Quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT huyện Đồng Xuân

Quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT huyện Đồng Xuân

Quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT huyện Đồng Xuân

1. Lý do chọn đề tài

Thế giới luôn thay đổi hàng ngày, hàng giờ, với tốc độ nhanh chóng, phức tạp và sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội trên toàn cầu, trong đó có giáo dục. Chính vì thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay có những bước tiến nhảy vọt trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Điều đó đang hướng nhân loại bước vào nền văn minh trí tuệ với hai đặc trưng cơ bản là “xã hội thông tin” và “kinh tế tri thức”. Với xã hội thông tin và kinh tế tri thức, thế mạnh tương đối về nguồn lao động giản đơn hoặc tay nghề thấp đã mất ý nghĩa, lợi thế thuộc về những quốc gia có lực lượng lao động được đào tạo đáp ứng được sự đòi hỏi của khoa học và công nghệ; sản phẩm được tạo ra ngày càng phản ánh sự kết tinh từ “chất xám”, từ trí tuệ chứ không phải chủ yếu từ cơ bắp. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền giáo dục các nước trên thế giới.

Từ tình hình phát triển kinh tế- xã hội toàn cầu luôn đổi mới, dẫn đến những yêu cầu mới về hình mẫu nhân cách người lao động, trong đó có những yêu cầu mới về chất lượng và hiệu quả giáo dục. Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, mà còn hướng đến mục tiêu phát triển đầy đủ giá trị của mỗi cá nhân giúp cho con người có năng lực để cống hiến, đồng thời có năng lực để sống một cuộc sống có chất lượng và hạnh phúc.

Hội nghị Trung ương 8 khoá XI đã ra nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đã xác điṇ h phải đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo tiếp cận năng lực :“Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề”[4]. Trong đó các phẩm chất và năng lực của học sinh sẽ dần được hình thành và phát triển thông qua các môn học và các hoạt động giáo dục trải nghiệm.

Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã đề cập: “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập; đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông; giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội” [5].

Trong thời đại ngày nay, học sinh phải thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, các em có những biểu hiện nhận thức lệch lạc và sống xa rời các giá trị đạo đức truyền thống, dễ bị lôi cuốn vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, lối sống ích kỷ, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Đặc biệt đối với học sinh THPT, là giai đoạn hình thành những giá trị nhân cách, giàu mơ ước, thích tìm tòi, khám phá song thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo và dễ bị kích động….

Chính vì thế việc tổ chức hoạt động và giao lưu cho học sinh nhằm biến yêu cầu về việc thực hiện các chuẩn mực xã hội thành hành vi và thói quen phù hợp với chuẩn mực, giá trị sống hiện tại xã hội đặt ra. Do đó hoạt động giáo dục là hoạt động của người học, do người học, để hoạt động giáo dục đem lại hiệu quả đích thực đòi hỏi nó phải gắn với đời sống thực tế, hoạt động giao lưu của học sinh, chính vì vậy mà thuật ngữ “hoạt động trải nghiệm” xuất hiện. Thông qua hoạt động trải nghiệm, học sinh được học qua thực tế cuộc sống, được thể hiện kiến thức, kĩ năng mình đã tích lũy được và tự mình thay đổi.

Hoạt động trải nghiệm của học sinh có tác dụng tạo môi trường thuận lợi để học sinh THPT phát triển năng lực một cách tốt nhất. Tuy nhiên nó cũng không ít khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có sự khéo léo, kịp thời, đúng đắn, lôi cuốn các em hoạt động, nhằm phát huy khuynh hướng tự lập, sáng tạo, tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, phát huy những tố chất và tài năng, khắc phục những điểm yếu còn tồn tại để phát triển và thích ứng trong môi trường xã hội luôn luôn biến đổi. Vì vậy, có thể nói hoạt động trải nghiệm giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình rèn luyện nhân cách, hình thành phẩm chất, năng lực cho học sinh; hoạt động trải nghiệm góp phần định hướng, điều chỉnh hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao.

Hoạt động trải nghiệm ở trường THPT tạo điều kiện cho từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng, tích luỹ kinh nghiệm riêng và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân học sinh, là bước khởi đầu cho quá trình học tập suốt đời. Nói tới trải nghiệm là nói tới việc học sinh phải qua thực tế, tham gia vào hoặc tiếp xúc đến sự vật hoặc sự kiện nào đó và tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, tìm ra cái mới, cách giải quyết mới không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có.

Thực tế cho thấy trong những năm qua, giáo dục phổ thông nói chung, giáo dục THPT nói riêng chủ yếu quan tâm đến hoạt động dạy học, ít quan tâm đến hoạt động giáo dục, hoạt động trải nghiệm của học sinh chưa được đầu tư cả về trí tuệ, thời gian và nguồn lực. Hoạt động trải nghiệm của học sinh các trường THPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên trong những năm qua đã được khuyến khích triển khai thực hiện theo các văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý giáo dục cấp trên. Tuy nhiên, việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh chưa triển khai rộng rãi vì gặp một số khó khăn, bất cập trong quá trình tổ chức nên chất lượng và hiệu quả chưa cao.Công tác chỉ đạo các cấp, các ngành chưa quyết liệt, các nhà trường chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, mục đích của hoạt động trải nghiệm. Giáo viên còn lúng túng, khó khăn trong khâu xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các hoạt động trải nghiệm… Và một trong những nguyên nhân cơ bản là ở địa phương hiện nay chưa có nghiên cứu cụ thể để đề xuất các biện pháp quản lý giúp định hướng cho hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT.

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên” cho luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, chuyên ngành Quản lý giáo dục của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT; từ đó, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yênnhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy học, giáo dục học sinh ở trường THPT.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT thuộc huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

4. Phạm vi nghiên cứu

– Đề tài nghiên cứu công tác quản lý hoạt động trải nghiệm ở các trường THPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

– Chủ thể quản lý: Hiệu trưởng Trường THPT.

– Thời gian khảo sát thực trạng tiến hành từ tháng 9/2020 đến tháng 10/2020.

5. Giả thuyết khoa học

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh THPT là điều kiện cần thiết để phát triển toàn diện nhân cách học sinh; là yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay để thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo những con người năng động, tự chủ, nhân văn và sáng tạo. Công tác quản lý hoạt động trải nghiệm trong các trường THPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên hiện nay bộc lộ nhiều bất cập so với yêu cầu đổi mới. Nếu xác lập được cơ sở lý luận về quản lý HĐTN cho HS THPT và đánh giá khách quan thực trạng quản lý HĐTN cho HS ở các trường THPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý HĐTN cho HS phù hợp với điều kiện thực tế, đặc điểm tâm lý học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinhTHPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên .

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở trường THPT

6.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT thuộc huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

6.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT thuộc huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa… các tài liệu lý luận, các văn bản pháp qui, các công trình nghiên cứu khoa học về quản lý giáo dục, các văn bản của ngành có liên quan đến công tác quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh THPT nhằm xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Điều tra, khảo sát thực tế bằng các phiếu hỏi, thu thập thông tin, xử lý số liệu về thực trạng hoạt động trải nghiệm cho học sinh, thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT thuộc huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp này để khảo sát tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất.

7.2.2. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Nghiên cứu các báo cáo tổng kết kinh nghiệm về hoạt động trải nghiệm của học sinh ở trường THPT và một số kinh nghiệm quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở trường THPT.

7.2.3. Phương pháp phỏng vấn

Trao đổi trực tiếp với CBQL, GV(bao gồm: 12 CBQL, 15 GV) các trường nhằm tìm hiểu sâu hơn về thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm trong nhà trường và tìm kiếm các biện pháp quản lý.

7.3. Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các tham số toán thống kê nhằm xử lý các số liệu đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu.

8. Những đóng góp của luận văn

8.1. Về lý luận

Phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh THPT.

8.2. Về thực tiễn

Luận văn góp phần làm rõ thực trạng hoạt động trải nghiệm và quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh THPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên hiện nay. 

Luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh THPT các trường THPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên .

9. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường trung học phổ thông.

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên .

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên .

Quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT huyện Đồng Xuân
Quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở các trường THPT huyện Đồng Xuân

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước

1.2. Các khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý

Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý do các tác giả nước ngoài và trong nước đưa ra, tuy nhiên trong phạm vi của đề tài, tác giả tiếp cận một số cách quan niệm về quản lý sau:

Theo Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [19].

Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng một hệ thống các luật, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra” [29].

Những khái niệm trên về quản lý khác nhau về cách diễn đạt, nhưng vẫn cho thấy một ý nghĩa chung: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường. Hoạt động quản lý phải là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch để đưa hệ thống vào một trật tự ổn định, tạo đà cho sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững của tổ chức.

Trong luận văn này tác giả sử dụng thuật ngữ “Quản lý” theo cách hiểu: Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức nhằm định hướng, tổ chức, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của tổ chức đề ra một cách hiệu quả nhất

1.2.2. Quản lý nhà trường

Trường học là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục và để tiến hành quá trình giáo dục đào tạo nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội. Thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai. Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương. Khái niệm quản lý nhà trường đã được các nhà lý luận quản lý giáo dục giải thích như sau:

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”.

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [21].

Quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng, đó là nhà trường. Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý các lĩnh vực khác. Những tác động của chủ thể quản lý là những tác động của công tác tổ chức sư phạm đến đối tượng quản lý nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Đó là hệ thống tác động có phương hướng, có mục đích, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau.

Dù theo tiếp cận nào thì quản lý giáo dục, quản lý nhà trường đều nhằm thực hiện các mục đích chính sau:

– Thứ nhất, bảo đảm thực hiện tốt các kế hoạch phát triển và hoàn chỉnh hệ thống giáo dục;

– Thứ hai, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của nhà trường, cơ sở giáo dục theo quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện đầy đủ kế hoạch đào tạo, chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục trên cơ sở phát huy vai trò định hướng, dẫn dắt, cố vấn của người dạy, tính tích cực chủ động sáng tạo của người học;

– Thứ ba, bảo đảm việc huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục;

– Thứ tư, tạo nên và đảm bảo sự cân đối giữa nhiệm vụ giáo dục và các điều kiện vật chất cho việc thực hiện.

Tóm lại, quản lý nhà trường là một bộ phận của QLGD. Quản lý nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm khoa học và có tính định hướng của chủ thể quản lý(Hiệu trưởng) đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng trong thực tiễn Việt Nam. Người quản lý nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn.

1.2.3. Hoạt động

Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động:

– Theo sinh lí học: Hoạt động là sự tiêu hao năng lượng, thần kinh và cơ bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.

– Theo tâm lí học duy vật biện chứng: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người; là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực, thiết lập mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan. Nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người. Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, phương thức tồn tại của mọi sự vật hiện tượng, quy định tồn tại của sự vật hiện tượng đó.

Mọi hoạt động của con người đều có tính mục đích. Con người hiểu được mục đích hoạt động của mình, từ đó mới định rõ chức năng, nhiệm vụ, động lực của hoạt động để đạt hiệu quả trong công việc. Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức; mục đích, ý thức ấy như một quy luật, quyết định phương thức hoạt động và bắt ý chí con người phụ thuộc vào nó. Trong lịch sử của nhân loại, tính mục đích trong hoạt động và tầm nhìn về lợi ích của hoạt động con người thể hiện rõ trong nền giáo dục của các dân tộc và quốc gia từ xưa đến nay. Hoạt động của con người dành cho việc dạy và học luôn được chú trọng và đề cao.

Theo quan điểm lý thuyết về hoạt động, A.N.Leontiev cho rằng hoạt động “là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích  thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể”. Chủ thể  (con người) chủ động tổ chức, điều khiển các hoạt động  (hành vi, tinh thần, trí tuệ, v.v.)  tác động vào đối tượng (sự vật, tri thức, v.v.). Như vậy, nhờ có hoạt động, con người làm ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu cụ thể của mình.

Hiểu như trên, hoạt động có những đặc điểm sau đây:

– Chủ thể của hoạt động – tức là người thực hiện các hành  động – làm việc theo kế họach, ý đồ nhất định. Trong quá trình hoạt động, con người biết cách tổ chức các hành động tạo thành hệ thống (tổ hợp), lựa chọn, điều khiển linh hoạt các hoạt động phù hợp với  đối tượng, hoàn cảnh, tình huống.

– Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng của nó. Đối tượng của hoạt động là sự vật, tri thức, v.v. Con người thông qua hoạt động để chiếm lĩnh, sử dụng nó (đối tượng) nhằm thỏa mãn nhu cầu.

– Hoạt động có tính mục đích. Đây là nét đặc trưng thể hiện trình độ, năng lực con người  trong việc chiếm lĩnh đối tượng. Con người sử dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm, phương tiện để phát hiện, khám phá đối tượng chuyển thành ý thức, năng lực của chính mình (chủ thể hóa khách thể). Tính mục đích định hướng cho chủ thể họat động, hướng tới chiếm lĩnh đối tượng.

Như vậy, nói đến hoạt động bao giờ cũng có sự gắn kết giữa chủ thể, đối tượng và mục đích hoạt động. Có thể nói hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể).

1.2.4. Trải nghiệm

Theo tài liệu bồi dưỡng CBQL Cơ sở giáo dục phổ thông cốt cán của Bộ GD& ĐT, 2019 cho rằng: “Trải nghiệm là quá trình hoạt động để thu nhận những kinh nghiệm, từ đó vận dụng một cách hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống”[30].

Theo quan điểm của triết học, sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan.Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kỹ thuật và kỹ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan. Nhà triết học vĩ đại người Nga Solovyev V.S. quan niệm rằng trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế; là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng. Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Qua nghiên cứu các tài liệu, ta có thể thấy được một số cách để định nghĩa về trải nghiệm:

Trải nghiệm là một phạm trù, được đúc rút từ toàn bộ các hoạt động của con người ở mọi mặt, như một thể thống nhất giữa kiến thức, kỹ năng, tình cảm và ý chí. Đặc trưng bằng cơ chế kế thừa di sản xã hội, lịch sử, văn hóa.Trải nghiệm là một phạm trù của nhận thức luận, được đúc kết từ sự thống nhất của hoạt động tình cảm – nhận thức.

Trải nghiệm là kiến thức mà ngay lập tức cho chủ thể ý thức được và có cảm giác tiếp xúc trực tiếp với thực tế, cho dù đó là một thực tế bên ngoài của các đối tượng và tình huống (nhận thức), hoặc các thực tại của trạng thái ý thức (quan niệm, những kỷ niệm, xúc động…).

Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo một vài ý nghĩa sau:

Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kỹ năng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy;

Trải nghiệm là kiến thức, kỹ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ sở giáo dục: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua những tài liệu tham khảo, không được giảng dạy trong nhà trường hoặc thông qua hoạt động thực tiễn…

Trải nghiệm (qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những phương pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lý thuyết nhất định, để thiết lập hoặc minh họa cho một quan điểm lý luận cụ thể.

Theo Wikipedia: Trải nghiệm là kiến thức hay sự thành thạo một sự kiện hoặc một chủ đề bằng cách tham gia hay chiếm lĩnh nó. Trong triết học, thuật ngữ “kiến thức qua thực nghiệm” chính là kiến thức có được dựa trên trải nghiệm.Một người trải nghiệm nhiều ở một lĩnh vực cụ thể nào đó có thể được coi như chuyên gia của lĩnh vực đó. Khái niệm “trải nghiệm” dùng để chỉ phương pháp làm ra kiến thức hay quy trình làm ra kiến thức chứ không phải là kiến thức thuần túy được đưa ra, là kiến thức dùng để đào tạo nghề nghiệp chứ không phải là kiến thức trong sách vở.

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tác giả đề cập đến trải nghiệm là một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích người học tham gia các hoạt động thực tiễn, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, xây dựng kỹ năng, định hình cácgiá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội.

1.2.5. Hoạt động trải nghiệm

Theo quan điểm về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thì HĐTN là hoạt động ngoại khóa thực hiện ngoài giờ lên lớp, có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy và học. HĐTN về cơ bản mang tính chất là các hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực giáo dục nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể.

Hoạt động trải nghiệm bản chất là hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp, trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình.

Khái niệm này khẳng định vai trò định hướng, chỉ đạo, hướng dẫn của nhà giáo dục; thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, người phụ trách… Nhà giáo dục không tổ chức, không phân công học sinh một cách trực tiếp mà chỉ hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát cho tập thể hoặc cá nhân học sinh tham gia trực tiếp hoặc ở vai trò tổ chức hoạt động, giúp học sinh chủ động, tích cực trong các hoạt động; phạm vi các chủ đề hay nội dung hoạt động và kết quả đầu ra là năng lực thực tiễn, phẩm chất và năng lực sáng tạo đa dạng, khác nhau của các em. Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn. Qua trải nghiệm thực tiễn, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định. Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự, độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm và phân tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề.

Theo chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 của Bộ GD&ĐT : HĐTN là hoạt động giáo dục, trong đó từng cá nhân HS được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong môi trường nhà trường cũng như môi trường gia đình và xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức phẩm chất nhân cách, các năng lực…, từ đó tích lũy những kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình.[Bộ GD&ĐT(2018), chương trình tổng thể GD-ĐT ngày 26/12/2018].

Từ các tiếp cận trên, tác giả luận văn quan niệm:

Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục thực tiễn ngoài giờ học, được tổ chức có kế hoạch nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã tiếp thu ở chương trình vào thực tiễn; đồng thời hình thành cho học sinh những tình cảm tích cực, qua đó phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh.

1.2.6. Quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh Trung học phổ thông

Từ khái niệm quản lý và khái niệm HĐTN ở trên có thể hiểu quản lý HĐTN của học sinh THPT là quá trình lập kế hoạch tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc thực hiện HĐTN trong nhà trường, nhằm hướng tới mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất, hoàn thiện nhân cách cho người học. Cụ thể là quản lí mục tiêu, nội dung chương trình, quản lí phương pháp và các hình thức tổ chức HĐTN, tạo điều kiện về nguồn lực (con người, kinh phí, thời gian, các điều kiện cơ sở vật chất…) để thực hiện các hoạt động này. Trọng tâm của quản lý HĐTN là quản lí chất lượng các hoạt động này.

Hay nói cách khác quản lý HĐTT cho HS THPT là quá trình tác động của chủ thể quản lý nhà trường đến tập thể GV, nhân viên, HS và các lực lượng giáo dục khác, để tiến hành tổ chức các HĐTN theo mục tiêu, nội dung, chương trình qui định, bằng phương pháp, hình thức phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường để đạt được mục tiêu giáo dục.

1.3. Hoạt động trải nghiệm của học sinh ở trường trung học phổ thông

1.3.1. Mục tiêu của hoạt động trải nghiệm của học sinh trung học phổ thông

Hoạt động trải nghiệm giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp thông qua các chủ đề hoạt động gắn với những nội dung cụ thể về bản thân, quê hương, đất nước, con người. Hoạt động trải nghiệm giúp học sinh có cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, phát triển đời sống tâm hồn phong phú, biết rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và tình người, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với quê hương, đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam.

Hoạt động trải nghiệm tạo cơ hội cho học sinh huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng của các môn học và lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn gia đình, nhà trường, xã hội; tham gia các hoạt động phục vụ cộng đồng và hoạt động hướng nghiệp dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo). Các năng lực chung hình thành và phát triển trong Hoạt động trải nghiệm được thể hiện dưới các hình thức đặc thù: năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp.

Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục củng cố và phát triển các kĩ năng sống cơ bản, thói quen tích cực, nền nếp học tập, hành vi ứng xử văn hoá ở trung học phổ thông. Ở trung học phổ thông, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp tập trung hơn vào phát triển phẩm chất trách nhiệm của cá nhân: trách nhiệm trong học tập, trách nhiệm với gia đình, cộng đồng; giúp học sinh hình thành năng lực tự đánh giá và tự điều chỉnh, năng lực giải quyết vấn đề; hình thành các giá trị của cá nhân; tham gia tích cực các hoạt động lao động; tham gia phục vụ cộng đồng phù hợp với lứa tuổi; biết tổ chức công việc một cách khoa học; có hứng thú, hiểu biết về một số lĩnh vực nghề nghiệp, xây dựng được kế hoạch học tập hướng nghiệp và có ý thức rèn luyện những phẩm chất cần có của người lao động tương lai.

1.3.2. Nội dung hoạt động trải nghiệm của học sinh trung học phổ thông

Chương trình hoạt động trải nghiệm bao gồm các nội dung hoạt động: Hoạt động phát triển cá nhân, hoạt động lao động, hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Bốn nội dung hoạt động này được thực hiện thông qua bốn loại hoạt động chủ yếu: Sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục theo chủ đề và hoạt động câu lạc bộ. Một số nội dung sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam được tích hợp trong nội dung các hoạt động trên.

Ở tiểu học, nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm tập trung nhiều hơn vào các hoạt động phát triển bản thân, kỹ năng sống, quan hệ với bạn bè, thầy cô và người thân trong gia đình. Bên cạnh đó, các hoạt động lao động, hoạt động xã hội và làm quen với một số nghề gần gũi cũng được tổ chức thực hiện.

Ở trung học cơ sở, chương trình tập trung nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, hoạt động phục vụ cộng đồng và bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động hướng nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động phát triển cá nhân, hoạt động lao động vẫn được tiếp tục triển khai để phát triển các phẩm chất và năng lực của học sinh.

Ở trung học phổ thông, chương trình Hoạt động trải nghiệm tập trung cao hơn vào nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Thông qua các chủ đề sinh hoạt tập thể, hoạt động lao động sản xuất, câu lạc bộ hướng nghiệp và các hoạt động định hướng nghề nghiệp khác, học sinh được đánh giá và tự đánh giá về năng lực, sở trường, hứng thú liên quan đến nghề nghiệp; có thể tự chọn cho mình ngành nghề phù hợp; được rèn luyện phẩm chất và năng lực để thích ứng với nghề nghiệp tương lai.

Nội dung của HĐTN rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: Giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phẩm chất người lao động…Nội dung giáo dục thiết thực, gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng được vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng và thuận lợi .

1.3.3. Phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm của học sinh trung học phổ thông

1.3.3.1. Phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm của học sinh trung học phổ thông

Hoạt động trải nghiệm coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của HS, về cơ bản là hoạt động mang tính tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân. Đây là những hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để HS trải nghiệm.Điều đó đòi hỏi các phương pháp tổ chức HĐTN phải đa dạng, linh hoạt, HS tự hoạt động, trải nghiệm là chính. Ở đây có 4 phương pháp chính, đó là:

– Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ): GQVĐ là một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, GQVĐ của HS. Các em được đặt trong tình huống có vấn đề, thông qua việc GQVĐ giúp HS lĩnh hội tri thức, kỷ năng và phương pháp. Trong tổ chức HĐTN, phương pháp GQVĐ thường được vận dụng khi HS phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động. Phương pháp GQVĐ có ý nghĩa quan trọng, phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS, giúp các em có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày.

– Phương pháp sắm vai: Sắm vai là phương pháp giáo dục giúp HS thực hành cách ứng xử, bày tỏ thái độ trong những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em. Sắm vai thường không có kịch bản cho trước mà HS tự xây dựng trong quá trình hoạt động. Đây là phương pháp giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào cách ứng xử cụ thể mà các em quan sát được.

– Phương pháp trò chơi: Trò chơi là tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành động, việc làm hoặc hình thành thái độ thông qua một trò chơi nào đó.

– Phương pháp làm việc nhóm: Làm việc theo nhóm nhỏ là phương pháp tổ chức dạy học – giáo dục, trong đó, GV sắp xếp HS thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, từ đó HS trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm.

1.3.3.2. Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm của học sinh trung học phổ thông

Hoạt động trải nghiệm được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định. Dưới đây là một số hình thức tổ chức của HĐTN trong nhà trường phổ thông:

– Hình thức có tính khám phá (Thực địa- thực tế, Tham quan, Cắm trại, Trò chơi,…);

– Hình thức có tính thể nghiệm, tương tác (Diễn đàn, Giao lưu, Hội thảo/hội thi, Sân khấu hoá,…);

– Hình thức có tính cống hiến (Thực hành lao động; Hoạt động tình nguyện, vì cộng đồng…);

– Hình thức có tính nghiên cứu, phân hoá (Dự án và nghiên cứu khoa học, Hoạt động theo nhóm sở thích).

Khi tổ chức hoạt động trải nghiệm, cần chủ động lựa chọn các hình thức tổ chức cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường và địa phương.

1.3.4. Vai trò của cán bộ quản lý và giáo viên trong tổ chức hoạt động trải nghiệm của học sinh

1.3.4.1. Vai trò của cán bộ quản lý (Hiệu trưởng) trong tổ chức hoạt động trải nghiệm của học sinh

Trong tổ HĐTN cho học sinh, người Hiệu trưởng giữ vai trò quyết định. Hoạt động này có được duy trì đều đặn, có đạt được kết quả như mong muốn hay không là phụ thuộc rất lớn vào sự chỉ đạo từ phía người Hiệu trưởng kiểm tra đánh giá, nhắc nhở thường xuyên thì HĐTN sẽ đi vào nề nếp và ngược lại. Muốn vậy nó đòi hỏi trước hết ở người Hiệu trưởng phải nhận thức đúng về vị trí, tầm quan trọng của công tác tổ chức HĐTN cho HS trong nhà trường.Có nhận thức được vấn đề này, người Hiệu trưởng mới thấy được tính cấp thiết của việc tổ chức các buổi HĐTN cho học sinh.

Khi đã hiểu được vị trí, vai trò và tác dụng của HĐTN, Hiệu trưởng sẽ lên kế hoạch năm học, đưa các HĐTN vào kế hoạch và chỉ đạo cho các tổ nhóm chuyên môn tổ chức thực hiện. Hiệu trưởng chỉ đạo việc thực hiện, kiểm tra, đánh giá hiệu quả của HĐTN, tiến hành rút kinh nghiệm để hoạt động này đi vào nề nếp và thành sinh hoạt thường kỳ trong nhà trường phổ thông.

Chất lượng chuyên môn sẽ được nâng lên một phần không nhỏ từ chính các HĐTN. Bởi thế người Hiệu trưởng trong nhà trường phải có kế hoạch cụ thể, giao cho người phụ trách, dự trù các hoạt động chính trong kỳ, trong năm, hoàn toàn chủ động, chỉ đạo và điều hành các hoạt động của nhà trường trong đó có HĐTN.

Hiệu trưởng là người chỉ huy, tạo các điều kiện để tổ chức tốt các HĐTN và cũng là người kiểm tra giám sát, đánh giá chất lượng của các hoạt đông này. Hiệu trưởng phải là người xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để tổ chức có hiệu quả hoạt động trải nghiệm của học sinh.

1.3.4.2. Vai trò của giáo viên trong tổ chức hoạt động trải nghiệm của học sinh

Trong tổ chức HĐTN của học sinh, giáo viên có một vai trò là giúp cho HS nắm được nội dung, ý nghĩa, tác dụng của HĐTN, tạo cho các em có cơ hội để bày tỏ những hiểu biết của mình với chính lĩnh vực mà các em được tham gia trải nghiệm.

Giáo viên là người hướng dẫn các em chủ động chiếm lĩnh tri thức, phát hiện ra ở các em những khả năng nổi trội, tham mưu cho người phụ trách để có kế hoạch bồi dưỡng, ươm mầm tài năng, thực hiện đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Giáo viên là người chỉ đạo, là trọng tài đánh giá kết quả HĐTN, uốn nắn những sai lệch, động viên, khích lệ những sáng tạo và hình thành cho các em khả năng tự nghiên cứu, say mê khoa học. Các em không phải mất thời gian mò mẫm trong quá trình tìm tòi, thử nghiệm đúng sai, không phải trả giá cho những gì không cần thiết.

Trên cơ sở kiến thức nội khoá, người giáo viên phụ trách HĐTN sẽ có dịp mở rộng, cập nhật những kiến thức cần thiết, củng cố, phát triển những kỹ năng thực hành của học sinh. Hệ thống kiến thức của các em nhờ đó sẽ được ghi nhớ theolô gíc chặt chẽ, được khắc sâu. Không chỉ thế người giáo viên tổ chức HĐTN cho HS còn giáo dục cho các em phát triển tốt về mặt nhân cách, khơi dậy tình yêu với quê hương đất nước, có thái độ và hành động đúng trước cuộc sống xung quanh. Các kỹ năng của các em được phát triển toàn diện: Đọc – nghe – nói – viết – thực hành.

Giáo viên là người phối hợp các lực lượng giữa nhà trường, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội để tổ chức hoạt đông trải nghiệm của học sinh THPT.

1.3.5. Kiểm tra, đánh giá hoạt động trải nghiệm của học sinh trung học phổ thông

Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng trong quản lý quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường. Nó giúp chủ thể quản lý có thông tin phản hồi chính xác từ đối tượng quản lý, tạo nên sự liên thông cần thiết trong nhà trường giữa hoạt động giảng dạy của giáo viên, hoạt động học tập của học sinh với các cán bộ quản lý cũng như tạo ra mối liên kết giữa nhà trường với các cấp quản lý giáo dục và cộng đồng. Việc kiểm tra đánh giá phải dựa trên chương trình kế hoạch, phải có tiêu chí, chuẩn mực cụ thể cho từng loại hoạt động và phải được thực hiện hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng.

Sau khi kiểm tra đánh giá HĐTN, chủ thể quản lý HĐTN có kết luận về các kết quả tự đánh giá đó và có các phương án điều chỉnh HĐTN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Đánh giá kết quả giáo dục trong HĐTN là đánh giá mức độ đạt được của học sinh so với các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực đặt ra cho mỗi giai đoạn học tập, nhằm xác định vị trí và ghi nhận sự tiến bộ của mỗi học sinh trong quá trình phát triển của bản thân, khuyến khích và định hướng cho học sinh tiếp tục rèn luyện để hoàn thiện.

Kết quả đánh giá là cơ sở quan trọng để cơ quan quản lí giáo dục và giáo viên điều chỉnh chương trình và các hoạt động giáo dục trong nhà trường.

Nội dung đánh giá:Nội dung đánh giá kết quả giáo dục trong hoạt động trải nghiệm bao gồm:

– Đánh giá mức độ nhận thức về các vấn đề đã được đề cập trong các chủ đề hoạt động.

– Đánh giá về động cơ, tinh thần, thái độ, ý thức trách nhiệm, tính tích cực,… của học sinh khi tham gia hoạt động.

– Đánh giá về các kĩ năng của học sinh trong việc thực hiện các hoạt động.

– Đánh giá về đóng góp của học sinh vào thành tích chung của tập thể và việc thực hiện có kết quả hoạt động chung của tập thể.

– Đánh giá về số giờ tham gia các hoạt động.

Phương pháp đánh giá:

Đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm của học cần dựa trên cả hai loại thông tin định tính và định lượng.

Thông tin định tính là những thông tin thu thập được từ quan sát của giáo viên và từ các nguồn khác (ý kiến tự đánh giá của học sinh, đánh giá đồng đẳng của các học sinh trong lớp, ý kiến nhận xét của phụ huynh học sinh và cộng đồng),

Thông tin định lượng là những thông tin về số giờ (số lần) tham gia hoạt động trải nghiệm (hoạt động tập thể, hoạt động trải nghiệm thường xuyên, hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, hoạt động hướng nghiệp, hoạt động lao động,…); số lượng các sản phẩm hoàn thành và được lưu trong hồ sơ hoạt động.

Các hình thức đánh giá:

– Tự đánh giá: là hoạt động đánh giá bản thân do mỗi học sinh thực hiện. Tự đánh giá tạo cơ hội để mỗi học sinh tự xem xét và điều chỉnh nhận thức, hành vi của mình, đồng thời cung cấp thông tin phản hồi có ý nghĩa cho giáo viên về quan niệm giá trị, nhu cầu rèn luyện và cách thức rèn luyện mong muốn của học sinh. Khi học sinh trở thành người tự giám sát độc lập, giáo viên cần đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng quan hệ bình đẳng, hợp tác với học sinh để vừa có thể đồng hành cùng các em vừa có định hướng đánh giá sâu sắc hơn.

– Đánh giá đồng đẳng: Đánh giá đồng đẳng là hoạt động đánh giá giữa các học sinh nhằm cung cấp thông tin phản hồi để cùng học hỏi và hỗ trợ nhau. Đánh giá đồng đẳng tạo cơ hội cho học sinh phát triển tinh thần hợp tác, tư duy phản biện và khả năng thuyết phục người khác. Từ đánh giá đồng đẳng, giáo viên cũng thu nhận được thông tin về quan niệm giá trị, nhu cầu rèn luyện và cách thức rèn luyện mong muốn của học sinh.

– Đánh giá của cha mẹ học sinh và cộng đồng: Đánh giá của cha mẹ học sinh và cộng đồng là ý kiến nhận xét của cha mẹ học sinh và của những người có mối quan hệ nhất định với học sinh (thôn, xã, nơi học sinh tham gia các hoạt động,…) về ý thức, thái độ của học sinh trong cuộc sống hằng ngày và trong việc tham gia các hoạt động trải nghiệm. Đánh giá của cha mẹ học sinh và cộng đồng giúp học sinh và giáo viên có thông tin đầy đủ, toàn diện hơn về sự phát triển của học sinh trong quá trình rèn luyện. Giáo viên chủ động lập kế hoạch lấy ý kiến cha mẹ học sinh và cộng đồng bằng hình thức phù hợp (lấy ý kiến thường xuyên hoặc định kì; qua trao đổi trực tiếp hoặc qua phiếu nhận xét).

Khi lấy ý kiến đánh giá của phụ huynh học sinh và cộng đồng, cần tập trung vào mục tiêu giáo dục, làm rõ những gì học sinh đã thực hiện tốt, những gì cần cải thiện và phản hồi, gợi ý cho học sinh về hướng tiếp tục rèn luyện để đáp ứng mục tiêu giáo dục.

– Đánh giá của giáo viên: Đánh giá của giáo viên là sự thu thập, xử lí các thông tin về quá trình học sinh thực hiện các nhiệm vụ của hoạt động (qua bài kiểm tra vấn đáp hoặc tự luận, bài tập thực hành, bài tiểu luận, bài thuyết trình, bài tập nghiên cứu, dự án nghiên cứu,…) và về thái độ, hành vi ứng xử của học sinh trong quá trình tham gia các hoạt động được tổ chức trên lớp học, hoạt động nhóm, tập thể hay cộng đồng, cũng như trong sinh hoạt và giao tiếp hằng ngày. Giáo viên chủ nhiệm cần trao đổi với các giáo viên khác có liên quan đến học sinh để thống nhất đánh giá về học sinh.

Tổng hợp kết quả đánh giá:

Giáo viên chủ nhiệm chịu trách nhiệm tổng hợp kết quả đánh giá từ những đánh giá của giáo viên, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của học sinh, đánh giá của phụ huynh học sinh và đánh giá của cộng đồng.

Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Kết quả đánh giá sau mỗi học kì đối với mỗi học sinh là kết quả tổng hợp đánh giá thường xuyên và định kì về phẩm chất và năng lực theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, trong đó, kết quả xếp loại theo chữ và được quy đổi sang thang điểm 10 với hệ số quy đổi như sau: loại A+ (Xuất sắc) tương đương 10 điểm; loại A (Tốt): từ 8 đến 9 điểm; loại B (Khá): từ 6 đến 7 điểm; loại C (Đạt yêu cầu): 5 điểm; loại D (Chưa đạt yêu cầu): dưới 5 điểm.

Kết quả đánh giá Hoạt động trải nghiệm được ghi vào hồ sơ học tập của học sinh (tương đương một môn học).

1.4. Quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh ở trường trung học phổ thông

Tổ chức hoạt động giáo dục trong đó có HĐTN là hoạt động quan trọng, cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Để có thể quản lý tốt hoạt động này thì hiệu trưởng phải thực hiện tốt các công việc sau:

1.4.1. Lập kế hoạch hoạt động trải nghiệm của học sinh trung học phổ thông

Kế hoạch là tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có nội dung chương trình, thời hạn, nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể, xác định phương án triển khai và định hướng phát triển. Lập kế hoạch là một chức năng cơ bản của quản lý, trong đó phải xác định những vấn đề như nhận định và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của quá trình.

Việc lập kế hoạch quản lý HĐTN là khâu quan trọng nhất, được thực hiện trước tiên cho công tác quản lý. Khi lập kế hoạch, hiệu trưởng cần phải nắm chắc kế hoạch của cấp trên, dựa vào các chỉ thị nhiệm vụ năm học, văn bản hướng dẫn, khung chương trình… và căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường.Trong kế hoạch phải thể hiện rõ mục tiêu, thời gian thực hiện, người phụ trách, lực lượng tham gia, địa điểm, các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch.

Kế hoạch HĐTN là trình tự những nội dung hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động được bố trí sắp xếp theo thứ tự thời gian của năm học. Trong kế hoạch cần chọn lọc các hoạt động phù hợp, xác định chủ điểm cho từng thời gian. Phải có kế hoạch và lịch hoạt động cho toàn trường và từng khối lớp, cho từng thời điểm, tiến tới ổn định thành nề nếp thường xuyên, liên tục. Hiệu trưởng lập kế hoạch phải xác định rõ các mục tiêu cần đạt tới, lựa chọn các biện pháp thích hợp cho từng hoạt động, từng chủ đề, lập chương trình hoạt động.

Lập kế hoạch chính là sự sắp xếp một cách hợp lí, khoa học những công việc nào đó cần phải thực hiện trong một thời gian nhất định với những con người và vật chất cụ thể kèm theo. Lập kế hoạch tổ chức HĐTN phải nắm chắc ba vấn đề quan trọng, đó là: làm cái gì? làm như thế nào? ai làm?

Lập kế hoạch HĐTN không phải chỉ là công việc riêng của hiệu trưởng mà phải của cả GVCN và Bí thư Đoàn trường. Căn cứ kế hoạch chỉ đạo chung của nhà trường, Đoàn trường, GVCN phải xây dựng kế hoạch thực hiện cho chi đoàn, cho riêng lớp của mình chủ nhiệm. Như vậy kế hoạch của nhà trường vừa mang tính định hướng, vừa có hướng mở, vừa có hướng đóng. “Mở” là nhằm tạo điều kiện cho các lớp xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp với đặc điểm, điều kiện của lớp mình, “đóng” là những hoạt động mang tính bắt buộc, phụ thuộc chương trình giáo dục nói chung hoặc hoạt động mang tính chất chung toàn trường.

Kế hoạch hoạt động trải nghiệm cần xác định rõ:

– Tên hoạt động của từng chủ đề hay từng môn học hoặc tích hợp các môn học: lựa chọn tên mang ý nghĩa và thu hút được sự quan tâm của các đối tượng tham gia; phù hợp với nhiệm vụ của năm học và tâm lý lứa tuổi học sinh.

– Mục tiêu, yêu cầu của hoạt động: phải rõ ràng, phù hợp với mục tiêu của giáo dục, kiến thức, nhận thức, khả năng, năng lực của học sinh,…

– Nội dung của HĐTN: phù hợp và có mối quan hệ với hoạt động dạy học, rèn luyện đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh.

– Cách thức thực hiện hoạt động: Lựa chọn phương pháp, cách thức thực hiện sao cho phù hợp với tình hình thực tế nhà trường, địa phương và đối tượng học sinh.

– Các lực lượng tham gia: CB, GV, học sinh trong trường có thể mời thêm các chuyên gia, cha mẹ học sinh, địa phương, các tổ chức có liên quan.

– Nguồn lực tham gia: Nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính cần sử dụng, sự phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường.

– Thời gian, địa điểm thực hiện: Thời gian tổ chức thực hiện hoạt động cụ thể(ngày, tuần, tháng, học kỳ…) và địa điểm tổ chức thực hiện ở đâu…

– Kết quả cần đạt được: Sự mở rộng về nhận thức, sự phát triển về kỹ năng hành vi ở học sinh.

– Các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm.

– Xác định phương pháp kiểm soát, kiểm tra: Ai kiểm tra, kiểm tra tổng thể hay kiểm tra từng bộ phận trọng yếu của hoạt động.

1.4.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm của học sinh trung học phổ thông

Tổ chức thực hiện kế hoạch là sự xếp đặt những hoạt động, những con người một cách khoa học, hợp lý, phối hợp các bộ phận để tạo ra tác động tích hợp. Hiệu trưởng phải thông báo kế hoạch, chương trình hành động đến các thành viên trong nhà trường sao cho mỗi thành viên hiểu và thực hiện đúng kế hoạch, phải quy định đúng chức năng, quyền hạn cho từng thành viên và phải tính đến năng lực, hiệu quả cho từng hoạt động, xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận và các thành viên liên quan.

Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch gồm:

– Hiệu trưởng thành lập Ban chỉ đạo tổ chức HĐTN do Hiệu trưởng làm trưởng ban, và đại diện của các tổ chức đoàn thể và đại diện giáo viên ở các khối lớp, các bộ môn, các tổ chức trong và ngoài nhà trường có liên quan. Ban chỉ đạo HĐTN có nhiệm vụ giúp hiệu trưởng: Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm và chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch; tổ chức những hoạt động lớn và thực hiện sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể và các lực lượng giáo dục khác ngoài nhà trường; tổ chức hướng dẫn GVCN tiến hành hoạt động ở lớp mình có hiệu quả; giúp hiệu trưởng kiểm tra, đánh giá các hoạt động…

– Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, tài chính và tạo điều kiện thuận lợi phục vụ cho thực hiện kế hoạch. Khi sắp xếp bố trí nhân sự, hiệu trưởng phải biết được phẩm chất và năng lực của từng người, mặt mạnh, mặt yếu… để công việc được tiến hành một cách thuận lợi và có hiệu quả.

– Phối hợp các lực lượng trong và ngoài trường để thực hiện HĐTN. Việc giáo dục học sinh không chỉ có nhà trường và gia đình mà phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội. Các lực lượng tham gia phối hợp bao gồm: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, GVCN, GVBM, nhân viên, Hội cha mẹ HS, các tổ chức xã hội: Đoàn xã, Công an, Phụ nữ, các đơn vị kết nghĩa… Mỗi lực lượng giáo dục đều có thế mạnh riêng, vì vậy quản lý tốt việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tổ chức tốt HĐTN chính là thực hiện xã hội hóa giáo dục, tạo môi trường giáo dục tốt nhất cho HS.

Đối với học sinh THPT, lứa tuổi năng động, cơ thể bắt đầu phát triển… nên việc lĩnh hội kiến thức, kỹ năng đối với HS cần chuyển tải những kiến thức, kỹ năng đúng, đủ, được phát triển một cách”nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả”, tránh nặng nề, gây cho HS những áp lực tinh thần, phản tác dụng giáo dục.

Nhiệm vụ tổ chức thực hiện các HĐTN trong trường THPT là trách nhiệm của mỗi cán bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường, song đặc biệt là đội ngũ GVBM, GVCN và cán bộ Đoàn.

GVBM, GVCN là người trực tiếp xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các HĐTN cho học sinh thông qua các môn học do mình phụ trách giảng dạy. Trong việc tổ chức thực hiện, hiệu trưởng cần tạo điều kiện cho người tham gia phát huy tinh thần tự giác, tích cực, phối hợp cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đội ngũ cán bộ Đoàn chính là người trực tiếp xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các chuyên đề về văn hoá nghệ thuật, vui chơi giải trí và các hoạt động khác cho học sinh thông qua các chuyên đề Đoàn.

1.4.3. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động trải nghiệm của học sinh trung học phổ thông

Chỉ đạo thực hiện kế hoạch tổ chức HĐTN là sự can thiệp của Hiệu trưởng vào toàn bộ quá trình quản lý HĐTN để bảo đảm việc thực hiện hoạt động trải nghiệm được diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả mong muốn.

Cụ thể việc chỉ đạo thực hiện HĐTN trong trường THPT được tiến hành như sau:

– Chỉ đạo các TCM tham gia tổ chức HĐTN, khuyến khích các TCM xây dựng các câu lạc bộ, các buổi ngoại khóa và đầu tư cho chất lượng hoạt động của các câu lạc bộ.

– Chỉ đạo giáo viên xây dựng chương trình, kế hoạch HĐTN: Hiệu trưởng chỉ đạo GVBM, GVCN, Đoàn trường xây dựng kế hoạch, chương trình HĐTN dựa trên kế hoạch hoạt động và định hướng hoạt động ngoại khóa của trường. GVBM và GVCN là người thiết kế tổ chức thực hiện các hoạt động thường xuyên tại lớp mình và là người chỉ đạo, tổ chức cho HS tham gia các HĐTN theo chủ đề, chủ điểm và dạy các môn học. Trong quá trình tổ chức HĐTN yêu cầu GV phải chú ý quản lý HS về nền nếp, thái độ, tính tích cực tham gia và đảm bảo an toàn cho HS trong quá trình tham gia hoạt động.

– Chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức HĐTN: HĐTN càng đa dạng phong phú bao nhiêu càng có sức thu hút học sinh bấy nhiêu, vì vậy giáo viên cần phải thường xuyên đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức HĐTN để thu hút học sinh tham gia hoạt động để tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm thực tế và nâng cao kiến thức đã được học trong nhà trường.

– Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nội dung, chương trình HĐTN: Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ của từng môn học, nội dung giáo dục và nhiệm vụ của học kỳ, của năm học; căn cứ vào kế hoạch học tập chính khóa của học sinh theo khối lớp; căn cứ vào đặc điểm trình độ nhận thức của học sinh; căn cứ vào điều kiện tài chính, cơ sở vật chất của nhà trường, từ đó chỉ đạo giáo viên xây dựng chương trình kế hoạch HĐTN và thực hiện kế hoạch hoạt HĐTN.

– Chỉ đạo tăng cường cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho HĐTN. Hiệu trưởng cần tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất, tài chính để HĐTN được tiến hành thuận lợi có hiệu quả. Chỉ đạo bộ phận thư viện tạo điều kiện về tư liệu tham khảo cho việc tổ chức các HĐTN, tăng cường tư liệu tham khảo từ các tổ chức xã hội ngoài nhà trường. Chỉ đạo bộ phận thiết bị, đồ dùng dạy học xây dựng bộ đồ dùng dạy học, trang thiết bị phục vụ tổ chức các HĐTN. Nhân viên quản lý thiết bị kỹ thuật chuẩn bị các điều kiện cho hoạt động như loa đài, máy chiếu, máy tính và các dụng cụ chức năng khác.

– Chỉ đạo giáo viên phối hợp các lực lượng khác như: cán bộ Đoàn, cha mẹ học sinh để thực hiện chương trình và kế hoạch HĐTN, phối hợp với các tổ chức xã hội trong việc tổ chức HĐTN cho học sinh. Chỉ đạo GV chủ nhiệm phối hợp với Ban đại diện chi hội cha mẹ HS lớp tham gia tổ chức hoạt động giáo dục HS. Phối hợp với Ban đại diện cha mẹ HS trường để có sự hỗ trợ về kinh phí, về CSVC, về trí tuệ, sức lực trong tổ chức các hoạt động qui mô toàn trường. Mặt khác, Hiệu trưởng thông qua Ban đại diện cha mẹ HS lớp, trường để tuyên truyền về các HĐTN của nhà trường để cha mẹ HS hiểu và hỗ trợ nhà trường.

– Chỉ đạo giáo viên nhận xét đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm. Việc đánh giá có tác dụng tạo động lực cho hoạt động phát triển và hiệu quả. Đánh giá bằng hình thức nhận xét kết quả tham gia hoạt động của học sinh, những năng lực đã bộc lộ và những hạn chế cần khắc phục. Đánh giá tập thể, nhóm và đánh giá cá nhân.

Khâu tổ chức chỉ đạo thực hiện các hoạt HĐTN theo kế hoạch đã đặt ra là một khâu quan trọng của người hiệu trưởng, hiệu quả của việc thực hiện các HĐTN phần nào nói lên được năng lực chỉ đạo của người đứng đầu nhà trường.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\K37 PHU YEN\NGUYEN HOANG GIANG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *