Vận dụng mô hình chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phiếu của các công ty thuộc nhóm ngành thực phẩm được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Thị trường chứng khoán Việt Nam là nơi tập trung , mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn, nhằm huy động những nguồn tiền tiết kiệm nhỏ trong xã hội, tập trung thành các nguồn vốn lớn tài trợ cho các doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư. Khi tham gia vào thị trường chứng khoán các nhà đầu tư luôn kì vọng sẽ thu về được lợi nhuận cao nhất. Nhưng thị trường này luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Vì vậy các nhà đầu tư phải là người biết chấp nhận rủi ro.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay của các nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường này là sự thiếu hiểu biết về đầu tư chứng khoán, thiếu kiến thức về thị trường chứng khoán. Vì vậy, họ có xu hướng nghe ngóng thông tin để đầu tư, trong khi đó thông tin đưa ra là không đầy đủ và thiếu tính chính xác. Bên cạnh đó, ở Việt Nam tam lý đám đông là yếu tố quyết định cho việc ra quyết định đầu tư của các nhà đầu tư. Đây là một sự đầu tư chứa nhiều yếu tố rủi ro. Qua đó ta thấy để tham gia vào thị trường này phải tìm hiểu, phân tích tình hình kinh doanh, tình hình tài chính và sự biến động giá của các công ty là điều hết sức quan trọng.
Khi đưa ra quyết định có nên mua hay nên bán cổ phiếu của mình đang nắm giữ hay không, nhà đầu tư nên quan tâm giá cả của chứng khoán đó trên thị trường như thế nào, cao hơn hay thấp hơn giá trị nội tại của nó. Như vậy điều quan trọng ở đây là nhà đầu tư phải biết giá trị thực của chứng khoán mà mình nên quyết định bán ra hay mua vào. Việc định giá chứng khoán trước đây đã có nhiều tác giả dùng nhiều mô hình khác nhau để định giá chứng khoán (cổ phiếu) của một số công ty. Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả vận dụng mô hình chiết khấu dòng tiền vào định giá cổ phiếu các công ty ngành thực phẩm được niếm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).
Nhận thấy được sự cần thiết của việc định giá cổ phiếu trong đầu tư nên tác giả đã chọn đề tài “ Vận dụng mô hình chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phiếu của các công ty thuộc nhóm ngành thực phẩm được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài tốt nghiệp của mình, nhằm mục đích thực nghiệm định giá để cung cấp thêm thông tin về giá cổ phiếu cho các nhà đầu tư trong quyết định đầu tư của mình.
Mục tiêu nghiên cứu
– Hệ thống cơ sở lý thuyết về định giá cổ phiếu bằng mô hình chiết khấu dòng tiền
– Vận dụng mô hình chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phiếu của các công ty thuộc ngành thực phẩm được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
– Gợi ý đối với các nhà đầu tư khi đầu tư vào cổ phiếu ngành thực phẩm
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu là xác định giá trị nội tại của cổ phiếu ngành thực phẩm đang niêm yết tại sàn HOSE.
– Phạm vi nghiên cứu là cổ phiếu của 6 công ty thuộc nhóm ngành thực phẩm được niêm yết tại sở giao dịch HOSE, trong giai đoạn từ 03/01/2008 đến hết ngày 31/12/2014.
Đề tài đã vận dụng phương pháp Top-down để phân tích ngành thực phẩm và các công ty ngành thực phẩm.
Đề tài sử dụng mô hình pháp chiết khấu dòng tiền và phương pháp định giá so sánh để xác định giá trị nội tại của các cổ phiếu của các công ty ngành thực phẩm trên sàn HOSE.
Tiến trình nghiên cứu:
– Thu thập số liệu về giá đóng của của các cổ phiếu của các công ty cần định giá trên sàn HOSE.
– Xác định lợi suất kỳ vọng và tỷ lệ tăng trưởng kỳ vọng.
– Xác định gía trị nội tại của cổ phiếu các công ty ngành thực phẩm trên sàn HOSE.
– Phân tích giá trị nội tại và đưa ra khuyến cáo đối với các nhà đầu tư, công ty ngành thực phẩm và chính phủ.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: trình bày các nội dung lý thuyết liên quan đến định giá cổ phiếu, gồm các mô hình sử dụng để định giá cố phiếu, các phương pháp định giá bằng mô hình chiết khấu dòng tiền và những vấn đề cần lưu ý khi định giá cổ phiếu bằng mô hình chiết khấu dòng tiền.
Chương 2: phân tích đặc định tài chính của các công ty ngành thực phẩm niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, trình bày phương pháp nghiên cứu gồm thu thập dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu lựa chọn nhằm định giá cổ phiếu các công ty ngành thực phẩm niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: trình bày kết quả nghiên cứu và những gợi ý liên quan đến đầu tư cổ phiếu ngành Thực phẩm.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU
BẰNG MÔ HÌNH CHIẾT KHẤU DÒNG TIỀN
Khái niệm về định giá cổ phiếu
Định giá cổ phiếu là việc xác định giá trị cổ phiếu tại một thời điểm xác định. Sự định giá nói chung là việc các nhà đầu tư xác định giá trị kinh tế hay giá trị thực của một tài sản, được xác định tương đương với giá trị hiện tại của những luồng tiền trong tương lai dự tính thu được từ tài sản đó. Những luồng tiền này được chiết khấu trở lại hiện tại bằng việc sử dụng tỷ lệ lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư.
Định giá cổ phiếu cũng không nằm ngoài quan điểm chung này, cụ thể hơn thì tài sản mà chúng ta nói ở trên đây bây giờ chính là cổ phiếu của một công ty nào đó. Đơn giản hơn đó là định giá cổ phiếu chính là việc xác định giá trị cổ phiếu tại một thời điểm xác định.
Tầm quan trọng của định giá cổ phiếu
Định giá cổ phiếu là công việc đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc quản lý và đầu tư vào cổ phiếu đó. Tất cả các chủ thể, các nhà đầu tư có liên quan đến việc quản lý hay đầu tư vào một doanh nghiệp đều cần phải định giá cổ phiếu của doanh nghiệp.
Định giá cổ phiếu giúp nhà đầu tư biết được giá trị thực của cố phiếu, tìm ra được cơ hội đầu tư sau đó đưa ra quyết định đầu tư phù hợp.
Một công ty tốt không nhất thiết là cơ hội đầu tư tốt nếu giá cổ phiếu của công ty đã được định giá quá cao.

Luận văn này sử dụng phương pháp Top-Down để phân tích.
Quy trình phân tích được trình bày sau đây:
- Phân tích tình hình chung và tình hình tài chính của ngành
– Mục tiêu: dựa vào nền kinh tế và sự phân tích thị trường chứng khoán xác định xem ngành tăng trưởng và ngành kém tăng trưởng ở quốc gia và phạm vi toàn cầu.
– Nội dung:
+ Tốc độ tăng trưởng, doanh thu, lợi nhuận của ngành.
+ Chu kỳ sống của ngành để tham gia đầu tư hay rút vốn khi cần thiết.
+ Xác định mức lợi nhuận của từng ngành vì rủi ro của mỗi ngành là khác nhau.
+ Yếu tố cạnh tranh trong ngành.
+ Yếu tố chính sách có khuyến khích hay không như chính sách xuất khẩu, thuế, ưu tiên hay hỗ trợ ngành của chính phủ….
- Phân tích doanh nghiệp:
– Mục tiêu: nhằm đánh giá được tình hình của các công ty để có quyết định đầu tư vào cổ phiếu của công ty đó.
– Nội dung:
Phân tích tài chính công ty: dựa vào phân tích các dữ liệu quá khứ của công ty trong các bảng báo cáo tài chính.
– Nhóm các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn.
– Nhóm các tỷ số phản ánh hiệu quả hoạt động.
– Nhóm các tỷ số phản ánh khả năng sinh lợi.
– Nhóm các tỷ số phản ánh rủi ro tài chính.
Các phương pháp định giá cổ phiếu
Theo tác giả Võ Thị Thúy Anh(2012, tr.289), các mô hình định giá cổ phiếu kết quả là giá trị ước tính hay còn gọi là giá trị nội tại của cổ phiếu chứ không phải là giá trị thị trường của cổ phiếu. Giá trị thị trường là giá trị mua bán cổ phiếu trên thị trường, giá trị nội tại là giá trị có được từ việc áp dụng mô hình định giá. Để nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư cổ phiếu thì cần phải so sánh giá trị nội tại của cổ phiếu với giá trị thị trường của cổ phiếu.
– Nếu giá trị nội tại của cổ phiếu > giá trị thị trường của cổ phiếu thì lúc này nhà đầu tư nên mua vào cổ phiếu
– Nếu giá trị nội tại của cổ phiếu < giá trị thì trường của cổ phiếu thì lúc này nhà đầu tư nên bán cổ phiếu mình đang giữ
Hiện nay có hai kỹ thuật định giá cổ phiếu cơ bản là dùng kỹ thuật chiết khấu dòng tiền (DCF) và kỹ thuật định giá so sánh (RV).
- Định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền
Theo tác giả Võ Thị Thúy Anh(2012, tr.289). Nguyên lý cơ bản của kỹ thuật này là xác định trên cơ sở chiết khấu các dòng tiền tương lai mà nhà đầu tư kỳ vọng nhận được từ chứng khoán đó về thời điểm hiện tại. Giá trị này được gọi là giá trị nội tại của chứng khoán đó.
(1.1)
Trong đó: Vo là giá trị chứng khoán ở thời điểm hiện tại
N: thời gian nắm giữ chứng khoán.
CFt: dòng tiền nhận được từ chứng khoán trong khoảng thời gian thứ t.
k: tỷ suất chiết khấu.
Để có thể thực hiện việc định giá chứng khoán theo kỹ thuật chiết khấu dòng tiền, chúng ta cần phải ước lượng: Các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai mà chứng khoán đó mang lại, tỷ suất chiết khấu (Tỷ suất lợi tức yếu cầu đối với chứng khoán).
Các dòng tiền kỳ vọng từ chứng khoán bao gồm cả ước lượng quy mô dòng tiền, thời gian nhận được các dòng tiền, và sự không chắc chắn về dòng tiền đó. Các dòng tiền kỳ vọng từ các chứng khoán có thể tồn tại dưới các hình thức sau: cổ tức, tiền lãi hoặc chênh lệch của giá chứng khoán. Kỹ thuật định giá cổ phiếu dựa vào mô hình DCF rất nhạy với tỷ lệ chiết khấu và cách xác định dòng tiền kỳ vọng từ chứng khoán. Để có thể dự đoná được dòng tiền kỳ vọng từ chứng khoán, cần căn cứ vào các kế hoạch tạo ra dòng tiền của công ty, kế hoạch sử dụng vốn của công ty và tỷ lệ tăng trưởng của công ty. Ba trường hợp đặc biệt của mô hình DCF là mô hình DDm, mô hình FCFF và mô hình FCFE. Các mô hình chi tiết sẽ được trình bày ở phần sau.
– Các vấn đề thường gặp với kỹ thuật chiết khấu dòng tiền DCF
Khi định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền, thường gặp các vấn đề liên quan đến: Các kế hoạch tạo ra dòng tiền hoạt động của công ty, các kế hoạch về sử dụng vốn của công ty, tỷ lệ chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng của công ty (Võ Thị Thúy Anh, 2012, tr. 291).
+ Các kế họach tạo ra dòng tiền hoạt động:
Yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố quan trọng nhất trong việc dùng mô hình chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phần chính là ước đoán chuỗi các kế hoạch tạo ra dòng tiền hoạt động cho doanh nghiệp. Có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với thu nhập và dòng tiền được dự báo. Đó chính là nguyên nhân bạn sẽ gặp vấn đề khi sử dụng phương pháp DCF. Dễ thấy nhất là tính không chắc chắn của các dự án về dòng tiền tăng lên qua từng năm dự báo trong khi mô hình DCF thường phải sử dụng từ 5 đến 10 năm để có được một dự đoán có giá trị. Chính tính không chắc chắn với thời gian có thể sẽ khiến mô hình của bạn không mang lại kết quả như mong đợi, thậm chí là một kết quả khác xa nhiều so với kết quả bạn mong muốn. Các nhà phân tích có thể dự báo khá chính xác dòng tiền hoạt động trong năm nay và năm sau nhưng cũng không thể có đủ khả năng để dự báo chính xác cho những năm xa hơn của tương lai. Thu nhập và dòng tiền có thể bị giảm một cách nhanh chóng bởi vì các yếu tố bất ngờ nào đó. Tệ hại hơn là các dự án về dòng tiền xây dựng cho một năm bất kỳ thường được dựa trên kết quả của năm liền trước đó.
+ Các kế hoạch về chi tiêu vốn
Các dự án về dòng tiền tự do cũng đi liền với các kế hoạch về chi tiêu vốn cho mỗi năm. Cũng vậy, mức độ không chắc chắn của các con số trong kế hoạch chi tiêu vốn tăng lên theo mỗi năm. Trong năm hoạt động không mấy khả quan thì tình hình chi tiêu vốn có thể tạo nên những sai lệch do các nhà quản trị sẽ thắt chăt các kế hoạch chi tiêu vốn và ngược lại. Do đó các giả thiết để xây dựng kế hoạch về chi tiêu vốn luôn hàm chứa rất nhiều rủi ro. Trong khi đó, có khá nhiều phương pháp để tính toán chi tiêu vốn ví dụ như sử dụng tỷ số vòng quay tài sản cố định hoặc là sử dụng phương pháp tính theo phần trăm doanh thu, những sự thay đổi dù nhỏ trong các giả định của mô hình cũng có thể tạo nên những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với kết quả tính toán của mô hình DCF.
+ Mức chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng
Có lẽ một trong các giả định quan trọng nhất của mô hình DCF chính là các giả định về mức chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng. Có khá nhiều cách để xác định mức chiết khấu trong mô hình DCF định giá cổ phần. Các nhà phân tích thường sử dụng công thức mức chiết khấu R=Rf + β*(Rm – Rf) hoặc là sử dụng chi phí sử dụng vốn trung bình WACC của doanh nghiệp như một tỷ lệ chiết khấu hợp lý khi sử dụng DCF để định giá doanh nghiệp. Cả hai phương pháp trên đều khá lý thuyết và chúng thật sự không vận hành hiệu quả lắm trong ứng dụng đầu tư thực tế. Các nhà đầu tư khác có thể chọn một tỷ suất rào cản tuỳ ý để định giá cho tất cả các khoản đầu tư vốn cổ phần. Dĩ nhiên là bạn nên biết rằng khi chọn một phương pháp nào để dự báo suất chiết khấu thì không có nghĩa là bạn sẽ có được những câu trả lời chắc chắn chính xác. Có lẽ vấn đề lớn nhất đối với giả định về tỷ lệ tăng trưởng chính là khi chúng được sử dụng như một giả định về tốc độ tăng trưởng liên tục. Gỉa định rằng một doanh nghiệp có thể giữ mức tăng trưởng liên tục là một giả định rất lý thuyết. Các nhà phân tích đã tranh luận rằng tất cả các công ty lớn mạnh đang hoạt động với mức tăng trưởng liên tục như giả định sẽ có khuynh hướng chỉ đạt ở mức tăng trưởng chung của nền kinh tế trong dài hạn. Thêm vào đó, mức tăng trưởng của công ty sẽ thay đổi, đôi khi là thay đổi rất nhanh qua từng năm hoặc thậm chí là qua từng thập kỷ. Hiếm khi nào mà một doanh nghiệp đạt đến một mức tăng trưởng nào đó và có thể duy trì mức tăng trưởng đó mãi mãi.
b. Kỹ thuật định giá so sánh
Theo tác giả Võ Thị Thúy Anh(2012, tr.303) Các tỷ số được tính toán bằng cách so sánh giá của cổ phiếu với các biến số liên quan có ảnh hưởng đến giá trị của cổ phiếu, chẳng hạn như lợi nhuận, giá trị của sổ sách. Kỹ thuật định giá so sánh thường được sử dụng rất phổ biến trong thực tế. Các kỹ thuật định giá này, giá trị của một cổ phiếu được ước tính dựa trên giá trị hiện tại so với một trong các biến kinh tế được xem là có ý nghĩa đối với quá trình định giá, chẳng hạn như thu nhập, dòng tiền, giá trị sổ sách hay doanh số bán hàng. Một trong những kỹ thuật chiết khấu dòng tiền là dựa vào giá trị nội tại của cổ phiếu quá cao hay quá thấp so với giá trị thị trường do điều chỉnh các biến đầu vào của mô hình. Ưu điểm của kỹ thuật này là cung cấp thông tin về thị trường hiện tại đang định giá một cổ phiếu như thế nào ở những cấp độ khác nhau – tổng thị trường, các ngành khác nhau, giữa các cổ phiếu trong một ngành.
Tuy nhiên, nhược điểm của những phương pháp này là chúng chỉ cung cấp thông tin về việc định giá hiện tại, mà không đem lại sự định hướng về việc liệu giá hiện tại của các cổ phiếu có phù hợp hay không.
Chính vì vậy, để áp dụng các kỹ thuật định giá tương đối một cách phù hợp, chúng ta cần cân nhắc hai điều kiện sau:
– Có một nhóm các công ty tương đồng có thể so sánh với nhau, có nghĩa là nhiều công ty trong một ngành, có quy mô tương đương và có độ rủi ro là tương đương
– Tổng thị trường và ngành mà công ty đang hoạt động không rơi vào hai thái cực của giá, nghĩa là không được định giá quá cao hay quá thấp.
Kỹ thuật định giá so sánh bao gồm các phương pháp sau
– Định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/E – giá / thu nhập
– Định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/CF – giá / dòng tiền
– Định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/BV – giá / giá trị sổ sách
– Định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/S – giá / doanh số
Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng phương pháp định giá cổ phiếu
- Định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/E
Định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/E (Võ Thị Thúy Anh, 2012, tr. 304) là phương pháp thông dụng và phổ biến nhất, phù hợp với tất cả các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân vì phương pháp này dễ sử dụng và dễ hiểu.
Nhà đầu tư cần xác định cổ phiếu của công ty có giá trị gấp bao nhiêu lần thu nhập hiện tại của cổ phiếu đó, giá cổ phiếu trên thị trường là đắt hay rẻ, có phản ánh đùng giá trị nội tại của cổ phiếu hay không.
Hệ số giá cổ phiếu trên thu nhập của một cổ phiếu được ký hiệu là P/E
| P | = | Giá cổ phiếu (P) |
| E | Thu nhập mỗi cổ phần (EPS) |
Giá hiện tại của cổ phiếu = thu nhập kỳ vọng của cổ phiếu x hệ số giá/thu nhập
Hay Po = EPS kỳ vọng * P/E chuẩn
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ áp dụng. Tuy nhiên, có những nhược điểm sau:
– Việc định giá cổ phiếu thường không chính xác do phải phụ thuộc vào việc ước lượng lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu.
– EPS có thể âm và P/E sec không có ý nghĩa gì với một mẫu số âm
– Thu nhập biến động, khiến cho việc so sánh P/E qua các năm gặp rất nhiều khó khăn và không có nhiều ý nghĩa
– EPS có thể bị tác động bởi công tác kế toán, khiến cho khả năng so sánh giữa các P/E bị tác động.
- Định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/CF
Sự phát triển phổ biến của phương pháp này là do giá trị dòng tiền rất quan trọng trong định giá cơ bản khi tính toán giá trị hiện tại của dòng tiền (Võ Thị Thúy Anh, 2012, tr. 308).
Chỉ số P/CF càng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong giới phân tích cổ phiếu xuất phát từ nguyên nhân là EPS có thể bị bóp méo do sự linh hoạt trong việc lựa chọn các nguyên tắc kế toán và các gian lận có thể có do ban lãnh đạotạo ra vì mục đích các nhân.
Nhà đầu tư có thể so sánh P/CF của một cổ phiếu với mức trung bình chung của thị trường, ngành hay nhóm ngành. Tỷ số này cao hơn mức trung bình chung của thị trường, ngành hay nhóm ngành tương ứng có nghĩa là cổ phiếu này đang được định giá cao hơn so với mức trung bình của thị trường, ngành hay nhóm ngành tương ứng.
Tỷ số giá / dòng tiền được tính như sau:
P/CFj = Pt / CFt+1
Ưu điểm của phương pháp này là:
– Dòng tiền ít có khả năng bị bóp méo bởi các quyết định của ban lãnh đạo
– Thông thường dòng tiền ổn định qua các năm hơn EPS
Nhược điểm của phương pháp này là thường bị hạn chế do việc xác định dòng tiền gặp nhiếu khó khăn và một số yếu tố thay đổi vốn lưu động hay các khoản thu nhập thường bị bỏ qua khi tính dòng tiền.
- Định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/BV
Chỉ số P/BV được sử dụng rộng rãi trong giới phân tích đối vơi ngành ngân hàng. Giá trị sổ sách của ngân hàng thường được coi là dấu hiệu tốt về giá trị nội tại của ngân hàng vì hầu hết các tài sản của ngân hàng như trái phiếu và các khoản cho vay thương mại có giá trị tương đương với giá trị sổ sách. Không chỉ thế , phương pháp P/BV cũng được ưa chuộng sử dụng bên ngoài ngành ngân hàng nhờ vào những ưu điểm của chỉ số này (Võ Thị Thúy Anh, 2012, tr. 310).
Hệ số giá trên giá trị sổ sách được kí hiệu là P/BV
| P | = | Pt |
| BVj | BVt+1 |
Trong đó:
P/BVj: Tỷ số giá cổ phiếu / giá trị sổ sách của công ty j
Pt: Giá cổ phiếu năm t
BVt+1: Giá trị sổ sách ước tính vào cuối năm / 1 cổ phiếu của công ty j
Bv được xác định như sau:
(Vốn chủ sở hữu) – (giá trị phần vốn cổ phần ưu đãi) = vốn cổ phần phổ thông.
Vốn cổ đông phổ thông / số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành = giá trị sổ sách / cổ phiếu.
Tuy nhiên, giá trị sổ sách tương lai thường không có sẵn mà được tính dựa trên tốc độ tăng trưởng lịch sử liên tục hoặc tốc độ tăng trưởng dự đoán dựa theo công thức tăng trưởng bền vững như sau:
g= ROE * b
Với b: tỷ lệ lợi nhuận giữ lại
– Nếu ROE nhỏ hơn hoặc bằng k thì lợi nhuận công ty tạo ra cũng chỉ đủ để trả chi phí vốn
– Nếu ROE lớn hơn k thì chứng tỏ công ty đang tăng trưởng và nhà đầu tư sẵn sàng trả mức phí lớn hơn giá trị sổ sách của cổ phiếu.
- Ưu điểm :
- Thông thường dùng phương pháp ổn định giá cổ phiếu P/BV được sử dụng khi công ty có EPS âm.
- BV của công ty thường ổn định hơn EPS của công ty đó.
- Phương pháp này phù hợp trong việc định giá những công ty có phần lớn tài sản có tính thanh khoản cao, như ngân hàng, công ty tài chính….
- Thường được sử dụng để định giá các công ty được cho là không còn tiếp tục hoạt động trên thị trường.
- Nhược điểm:
- Phương pháp này không phù hợp để định giá cổ phiếu của các công ty dịch vụ. Vì trong những công ty này, tài sản vô hình còn quan trọng hơn bất kỳ tài sản hữu hình khác.
- Phương pháp B/PV không phải là một chỉ số tốt để so sánh các công ty trong cùng ngành.
- Sự linh hoạt trong việc lựa chọn các nguyên tắc kế toán dẫn đến sự khác biệt về giá trị tài sản, thậm chí chất lượng tài sản, được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán.
- Định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/S
Phương pháp P/S khắc phục nhược điểm của phương pháp P/E khi định giá cổ phiếu vì doanh thu có quan hệ mật thiết với lợi nhuận.

Chỉ số giá / doanh số được áp dụng vì hai lý do. Thứ nhất, nhà đầu tư tin rằng tăng trưởng doanh thu mạnh và ổn định là yêu cầu đối với một công ty tăng trưởng. Thứ hai, so với tất cả các số liệu trên báo cáo tài chính, thông tin về doanh số ít bị tác động của các mánh khóe gian lận trên thị trường. Phương pháp P/S sẽ đưa ra kết quả rất khác nhau nếu được tính cho các công ty hoạt động trong các ngành khác nhau. Do vậy, phương pháp P/S chỉ nên được áp dụng để tính giá cổ phiếu khi so sánh các công ty trong cùng một ngành (Võ Thị Thúy Anh, 2012, tr.312).
Công thức tính tỷ số P/S:
| P | = | Pt |
| S | St+1 |
Trong đó,
P/S: Tỷ số giá / doanh thu của công ty
Pt: Giá cổ phiếu năm t
St+1: Doanh thu kỳ vọng / 1 cổ phiếu của công ty j
- Ưu điểm:
- Số liệu về doanh số thường chính xác hơn EPS hay BV
- Doanh số của công ty luôn luôn mang số dương ngay cả khi chỉ số EPS mang dấu âm.
- Doanh số của công ty thường ổn định hơn EPS, do vậy P/S sẽ là một chỉ số tốt khi EPS quá biến động.
- Nhược điểm:
- Một công ty có thể tạo ra doanh thu và có tốc đọ tăng trưởng doanh thu cao nhưng không có được lợi nhuận hoặc lợi nhuận thấp, hay có thể có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh âm. Để tồn tại lâu công ty phải tạo ra được lợi nhậu và tiền. Vì vậy phương pháp này thường được dùng để so sánh với các công ty trong cùng một ngành hoặc các ngành tương tự nhau.
- Các tập quán ghi nhận doanh thu có thẻ gây khác biệt lớn đối với chỉ số doanh thu/ cổ phiếu.
Theo tác giả Võ Thị Thúy Anh(2012, tr.289), định giá cổ phiếu bằng mô hình chiết khấu dòng tiền, có ba kỹ thuật để định giá đó là:
1.2.1. Định giá cổ phiếu dựa vào mô hình chiết khấu dòng cổ tức (DDM)
Giả sử một cổ phiếu được nắm giữ đến năm thứ n, cổ tức chi trả từ năm 1 đến năm n lần lượt là D1, D2, D3,…,Dn. Biết giá bán vào năm thứ n là Pn và tỷ suất lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư là k, có công thức như sau:
(1.2)
Nếu nhà đầu tư mua cổ phiếu và nắm giữ mãi mãi thì thu nhập của nhà đầu tư có được từ cổ phiếu chính là cổ tức được chia hàng năm. Mô hình chiết khấu dòng tiền lúc này trở thành:
(1.3)
1.2.2. Định giá cổ phiếu dựa vào mô hình chiết khấu dòng tiền tự do của chủ sỡ hữu (FCFE)
Mô hình này chiết khấu dòng tiền tự do của vốn chủ sở hữu, dòng tiền công ty sẽ nhận được sau khi thanh toán nợ, thanh toán cổ tức cho cổ phiếu thưởng. Tỷ suất chiết khấu được sử dụng là k = WACC của công ty.
Dòng tiền tự do của chủ sỡ hữu là dòng tiền còn lại của vốn chủ sở hữu sau khi đã trả lãi và nợ gốc, trang trải các chi phí bảo trì tài sản hiện hành cũng như tạo ra các tài sản mới cho sự tăng trưởng trong tương lai, gọi tắt là FCFE.
FCFE = Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao – Vốn đầu tư tài sản cố định – Chênh lệch vốn lưu động – Số tiền hoàn trả nợ gốc + Số tiền vay mới.
Giá trị mỗi cổ phiếu = giá trị tổng số cổ phiếu/số lượng cổ phiếu đang lưu hành
Dòng tiền tự do này được chiết khấu theo chi phí của vốn chủ sở hữu. Chiết khấu các dòng tiền FCFE về hiện tại theo tỷ suất vốn chủ sở hữu, cộng lại chúng ta sẽ có giá trị nội tại của vốn chủ sở hữu. Chia giá trị này cho toàn bộ số cổ phiếu hiện hành ta sẽ có giá trị của từng cổ phần. Các dòng tiền nói trên có thể giả định theo các mô hình khác nhau.
Các dòng tiền nói trên có thể giả định theo các mô hình khác nhau: Mô hình tăng trưởng một giai đoạn, 2 giai đoạn, 3 giai đoạn. Thường thì trong giai đoạn cuối cùng hoặc là dòng tiền không đổi, hoặc là tăng bền vững. Mô hình tăng trưởng chỉ có thể được dự đoán sau khi chúng ta nghiên cứu kỹ. Đầu tiên là phân tích môi trường vĩ mô, tình hình ngành, tình hình công ty. Cần chú ý là tỷ lệ tăng trưởng bền vững phải nhỏ hơn hay cao nhất là bằng tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế.
Việc áp dụng mô hình FCFE tùy thuộc vào vị trí của công ty đó. Nếu công ty đang ở giai đoạn tăng trưởng, có thể định giá cổ phiếu bằng cách sử dụng mô hình tăng trưởng vĩnh viễn. Ngược lại, nếu công ty đang ở giai đoạn tăng trưởng tạm thời nên sử dụng mô hình tăng trưởng nhiều giai đoạn để định giá cổ phiếu.
- Ưu nhược điểm của mô hình
Ưu điểm
- Giá trị công ty là mức cao nhất mà nhà đầu tư có thể mua
- Giải thích rõ vì sao công ty này lại có mức cao hơn công ty kia
- Quan niệm về dòng tiền tránh được việc điều chỉnh số liệu kế toán sao cho có thể phản ánh đúng thời điểm phát sinh các khoản tiền.
Tuy nhiên vẫn có những nhược điểm sau:
– Đối với các công ty mới thành lập hoặc thành lập chưa lâu sử dụng phương pháp này sẽ không đủ số liệu làm căn cứ dự toán trong tương lai.
– Đối với các công ty đang gặp trục trặc trong hoạt động kinh doanh như kết quả hoạt động kinh doanh bị lỗ, dòng tiền hoạt động âm, công ty sắp giải thể hay phá sản.
– Đối với các công ty hoạt động theo chu kì thì rất dễ tính sai do dựa vào số liệu lúc đang ở đỉnh cao hay lúc ở đáy suy thoái.
– Đối với các công ty có tài sản không sử dụng, tài sản là bằng phát minh, sáng chế thì khả năng sinh lời của các tài sản loại này thường bị bỏ qua do thiếu cơ sở ước tính.
1.2.3. Định giá cổ phiếu bằng mô hình chiết khấu dòng tiền tự do của doanh nghiệp (FCFF)
Phương pháp này định giá toàn bộ doanh nghiệp, bao gồm cả nợ và vốn chủ sỡ hữu, bằng cách ước tính dòng tiền tạo ra cho doanh nghiệp sau khi trừ chi phí hoạt động và nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, nhưng không trừ khoản vay của doanh nghiệp. Để có được giá trị vốn cổ phần công ty phải tiếp tục lấy giá trị nợ của doanh nghiệp trừ đi giá trị nợ của doanh nghiệp đó. Đây là phương pháp tổng quát và có tính khoa học cao, vừa được xác định trong giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa cũng như tính toán giá trị cổ phiếu.
Dòng tiền tự do của doanh nghiệp là dòng tiền được sỡ hữu bởi toàn bộ chủ sở hữu và toàn bộ chủ nợ của doanh nghiệp, viết tắt là FCFF.
Dòng tiền tự do (FCFF) = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế * (1-thuế suât) + chi phí khấu hao – chi phí đầu tư tài sản cố định + vốn lưu động ròng.
Tỷ lệ chiết khấu dành cho dòng tiền thuần của công ty là WACC, là chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền của công ty. WACC bằng bình quân gia quyền của chi phí vốn chủ sỡ hữu và chi phí vốn vay. Chiết khấu các dòng tiền FCFF về hiện tại theo tỷ suất WACC, cộng lại ta sẽ có giá trị nội tại của toàn bộ công ty, sau đó trừ đi giá trị nợ sẽ được giá trị vốn chủ sỡ hữu. Chia giá trị này cho toàn bộ số cổ phiếu hiện hành sẽ có giá trị của từng cổ phần.
Trên thực tế, dòng tiền tự do thường được tính dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh năm trước và tốc độ tăng trưởng kỳ vọng của dòng tiền tự do theo công thức sau:
Dòng tiền tự do = Dòng tiền hoạt động sau thuế – Chi đầu tư ròng tài sản hoạt động (kể cả cho chi tài sản cố định và chi cho vốn lưu động ròng)
Dòng tiền hoạt động sau thuế = Lợi nhuận hoạt động + khấu hao tài sản cố định hữu hình và vô hình – Thuế
- Ưu nhược điểm của mô hình
Ưu điểm: Sử dụng mô hình chiết khấu dòng tiền tự do sẽ tính được giá trị cổ phiếu trong trường hợp công ty không chi trả cổ tức.
Nhược điểm: Kết quả giá trị chiết khấu nhận được không phải là giá trị cổ phiếu mà là giá trị công ty. Thay vào đó giá trị cổ phiếu của công ty sẽ được tính bằng công thức sau:
Giá trị cổ phiếu = (Giá trị công ty – nợ phải trả) / số lượng cổ phấn đang lưu hành
1.3. LỰA CHỌN MÔ HÌNH DDM ĐỂ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU
Mô hình chiết khấu dòng cổ tức (DDM) được sử dụng trong luận văn để định giá cổ phiếu
Mô hình chiết khấu cổ tức được thiết kế để tính giá trị lý thuyết của cổ phiếu thường. Đây là một phương pháp đơn giản nhưng rất hiệu quả và được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực phân tích chứng khoán hiện nay. Phương pháp này được thực hiện trên nguyên lý: giá trị hiện tại của một cổ phiếu chính là giá trị quy về hiện tại của toàn bộ luồng thu nhập trong tương lai của cổ phiếu đó, nó bao gồm hai nguồn: Cổ tức theo các thời kỳ và giá bán cổ phiếu của cuối kỳ đầu tư.
- Định giá cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu mà công ty phát hành cam kết trả tỷ lệ cổ tức cố định hằng năm và không tuyên bố ngày đáo hạn. Loại cổ phiếu này giống như trái phiếu vĩnh viễn. Do đó, mô hình định giá cổ phiếu ưu đãi giống như mô hình định giá trái phiếu vĩnh viễn. Giá cổ phiếu ưu đãi được xác định bằng hiện giá toàn bộ dòng tiền thu nhập từ cổ phiếu. Thu nhập đầu tư của cổ phiếu ưu đãi chính là cổ tức được hưởng. Dòng tiền thu nhập được từ cổ phiếu ưu đãi là dòng tiền vô hạn.
Trong trường hợp công ty không bị phá sản, cổ tức cổ phiếu ưu đãi cố định và kéo dài mãi mãi, giá trị của cổ phiếu ưu đãi chính là cổ tức hàng năm chia cho tỷ suất lợi tức yêu cầu trên cổ phiếu ưu đãi như sau:
P = Dp / Kp
Dp : Cổ tức hàng năm của cổ phiếu ưu đãi
Kp : Tỷ suất lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư khi đầu tư vào cổ phiếu ưu đãi
P : Giá cổ phiếu ưu đãi
- Định giá cổ phiếu thường
Nếu cổ phiếu được năm giữ mãi mãi, mô hình chiết khấu dòng tiền trở thành mô hình chiết khấu cổ tức. Mô hình này được xây dựng dựa trên các giả định sau: Nhà đầu tư đã biết tỷ suất chiết khấu và tốc độ tăng trưởng cổ tức hàng năm, giá trị của toàn bộ cổ tức trong tương lai.
Nếu nhà đầu tư mua cổ phiếu và nẵm giữ mãi mãi thì thu nhập của nhà đầu tư có được từ cổ phiếu chính là cổ tức được chia hàng năm. Mô hình chiết khấu dòng tiền trở thành:
(1.4)
Trong đó:
Po : Giá cổ phiếu
Dn : Cổ tức chi trả năm n
k : Tỷ suất lợi tức của cổ phiếu
Để ước lượng cổ tức, thông thường các nhà phân tích đưa ra ba trường hợp giả định sau đây:
- Trường hợp 1: Tốc độ tăng trưởng cổ tức không đổi
Gọi g là tốc độ tăng trưởng cổ tức hàng năm được giả định không đổi và g < k
Khi đó công thức (1.4) trở thành:
(1.6)
Tuy nhiên trên thực tế ít có cổ phiếu nào có tốc độ tăng trưởng cổ tức ổn định mãi mãi trong tương lai, nhưng nếu cổ phiếu có cổ tức duy trì ổn định trong một thời gian dài thì có thể áp dụng công thức này để xác định giá gần đùng của cổ phiếu.
- Trường hợp 2: Cổ tức không tăng trưởng (g = 0)
Lúc này cổ tức hằng năm D1 = D2 = D3 = …. = D
Công thức (1.4) trở thành:
(1.7)
- Trường hợp 3: Tốc độ tăng trưởng cổ tức thay đổi
Công thức tính giá cổ phiếu trong trường hợp tốc độ tăng trưởng cổ tức thay đổi
(1.8)
Trong đó,
Do: Mức cổ tức chi trả vào năm 0
Dn: Mức cổ tức chi trả vào năm n
G1: Tốc độ tăng trưởng cổ tức từ năm 1 đến năm n
G2: Tốc độ tăng trưởng cổ tức từ năm n+1 đến năm
K: Tỷ suất sinh lợi yêu cầu
V0: Giá cổ phiếu
Trong nghiên cứu này lựa chọn trường hợp 1, mô hình chiết khấu dòng cổ tức với tốc độ tăng trưởng không đổi.
- Ưu và nhược điểm của mô hình DDM
Ưu điểm
– Phương pháp này ít phụ thuộc vào số liệu trong quá khứ. Phương pháp này có thể sử dụng và tính toán cho suốt nhiều năm trong khoảng thời gian dự báo.
Nhược điểm
– Kết quả định giá của mô hình chiết khấu cổ tức có thể xa rời thực tế vì đưa ra nhiều giả định về dòng tiền kỳ vọng trong tương lai của cổ phiếu.
– Mô hình này không phù hợp trong trường hợp công ty giữ lại toàn bộ lợi nhuận cho tái đầu tư hoặc công ty không chi trả cổ tức cho các cổ đông.
– Mô hình này dựa vào giả định quan trọng là tốc độ tăng trưởng cổ tức luôn không đổi và luôn nhỏ hơn lãi suất chiết khấu, việc này cũng gây khó khăn trong việc định giá cổ phiếu trong tương lai.
Chương 1 trình bày một số vấn đề lý thuyết liên quan đến việc định giá cổ phiếu. Nhìn chung các lý thuyết này đều dựa trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu nghiêm túc trước đây. Ngoài ra, nội dung của chương một còn tổng quan về các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến mô hình trong thời gian gần đây tại Việt Nam.
Có thể kết luận rằng, áp dụng mô hình chiết khấu dòng tiền định giá cổ phiếu ở Việt Nam không còn mới. Do đó việc tổng hợp các nội dung lý thuyết về định giá cổ bằng mô hình chiết khấu dòng tiền là một trong những đóng góp của đề tài về mặt lý thuyết.
Cổ phiếu là một dạng đầu tư mà nhiều nhà đầu tư đang quan tâm hiện nay trên thế giới cũng như việt Nam. Tuy nhiên, giá thị trường cổ phiếu hiện nay đang khá lệch so với giá trị thực của chúng. Nên các nhà đầu tư nên vận dụng các cơ sở lý thuyết ở chương này để phân tích và tìm ra giá trị thực của cổ phiếu đang quan tâm.
2.1. PHÂN TÍCH NGÀNH THỰC PHẨM VÀ DIỄN BIẾN GIÁ CỔ PHIẾU NGÀNH THỰC PHẨM
2.1.1. Tình hình kinh doanh ngành thực phẩm
Ngành thực phẩm – đồ uống được nhận định sẽ tăng trưởng cao trong năm 2014 do người tiêu dùng tăng chi tiêu, tuy nhiên, sức ép cạnh tranh đang gia tăng. Theo báo cáo của Nielsen Việt Nam vượt ngưỡng 100 điểm trong quý III và IV/2014. Kết quả này cho thấy, động thái thắt chặt chi tiêu của người tiêu dùng đã giảm đáng kể; thay vào đó, họ trở nên lạc quan hơn với sự cải thiện của nền kinh tế. Tín hiệu tích cực trong thói quen tiêu dùng có thể giúp ngành thực phẩm – đồ uống tăng trưởng trong năm 2014. Mặt khác, sự chuyển dịch cơ cấu dân số và sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu sẽ mang lại nhiều cơ hội cho ngành thực phẩm. Tỷ lệ tiêu thụ thực phẩm giai đoạn 2012 – 2014 duy trì trên hai con số (trung bình 14%/năm) và theo dự báo của BMI, tỷ lệ này sẽ tăng cao trong giai đoạn 2015 – 2018. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng tận dụng được cơ hội tăng trưởng này của thị trường, do sức ép cạnh tranh đang ngày càng tăng. Sức ép cạnh tranh bắt đầu phản ánh từ năm 2014 khi hàng loạt doanh nghiệp tăng chi phí marketing cũng như đẩy mạnh các hoạt động M&A. Rồng Việt Research dự báo, động thái này tiếp tục diễn ra trong năm nay, thậm chí tăng tốc đáng kể khi Việt Nam đang có những bước hội nhập kinh tế sâu rộng hơn.Với thói quen tiêu dùng chịu ảnh hưởng lớn bởi giá bán, cạnh tranh về giá có thể là xu thế ngắn hạn. Nhưng theo nghiên cứu của Nielsen, người tiêu dùng Việt Nam hiện có khuynh hướng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng sản phẩm, đặc biệt là vấn đề sức khỏe. Do vậy, nghiên cứu dòng sản phẩm mới với đặc tính nâng cao sức khỏe là chiến lược được nhiều doanh nghiệp nội địa áp dụng. Không chỉ vậy, các doanh nghiệp còn đẩy mạnh sự hiện diện thương hiệu thông qua gia tăng các chiến dịch quảng cáo. Rồng Việt Research cho rằng, những doanh nghiệp nội địa nào có khả năng thích ứng và chuẩn bị chiến lược phù hợp sẽ có lợi thế lớn nhất trong môi trường cạnh tranh của năm 2014.
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra nhiều cơ hội cho ngành thực phẩm. Tuy nhiên,cùng với những lợi thế và thành quả đạt được, ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức.
- Thuận lợi
Nhu cầu tiêu dùng ở Việt Nam vẫn tăng trưởng chậm, người tiêu dùng còn thận trọng trong chi tiêu do bối cảnh kinh tế vẫn chưa hồi phục. Tuy nhiên, hệ thống bán lẻ phát triển mạnh, thói quen và chỉ số tiêu dùng của người dân Việt Nam ngày càng cao cho thấy một thị trường hứa hẹn cho ngành bán lẻ nói chung và ngành thực phẩm đồ uống nói riêng. Lĩnh vực bán lẻ thực phẩm và nước giải khát tại Việt Nam đang rất phân tán, với sự hiện diện của chỉ một vài doanh nghiệp lớn. Lĩnh vực bán lẻ thực phẩm và đồ uống chủ yếu bị chi phối bởi các nhà bán lẻ ngoài doanh nghiệp, bao gồm các nhà bán lẻ truyền thống và cửa hàng thực phẩm độc lập. Các doanh nghiệp thâm nhập bán lẻ chủ yếu giới hạn trong các khu vực đô thị. Thị trường thực phẩm đồ uống được kiểm soát bởi một số doanh nghiệp lớn. như các doanh nghiệp nội địa Vinamilk, Kinh Do, Masan Consumer, Minh Phú, Vinafood, Halico, Bibica, Sabeco, các doanh nghiệp nước ngoài như Nestle (cà phê); Nabati Indonesia (bánh kẹo); Diageo, Heineken, Carlsberg, SABMiller (đồ uống có cồn); Kirin Beverage (nước ngọt); AEON, E-mart và Công ty Đầu tư U&I, FamilyMart, NTUC FairPrice (đa dạng hóa các sản phẩm thực phẩm thông qua bán lẻ tổ chức). Các công ty đa quốc gia lớn đang thiết lập các đơn vị độc lập và công ty liên doanh để đầu tư vào các lĩnh vực như cà phê, bánh kẹo, đồ uống có cồn, nước ngọt, và hệ thống phân phối bán lẻ.
Đến nay cả nước có khoảng 1.242 doanh nghiệp sản xuất bia – rượu – nước giải khát, tăng gần 500 doanh nghiệp so với năm 2000. Ngành sữa là một trong những ngành phát triển nhanh giải quyết việc làm ổn định cho 10.000 lao động; tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20%/năm. Hiện nay tổng năng lực sản xuất toàn ngành khá lớn: sữa đặc có đường 792,6 triệu hộp/năm, sữa bột 101.500 tấn/năm, sữa thanh trùng và tiệt trùng 778.300 tấn/năm và sữa chua 150.800 tấn/năm. Sản phẩm của ngành phong phú, mẫu mã bao bì đa dạng với trên 300 chủng loại sản phẩm, chất lượng, khẩu vị ngày càng được cải thiện, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Năm 2013, ngành sữa đạt doanh thu 62,2 nghìn tỷ đồng (2,9 tỷ USD), tăng 16,5% so với năm 2012, là một trong số các ngành hàng phát triển nhanh nhất trong lĩnh vực hàng tiêu dùng thiết yếu của Việt Nam. Năm 2013, Việt Nam sản xuất hơn 60.1 tỷ USD giá trị sản xuất thực phẩm và đồ uống, chiếm 40.5% tổng giá trị tiêu thụ của cả nước. Tiêu thụ lương thực thực phẩm và đồ uống năm 2013 tăng 8,2% so với năm 2012 và tốc độ CAGR là 11% trong giai đoạn 2010-2013. Tiêu thụ thực phẩm và đồ uống trong nước đạt 42.8 tỷ USD chiếm 71,2% tổng giá trị sản xuất thực phẩm và đồ uống, 29% còn lại thuộc về xuất khẩu (thủy sản, gạo, cà phê, hạt điều, …). Dự báo năm 2014, doanh thu của ngành sữa đạt 74,6 nghìn tỷ đồng. Ngành công nghiệp chế biến dầu thực vật của Việt Nam hiện có 37 doanh nghiệp sản xuất dầu thô và dầu tinh luyện. Năng lực sản xuất dầu thô 1,2 triệu tấn nguyên liệu hạt có dầu/năm, năng lực sản xuất dầu tinh luyện 1,129 triệu tấn dầu tinh luyện/năm. Về lĩnh vực sản xuất bánh kẹo, hiện Việt Nam có khoảng 30 doanh nghiệp trong nước và hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ và một số công ty nhập khẩu bánh kẹo nước ngoài, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định tại Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng của ngành bánh kẹo trong giai đoạn 2011-2014 khoảng 8%-10%/năm. Năm 2013 doanh thu ngành đạt 16,6 nghìn tỷ đồng (0,79 tỷ USD), tăng 9,4% so với năm 2012. Thị trường bánh kẹo Việt Nam vẫn hấp dẫn trong khu vực Đông Nam Á vì Việt Nam vẫn vượt xa mức tăng trưởng trung bình 3% của các nước trong khu vực và 1,5% của thế giới.
Theo dự báo của Bộ Công Thương từ nay đến năm 2016 sức tiêu thụ thực phẩm của Việt nam sẽ tăng 5,1%/năm, ước đạt khoảng 29,5 tỷ USD.
Ngoài cơ hội lớn tại thị trường trong nước, việc Việt Nam tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN và trở thành thành viên của WTO đã thúc đẩy xuất khẩu nói chung và xuất khẩu nông sản, thực phẩm chế biến nói riêng. Quá trình hội nhập tác động rất lớn đến các doanh nghiệp ngành công nghiệp thực phẩm. Ngành công nghiệp thực phẩm đã mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác với nước ngoài. Mặt khác, tận dụng mọi ưu thế do các hiệp định hợp tác quốc tế mang lại, đồng thời để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, ngành công nghiệp thực phẩm đã không ngừng đổi mới, nhiều cơ sở xây dựng được xây dựng, đầu tư thiết bị công nghệ hiện đại, cải tiến và nâng cao trình độ quản lý (đa dạng hóa hình thức sở hữu, từng bước cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước…), sản xuất ra các sản phẩm chất lượng cao, đa dạng về chủng loại, thay thế các sản phẩm nhập khẩu, có thương hiệu đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và tăng cường xuất khẩu.
Bộ Công Thương đã xếp ngành công nghiệp thực phẩm vào nhóm ngành đang có lợi thế cạnh tranh và có định hướng, chiến lược phát triển trên cơ sở sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, khai thác sử dụng tối đa nguyên liệu trong nước, tạo sản phẩm đa dạng, đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, có khả năng cạnh tranh cao, để hình thành ngành kinh tế mạnh, hội nhập vững chắc với khu vực và thế giới.
- Khó khăn
Mặc dù ngành công nghiệp thực phẩm của Việt Nam trong những năm qua đã có sự phát triển mạnh mẽ, tạo ra những cơ hội lớn những cũng đi kèm là những thách thức không nhỏ. Mặc dù có tốc độ phát triển rất nhanh nhưng nhiều chuyên gia cho rằng ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Việt Nam vẫn chưa xây dựng được nhiều thương hiệu lớn trên tầm quốc tế.
Theo ông Bùi Trường Thắng, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ (Bộ Công Thương), do phải phụ thuộc vào nhiều nguồn nguyên liệu nhập khẩu, chất lượng sản phẩm chưa được kiểm soát và quản lý chặt chẽ. Đơn cử ngành sữa phải nhập khẩu tới 75% nguyên liệu từ nước ngoài, còn dầu ăn phải nhập khẩu 90%… Một số doanh nghiệp nhỏ do địa phương quản lý, thiếu vốn nên đã đầu tư thiết bị lạc hậu, không đồng bộ, sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn như công bố trên bao bì làm ảnh hưởng đến sản phẩm có thương hiệu uy tín. Thậm chí nhiều doanh nhiều còn chưa ý thức được vai trò và ý nghĩa quan trọng của thương hiệu trong hoạt động kinh doanh như nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường để thu hút khách hàng. Do đó, hầu hết các doanh nghiệp chế biến Việt Nam vẫn đang ở thế yếu về năng lực cạnh tranh do thương hiệu chưa được biết đến nhiều trên thị trường khu vực và thế giới.
Bên cạnh đó, do đặc thù ngành công nghiệp thực phẩm có số lượng doanh nghiệp tham gia khá đông so với các ngành kinh tế khác, nên để giảm thiểu các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra, các cơ quan chức năng cần có chế tài và hình thức xử lý mạnh hơn để răn đe các doanh nghiệp thiếu tôn trọng khách hàng, cạnh tranh bằng những chiêu thức không lành mạnh, quá đó góp phần ổn định thị trường, tạo niềm tin đối với người tiêu dùng.
Nhiều chuyên gia cũng chỉ ra những yếu kém của ngành chế biến thực phẩm trong nước hiện nay như khả năng liên kết từ khâu sản xuất, thu gom đến phát triển vùng nguyên liệu và chế biến còn lỏng lẻo. Một số công nghệ sản xuất vẫn còn lạc hậu trong khi việc kiểm soát an toàn thực phẩm còn bất cập… đã làm ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm.
- Giải pháp để phát triển
Để tạo điều kiện cho ngành công nghiệp thực phẩm phát triển bền vững tại thị trường nội địa và từng bước chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, theo ý kiến của các chuyên gia, nhà nước cần tiếp tục ban hành những chính sách khuyến khích phát triển phù hợp; trong đó tập trung chủ yếu vào việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp quảng bá, đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, bảo hộ sở hữu công nghiệp, xúc tiến thương mại, đào tạo, cung cấp thông tin về thị trường, môi trường, luât pháp kinh doanh quốc tế, ứng dụng khoa học đổi mới công nghệ…
Tuy nhiên trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động như hiện nay, các rào cản kỹ thuật, những đòi hỏi về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm của các nước ngày càng cao và khắt khe, thị trường trong nước ngày càng xuất hiện nhiều hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Vì vậy cần phải có sự chung sức đồng lòng của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người tiêu dùng mới có thể hiện thực hóa được những mục tiêu, định hướng phát triển của ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam.
Nhằm đánh giá và tìm ra những biện pháp tốt nhất để đẩy mạnh xúc tiến thương mại các mặt hàng thực phẩm của Việt Nam, ngày 26/11/2014, Bộ Công Thương (Cục Xúc tiến thương mại) đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Khoa học – Công nghệ thực phẩm Việt Nam và Trung tâm hỗ trợ nhập khẩu từ các nước đang phát triển của Hà Lan (CBI) tổ chức hội nghị quốc tế ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam 2014.
- Triển vọng ngành thực phẩm
Đánh giá về cơ hội phát triển của ngành công nghiệp chế biến, đại diện Bộ Công Thương cho rằng, với dân số cả nước gần 90 triệu người, tốc độ tăng GDP đạt khá, Việt Nam có rất nhiều cơ hội để phát triển thị trường nội địa khi nhu cầu của người dân đối với những thực phẩm sạch, thực phẩm qua chế biến ngày càng lớn và đa dạng. Cùng với đó, Chính phủ đang chú trọng phát triển ngành nông nghiệp (chương trình nông thôn mới, chương trình 30a…), là cơ hội để các doanh nghiệp thuộc ngành phát triển chuỗi cung ứng cũng như các mạng liên kết với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thực phẩm. Hơn nữa, hiện Chính phủ đang tham gia đàm phán nhiều hiệp định kinh tế lớn như: TPP, EVFTA… kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội mới phát triển ngành.
Ông Bùi Trường Thắng cho rằng, nước ta đã hội nhập với khu vực và thế giới nên sẽ không còn bảo hộ sản xuất trong nước thông qua hệ thống thuế quan. Điều này sẽ làm tăng áp lực cạnh tranh giữa hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu. Nguyên liệu sử dụng cho ngành chủ yếu là nhập khẩu, do đó giá nguyên liệu thế giới cũng như tỷ giá có thể ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành. Đặc biệt, trong thời gian tới, khi Việt Nam chính thức ký kết tham gia các hiệp định kinh tế nêu trên thì việc thực thi quy chế đối xử không phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài là rất chặt chẽ. Vì vậy, những doanh nghiệp chế biến có quy mô nhỏ, tiềm lực yếu sẽ phải cạnh tranh gay gắt.
Do vậy, hơn bao giờ hết, việc tái cấu trúc nâng cao hiệu quả sản xuất của ngành là rất bức thiết. Các doanh nghiệp nhà nước cần đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa. Đối với những doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa sẽ tiếp tục bán phần vốn nhà nước cho nhà đầu tư chiến lược, giảm tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu nhà nước trong công ty cổ phần. Bên cạnh đó, điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành cho phù hợp với tình hình thị trường; tăng quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm…
Theo dự báo của Bộ Công Thương, sức tiêu thụ thực phẩm của Việt Nam đến năm 2016 sẽ tiếp tục tăng 5,1%/năm, ước tính đạt khoảng 29,5 tỉ đô la Mỹ. Trong khi đó, mức tiêu thụ bình quân theo đầu người tăng 4,3%/năm tính đến năm 2016, vào khoảng 5,8 triệu đồng/năm (tương đương 316 đô la Mỹ/năm). Trong đó, ngành công nghiệp thực phẩm đòng hộp của Việt Nam sẽ tăng 4,3% về lượng và 10,4% về giá trị doanh số bán hàng.
Triển vọng đối với ngành đồ uống của Việt Nam cũng khá sáng sủa. Đồ uống có cồn tiếp tục thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài, trong đó nổi bật là một số thương hiệu như Diageo, Asia Pacific Breweries (APB) và Carlsberg. Dự báo trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016, doanh số của ngành sẽ tăng 7,5%, còn doanh thu sẽ tăng 10,5%/năm khi mà người tiêu dùng bắt đầu sử dụng các loại đồ uống có giá trị cao hơn. Trong đó, đồ uống không có cồn được dự báo sẽ đạt 8,2% về tốc độ tăng trưởng doanh thu hàng năm trong giai đoạn 2011-2016.
Nguyên nhân có sự tăng trưởng mạnh mẽ này được lý giải là nhờ nền kinh tế phát triển ổn định, tỷ lệ tiêu dùng trong nước tăng, xu hướng đô thị hóa ngày càng tăng, vốn đầu tư nước ngoài tăng và số lượng khách du lịch ngày càng nhiều. Mặt khác, đồ uống và thực phẩm nằm trong nhóm ngành hàng thiết yếu nên không bị ảnh hưởng bởi bất cứ lý do nào.
Theo dự báo Tổ chức giám sát kinh doanh quốc tế (BMI), mức tiêu thụ thực phẩm tính bình quân đầu người Việt Nam tăng 4,3%/năm, thị trường Việt Nam vẫn là nơi hấp dẫn đối với các doanh nghiệp sản xuất trong nước cũng như nước ngoài có kế hoạch đầu tư chiến lược vào lĩnh vực này.
2.1.2. Tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp nghiên cứu thuộc nhóm ngành thực phẩm
Theo như phân tích diễn biến tình hình nền kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay thì nhóm ngành thực phẩm vẫn là lựa chọn cho các nhà đầu tư. Ngành thực phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng ở Việt Nam và có nhiều cơ hội để phát triển. Tỷ lệ các doanh nghiệp tham gia vào ngành thực phẩm hiện nay đang chiếm vị trí hàng đầu trong các ngành sản xuất, chế biến ở Việt Nam.
Trong thời gian qua, mặc dù phải chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó, ngành thực phẩm tiếp tục tăng trưởng nhanh cả về số lượng và chất lượng, được đánh giá là ngành có tiềm năng lớn, đặc biệt tại các thành phố và thị trấn, nơi có mức sống ngày càng được cải thiện.
Với nhu cầu tiêu dùng của trên 90 triệu người dân Việt Nam và một cộng đồng ASEAN đang được hình thành với khẩu vị và nhu cầu khá gần gũi, ngành thực phẩm, đồ uống hứa hẹn một triển vọng phát triển tích cực.
Chính vì những lý do trên nên đề tài đã chọn ngành thực phẩm để nghiên cứu.
Theo phạm vi nghiên cứu ngành thực phẩm niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) chỉ có 6 công ty là đủ tiêu chuẩn để định giá cũng như phân tích là BBC, BHS, KDC, LSS, TAC, VNM . Ngoài ra các nhà đầu tư cần xem xét tình hình tài chính của các công ty cũng như phân tích rủi ro của các công ty ngành thực phẩm. Phân tích tài chính công ty chủ yếu dựa vào phân tích các báo cáo tài chính bằng việc phân tích các dữ liệu có trong báo cáo tài chính (chủ yếu là bẳng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ) để xem xét khả năng chi trả các khoản nợ cũng như xem xét khả năng sinh lời của công ty. Trong phân tích báo cáo tài chính nhằm phục vụ cho việc định giá chứng khoán.
- Nhóm các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn.
Các tỷ số của nhóm thể hiện khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính cũng như các nhu cầu tiền không được dự báo trước. Nhóm này bao gồm các tỷ số sau :
- Tỷ số thanh toán hiện tại ( Current Ratio – CR)
| CR = | Tài sản lưu động | (2.11) |
| Nợ ngắn hạn |
- Tỷ số khả năng thanh toán nhanh ( Quick Ratio _ QR)
| QR = | Tài sản ngắn hạn- hàng tồn kho | (2.11) |
| Nợ ngắn hạn |
- Tỷ số khả năng thanh toán tiền mặt ( Cash Ratio _ CR)
| CR = | Tiền + các khoản tương đương tiền | (2.11) |
| Nợ ngắn hạn |
Bảng 2.1. Tỷ số phản ánh khả năng thanh toán hiện tại của các công ty trong thời gian 2008- 2014
| CK | 2014 | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 |
| BBC | 239.25 | 212.60 | 202.96 | 201.47 | 181.49 | 214.95 | 375.83 |
| BHS | 115.18 | 111.58 | 101.86 | 119.86 | 15.32 | 159.04 | 250.45 |
| KDC | 349.35 | 253.55 | 169.20 | 143.45 | 225.29 | 134.99 | 222.09 |
| LSS | 122.43 | 111.75 | 109.94 | 242.83 | 404.98 | 199.50 | 184.40 |
| TAC | 132.02 | 124.44 | 122.62 | 11.89 | 130.63 | 136.48 | 135.53 |
| VNM | 284.64 | 262.67 | 268.05 | 321.32 | 223.81 | 292.19 | 327.77 35 |
Bảng 2.2. Tỷ số phản ánh khả năng thanh toán nhanh của các công ty trong thời gian 2008- 2014
| CK | 2014 | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 |
| BBC | 203.15 | 171.27 | 138.93 | 143.75 | 117.57 | 170.36 | 296.47 |
| BHS | 58.99 | 84.12 | 44.43 | 66.83 | 79.04 | 98.94 | 10.14 |
| KDC | 326.36 | 229.56 | 145.80 | 121.13 | 183.29 | 143.36 | 194.73 |
| LSS | 72.44 | 49.38 | 67.72 | 202.75 | 354.00 | 157.05 | 125.11 |
| TAC | 50.64 | 65.44 | 48.90 | 30.02 | 39.70 | 64.67 | 45.47 |
| VNM | 218.26 | 197.75 | 184.27 | 210.25 | 134.91 | 216.58 | 145.22 |
Bảng 2.3. Tỷ số phản ánh khả năng thanh toán tiền mặt của các công ty trong thời gian 2008- 2014
| CK | 2014 | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 |
| BBC | 105.66 | 71.58 | 26.37 | 28.81 | 48.50 | 128.87 | 27.97 |
| BHS | 0.48 | 19.04 | 6.90 | 28.46 | 14.57 | 25.72 | 17.64 |
| KDC | 216.75 | 154.72 | 61.30 | 54.24 | 65.02 | 60.13 | 31.15 |
| LSS | 9.79 | 36.30 | 12.17 | 25.34 | 158.27 | 54.61 | 15.04 |
| TAC | 38.26 | 49.99 | 32.16 | 16.06 | 23.54 | 48.98 | 26.76 36 |
| VNM | 28.02 | 55.40 | 30.21 | 107.13 | 9.96 | 24.56 | 34.82 |
Tỷ số khả năng thanh toán hiện tại là mối tương quan giữa tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn, hệ số này cho thấy mức độ an toàn của công ty trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Qua các bảng trên , chúng ta thấy được khả năng thanh toán hiện hành của các công ty khá tốt với tỷ lệ cao hơn 90% của các công ty. Chỉ có duy nhất tỷ số thanh toán hiện hành năm 2010 của cổ phiếu BHS là thấp hơn 50 % và năm 2011 cổ phiếu TAC là thấp hơn 50%.
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh là mối tương quan giữa các tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn, đảm bảo khả năng thanh toán nhanh sau khi tài sản đã được loại bỏ bởi các hàng tồn kho và tài sản kém tính thanh khoản. .Tỷ số khả năng thanh toán nhanh của các công ty có sự biến động qua các năm . Có tỷ số khả năng thanh khoản nhanh của công ty VNM, BBC, KDC là luôn cao hơn 50%, còn các công ty khác có năm cao năm thấp.
Tỷ số thanh toán tiền mặt cho biết bao nhiêu tiền mặt và các khoản tương đương tiền (ví dụ chứng khoán khả mại) của doanh nghiệp để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn. Nói cách khác chỉ số thanh toán tiền mặt cho biết, cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu tiền mặt và các khoản tương đương tiền đảm bảo chi trả .Và tỷ số khả năng thanh toán tiền mặt của các công ty BBC, KDC, VNM là khá cao so với các công ty còn lại.
- Nhóm các tỷ số phản ánh hiệu quả hoạt động
Nhóm này được dung để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nhóm này gồm các tỷ số:
- Tỷ số hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản ( Total asset turnover –TAT)
| TAT = | Doanh thu thuần | (2.12) |
| Tổng tài sản bình quân |
- Tỷ số hiệu quả sử dụng tài sản cố định ( Fixed Asset Turnover- FAT)
| FAT = | Doanh thu thuần | (2.12) |
| Tổng tài sản cố định bình quân |
- Vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover –IT)
| IT = | Giá vốn hàng bán | (2.12) |
| Hàng tồn kho bình quân |
- Vòng quay các khoản phải thu ( Receivevable Turnover –RT)
| RT = | Doanh thu thuần | (2.12) |
| Khoản phải thu bình quân |
Bảng 2.4. Tỷ số hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản của các công ty trong thời gian 2008 – 2014
| CK | 2014 | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 |
| BBC | 1.26 | 1.30 | 1.21 | 1.27 | 1.04 | 0.85 | 0.89 |
| BHS | 1.64 | 1.33 | 1.44 | 2.00 | 1.97 | 2.47 | 1.32 |
| KDC | 0.60 | 0.72 | 0.78 | 0.73 | 0.38 | 0.36 | 0.49 |
| LSS | 0.63 | 0.85 | 0.71 | 0.92 | 0.86 | 1.12 | 1.30 |
| TAC | 3.41 | 3.45 | 4.02 | 4.30 | 3.45 | 4.03 | 4.31 |
| VNM | 1.36 | 1.35 | 1.35 | 1.39 | 1.46 | 1.25 | 1.38 39 |
Bảng 2.5. Tỷ số phản ánh hiệu quả sử dụng TSCĐ của các công ty trong thời gian 2008 – 2014
| CK | 2014 | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 |
| BBC | 3.65 | 3.10 | 2.49 | 2.91 | 1.96 | 1.71 | 3.13 |
| BHS | 5.60 | 4.61 | 4.76 | 4.15 | 3.33 | 4.00 | 2.80 |
| KDC | 3.83 | 3.33 | 3.03 | 2.97 | 2.06 | 2.33 | 1.94 |
| LSS | 1.04 | 1.32 | 1.32 | 2.31 | 5.72 | 5.59 | 4.32 |
| TAC | 21.90 | 20.28 | 17.20 | 16.99 | 12.45 | 9.72 | 10.73 |
| VNM | 3.93 | 3.47 | 3.30 | 4.29 | 4.59 | 4.20 | 4.24 |
Bảng 2.6. Tỷ số phản ánh vòng quay hàng tồn kho của các công ty trong thời gian 2008 – 2014.
| CK | 2014 | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 |
| BBC | 8.53 | 8.23 | 5.53 | 5.88 | 4.92 | 6.23 | 4.85 |
| BHS | 0.71 | 7.83 | 3.37 | 6.89 | 5.87 | 5.11 | 4.47 |
| KDC | 10.25 | 8.51 | 7.63 | 6.47 | 2.87 | 6.30 | 5.98 |
| LSS | 4.18 | 4.11 | 3.87 | 7.10 | 5.76 | 7.01 | 7.78 |
| TAC | 5.88 | 8.08 | 7.95 | 7.14 | 6.06 | 11.95 | 10.41 |
| VNM | 6.27 | 6.14 | 5.03 | 4.60 | 4.50 | 5.13 | 3.16 |
40
Bảng 2.7. Tỷ số phản ánh vòng khoản phải thu của các công ty trong thời gian 2008 – 2014
| CK | 2014 | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 |
| BBC | 5.89 | 5.50 | 4.62 | 4.35 | 10.05 | 14.50 | 6.12 |
| BHS | 5.70 | 4.19 | 10.68 | 10.93 | 7.86 | 9.05 | 8.69 |
| KDC | 3.73 | 5.30 | 4.86 | 5.86 | 1.90 | 1.85 | 2.97 |
| LSS | 3.81 | 7.55 | 3.91 | 2.81 | 3.20 | 6.91 | 6.49 |
| TAC | 50.06 | 40.39 | 41.14 | 66.38 | 59.40 | 75.06 | 101.45 |
| VNM | 12.62 | 11.34 | 11.82 | 9.97 | 14.00 | 14.57 | 12.70 |
Tỷ số phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu. Qua các bảng phản ánh hiệu quả hoạt động của công ty TAC có tỷ số hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản khá cao với tỷ lệ từ 300% đến hơn 400%.Các công ty còn lại có tỷ lệ luôn cao hơn 100%. Điều này cho thấy được các công ty có hiệu quả sử dụng tài sản khá tốt.
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định, nó giúp cho các nhà phân tích biết được đầu tư một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Cũng như hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản thì hiệu quả sử dụng tài sản cố định của các công ty có tỷ lệ luôn cao hơn 100%. Và hai công ty TAC có tỷ lệ này cao nhất trong nhóm ngành.
Tỷ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho của công ty. Hệ số này càng cao phản ánh khả năng bán hàng của công ty là nhanh và hàng không bị ứ động nhiều. Các công ty có tỷ lệ này giao động trong khoản từ 1 lần đến 10 lần, tốt nhất là công ty KDC.
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này. Nhìn chung số vòng quay của các công ty rất cao. Chỉ có công ty LSS là thấp với số vòng giao động từ 3 đến 6 vòng. Trong khi các công ty VNM, TAC, BHS có tỷ lệ này rất cao. Còn các công ty khác có tỷ lệ này ở mức trung bình.
- Nhóm các tỷ số phản ánh khả năng sinh lời
Đây là các tỷ số quan trọng giúp cho nhà đầu tư có cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư của mình . Nhóm gồm các tỷ số:
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ( Net profit margin – NPM)
| NPM = | Lợi nhuận thuần | (2.13) |
| Doanh thu thuần |
- Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on asset _ROA)
| ROA = | Lợi nhuận thuần | (2.13) |
| Tổng tài sản |
- Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ( Return on equity –ROE)
| ROE = | Lợi nhuận thuần | (2.13) |
| Vốn chủ sở hữu |
Bảng 2.8. Tỷ số phản ánh lợi nhuận trên doanh thu của các công ty trong thời gian 2008 – 2014
| Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (NPM) ( lần) | |||||||
| CK | 2014 | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 |
| BBC | 8.16 | 5.56 | 3.11 | 5.53 | 5.73 | 10.26 | 4.03 |
| BHS | 1.14 | 1.64 | 5.38 | 5.82 | 8.26 | 5.84 | 5.51 |
| KDC | 8.41 | 13.66 | 11.91 | 8.11 | 31.95 | 19.73 | 5.50 |
| LSS | 11.01 | 3.08 | 2.86 | 22.78 | 29.49 | 19.29 | 10.84 |
| TAC | 1.84 | 1.94 | 1.99 | 0.60 | 3.13 | 1.14 | 0.13 43 |
| VNM | 20.90 | 24.92 | 24.96 | 21.97 | 23.12 | 24.45 | 16.02 |
Bảng 2.9. Tỷ số phản ánh lợi nhuận trên tổng tài sản của các công ty trong thời gian 2008 – 2014
| Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản ROA (%) | |||||||
| CK | 2014 | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 |
| BBC | 10.26 | 7.24 | 3.77 | 7.04 | 5.95 | 8.73 | 3.57 |
| BHS | 1.87 | 2.20 | 7.77 | 11.63 | 16.30 | 14.45 | 7.27 |
| KDC | 5.06 | 9.77 | 9.25 | 5.93 | 12.26 | 7.10 | 2.69 |
| LSS | 6.98 | 2.60 | 2.02 | 21.05 | 25.46 | 21.64 | 14.14 |
| TAC | 6.29 | 6.70 | 8.00 | 2.60 | 10.79 | 4.58 | 0.54 |
| VNM | 28.36 | 33.71 | 33.66 | 30.49 | 33.81 | 30.60 | 22.04 |
Bảng 2.10. Tỷ số phản ánh lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các công ty trong thời gian 2008 – 2014
| Tỷ số phản ánh lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE (%) | |||||||
| CK | 2014 | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 |
| BBC | 14.37 | 9.84 | 5.00 | 9.63 | 8.29 | 12.33 | 4.46 |
| BHS | 4.79 | 8.41 | 29.86 | 30.03 | 38.90 | 38.63 | 11.55 |
| KDC | 6.05 | 12.76 | 12.72 | 9.03 | 16.52 | 12.51 | 3.86 44 |
| LSS | 11.98 | 4.41 | 4.30 | 33.29 | 33.71 | 31.57 | 22.50 |
| TAC | 17.37 | 20.00 | 21.19 | 7.60 | 27.55 | 10.11 | 1.20 |
| VNM | 37.14 | 43.95 | 42.79 | 38.07 | 45.74 | 40.20 | 28.19 |
Tỷ số NPM cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ. Tỷ số này của các công ty đa phần đều dương, chứng tỏ các công ty làm ăn có lãi.
Nếu tỷ số ROA này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp. Qua bảng 2.13 chúng ta thấy được công ty KDC, VNM có tỷ lệ này cao. Các công ty còn lại có hệ số này dương qua các năm.
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần này tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận. Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ. Công ty BHS, VNM có tỷ lệ này cao nhất với tỷ lệ ROE năm 2014 là 14,37% và 34,17%. Các công ty còn lại có tỷ lệ ROE luôn dương qua cắc năm.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\QUAN TRI KINH DOANH\LE THI TO NY


