Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà

  1. Lý do chọn đề tài

Trên thế giới, tổng số loài chim đã ghi nhận được khoảng 9.721 loài [23]. Trong đó, vùng Phương Đông (Oriental region) có khoảng 2.586 loài, chiếm 25,7% tổng số loài chim trên thế giới [24]. Khu vực Đông Nam Á có khoảng 1.327 loài [28]. Các số liệu thống kê về khu hệ chim Việt Nam thay đổi và cập nhật liên tục đến hiện nay là 887 loài [19]. Theo đó, tổng số loài chim của Việt Nam hiện nay chiếm 34,3% tổng số loài chim ghi nhận tại vùng phương Đông, chiếm 9,12% tổng số loài chim trên thế giới.

Khu bảo tồn thiên nhiên Bán Đảo Sơn Trà được chính thức thành lập từ năm theo Quyết định số 41-TTg ngày 24/01/1977 của Thủ tướng Chính phủ) [31]. KBTTN Sơn Trà có khu hệ động, thực vật phong phú, có một số loài động vật quý hiếm đang được ưu tiên bảo tồn như Chà và chân nâu. Năm 1997 trong đề tài nghiên cứu đa dạng sinh học chung ở Sơn Trà của Đinh Thị Phương Anh và cs. (1997) [1] có đưa ra danh sách các loài chim ghi nhận ban đầu ở Sơn Trà. Cho đến nay chưa có một nghiên cứu đầy đủ, hệ thống nào về khu hệ chim ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà. Việc nghiên cứu đa dạng thành phần loài chim nhằm bổ sung dữ liệu khoa học cho khu hệ động vật KBTTN Sơn Trà có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo vệ động vật hoang dã, bảo tồn đa dạng sinh học và giáo dục bảo tồn, phát triển du lịch sinh thái quan sát chim nơi đây. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng”.

  1. Mục tiêu nghiên cứu

– Xác định thành phần loài và sự phân bố của các loài chim theo các sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu.

– Xác định các yếu tố chính tác động đến khu hệ chim và đề xuất một số biện pháp bảo tồn, phát triển bền vững.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Khu hệ chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng

– Phạm vị nghiên cứu: Bán đảo Sơn Trà – Phường Thọ Quang, Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng, với tổng diện tích là 4,370ha.

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phương pháp quan sát chim ngoài thiên nhiên

Phương pháp chuyên gia

Phỏng vấn người dân địa phương

Phương pháp thống kê sinh học

Phương pháp định loại chim

5. Cấu trúc của luận văn

Gồm có 5 phần chính:

– Mở đầu

– Chương 1: Tổng quan tài liệu

– Chương 2: Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

– Chương 3: Kết quả và thảo luận

– Kết luận và đề nghị

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

    1. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU CHIM Ở VIỆT NAM

1.2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHIM TẠI BÁN ĐẢO SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

1.3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.3.1. Vị trí địa lý

Sơn Trà là một bán đảo nằm ở phía Đông Bắc thành phố Đà Nẵng, về mặt hành chính, bán đảo Sơn Trà thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

1.3.2. Địa hình – địa mạo

Dãy núi Sơn Trà có hình dáng như một con cá. Đỉnh cao nhất bán đảo Sơn Trà là đỉnh Ốc cao 696m. Bán đảo có chiều dài 13 km, rộng 5 km bao quanh là vịnh Đà Nẵng.

1.3.3. Thủy văn

Trong khu vực Sơn Trà có 20 con suối chảy quanh năm hoặc theo mùa, những con suối thường xuyên chảy quanh năm

1.3.4. Khí hậu

– Nhiệt độ: Mùa hè (tháng 1- 8): nhiệt độ trung bình 280C – 290C, cao nhất 370 C- 380 C, thấp nhất 270 C- 290 C. Mùa đông (tháng 9 -12): nhiệt độ trung bình 210C – 230C, thấp nhất 170 C – 190C, cao nhất 270C – 290C.

– Lượng mưa: Tổng lượng mưa 2048mm/ năm; lượng mưa lớn nhất tập trung vào tháng 10, 11, 12; lượng mưa thấp nhất tập trung tháng 6, 7.

1.3.5. Thảm thực vật rừng

Nghiên cứu tại KBTTN Sơn Trà đã xác định khu hệ thực vật có 985 loài thực vật thuộc 483 chi, 143 họ [1]. Trong tổng số gần một nghìn loài thực vật tại KBTTN Sơn Trà có 22 loài cây quý hiếm cần được bảo vệ phục hồi và phát triển.

1.3.6. Khu hệ động vật rừng

Nghiên cứu về khu hệ động vật rừng ở Bán đảo Sơn Trà đã xác định được 287 loài bao gồm: 36 loài thú thuộc 18 họ, 8 bộ, trong đó có 15 loài động vật quý hiếm cần chú trọng bảo tồn [1].

1.4. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ – XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.4.1. Dân số và phân bố

Dân số toàn quận Sơn Trà thuộc thành phố Đà Nẵng gồm có 7 phường với 113.613 nhân khẩu. Nam: 55.220 khẩu, Nữ: 58.393 khẩu; Mật độ dân số bình quân : 1.869 người/ km2, lao động 68.168 người, trong đó có việc làm 64.003 người; chưa có công ăn việc làm 4.165 người.

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà

1.4.2. Tình hình sử dụng đất của quận Sơn Trà

Cơ cấu đất đai quận Sơn Trà được thể hiện trong bảng 1.4 cho thấy diện tích đất lâm nghiệp tương đối lớn với 4.195,7 ha, chiếm 69,1 % so với tổng diện tích đất tự nhiên của toàn quận. Toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp đều nằm trong khu bảo tồn (4.189,7 ha).

1.4.3. Tình hình kinh tế – xã hội quận Sơn Trà

Hiện tại chung quanh chân núi Sơn Trà diện tích đất được giao và khoán theo nghị định 184/NĐ-HĐBT, Nghị định 02/NĐCP, Nghị định 163/NĐCP và Nghị định 01/CP là 625ha cho 247 đơn vị tập thể và cá nhân sử dụng để trồng rừng và làm kinh tế vườn rừng.

1.5. CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẠI KBTTN BÁN ĐẢO SƠN TRÀ

Ban quản lý KBTTN Bán đảo Sơn Trà được thành lập theo Quyết định số 905/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 1997 của UBND thành phố Đà Nẵng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng. Sau đó, BQL KBTTN Bán đảo Sơn Trà được giao về cho Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn, có trụ sở đặt tại bán đảo Sơn Trà.

CHƯƠNG 2

THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1.1. Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu nằm trong KBTTN Bán đảo Sơn Trà, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà

Chúng tôi thiết lập 5 tuyến khảo sát chính (T1-5) trên sinh cảnh rừng tự nhiên, 2 tuyến (T6-7) đi qua sinh cảnh rừng trồng, cây bụi, trảng cỏ và đặc biệt có 2 tuyến (T8-9) dọc theo các bãi cát, bãi đá ven biển. Thông tin chi tiết về tọa độ điểm đầu và cuối tuyến, chiều dài tuyến, số thứ tự các tuyến được thể hiện trong bảng 2.1.

Hình 2.2. Sơ đồ các tuyến điều tra trên bản đồ thảm thực vật rừng KBTTN Bán đảo Sơn Trà

2.1.2. Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian gần 5 tháng từ ngày 01/07/2014 đến 15/11/2014. Mỗi tháng thường tổ chức đi thực địa khoảng 6 – 7 ngày vào các ngày cuối tuần. Thời gian khảo sát thường tập trung vào buổi sáng sớm bắt đầu từ 5h30’ tùy điều kiện thời tiết. Tổng số ngày khảo sát thực địa là 32 ngày.

    1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Thu thập tài liệu, số liệu, công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu này để làm cơ sở cho việc thiết kế nghiên cứu.

2.2.2. Phương pháp quan sát chim ngoài thiên nhiên

Trong quá trình quan sát chim ngoài tự nhiên chúng tôi có sử dụng các sách hướng dẫn có ảnh vẽ và ảnh chụp màu để nhận biết nhanh các loài chim [11,12,27,28,29]. Các loài chim khó phân loại được ghi chép thông tin mô tả chi tiết để tiếp tục về tra cứu thêm trong các sách mô tả định loại [16,17].

2.2.3. Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình điều tra khảo sát thực địa, chúng tôi có sự hướng dẫn và hỗ trợ định loại của chuyên gia.

2.2.4. Phỏng vấn người dân địa phương

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để phỏng vấn những cán bộ quản lý khu bảo tồn, cán bộ kiểm lâm, cán bộ thôn xã, những người dân thường đi săn trước đây và những người thường xuyên đi rừng để tìm hiểu thông tin về các loài chim trong khu vực nghiên cứu.

2.2.5. Phương pháp thống kê sinh học

Các số liệu thu được từ quá trình nghiên cứu thực địa được mang về nhập vào chương trình Microsoft Excel để xử lý thống kê sinh học.

2.2.6. Phương pháp định loại chim

Tên khoa học, tên phổ thông và tên tiếng Anh của các loài chim được lấy theo cuốn Danh lục Chim Việt Nam [19], có tham khảo thêm các tài liệu Danh lục Chim Việt Nam trước đó.

Danh lục chim của khu vực nghiên cứu được sắp xếp theo hệ thống phân loại được đề xuất bởi Sibley – Ahlquist – Monroe (SAM) được sử dụng trong cuốn Danh lục Chim thế giới [23] và có điều chỉnh cho phù hợp với một số kết quả nghiên cứu mới về phân loại chim và tham khảo thêm cuốn Danh lục chim thế giới của Clements (2007) [22].

Để đánh giá mức độ bị đe dọa của các loài chim được ghi nhận trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các tài liệu: Danh lục Đỏ của IUCN (2014) [34], Sách Đỏ Việt Nam (2007) [6], Nghị Định 32/2006/NĐ-CP của Chính Phủ [9].

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà

Hình 2.2. Sơ đồ mô tả hình thái chim (Craig Robson, 2011)

2.2.7. Phương pháp bắt thả bằng lưới mờ (mist-nets)

Phương pháp này dùng để ghi nhận các loài chim bụi, ít kêu hót và sống lẩn lút dưới tán rừng, khó phát hiện. Lưới mờ sử dụng trong nghiên cứu là loại lưới dài 12m, cao 2,8m, loại 4 tay lưới với mắt lưới 1,5 x 1,5cm do Italia sản xuất, được cung cấp bởi Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris, Pháp.

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. ĐA DẠNG CÁC LOÀI CHIM Ở KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1.1. Danh sách thành phần loài chim

Qua 32 ngày khảo sát trên 9 tuyến nghiên cứu có tổng chiều dài là 26.5km kết hợp với phương pháp bắt thả bằng lưới mờ, chúng tôi đã ghi nhận khu hệ chim tại KBTTN Bán đảo Sơn Trà có 104 loài thuộc 79 giống, 43 họ, 14 bộ.

Trong 104 loài ghi nhận được tại KBTTN Bán đảo Sơn Trà, có 57 loài đã chụp được ảnh ngoài thực địa dùng để định danh tên loài, 10 loài ghi âm được tiếng kêu, và 4 loài dính lưới mờ. Xét về hiện trạng cư trú thì khu hệ chim ở KBTTN Bán đảo Sơn Trà có đến 80 loài chim định cư, 30 loài chim di cư trong đó có 12 loài di cư hiếm gặp. Đáng lưu ý trong danh sách thành phần loài ở đây đã phát hiện mở rộng vùng phân bố loài Đại bàng biển bụng trắng – Haliaeetus leucogaster (Gmelin, 1758), vốn chỉ xác định phân bố ở vùng Đông Bắc, Nam Trung bộ và Nam Bộ nhưng nay lần đầu tiên ghi nhận ở Sơn Trà (vùng Trung Trung bộ). Một loài chim nữa vốn không phân bố ở nước ta những cũng ghi nhận được ở Sơn Trà, đó là loài Cu vằn – Geopelia striata (Linnaeus, 1766). Loài này vốn phân bố ở Lào, Thái Lan, Malayxia, Indonexia, Philippin… Chúng tôi quan sát thấy loài ở bãi cát ven biển khu Bãi Đá Đen vào tháng 10/2014.

So sánh với kết quả nghiên cứu trước đây về thành phần loài chim ở KBTTN Sơn Trà (Đinh Thị Phương Anh và cs., 1997) [1] và nghiên cứu bổ sung của Larry Ray Ulibarry (2013) [32] trong đó đã bổ sung 23 loài so với danh lục chim Sơn Trà năm 1997. Chỉ có 22 loài (21.1%) tổng số các loài chim được ghi nhận trong nghiên cứu này trùng với kết quả ghi nhận năm 1997. Có 41 loài các tác giả đã công bố trước đây không được ghi nhận lại trong nghiên cứu này, đặc biệt là loài Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini), một loài nằm trong danh lục các loài nguy cấp, quí hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Kết quả nghiên cứu này đã ghi nhận mới bổ sung thêm 41 loài cho danh lục thành phần loài chim ở Sơn Trà (bảng 3.3).

3.1.2. Đặc điểm về hiện trạng loài trong danh lục thành phần loài chim ở KBTTN Bán đảo Sơn Trà

Qua phân tích về hiện trạng loài sẽ cho thấy được đặc trưng về các loài chim di cư, định cư, phổ biến, hiếm gặp, hoặc đặc hữu với từng khu vực khác nhau.

Hình 3.1. Số lượng các loài chim ở KBTTN Bán đảo Sơn Trà thống kê theo các kiểu trạng thái của loài ở Việt Nam

Qua biểu đồ trên ta thấy, tỉ lệ các loài chim di cư trong danh lục thành phần loài chim bán đảo Sơn Trà là khá lớn với 28.8%, tương đương với 30 loài trong tổng số 104 loài được ghi nhận. Trong khi đó, tỉ lệ cao nhất là các loài chim định cư với 76.9% (80 loài), trong đó, có 12 loài vừa di cư, vừa định cư.

3.1.3. Các loài chim quan trọng cần được quan tâm ưu tiên bảo tồn tại KBTTN Bán đảo Sơn Trà

Trong số 104 loài chim xác định được ở khu vực nghiên cứu đã xác định có 4 loài chim có giá trị bảo tồn ưu tiên. Trong đó có 1 loài có trong Danh lục Đỏ IUCN (2014) [34] ở bậc VU và có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [6] cũng ở bậc VU đó là loài Đuôi cụt bụng đỏ (Spilornis cheela Latham, 1790). Còn 3 loài còn lại có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ [9] là Diều hoa miến điện, Yểng (nhồng) (Gracula religiosa Linnaeus, 1758), Chích chòe lửa (Copsychus malabarichus(Scopoli, 1788)).

Bảng 3.5. Các loài chim quan trọng cần ưu tiên bảo tồn tại

KBTTN Bán đảo Sơn Trà

STTTên khoa họcTên thông thường
và tên tiếng anh
Mức độ nguy cấp
SĐVNIUCN NĐ 32
3Spilornis cheela
Latham, 1790
Diều hoa miến điện
Crested Serpent Eagle
  IIB
6Pitta nympha
Temmick & schlegel, 1850
Đuôi cụt bụng đỏ
Fairy Pitta
VUVU 
7Gracula religiosa
Linnaeus, 1758
Yếng, nhồng
Hill Myna
  IIB
8Copsychus malabarichus
(Scopoli, 1788)
Chích chòe lửa
White-rumped Shama
  IIB

Ghi chú:SĐVN : Sách Đỏ Việt Nam (2007) ; IUCN : Danh lục Đỏ IUCN (2014) ; NĐ 32 : Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

3.2. ĐA DẠNG CẤU TRUC THANH PHẦN LOAI CHIM Ở KHU VỰC NGHIEN CỨU

Mức độ đa dạng trong các bậc taxon của các loài chim ở khu vực nghiên cứu được thể hiện trong bảng 3.6.

Bảng 3.6. Mức độ đa dạng trong các bậc taxon của các loài chim ở KBTTN Bán đảo Sơn Trà

STTBộSố

họ

Tỉ

lệ %

Số

loài

Tỉ lệ %
1BỘ GÀ – GALLIFORMES12.321.9
2BỘ CẮT – FALCONIFORMES12.311.0
3BỘ CÚ – STRIGIFORMES12.311.0
4BỘ CÚ MUỖI – CAPRIMULGIFORMES12.311.0
5BỘ YẾN – APODIFORMES12.311.0
6BỘ SẾU – GRUIFORMES12.321.9
7BỘ GÕ KIẾN – PSITTACIFORMES24.721.9
8BỘ RẼ – CHARADRIIFORMES24.732.9
9BỘ CU CU – CUCULIFORMES12.354.8
10BỘ HẠC – CICONIIFORMES12.365.8
11BỘ ƯNG – ACCIPITRIFORMES24.776.7
12BỘ SẢ – CORACIIFORMES49.376.7
13BỘ BỒ CÂU – COLUMBIFORMES12.387.7
14BỘ SẺ – PASSERIFORMES2455.85855.8
Tổng43100.0104100

Đánh giá độ đa dạng của taxon:

– Xét mức độ đa dạng về họ: bộ Sẻ là bộ chim trẻ nhất và đa dạng nhất với 24 họ (chiếm 55.8%). Tiếp theo là Bộ Sả có 4 họ (chiếm 9.3%/bộ). Tuy nhiên, có tới 9 bộ chỉ có 1 họ duy nhất.

– Xét mức độ đa dạng về loài: Đứng ngay sau Bộ Sẻ với 58 loài (chiếm 55.8%) là bộ Bồ Câu với 8 loài (7.7%), Bộ Ưng và Bộ Sả cùng có 7 loài (chiếm 7.7%), tiếp theo là Bộ Hạc có 6 loài (5.8%) và Bộ Cu cu có 5 loài (4.8%). Và có tới 4 Bộ chỉ có đại diện 1 loài (1.0%) là Bộ Cắt, Bộ Cú, Bộ Cú, Bộ cú muỗi và Bộ Yến.

Hình 3.2. Biểu đồ so sánh sự đa dạng về số lượng họ, loài trong các bộ chim ở KBTTN Bán đảo Sơn Trà

Khu hệ chim ở đây với đặc trưng là khu hệ chim rừng núi thấp, nhưng cũng bổ sung nhiều loài chim ven biển, đặc biệt là có nhiều loài chim di cư. Đặc biệt riêng về chim ăn thịt ban ngày đã có 8 loài và 1 loài chim ăn thịt ban đêm thuộc bộ Cú. Bên cạnh đó, đặc trưng của khu hệ chim ở Sơn Trà là các loài chim trong Bộ Bồ câu với 8 loài đã được ghi nhận. Trong các loài chim nước quan sát thấy ở Sơn Trà, thì quần thể Cò trắng – Egretta garzetta chiếm số lượng đông nhất.

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bán đảo Sơn Trà

3.3. SỰ PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI CHIM Ở CÁC SINH CẢNH

3.3.1. Các sinh cảnh vùng nghiên cứu

– Sinh cảnh rừng nguyên sinh:

– Sinh cảnh rừng thứ sinh:

– Sinh cảnh trảng cỏ, cây bụi:

– Sinh cảnh đất canh tác và khu dân cư:

– Sinh cảnh bãi cát, bãi đá ven biển:

3.3.2. Sự phân bố chim theo sinh cảnh

Trên các kiểu tuyến khảo sát khác nhau thì tần suất phát hiện chim trên tuyến và số loài quan sát được có sự khác nhau. Kết quả này được thể hiện ở bảng 3.7 và hình 3.3.

Bảng 3.7. Bảng khảo sát tần suất phát hiện chim trên các tuyến điều tra ở KBTTN Bán đảo Sơn Trà

Sinh cảnh Số lượng loài (n)Tỉ lệ %Số lần quan sát

(n)

Tỉ lệ %
Rừng nguyên sinh (SC1)8177.938143.5
Rừng thứ sinh (SC2)5653.825929.6
Trảng cỏ, cây bụi (SC3)2826.99410.7
Khu vực dân cư (SC4)3028.88910.2
Bãi cát, đá ven biển (SC5)2322.1525.9
Tổng104100.0875100.0

Tần suất phát hiện chim trên sinh cảnh rừng nguyên sinh là cao nhất với 43.5% tổng số lần quan sát chim trong suốt thời gian nghiên cứu. Tỉ lệ phát hiện chim cao tiếp theo là trên sinh cảnh rừng thứ sinh. Tỉ lệ thấp nhất thuộc về sinh cảnh ven biển với các bãi cát, đá chỉ có 5.9%.

Trên sinh cảnh rừng thường xanh, có tổng cộng 81 loài chim trong số 104 loài được ghi nhận, chiếm tỉ lệ cao nhất với 77.9%. Tiếp theo là sinh cảnh rừng thứ sinh với 26 loài được ghi nhận chiếm 53.8%. Sinh cảnh có số lượng chim và tỉ lệ quan sát được thấp nhất là sinh cảnh dân cư và sinh cảnh ven biển.

Hình 3.3. Biểu đồ sự phân bố của các loài chim theo các dạng sinh cảnh khác nhau trong khu vực nghiên cứu

3.4. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHU HỆ CHIM Ở KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

3.4.1. Hoạt động bẫy bắt chim

Kết quả quan sát sau 20 ngày trên 2 trục đường chính đi vào KBTTN Bán đảo Sơn Trà để ghi nhận hoạt động bẫy bắt chim tại đây, chúng tôi có được kết quả thể hiện trong bảng 3.8.

Bảng 3.8. Thống kê số lượng các trường hợp đi bẫy chim tại KBTTN Bán đảo Sơn Trà

ThángSố ngày

quan sát

Số người

bẫy chim

Số bẫy

chim (lồng)

Số chim bẫy được
75296042
85274255
9411198
104664
112242
Tổng20 ngày75 người131 lồng bẫy chim111 con

Qua bảng số liệu trên cũng cho thấy, số lượng người đi bẫy chim cũng giảm dần vào các tháng 9, 10, 11. Thời điểm này trùng với mùa mưa nên việc bẫy bắt chim gặp nhiều khó khăn.

– Các loài chim thường được bẫy bắt ở bán đảo Sơn Trà:

Qua quá trình khảo sát tình hình bẫy bắt chim tại KBTTN Bán đảo Sơn Trà trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi xác định được 14 loài chim thường bị bẫy bắt gồm: Gà rừng (Gallus gallus); Cu ngói (Streptopelia tranquebarica); Cu gáy (Streptopelia chinensis); Cu xanh đầu xám (Treron vernans); Cu luồng (Chalcophaps indian) ; Phướn, Coọc (Rhopodytes tristic); Bìm bịp lớn (Centropus sinensis);…

Biều đồ 3.4. Số liệu thống kê các loài chim bị bẫy bắt tại KBTTN Bán đảo Sơn Trà

3.4.2. Tác động từ vùng đệm thông qua hoạt động buôn bán chim

Kết quả sơ bộ điều tra ban đầu đã thu được từ 3 cửa hàng bán chim, kết quả cho thấy, các loài chim được buôn bán tại các cửa hàng có nhiều loài nằm trong danh sách các loài chim thường bị bẫy bắt ở Sơn Trà như Chào mào (Pycnonotus jocosus); Chim vành khuyên (Zosterops japonicas); Chích chòe lửa (Copsychus malabaricus); Khướu (Garrulax chinensis)…Các loài chim này được bẫy bắt ở Sơn Trà từ những người đi bẫy, sau đó bán cho các chủ cửa hàng với giá dao động tùy theo mỗi loài, tình trạng sức khỏe chim, giới tính sẽ có giá thành khác nhau, tuy nhiên, gia dao động từ 50,000 đến 500,000.

3.4.3. Sinh cảnh sống của các loài chim bị tác động

Một trong những nguyên nhân phổ biến hiện nay tác động đến đời sống của các loài động vật hoang dã chính là hiện tượng mất nơi cư trú và phân mảnh nơi cư trú khiến nhiều quần thể bị suy giảm dần về số lượng vì không duy trì được khả năng sinh sản và phát triển. Một tác động nữa đến hệ sinh thái rừng ở bán đảo Sơn Trà là sự xâm lấn của các loài sinh vật ngoại lai xâm hại, điển hình là loài dây leo Bìm bìm (Ipomoea eberhardtii).

Điều tất yếu là trong quá trình phát triển đô thị và hệ thống các khu nghỉ dưỡng, thì Vịnh Đà Nẵng bao quanh bán đảo Sơn Trà cũng sẽ phải chịu sự ô nhiễm từ các nguồn nước thải và rác sinh hoạt không được xử lý triệt để. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thức ăn hải sản của nhiều loài chim gắn liền với môi trường biển.

Chính vì vậy, cần thiết phải có các biện pháp bảo tồn nơi ở, sự đa dạng của các loại sinh cảnh ở bán đảo Sơn Trà để duy trì tính đa dạng của khu hệ chim hoang dã ở nơi đây.

3.4.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững

Ngăn chặn kịp thời các hoạt động bẫy bắt động vật hoang dã trong khu bảo tồn để bảo tồn nguồn tài nguyên động vật quý hiếm.

Phát triển loại hình du lịch phù hợp: Phát triển Đô thị du lịch sinh thái Sơn Trà trên quan điểm phát triển bền vững, lấy du lịch sinh thái làm trọng tâm, xác định các chỉ số về cấu trúc và hình thể của không gian (các yếu tố mang tính vật thể) làm cơ sở cho việc thực thiện các dự án phát triển.

Ngoài ra cần tiến hành đẩy mạnh công tác bảo vệ phát triển rừng, có sự tham gia, chia sẻ lợi ích của người dân địa phương; gắn lợi ích phát triển du lịch trên cơ sở phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên rừng.

Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

– Nghiên cứu trong năm 2014, đã ghi nhận khu hệ chim tại KBTTN Bán đảo Sơn Trà có 104 loài thuộc 79 giống, 43 họ, 14 bộ. Đã phát hiện mở rộng vùng phân bố cho 1 loài tới Trung Trung bộ (loài Đại bàng biển bụng trắng – Heliaeetus leucogaster), ghi nhận mới 1 loài cho khu hệ chim Việt Nam (loài Cu vằn – Geopelia striata). Ghi nhận mới cho khu vực nghiên cứu 41 loài chim. Có 80 loài định cư, 30 loài di cư, 20 loài vừa có quần thể định cư vừa có quần thể di cư. Có 4 loài chim quan trọng cần ưu tiên bảo tồn bao gồm 1 loài có tên trong Danh lục Đỏ IUCN (2014) và Sách Đỏ Việt Nam (2007) ở bậc VU (loài Đuôi cụt bụng đỏ), và 3 loài có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ở nhóm IIB (loài Diều hoa miến điện, Yểng, Chích chòe lửa).

– Về cấu trúc thành phần loài, bộ Sẻ đa dạng nhất ở các bậc taxon với 24 họ, 58 loài. Bộ Sả có số họ đa dạng đứng thứ hai với 4 họ và 7 loài. Bộ Bồ câu tuy có 1 họ nhưng có tới 8 loài. Có tới 4 bộ chỉ có duy nhất 1 loài là bộ Cắt, bộ Cú, bộ Cú mèo và bộ Yến.

– Tần suất phát hiện chim trên sinh cảnh rừng nguyên sinh là cao nhất với 43.5% tổng số lần quan sát chim trong suốt thời gian nghiên cứu. Tỉ lệ phát hiện chim cao tiếp theo là trên sinh cảnh rừng thứ sinh. Tỉ lệ thấp nhất thuộc về sinh cảnh ven biển với các bãi cát, đá chỉ có 5.9%.

– Nguyên nhân chính ảnh hưởng đến các loài chim hoang dã ở KBTTN Bán đảo Sơn Trà là nạn săn bắn chim trái phép, diện tích rừng bị thu hẹp và tác động mạnh do các hoạt động phát triển du lịch, khách sạn.

2. Kiến nghị

– Sử dụng các tuyến khảo sát số 1,2,4,5,8,9 cho việc phát triển hoạt động du lịch sinh thái quan sát chim hoang dã tại bán đảo Sơn Trà. Hoạt động này một mặt thu kinh phí tái đầu tư bảo tồn, một mặt giới thiệu tài nguyên đa dạng sinh học của địa phương và góp phần giáo dục nâng cao nhận thức và yêu quý, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên của cộng đồng.

– Các tư liệu ảnh chụp và file âm thanh tiếng kêu, tiếng hót của các loài chim thu nhận được qua kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở dữ liệu tốt cho việc xây dựng tài liệu phục vụ phát triển du lịch sinh thái quan sát chim ở bán đảo Sơn Trà.

– Cần lồng ghép hoạt động giáo dục bảo tồn các loài chim vào hoạt động giảng dạy ở hệ thống các trường phổ thông, cụ thể như trong chương trình lớp 7, lớp 11.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN KHOA HỌC\TRUONG QUOC DAI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *