mấy nghìn năm. Nhưng ngay từ khi xuất hiện nhà nước lại là một tiêu điểm về sự quan tâm của con người và các cộng đồng người. Lịch sử các tư tưởng triết học qua các thời kỳ, có lẽ nổi rõ nhất vẫn là triết học phương Tây, từ thời cổ đại đến thời cận đại đã phản ánh trong đó những tri thức chung nhất của nhân loại về nguồn gốc, bản chất… và các loại hình tổ chức nhà nước.

– Cơ sở lý luận

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, do những đòi hỏi của lịch sử xuất phát từ khát vọng về tự do, dân chủ, bình đẳng và quyền con người của nhân dân, đã có hai thời kỳ xuất hiện nhiều tư tưởng, quan điểm tích cực và tiến bộ về NNPQ. Đó là thời kỳ Hy Lạp, La Mã cổ đại và thời kỳ cận đại ở châu Âu.

Trong thời kỳ cổ đại ở phương Tây, những tư tưởng tích cực, tiến bộ về NNPQ được thể hiện khá rõ nét gắn liền với quá trình phát triển của xã hội chiếm hữu nô lệ và nền cộng hòa dân chủ ở Aten và La Mã, với các nhà tư tưởng tiêu biểu như Xolon, Pithagore, Heraclite, Democrite, Socrate, Platon, Aristotle…

Cùng với sự thể chế hóa nền dân chủ chủ nô, những mầm mống pháp quyền bắt đầu xuất hiện từ những cải cách của Xolon (638 – 559 trước Công nguyên (tr.CN). Chứng kiến tính chất quân chủ chuyên chế của nhà nước Hy Lạp đương thời, Xolon cho rằng: “luật pháp giống như cái mạng nhện; chúng làm cho kẻ yếu đuối sợ sệt, còn kẻ mạnh thì phá tan chúng” [85, tr.29]. Ông chủ trương cải cách triệt để nhà nước thành bang Hy Lạp và yêu cầu quyền lực phải được đặt ngang hàng với pháp luật, cả hai đều là phương tiện để đạt đến tự do và công bằng. Ông nói: “chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất” [68, tr.220]. Đến giữa thế kỷ thứ VI, Pithagore (580 – 500 tr.CN) đòi phải thực hiện mệnh lệnh của nhà nước, tức là phải tuân thủ pháp luật. Pháp luật phải đứng cao hơn các phong tục, tập quán truyền thống. Trên quan điểm duy vật biện chứng, Herodotes (480 – 425 tr.CN) được xem như người cha của chính trị học, ông là người đầu tiên đặt ra và so sánh ba hình thức cai trị cơ bản của thế giới cổ đại (quân chủ – quý tộc – dân chủ). Ông khẳng định, quyền lực trong xã hội không thuộc về tay người đứng đầu mà phải là của nhân dân, xã hội phải được quản lý công bằng trước pháp luật. Còn đối với Democritus (460 – 370 tr.CN) thì cho rằng:

“Nhà nước và pháp luật là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài của con người nhằm liên kết với nhau thành cộng đồng. Nhà nước là sự thể hiện quyền lực chung của công dân. Tự do của công dân nằm trong sự tuân thủ pháp luật” [77, tr.13].

Các nhà tư tưởng đã tiến thêm những bước dài khi tìm thấy được sự khác nhau giữa quyền tự nhiên và luật pháp của thị quốc. Trong số đó phải kể đến Socrates (469 – 399 tr.CN), ông đã xác định lý trí là bản nguyên của cả tự nhiên lẫn luật pháp, đạo đức và chính trị, thậm chí đồng nhất cái hợp lý, cái công bằng và cái hợp lệ. Socrates cho rằng không thể có dân chủ nếu không có pháp luật hoặc nếu có pháp luật nhưng pháp luật đã trở nên bất lực. Ông đánh giá thấp sự sáng suốt chính trị của Hội nghị nhân dân qua tuyên bố:

“Chẳng lẽ bạn không thấy xấu hổ trước những người bán len dạ, những nông dân, những thương gia, và những kẻ chợ, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mỗi một việc là làm sao mua rẻ bán đắt đó sao? Thế mà hội nghị nhân dân lại hình thành từ những hạng người ấy” [104, tr.50].

Có thể nói rằng, Socrates là người đã thực hiện bước ngoặt từ triết học tự nhiên sang triết học đạo đức, từ chủ nghĩa duy vật sang chủ nghĩa duy tâm. Sự lý tưởng hóa các quan hệ chính trị, thoát ly khỏi mảnh đất hiện thực, trần tục cũng chính là biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm về chính trị. Tuy nhiên, những phê phán của Socrates đối với sự tha hóa nhân cách của các thế lực núp bóng dân chủ để mưu lợi cho cá nhân luôn có ý nghĩa lịch sử tích cực.

Plato (427 – 347 tr.CN) và Aristoteles (384 – 322 tr.CN) là những tên tuổi lớn của thế giới cổ đại đã suy nghĩ về bước phát triển mới của xã hội, về hệ thống phân loại các hình thức tổ chức đời sống cộng đồng, quản lý xã hội. Tư tưởng của Plato về nhà nước, chính trị, pháp luật được đề cập trong các trước tác như: Phaedo (Đối thoại), The Republic (Cộng hòa), Laws (Luật pháp)… Plato đã lập luận rằng:

“những hệ thống chính trị thông thường (chế độ dân chủ, chế độ quân chủ, chế độ đầu sỏ, chế độ độc tài) vốn đã đồi bại, và nhà nước phải được cai trị bởi một giai cấp ưu tú gồm những nhà triết học được giáo dục từ nhỏ để trở thành người cai trị và được tuyển chọn trên cơ sở năng lực” [45, tr.140].

Đối với chế độ dân chủ, Plato đã không nêu lên hình thức xuyên tạc của dân chủ, mà cho rằng bản thân nó, một nền dân chủ thuần túy, đã là hình thức cai trị tồi tệ nhất từ tất cả các hình thức hiện tồn.

Trong khi liệt kê ra hình thức cai trị hiện có và phê phán chế độ dân chủ Athens, Plato chủ trương xây dựng một thể chế nhà nước mới mà theo ông sẽ đảm bảo sự bình đẳng và công bằng trong xã hội. Trong nhà nước lý tưởng của Plato, tính bền vững và nghiêm minh của định chế luật pháp được chú trọng đặc biệt. Ông nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của các nhà nước mà ở đó pháp luật không được đề cao và nằm dưới quyền lực của một ai đó. Ông cho rằng, “ở đâu có pháp luật được định ra, thì ở đó mới có chế độ nhà nước” [77, tr.13-14].

Sau sự sụp đổ của nền dân chủ Athens vào giữa thế kỷ IV tr. CN đã làm cho Aristoteles có những kết luận mới về nhà nước. Ông là người đầu tiên chỉ ra sự phân quyền trong bộ máy nhà nước thành lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo Aristoteles, nhà nước như một thực thể phức tạp, tập hợp những cá thể khác nhau về chức phận, về tình trạng của cải, phẩm chất đạo đức, địa vị, trình độ học vấn… Thể chế chính trị là một trật tự làm cơ sở cho sự phân chia quyền lực nhà nước và đảm bảo cho sức mạnh của luật pháp. Luật pháp không từ trên trời rơi xuống mà được xây dựng trên những giá trị truyền thống, phong tục, tập quán lâu đời… và vì thế luật pháp có tính chất bền vững và thiêng liêng.

Nếu như thời kỳ cổ đại, tư tưởng triết học chính trị nảy nở và chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ thì sang thời kỳ Trung cổ, kéo dài hơn 10 thế kỷ nhưng tư tưởng triết học chính trị dường như tiến rất chậm chạp, đôi khi còn thụt lùi so với thời kỳ cổ đại. Thời kỳ Trung cổ nổi lên tư tưởng chủ yếu của hai vị Thánh – Augustine và Thomas d’Aquinas. Augustine (354 – 430) – người bảo vệ trung thành những tín điều Ki–tô, ông chống lại tư tưởng “an phận” của người Hy Lạp cổ đại và cho rằng, công dân cần phải tuân theo lệnh của chính quyền và chiến đấu trong các cuộc chiến tranh chính nghĩa chứ không nên “trông chờ” hoặc “ỷ lại” vào nhà nước. Ông còn cho rằng, nhà nước của mọi công dân không phải là “Thành quốc lý tính” như các thành bang của Hy Lạp mà là “vương quốc vĩnh hằng” ở bên ngoài trần thế, nhà nước giúp duy trì hòa bình và thực thi luật pháp là do Thượng đế trao cho. Thomas d’Aquinas (1225 – 1274) đã thể hiện sự đồng tình với quan điểm của Aristote. Đối với ông, nhà nước là một thiết chế tự nhiên, không phải là thiết chế truyền thống, xã hội lý tưởng. Nhà nước mang tính tự nhiên, vì con người là động vật có tính xã hội và chính trị, có ước vọng được sống trong xã hội nên con người tất yếu sẽ tìm ra những nguyên tắc để cai trị. Ông cho rằng:

“Trật tự pháp luật đem đến cho mỗi người, cái thuộc về họ và làm cho họ có thể đạt tới sự dồi dào về vật chất và tinh thần, xã hội công dân trước sau cũng thay thế xã hội thần dân” [84, tr.91].

Như vậy, công lao của các nhà tư tưởng cổ đại Hy Lạp là đã xác lập và sử dụng trong các cuộc tranh luận học thuật về nhiều tư tưởng và học thuyết chính trị, cùng nhiều khái niệm, mà nhờ đó những thời đại sau xác định, đánh giá và tìm hiểu các hiện tượng chính trị. Các phạm trù triết học chính trị cơ bản là tự do, bình đẳng, công bằng, dân chủ, độc tài, bất công, quyền lực… được đề cập như một phần không thể thiếu trong tranh luận triết học. Bên cạnh đó, người Hy Lạp đã bước đầu tạo nên những mầm mống của những quan niệm về pháp quyền tự nhiên và nguồn gốc khế ước của nhà nước theo những cách hiểu khác nhau. Hơn mười thế kỷ trong “đêm trường trung cổ”, xã hội phát triển đi lên trong những bước nặng nề, chậm chạp và trì trệ. Tuy nhiên, mạch ngầm những tư tưởng vẫn len lỏi tuôn chảy, làm suy yếu dần cơ chế xã hội nặng nề răn đe hơn là kích thích tính độc đáo của cá nhân, tất cả chúng sẽ đạt đến hình thức hoàn thiện trong các hệ thống triết học và tư tưởng chính trị – xã hội cận đại.

Ở phương Đông, tư tưởng pháp quyền ít có điều kiện để nảy mầm và phát triển. Thay vào đó là những tư tưởng chính trị đạo đức của Nho giáo tồn tại dai dẳng trong xã hội phong kiến. Ngoài ra, tư tưởng pháp trị cũng có một thời kỳ thịnh trị, giúp nhà Tần thống nhất Trung Hoa. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu vẫn cho rằng ở phương Đông chỉ có tư tưởng pháp trị chứ chưa có tư tưởng pháp quyền. Hiện nay, tất cả tư tưởng chính trị đó đều mang nhiều giá trị cả về lý luận và thực tiễn cho nghiên cứu và áp dụng trong xây dựng nhà nước văn minh.

– Cơ sở thực tiễn

Phong trào phục hưng văn hóa đã mở đầu cho một thời đại mới, đó là sự kết thúc đầy ý nghĩa của lịch sử Tây Âu trung đại, mở đầu cuộc hành trình tìm về với những giá trị xưa cũ và cũng đặt cơ sở cho sự vận động tiến lên phía trước. Phong trào phục hưng là phong trào văn hóa tinh thần, diễn ra vào cuối thế kỷ XIV và phổ biến rộng rãi vào thế kỷ XV – XVI tại nhiều quốc gia ở Tây Âu, đặc biệt là tại Italia, mà trung tâm là Florence, nhằm khôi phục, kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa và khoa học của người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã từng bị lãng quên dưới thời trung cổ, trong đó có tư tưởng về pháp quyền. Lênin cho rằng, trong thời kỳ trung cổ “chủ nghĩa kinh viện và chủ nghĩa thầy tu Trung cổ đã làm cho con người bị lạc lối” [49, tr.390]. Xét từ góc độ nhân sinh, thời kỳ Phục hưng xứng đáng được xem như thời đại con người đã trở về với chính mình sau một cuộc hành trình đầy gian khổ suốt hơn mười thế kỷ.

Tư tưởng nhân văn đã trở thành trào lưu xuyên suốt trong sinh hoạt tinh thần Phục hưng, nó đã trở thành ngọn cờ tập hợp các lực lượng xã hội tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống lại thần quyền và tự do tín ngưỡng và khoan dung tôn giáo, mở đường cho khoan dung văn hóa, thể hiện đúng những tâm trạng, khát vọng của con người và gợi lên ở họ ý chí sáng tạo tự do. Trong thời kỳ này, chủ nghĩa nhân văn đã ngợi ca những giá trị đích thực của con người, lấy hình ảnh con người đấu tranh cho tự do và hướng đến xã hội lý tưởng, thay sự thống trị của Thượng đế bằng sự thống trị của con người.

Về đạo đức, chủ nghĩa thầy tu khổ hạnh bị lên án quyết liệt vì mọi người đã nhận ra rằng nó trái ngược với tinh thần của Jesus. Thay vì phụng sự Chúa mà quên đi bản thân mình, Ficino (1433 – 1499) cho rằng phụng sự con người cũng chính là phụng sự Chúa, bởi vì con người được tạo ra như hình hài của Chúa và theo tượng Chúa, đồng thời được Chúa ban quyền cai quản mọi tạo vật không phải con người. Ông ngợi ca người lao động và những giá trị do người lao động tạo ra. Ficino còn cho rằng con người còn đáng quý hơn cả thiên thần, bởi vì họ đạt được hạnh phúc và sự no đủ bằng mồ hôi của mình, bằng lao động vất vả suốt cả cuộc đời, trong khi các thiên thần chỉ biết rong chơi.

Bên cạnh đó, các khám phá, phát minh khoa học, tiêu biểu là Thuyết Nhật tâm của Copernic đề xướng, được Kepler, Galilei, Bruno bảo vệ, bổ sung, hoàn thiện đã phế bỏ Thuyết Địa tâm của Aristoteles và Ptolemei, làm lung lay nền chuyên chế tinh thần của nhà thờ, mở ra triển vọng khám phá vũ trụ không dựa vào uy quyền mà dựa vào ánh sáng của lý trí khoa học. Ăngghen nhận định:

“Đó là cuộc đảo lộn tiến bộ lớn nhất mà từ xưa đến nay, nhân loại đã trải qua; đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ và đã sản sinh ra những con người khổng lồ; khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề về học thức sâu rộng” [54, tr.459-469].

Sự bùng nổ văn hóa và sự sáng tạo khoa học kỹ thuật thời phục hưng đã tác động mạnh mẽ và làm thay đổi cơ cấu xã hội và nhận thức chính trị. Phong trào cải cách tôn giáo đã trở thành đòn bẩy tạo ra những đột phá quan trọng. Chống lại mọi tham vọng của tòa thánh Vatican về tính phổ quát, bao trùm và duy nhất của nó ở mọi quốc gia, những người theo đạo Tin Lành đã đưa ra nguyên tắc mà theo đó mọi người có quyền tự giải quyết vấn đề hình thức thể hiện đức tin.

Về kinh tế, thời kỳ này ở Tây Âu đã hình thành các công trường thủ công thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển, công cụ lao động được cải tiến, năng suất lao động tăng lên, thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh mẽ. Những cuộc phát kiến địa lý với việc tìm ra châu Mỹ và những miền đất mới đã tạo nhiều điều kiện để hình thành nền sản xuất TBCN.

Bắt đầu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, chế độ phong kiến ở Tây Âu bước vào thời kỳ tan rã. Sự phát triển của phương thức sản xuất TBCN đã trở thành một xu thế không gì ngăn cản nổi. Giai cấp tư sản từng bước lớn mạnh và không chịu khoan nhượng với chế độ chuyên chế phong kiến, họ đòi xóa bỏ đẳng cấp phong kiến, đòi tách vấn đề nhà nước, pháp quyền ra khỏi tôn giáo để thiết lập sự bình đẳng, bảo vệ quyền con người, xây dựng nền tảng của thể chế chính trị dân chủ tư sản. Trong cuộc đấu tranh chống lại các nền quân chủ chuyên chế, các nhà tư tưởng tư sản đã nêu lên các học thuyết, những tư tưởng về pháp quyền tự nhiên, về chủ nghĩa tự do… Cùng với sự thành công của các cuộc cách mạng tư sản đã làm cơ sở nền tảng hình thành thể chế chính trị dân chủ tư sản và NNPQ tư sản ra đời.

Tóm lại, NNPQ với tính cách là những giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ. NNPQ gắn liền với một nền dân chủ, tuy không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái KT – XH, nhưng không thể xuất hiện trong một xã hội phi dân chủ. Bên cạnh đó, để NNPQ ra đời thì xã hội loài người cần phải đạt đến một trình độ nhất định. Chính vì vậy mà, cho dù những tư tưởng về NNPQ xuất hiện rất sớm từ thời cổ đại, nhưng phải chờ đến khi các cuộc cách mạng tư sản nổ ra và thành công, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản, NNPQ mới từ nhà nước ý tưởng dần trở thành nhà nước hiện thực.

1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN PHƯƠNG TÂY CẬN ĐẠI

Trong những năm cuối cùng của thế kỷ XVII, một trật tự mới đã thực sự bắt đầu. Sự phát triển của các yếu tố TBCN đến lúc đòi hỏi sự xác lập một cách chính thức các quan hệ sản xuất TBCN dựa trên cơ sở các quan hệ pháp lý tư sản. Học thuyết về NNPQ tư sản từng bước hình thành, nhà nước tư sản cũng từng bước được thiết kế theo mô hình NNPQ dựa trên cơ sở thế giới quan mới của giai cấp tư sản đang lên – thế giới quan pháp lý. Đó là sự phục hồi, kế thừa các giá trị tư tưởng về NNPQ thời cổ đại và đưa các giá trị đó lên tầm cao hơn phù hợp với đòi hỏi mới của lịch sử.

      1. 1.2.1. Về nguồn gốc và vai trò của nhà nước

Trong các xã hội có giai cấp, nhà nước được xem là một nhân tố cơ bản của xã hội. Các nhà tư tưởng trong các thời kỳ lịch sử không thể không bàn đến vấn đề nhà nước. Trong lịch sử tư tưởng phương Tây thời kỳ cận đại, các nhà tư tưởng đã cắt nghĩa những vấn đề về nhà nước dưới nhiều góc cạnh khác nhau.

Trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền – Chính quyền dân sự”, Locke (1632 – 1704) đã nêu lên luận điểm về hai trạng thái xã hội. Trong trạng thái tự nhiên, con người được hoàn toàn tự do, “là chúa tể tuyệt đối của cá nhân mình và tài sản của riêng mình, bình đẳng với người vĩ đại nhất và không phục tùng đối với một ai” [51, tr.173], khi đó con người luôn bình đẳng, dân chủ và có quyền tư hữu. Ông khẳng định: con người được sinh ra

“với một địa vị tự do hoàn hảo và sự thụ hưởng không bị kiểm soát đối với tất cả các quyền và những ân huệ của luật tự nhiên, một cách bình đẳng như bất kỳ ai khác hay như với tất cả lượng người có trên thế giới này” [51, tr.124-125].

Đây được xem là quyền lực tự nhiên khi con người sống trong trạng thái tự nhiên. Nhưng cũng theo ông, mặc dù trong trạng thái tự nhiên con người chung sống với nhau bằng tình hữu ái và hòa bình, nhưng khi bước vào xã hội công dân thì mọi người phải rời bỏ “quyền lực tự nhiên của mình và trao vào tay cộng đồng” để thành lập nên nhà nước. Vì thế, Locke khẳng định: “mục đích cao quý và chủ yếu trong việc hợp nhất của con người thành cộng đồng quốc gia và đặt chính họ dưới một chính quyền, là sự bảo toàn đối với sở hữu của họ” [51, tr.174].

Theo Locke, con người sống trong trạng thái tự nhiên sẽ thiếu vắng ba thứ:

Một là, thiếu luật pháp được thiết định để điều chỉnh hành vi của mọi người theo những chuẩn mực chung.

Hai là, thiếu quan tòa được mọi người biết đến và có tính trung lập.

Ba là, thiếu quyền lực để hậu thuẫn và ủng hộ cho bản án đúng đắn và đem lại cho nó sự thi hành đích đáng.

Ba nhược điểm ấy làm cho con người sống trong trạng thái tự nhiên không còn an toàn và họ “thực hiện không có quy tắc và không chắc chắn cái quyền lực mà mỗi người có trong việc trừng phạt sự vi phạm pháp luật của người khác” [51, tr.175].

Do vậy, con người đã rời trạng thái tự nhiên đi vào xã hội công dân, họ thỏa thuận lập nên dựng nhà nước. Nhà nước thông qua các cơ quan của mình, sử dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp, trừng phạt người vi phạm, bảo toàn sở hữu của mọi người. Và như vậy, sự ủy quyền để lập nên nhà nước không làm cho con người mất đi quyền sở hữu mà ngược lại nó còn bảo toàn sở hữu của mọi người.

Trong khi đó, Montesquieu (1689 – 1755) coi sự ra đời của nhà nước là có tính lịch sử, đó là quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người đến một trình độ nhất định. Tiếp thu tư tưởng của Aristoteles, Montesquieu đưa ra quan điểm xác định bản chất của chính quyền bằng việc căn cứ vào số lượng người cầm quyền. Theo đó, chính thể nhà nước được chia làm ba loại: chính thể chuyên chế, chính thể quân chủ và chính thể dân chủ. Nói về về bản chất của ba chính thể này, Montesquieu viết:

“Chính thể dân chủ là chính thể mà dân chúng hoặc một bộ phận dân chúng có quyền lực tối cao. Chính thể quân chủ là một người cai trị, nhưng cai trị bằng pháp luật và được thiết lập hẳn hoi. Trong chính thể chuyên chế thì trái lại, chỉ một người cai trị mà không luật pháp gì hết, chỉ theo ý chí và sở thích của hắn ta thôi” [67, tr.47].

Ngoài ra, Montesquieu còn bàn đến chính thể quý tộc, ông xem nó cùng với chính thể dân chủ là hai hình thức của nhà nước cộng hòa. Ông cũng là người kịch liệt lên án chính thể chuyên chế và bày tỏ sự ủng hộ của mình đối với kiểu nhà nước quân chủ, trong đó quyền lực của một người được thực hiện trên cơ sở của luật pháp.

Nếu như Montesquieu dựa vào tư tưởng đại diện của nhân dân thì Rousseau (1712 – 1778) dựa vào tư tưởng chủ quyền nhân dân. Rousseau cho rằng, xã hội công dân nảy sinh cùng chế độ tư hữu và nhà nước được thiết lập sau đó. Theo ông, “Người ta sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích” [78, tr.52]. Con người cần phải xóa bỏ áp bức, bất công bằng cách phải thiết lập một khế ước xã hội vì lợi ích chung của cộng đồng. Việc con người hướng đến một thỏa thuận như vậy là cơ sở của việc thành lập một chính quyền hợp pháp, thể hiện thông qua “khế ước xã hội”. Rousseau đã nhận thấy những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội là sự bất bình đẳng về giàu nghèo, sang hèn, kẻ đi tước đoạt và người bị tước đoạt, kẻ giàu có sẽ nắm quyền lực. Trong tác phẩm “Luận về khoa học và nghệ thuật” (1750), Rousseau tuyến bố: “giàu có kia gây ra nghèo khổ này”, ông phê phán thiểu số những người đã sử dụng thành quả văn minh để làm giàu trên nỗi đau khổ của nhân dân. Tác phẩm “Luận về nguồn gốc và bản chất của sự bất bình đẳng giữa người với người” (1755) đã đánh dấu bước phát triển mới về những quan điểm về chính trị Rousseau. Có hai điểm đáng lưu ý mà Rousseau đã đề cập là:

Thứ nhất, Rousseau đã phân biệt ba cấp độ của bất bình đẳng. Đầu tiên đó là những bất bình đẳng về tài sản và sở hữu. Cấp độ tiếp theo là bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Cuối cùng, bất bình đẳng đạt đến cấp độ cực đoan, khi mọi người trở thành nạn nhân của những kẻ chuyên quyền, những nhà độc tài.

Thứ hai, Rousseau đưa ra quan niệm về khế ước xã hội và sự tuyệt vọng của quần chúng trước kẻ phá hoại khế ước, thâu tóm quyền lực và tạo ra tình trạng tha hóa phổ biến.

Để giải quyết vấn để này, Rousseau cho rằng con người hãy trở về với trạng thái tự nhiên – một biểu hiện của chủ nghĩa bi quan lịch sử. Thay vì cần phải cải tạo xã hội, Rousseau lại chủ trương chối bỏ các giá trị do con người tạo ra. Chính vì vậy, trong “Khế ước xã hội”, Rousseau đã bày tỏ sự ủng hộ đối với thể chế cộng hòa, coi đó là hình thức cầm quyền tốt nhất, trong đó, các quan chức đều do nhân dân bầu ra. “Khế ước xã hội” là một học thuyết mang tính cách mạng. Theo đó, một khi nhà nước được thiết lập theo khế ước thì chế độ dân chủ được bảo đảm, mọi người đều được tự do. Ngược lại, khi nhà nước bị lạm quyền thì nhân dân chính là người bãi bỏ nhà nước đó để thành lập một nhà nước mới. Theo thuyết này, con người vốn dĩ có các quyền tự nhiên, nhưng các quyền đó thường xuyên bị xâm phạm, vì thế, con người đã đấu tranh với nhau để bảo vệ các quyền của bản thân mình. Tất yếu của điều này đã làm xuất hiện cái gọi là quyền lực xã hội. Quyền lực xã hội là kết quả của việc mỗi cá nhân mang một phần quyền của mình giao cho các cơ quan quyền lực xã hội nhằm mục đích điều chỉnh các hoạt động chung của con người và xã hội. Ở quan điểm này, Locke đã có sự tương đồng khi ông bàn về quyền lực chính trị. Theo đó, quyền lực chính trị là quyền lực mà mỗi người khi tham gia vào xã hội đã ủy thác hoặc ngầm ẩn hoặc công khai cho các nhà cai trị. Mục đích của quyền lực chính trị là nhằm bảo toàn sinh mạng, tự do và tài sản của các thành viên trong xã hội. Theo Locke, “căn nguyên của quyền lực này chỉ là từ sự giao ước và thỏa thuận, từ sự đồng thuận hỗ tương của những người đã làm nên cộng đồng” [51, tr.231].

Rousseau cho rằng, nhà nước là một hiện tượng vĩnh viễn đi cùng với xã hội loài người và không bao giờ tiêu vong. Quan điểm này đã phần nào khắc phục được cách giải thích thần bí, siêu tự nhiên về nguồn gốc của nhà nước, nhưng vẫn “bế tắc khi lý giải nhà nước chỉ như một kết quả của ý chí chung của con người, là một hiện tượng vĩnh cửu, và điều đó đã phần nào đó làm sai lệch bản chất của nhà nước” [8, tr.18].

Tóm lại, Rousseau giải thích sự hình thành xã hội và nhà nước trên quan điểm của thuyết quyền tự nhiên và thỏa thuận xã hội. Sự tự do và bình đẳng của những người tham gia khế ước là cái bảo đảm sự liên kết nhân dân vào một thực thể, và thực thể này không thể đi ngược với những quyền lợi của từng cá nhân. Con người liên kết qua khế ước và từ bỏ quyền tự do sống theo cảm xúc cá nhân. Khế ước xã hội giúp con người chống lại những nguy cơ bị áp bức, bóc lột bởi những kẻ mạnh hơn. Nhà nước ra đời trên cơ sở khế ước xã hội với mục đích, nhiệm vụ là bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, bình đẳng đó.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2015\TRIET/ bai da sua duy anh sua. Ban moi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *