Biện pháp quản lý công tác kiểm tra nội bộ tại các trường Tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm tra (KT) là chức năng cơ bản của hoạt động quản lý, kiểm tra nội bộ (KTNB) là khâu đặc biệt quan trọng trong quá trình quản lý của Hiệu trưởng (HT) trường Tiểu học (TH) nhằm giúp nhà trường hình thành cơ chế tự điều chỉnh. KTNB trường TH là công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Lãnh đạo mà không KT thì coi như không lãnh đạo.
Hồ Chủ tịch đã từng khẳng định: “Nếu tổ chức việc kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười, gấp trăm lần”.
Nghị quyết số 29 Hội nghị TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam cũng nêu rõ: “Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò của hội đồng trường. Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác KT, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch”.
Công tác KTNB có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nhà trường. Tuy nhiên, đây lại lại là lĩnh vực quản lý đang có nhiều khó khăn và bất cập. Trong những năm học qua, công tác KTNB ở các trường phổ thông quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng nói chung và các trường TH nói riêng đã thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, công tác KTNB còn lúng túng về nhận thức và hạn chế về nghiệp vụ. Công tác KTNB chưa thực hiện thường xuyên, sử dụng kết quả KTNB chưa hiệu quả để phát triển nhà trường, đánh giá chưa sát đối tượng, còn cảm tính, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác KT. Nội dung KTNB chưa đầy đủ, chỉ tập trung chủ yếu vào một số hoạt động như KT hồ sơ, dự giờ…và thực hiện không thường xuyên. Các công tác KTNB chủ yếu tập trung vào các đợt thi đua trong năm, kết thúc học kỳ và kết thúc năm học. Công tác KTNB chưa thật sự có chiều sâu, thường thiếu kế hoạch cụ thể, sơ sài, nhiều khi mang tính hình thức. Chưa gắn kế hoạch KTNB với kế hoạch năm học. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý công tác KTNB nhà trường là yêu cầu thực sự cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
Với những lý do trên, tôi chọn vấn đề: “Biện pháp quản lý công tác kiểm tra nội bộ tại các trường Tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý công tác KTNB ở các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, đề xuất các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý công tác KTNB tại các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Công tác KTNB của trường TH.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý công tác KTNB các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý công tác KTNB các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã được quan tâm, bước đầu đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Công tác KTNB sẽ đạt được hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, nếu đề xuất và triển khai được hệ thống các biện pháp quản lý khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác KTNB trường TH.
5.2. Khảo sát, phân tích về thực trạng tình hình thực hiện công tác KTNB và quản lý công tác KTNB tại các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý công tác KTNB tại các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.3. Phương pháp xử lý bằng thống kê toán học
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và các biện pháp quản lí công tác KTNB tại các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Từ đó, xây dựng những biện pháp quản lý công tác KTNB tại các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến.
Nội dung chính: Gồm 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý công tác KTNB trường TH
Chương 2. Thực trạng quản lí công tác kiểm tra nội bộ tại các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Ðà Nẵng
Chương 3. Biện pháp quản lí công tác kiểm tra nội bộ tại các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Ðà Nẵng

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA
NỘI BỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường
Quản lý là hệ thống những tác động, có chủ định, phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể QL để đạt mục tiêu chung của hệ thống trong một môi trường luôn biến động.
QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động của khách thể quản lý, thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra.
Quản lý nhà trường là một hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý giáo dục của Đảng, thể hiện tính chất nhà trường XHCN, tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, tiến tới hoàn thành những mục tiêu giáo dục đề ra.
1.2.2. Kiểm tra, kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
KTNB trường học là hoạt động nghiệp vụ quản lý của người Hiệu trưởng nhằm điều tra, theo dõi, xem xét, kiểm soát, phát hiện, kiểm nghiệm sự diễn biến và kết quả các hoạt động giáo dục trong phạm vi nội bộ nhà trường và đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục có phù hợp với các mục tiêu, kế hoạch, chuẩn mực, quy chế đã đề ra hay không.
1.2.3. Khái niệm về thanh tra giáo dục, phân biệt giữa thanh tra giáo dục và kiểm tra nội bộ trường học
1.2.4. Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
Quản lý công tác KTNB được hiểu là những tác động có hệ thống, khoa học, có ý thức và có mục tiêu của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, là quá trình kiểm tra của Hiệu trưởng ở các cơ sở giáo dục
1.3. HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.3.1. Vị trí, vai trò của công tác kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
1.3.2. Mục đích, nhiệm vụ kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
1.3.3. Đối tượng kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
1.3.4. Nội dung kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
1.3.5. Các nguyên tắc kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
1.3.6. Phương pháp kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
1.3.7. Hình thức kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
1.4. QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.4.1. Vai trò, trách nhiệm của Hiệu trưởng trong quản lý công tác kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
1.4.2. Quản lý công tác kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
1.4.3. Phòng Giáo dục và Đào tạo quản lý công tác kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ÐỊA BÀN
QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẬN LIÊN CHIỂU VÀ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.
2.1.1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục đào tạo cấp Tiểu học tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
2.2. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
2.2.1. Mục đích khảo sát
Nhằm đánh giá thực trạng công tác KTNB và quản lý công tác KTNB ở các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Từ đó, đề xuất các biện pháp khả thi để nâng cao hiệu quả công tác quản lý công tác KTNB tại các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
2.2.2. Ðối tượng, địa bàn khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát các đối tượng: cán bộ quản lý (51); giáo viên, nhân viên các trường TH (264) và cán bộ quản lí, chuyên viên Phòng GD&ĐT quận Liên Chiểu (6).
2.2.3. Nội dung khảo sát
Thực trạng xây dựng đội ngũ; tổ chức công tác KTNB ở các trường TH; Thực trạng quản lí công tác KTNB của HT tại các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Ðà Nẵng; Thực trạng quản lý công tác KTNB trường Tiểu học của Phòng GD&ĐT quận Liên Chiểu, thành phố Ðà Nẵng.
2.2.4. Phương pháp khảo sát
– Phương pháp xin ý kiến của chuyên gia.
– Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra (chủ đạo).
– Phương pháp phỏng vấn.
– Phương pháp thống kê toán học để phân tích, xử lý kết quả khảo sát.
2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.3.1. Nhận thức về công tác kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Nhận thức của CB, GV, NV trong nhà trường đều thấy được vai trò quan trọng của công tác KTNB trường học. Tuy nhiên, bên cạnh đó đó vẫn còn một số CB, GV, NV còn nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của công tác KTNB trường học (chiếm tỉ lệ 6.4%)
2.3.2. Thực trạng về việc thực hiện các nội dung công tác KTNB ở các trường Tiểu học
a. Đánh giá về công tác tổ chức nhân sự
Công tác tổ chức nhân sự của các trường TH đều thực hiện có hiệu quả. Tuy nhiên, số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ, phân công chuyên môn, công tác kiêm nhiệm ở một số trường vùng ven của quận còn chưa thật sự tốt. Chính điều này làm công tác xây dựng, quy hoạch đội ngũ ở một số trường còn gặp nhiều khó khăn, việc phân công chuyên môn cũng bị ảnh hưởng.
b. Về hoạt động sư phạm và chất lượng giáo dục, đào tạo
Nhìn chung hoạt động sư phạm và chất lượng giảng dạy, học tập và các mặt giáo dục khác đạt ở mức độ khá tốt trong các nhà trường.
c. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính
Nhìn chung, CSVC phục vụ cho giảng dạy, học tập đáp ứng tốt cho việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Tuy nhiên việc đầu tư xây dựng nhà tập đa năng cho học sinh chưa đảm bảo. Nguồn tài chính bố trí cho việc thực hiện các nội dung chuyên môn và để thực hiện công tác KTNB tương đối đảm bảo, vẫn còn số ít chưa đáp ứng tốt cho việc thực hiện nội dung chuyên môn và thực hiện công tác KTNB trường TH (tỷ lệ 21,7%).
d. Về kế hoạch phát triển giáo dục
Số lượng HS từng khối lớp, toàn trường các trường thực hiện chưa tốt do nguyên nhân khách quan, tỷ lệ học sin/lớp còn cao; công tác phổ cập giáo dục; quy chế tuyển sinh; duy trì sĩ số, chống lưu ban, bỏ học chiếm tỷ lệ khá tốt là gần 90%; hiệu quả đào tạo cao.
e. Về việc tự kiểm tra công tác quản lý của Hiệu trưởng
Vẫn còn nhiều ý kiến cho rằng công tác tự kiểm tra của Hiệu trưởng vẫn còn ở mức chưa đạt yêu cầu cao, đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhà trường.
2.3.3. Về hình thức KTNB ở các trường Tiểu học
Qua kết quả điều tra cho thấy, một số giáo viên chưa thấy rõ tầm quan trọng của công tác KT toàn diện hay KT chuyên đề. Bên cạnh đó, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, việc KT thường kỳ theo kế hoạch là tốt và đạt yêu cầu 100%, còn việc KT đột xuất được đánh giá ở mức đạt yêu cầu là 28.7% và chưa đạt yêu cầu 42.1%, chứng tỏ giáo viên chưa tự giác trong việc thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ chuyên môn một cách thường xuyên; KT việc thực hiện kiến nghị lần trước cũng chưa khắc phục tốt theo yêu cầu của người KT.
2.4. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.4.1. Công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ
Qua bảng khảo sát về quy trình xây dựng kế hoạch KTNB cho thấy các trường nhận thức rõ về công tác này và thực hiện đảm bảo đúng theo quy trình của việc lập kế hoạch. Điều đó cho thấy việc xây dựng kế hoạch KTNB đúng quy trình sẽ góp phần vào thực hiện có hiệu quả công tác KTNB trường TH.
2.4.2. Công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường Tiểu học
Công tác xây dựng đội ngũ và phân công thực hiện công tác KTNB ở các trường TH được thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, một số trường vùng ven do đội ngũ chưa thật sự ổn định nên công tác xây dựng và phân công đội ngũ vẫn còn chưa đạt yêu cầu đề ra.
Việc xây dựng các tiêu chí KT được các trường quan tâm, tránh được tình trạng đánh giá trong KT mang tính cảm tính, không thuyết phục được đối tượng được KT.
Các nội dung KT và đối tượng được KT được các trường TH công khai, nhưng việc theo dõi, khắc phục các tồn tại trong quá trình thực hiện công tác KTNB, KT việc thực hiện công tác KTNB theo kế hoạch đề ra vẫn còn chưa đảm bảo đúng kế hoạch đề ra và theo những nội dung cần KT, đánh giá trong năm học.
2.4.3. Công tác tổng kết, đánh giá, điều chỉnh hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường Tiểu học
Các trường (trên 90%) đều sử dụng kết quả KTNB để theo dõi, đánh giá các chuyển biến sau khi công bố kết quả KT của CB, GV, NV; sử dụng kết quả KTNB để điều chỉnh hoạt động quản lý của nhà trường cho phù hợp và làm cơ sở để đánh giá công chức, viên chức, chuẩn nghề nghiệp giáo viên; sử dụng kết quả KTNB để tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của đội ngũ; làm cơ sở để bình xét các danh hiệu thi đua cuối năm, quy hoạch đội ngũ và dự nguồn cán bộ. Bên cạnh đó vẫn còn một số suy nghĩ cho rằng công tác KTNB chỉ thực hiện cho xong theo kế hoạch đề ra còn việc sử dụng kết quả KTNB sau KT chưa tốt, chưa có tạo sự chuyển biến hay thúc đẩy nhà trường phát triển và làm cơ sở để thực hiện công tác khen thưởng, quy hoạch cán bộ.
2.4.4. Thực trạng công tác xây dựng hệ thống thông tin kiểm tra nội bộ
Việc xây dựng dự thảo, thảo luận chuẩn và điều chỉnh ban hành áp dụng ở mức độ tốt, khá, đạt yêu cầu chiếm tỉ lệ cao (gần 90%). Tuy nhiên, vẫn còn một số trường vẫn tiến hành KT theo kinh nghiệm, không chú ý đến việc xây dựng bộ chuẩn để áp dụng vào hoạt động KT.
2.5. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT DỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.5.1. Đánh giá công tác kiểm tra nội bộ của Hiệu trưởng các trường Tiểu học
Khảo sát về sự đánh giá công tác quản lí công tác KTNB của HT các trường TH, lãnh đạo Phòng GD&ĐT cho rằng HT các trường TH thực hiện tốt, khá chiếm 50%. Thực tế đó cho thấy vẫn còn một số HT chưa nắm rõ các văn bản pháp quy về công tác KTNB trong trường học; việc xây dựng nhân sự ở một số trường chưa đảm bảo tốt; việc lưa trữ kết quả KTNB còn chưa đảm bảo theo quy định và chưa thật sự khoa học về công tác lưu trữ.
2.5.2. Thực trạng về hoạt động quản lý công tác kiểm tra nội bộ các trường Tiểu học của phòng Giáo dục và Đào tạo
Phòng GD&ĐT thực hiện tốt việc ban hành hành các văn bản về KTNB của các cấp đến CB, GV, NV các trường TH và được đánh giá 100%.
Việc thực hiện chế độ, chính sách cho người làm công tác KTNB ở hầu hết các trường đều không được đảm bảo nên đôi lúc cũng chưa động viên người làm công tác KT phấn đấu tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ phục vụ tốt cho công tác KTNB các trường TH.
2.6. NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG
a. Ưu điểm
Hiệu trưởng, và CB, GV, NV trong nhà trường ý thức được tầm quan trọng của đội ngũ làm công tác KTNB trong trường học.
Chất lượng giảng dạy và giáo dục trong nhà trường có chuyển biến tích cực, giáo viên thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới việc KT đánh giá trong nhà trường.
Cơ sở vật chất tại các trường TH ở địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng phục vụ cho giảng dạy, học tập và đáp ứng tốt cho việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường.
Các trường có quan tâm xây dựng và triển khai kế hoạch KTNB trong trường học.
Phòng GD&ĐT ngoài việc triển khai còn theo dõi, giám sát tốt công tác KTNB ở các trường học.
b. Tồn tại, hạn chế
Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về vị trí vai trò, chức năng, tầm quan trọng của KTNB chưa đầy đủ, đúng đắn, hiểu KTNB chỉ như một hoạt động phối hợp nằm trong biện pháp động viên thi đua, coi đó chỉ là biện pháp để đánh giá.
Công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra thực hiện không thường xuyên, chưa đi đảm bảo đúng quy trình, đôi lúc còn đánh giá theo cảm tính.
Công tác tổ chức, sử dụng kết quả KTNB, tạo dựng các điều kiện hỗ trợ cho công tác KTNB còn nhiều bất cập.
Các thành viên trong Ban KTNB đã được bồi dưỡng thường xuyên nhưng số ít ủy viên vẫn còn ở mức đạt yêu cầu.
Việc đôn đốc thực hiện kiến nghị, xử lý kết quả sau KT đồng thời phát huy hiệu lực, hiệu quả công tác KT còn nhiều hạn chế.
Việc xây dựng hệ thống thông tin phục vụ cho công tác KT chưa được các trường đầu tư xây dựng một cách cụ thể, đúng quy trình.
c. Nguyên nhân của hạn chế
* Nguyên nhân khách quan
Cơ cấu nhân sự trong Ban KTNB các trường đều là cán bộ quản lý và giáo viên của đơn vị nên vẫn còn tính vị nể trong KT.
Đội ngũ cán bộ làm công tác KT chưa được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ KT một cách bài bản nên hiệu quả của công tác KTNB chưa cao.
Điều kiện, phương tiện phục vụ cho công tác KTNB vẫn còn thiếu. Chế độ đãi ngộ cho các KT viên còn nhiều bất cập, chưa thỏa đáng.
* Nguyên nhân chủ quan
Một bộ phận cán bộ quản lý còn cho rằng, KTNB chỉ đơn thuần là một biện pháp quản lý trường học, chưa thấy được đó chính là chức năng cơ bản của quản lý trong quá trình quản lý nhà trường. Thời gian cán bộ quản lý dành cho hoạt động KT nhìn chung còn ít; việc phân cấp trong KT chưa mạnh dạn và rõ ràng.
Kết quả KTNB chưa được các trường xem xét, xử lý, chưa được làm căn cứ để đề bạt, đào tạo bồi dưỡng hay xử lý kỷ luật. Sau khi KT, công tác phúc tra chưa trở thành nền nếp, kiến nghị của Ban KTNB chưa được một số giáo viên chấp hành nghiêm.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
BIỆN PHÁP QUẢN LÍ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. CĂN CỨ XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP
3.2. CÁC NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP
Để bảo đảm tính khả thi khi xây dựng và thực hiện các biện pháp, cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính quy phạm pháp luật
3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích
3.2.3. Nguyên tắc đảm bảo phát huy vai trò tích cực của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
3.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, tác động vào tất cả các khâu, các yếu tố của quá trình quản lý
3.2.5. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
3.3. CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.3.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về công tác kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Để CB, GV, NV của nhà trường có nhận thức đầy đủ và chính xác các nội dung, tầm quan trọng của công tác KTNB, HT cần tổ chức tuyên truyền phổ biến những nội dung cơ bản của các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác thanh, kiểm tra.
Dựa và các văn bản hướng dẫn về công tác thanh, KT và hướng dẫn của Phòng GD&ĐT, HT cần tập trung phổ biến các nội dung như: Vị trí, chức năng của KTNB; nguyên tắc hoạt động; nội dung; hình thức; quy trình hoạt động. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn của ủy viên ban KTNB, nhiệm vụ quyền hạn của HT và ủy viên làm nhiệm vụ KT; các điều kiện đảm bảo hoạt động; trách nhiệm của đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan. Ngoài ra, các trường cần phổ biến thêm một số nội dung cơ bản của Luật Thanh tra 2010, Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố cáo 2011, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của Chính Phủ, các Bộ, Ngành đã ban hành.
Hiệu trưởng cần phải tuyên truyền, phổ biến cho CB, GV, NV hiểu rõ tầm quan trọng của công tác KTNB. Nó là một trong bốn chức năng cơ bản của quá trình quản lý; làm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên hiểu và nắm vững cơ sở khoa học, sự cần thiết của công tác KTNB, từ đó tích cực tham gia các nhiệm vụ được phân công trong quá trình KT, biến các quá trình KT thành quá trình tự KT; xác định cho CB, GV nắm được, làm tốt công tác KTNB trường học chính là tiền đề, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc nâng cao chất lượng dạy học và các hoạt động khác của nhà trường.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các nội dung trên bằng nhiều hình thức như: thực hiện sao gửi tài liệu đến các tổ chuyên môn; tổ chức quán triệt trong các buổi họp Hội đồng hàng tháng; niêm yết các tài liệu liên quan đến công tác KT tại bảng công khai thông tin hoặc đăng tải trên website của đơn vị. Lồng ghép báo cáo nội dung KTNB vào trong các Hội nghị sơ kết, tổng kết của nhà trường.
Qua việc triển khai các hình thức như đã nêu trên sẽ góp phần nâng cao nhận thức về công tác KTNB của CB, GV, NV trong nhà trường, từ đó, mọi người sẽ nâng cao ý thức trách nhiệm của bản thân trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao hiệu quả công tác KTNB của nhà trường.
3.3.2. Biện pháp 2: Kế hoạch hóa công tác quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Căn cứ tình hình, nhiệm vụ cụ thể của từng năm học; căn cứ vào thực trạng đội ngũ CB, GV và quy mô phát triển trường, lớp, học sinh của từng năm học; căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và chất lượng giáo dục của nhà trường; căn cứ vào kế hoạch cụ thể về công tác KTNB trường Tiểu học của các nhà trường, kết quả của công tác KTNB của nhà trường ở năm học trước. Việc xây dựng kế hoạch KTNB trường học phải đổi mới chuyển từ tập trung áp đặt từ trên xuống thành xây dựng từ cơ sở đi lên.
Ngay từ đầu năm học, HT cần xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, các biện pháp thực hiện; tiếp theo xây dựng dự thảo kế hoạch KTNB chung của nhà trường. Sau khi kế hoạch được thống nhất, HT ra quyết định ban hành kế hoạch KTNB năm học. Đây là quy trình bắt buộc, thực hiện nghiêm túc trước khi bước vào thực hiện kế hoạch.
Kế hoạch KT có thể được thiết kế dưới dạng sơ đồ, biểu bảng và được treo ở văn phòng nhà trường. HT cần xây dựng các loại kế hoạch KT sau:
* Kế hoạch kiểm tra toàn năm
* Kế hoạch kiểm tra tháng
* Kế hoạch kiểm tra tuần
3.3.3. Biện pháp 3: Tổ chức lực lượng kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Để công tác KTNB trong trường học được thực hiện có hiệu quả, đúng theo kế hoạch được đề ra đòi hỏi HT nhà trường phải xây dựng được lực lượng KTNB đảm bảo về số lượng và chất lượng.
Ngay từ đầu năm học, sau khi phân công nhiệm vụ cho CB, GV, NV trong nhà trường, tham khảo ý kiến của Phó HT, giáo viên có uy tín, giáo viên có kinh nghiệm và năng lực trong công tác, HT quyết định thành lập ban KTNB, trưởng ban KT phải là HT hoặc Phó HT.
Thành viên ban KT phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, uy tín, có nghiệp vụ chuyên môn sư phạm giỏi, sáng suốt và linh hoạt trong công việc.
Các thành viên trong ban KT được phân công cụ thể phần việc được giao, xác định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong Ban KT.
Có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho KT viên, giúp họ nắm được nghiệp vụ thực hiện công tác KT một cách vững chắc để tiến hành KT đúng quy trình, đạt hiệu quả cao.
Đội ngũ KT viên tại các đơn vị trường học đều có đủ theo quy định, nhưng vẫn còn những KT viên chưa thực sự nắm vững về nghiệp vụ KT, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa thật sự vững vàng, do đó gặp không ít khó khăn trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Chính điều đó cần phải xây dựng lực lượng KT viên đảm bảo về số lượng và chất lượng để thực hiện tốt công tác KT.
Nghiên cứu kỹ và hiểu hệ thống các văn bản về công tác KTNB trường TH; các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học, các văn bản hướng dẫn thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ th ông…để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ KT viên.
Lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ KT làm công tác KTNB trường Tiểu học. Kế hoạch bồi dưỡng phải cụ thể hoá các tiêu chí: Chương trình, nội dung tập huấn, thời gian, địa điểm và các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất phục vụ đợt tập huấn.
Điều tra tìm hiểu đội ngũ KT viên làm công tác KTNB trường Tiểu học để phân loại trình độ, thế mạnh của từng người để bồi dưỡng chuyên sâu cho phù hợp, nhằm phát huy tối đa khả năng của từng người, tăng hiệu quả các cuộc KT.
3.3.4. Biện pháp 4: Tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Trong công tác quản lý giáo dục, KT là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý. Do đó, để chỉ đạo tốt công tác KT, HT cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Ban hành các quyết định về KT; hướng dẫn, động viên, giúp đỡ lực lượng KT hoàn thành các nhiệm vụ
Sử dụng và phối hợp các phương pháp, hình thức KT đối với mỗi nội dung KT cụ thể.
Điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình thực hiện công tác KT; huấn luyện cán bộ và nhân viên dưới quyền thực hiện KT và tự KT.
Khuyến khích tự KT, đánh giá của các cá nhân, bộ phận trong nhà trường.
Rà soát kỹ đội ngũ, đặc biệt là lực lượng cốt cán của nhà trường để thành lập Ban KTNB trường học đảm bảo số lượng và chất lượng.
Quy định cụ thể thể thức làm việc, nhiệm vụ cụ thể, thời gian, quy trình tiến hành, quyền lợi cho mỗi đợt KT hoặc cho mỗi thành viên trong Ban KTNB.
Thường xuyên giám sát, điều chỉnh kịp thời quá trình KT đã được triển khai.
3.3.5. Biện pháp 5: Xây dựng hệ thống thông tin kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Hiệu trưởng tập hợp đầy đủ các văn bản liên quan đến việc hướng dẫn thực hiện công tác KT trong nhà trường như các văn bản luật, nghị định, Thông tư, các văn bản hướng dẫn của Sở, Phòng và nhà trường về việc thực hiện công tác KTNB trường học.
Cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình nhà trường như: CSVC, tình hình đội ngũ, trình độ đào tạo, bảng phân công chuyên môn, thời khóa biểu, các kế hoạch, các văn bản liên quan đến việc thực hiện quy chế chuyên môn, nghiệp vụ KT.
Các văn bản của các cấp về việc hướng dẫn đánh giá, xếp loại giáo viên, học sinh, các kế hoạch năm học, các cuộc vận động… liên quan hoạt động giảng dạy và giáo dục trong nhà trường, liên quan đến công tác KT đánh giá được chuyển đến các tổ chuyên môn hoặc tận tay giáo viên hoặc đăng tải trên website nhà trường.
Các nội dung công khai về chất lượng, cơ sở vật chất, tình hình đội ngũ, tài chính, quy chế thi đua … đều được công khai ở nơi dễ thấy nhất để KT viên và đối tượng được KT biết về tình hình nhà trường, các quy định để KT viên có đầy đủ các thông tin ban đầu về đối tượng KT, có các tài liệu cần thiết để tham khảo khi cần. Giúp cho KT viên khi tiến hành KT có cơ sở và căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành của đối tượng được kiểm tra; đối tượng được KT căn cứ vào những thông tin đó để tự KT và điều chỉnh cho phù hợp.
3.3.6. Biện pháp 6: Tăng cường hoạt động tự kiểm tra ở trường Tiểu học
a. Mục đích biện pháp
b. Nội dung và cách thực hiện biện pháp
* Đối với mỗi cá nhân, bộ phận, tổ chức trong nhà trường
Căn cứ vào nội dung KT, tiêu chí đánh giá, xếp loại, mỗi CB, GV, NV, mỗi bộ phận, mỗi tổ chức phải thường xuyên tự KT, đánh giá, xếp loại. Đối chiếu với bộ chuẩn đã được xây dựng để rà soát những hạn chế còn mắc phải, bổ sung những thiếu sót so với chuẩn và tự cải tiến chất lượng hồ sơ và hiệu quả công việc. Trên cơ sở đó tự điều chỉnh hoạt động của mình, nhằm đạt được kết quả tốt nhất.
Đồng thời tăng cường KT chéo giữa các cá nhân, các bộ phận, các tổ chức nhằm làm cho việc KT, đánh giá, xếp loại khách quan hơn, tăng cường hoạt động trao đổi, rút kinh nghiệm, tạo cơ hội để mỗi cá nhân, mỗi bộ phận, mỗi tổ chức hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
* Đối với nhà trường
Căn cứ tiêu chí đánh giá chất lượng các trường phổ thông của Bộ GD&ĐT, các văn bản hướng dẫn của các cấp Sở, Phòng về công tác KT, Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch KT và tự KT thật cụ thể, chi tiết và trực tiếp chỉ đạo, KT mọi hoạt động, từ đó, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của nhà trường. Xác định những nội dung đã làm tốt để phát huy, những nội dung chưa làm tốt để có kế hoạch chấn chỉnh khắc phục và có kế hoạch cải tiến chất lượng đảm bảo theo định hướng phát triển của nhà trường.
Hiệu trưởng chỉ đạo tốt công tác KTNB trong trường học, đó cũng chính là hoạt động tự KT của HT; chỉ đạo các tổ chức, đoàn thể và mỗi cá nhân cũng tự xây dựng kế hoạch tự KT, đánh giá vào đầu năm học, đầu tháng, đầu tuần và căn cứ để thực hiện có hiệu quả.
Định kỳ theo các mốc thời gian, tổ chức cho các tổ chức, các CB, GV báo cáo công tác tự KT đánh giá. Tổ chức KT việc tự KT, đánh giá của các tổ chức, các cá nhân bằng nhiều hình thức phù hợp.
Đưa nội dung nhận xét công tác tự KT vào các buổi nhận xét, sơ kết, tổng kết công tác KTNB để phát huy những ưu điểm và khắc phục các tòn tại mắc phải.
3.3.7. Biện pháp 7: Đầu tư, tổ chức các điều kiện hỗ trợ công tác kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
Mua sắm các tài liệu liên quan đến công tác KTNB trường học và quản lý công tác KTNB trường học như: các văn bản chỉ đạo, hồ sơ, số sách, tài liệu hướng dẫn.
Mua sắm các thiết bị như: máy vi tính, máy phôtôcopy, máy ghi âm, máy ghi hình nhằm phục vụ cho công tác KT.
Trang bị đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học, các thiết bị máy móc cho các bộ phận để hỗ trợ họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công.
Đầu tư các loại hồ sơ, sổ sách theo mẫu quy định chung, mẫu hồ sơ KTNB trường học được làm sẵn.
Tăng kinh phí bồi dưỡng cho đội ngũ tham gia KTNB trường Tiểu học và quản lý KTNB trường Tiểu học; kinh phí tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác KTNB trường Tiểu học; kinh phí tổng kết, sơ kết, thăm quan học tập; kinh phí khen thưởng.
Đây là một việc rất quan trọng để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác KTNB trường Tiểu học và quản lý công tác KTNB trường Tiểu học. Việc này cần được sự quan tâm đồng bộ của các cấp quản lý giáo dục.
Đầu năm, nhà trường phân khai dự toán ngân sách và dành một phần kinh phí nhất định cho việc mua sắm cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập và kinh phí cho việc tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục trong nhà trường. Kinh phí tổ chức các hoạt động phục vụ công tác KTNB trường học.
Thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục để bổ sung một phần kinh phí cho công tác KTNB, khen thưởng, tham quan học tập…
3.3.8. Biện pháp 8: Thực hiện đánh giá, khen thưởng cán bộ, giáo viên công bằng, chính xác
Trong Hội nghị công chức, viên hàng năm, khi bàn bạc về các tiêu chí thi đua, HT cần đưa nội dung kết quả của KTNB cũng như việc hoàn thành tốt công tác tác KTNB vào trong tiêu chí thi đua để mọi người bàn bạc, xem xét nhằm góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, động viên, thúc đẩy các thành viên trong nhà trường.
Trong các buổi họp hội đồng hàng tháng, sơ kết học kỳ, tổng kết năm học, HT cần tổ chức, chỉ đạo sơ kết, tổng kết công tác KTNB trường học, có hình thức biểu dương, khen thưởng kịp thời cho các cá nhân, bộ phận, tổ chức làm tốt, chú ý xây dựng điển hình, nhân rộng điển hình nhằm động viên mọi người, mọi bộ phận, mọi tổ chức thực hiện có hiệu quả, có chất lượng hoạt động KT, đánh giá, chú trọng phổ biến những kinh nghiệm tốt. Bên cạnh đó, đây cũng là dịp để những cá nhân, tập thể còn hạn chế sẽ học hỏi kinh nghiệm để tự điều chỉnh bản thân mình nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành, kịp thời khắc phục những hạn chế qua công tác KTNB, cần chú ý điều chỉnh đối tượng KT, lực lượng KT và công tác quản lý của HT.
Để chuẩn bị cho việc đánh giá công tác thực hiện trong tháng qua và triển khai công tác trong tháng đến, lãnh đạo nhà trường cần họp phân tích, đánh giá những mặt đạt được, mặt còn hạn chế và cách khắc phục trong thời gian đến, bộ phận giúp việc giúp HT tổng hợp các báo cáo của các thành viên viên sau từng chuyên đề và từng đợt KT để đánh giá trong cuộc họp hội đồng đầu tháng.
Để chuẩn bị cho các buổi hội nghị sơ kết, tổng kết. HT phân công công việc rõ ràng cho các thành viên trong Ban KT làm các báo cáo để phục vụ cho công tác sơ kết, tổng kết, báo cáo về các gương điển hình và báo cáo về các vấn đề còn tồn tại để trình bày trong các hội nghị.
Phó HT và các ủy viên Ban KT đề xuất đối tượng, hình thức khen thưởng để tham mưu cho Hội đồng thi đua khen thưởng nhà trường quyết định chọn những cá nhân, tập thể điển hình hoàn thành tốt công tác để khen thưởng. Chuẩn bị kinh phí để khen thưởng.
Tổ chức sơ, tổng kết công tác KTNB. Kết hợp khen thưởng và biểu dương những cá nhân điển hình. Trong các buổi sơ kết, tổng kết kinh nghiệm về công tác KTNB, HT phải nhận ra những việc đã làm được và những việc chưa làm được so với kế hoạch KTNB đã đề ra để CB, GV, NV trong hội đồng biết, đồng thời là dịp để vừa tự KT lại, vừa giám sát việc tổ chức công tác KTNB của HT. Biết lắng nghe những ý kiến đóng góp của mọi người cũng như những đề xuất kiến nghị về công tác KTNB nhằm phát huy những ưu điểm, khắc phục kịp thời những hạn chế trong công tác KTNB.
Xem xét việc hoàn thành của KT viên, và việc thực hiện tốt các nội dung KT vào việc đánh giá công chức, viên chức và làm cơ sở để sắp xếp, quy hoạch đội ngũ và dự nguồn cán bộ
3.4. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP
Trên đây là 8 biện pháp quản lý công tác KTNB của Hiệu trưởng các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Các biện pháp này tuy có tính độc lập tương đối với nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau nhằm mục đích giúp HT các trường TH đổi mới và nâng cao chất lượng công tác KTNB trường TH. Do đó, nếu thực hiện đồng bộ 8 biện pháp nêu trên sẽ đem lại hiệu quả cao cho công tác KTNB trường học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục của nhà trường.
3.5. KHẢO NGHIỆM NHẬN THỨC VỀ TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP
Kết quả khảo nghiệm: Qua việc kiểm định nhận thức mức độ cấp thiết của các biện pháp đề xuất của tác giả đã được đánh giá rất cấp thiết, thể hiện điểm trung bình = 3,84 và có 8/8 biện pháp (100%) có điểm trung bình > 3.
Từ kết quả khảo nghiệm cho thấy, các khách thể đánh giá những biện pháp đề xuất ở mức độ rất khả thi, được thể hiện bằng điểm trung bình =3,86 và có 8/8 biện pháp (100%) có điểm trung bình > 3.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý công tác KTNB trường học, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất các biện pháp. Luận văn đã đề ra 8 biện pháp.
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về công tác kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Biện pháp 2: Kế hoạch hóa công tác quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Biện pháp 3: Tổ chức lực lượng kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Biện pháp 4: Tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Biện pháp 5: Xây dựng hệ thống thông tin kiểm tra nội bộ ở trường Tiểu học
Biện pháp 6: Tăng cường hoạt động tự kiểm tra ở trường Tiểu học
Biện pháp 7: Đầu tư, tổ chức các điều kiện hỗ trợ công tác kiểm tra nội bộ trường Tiểu học
Biện pháp 8: Thực hiện đánh giá, khen thưởng cán bộ, giáo viên công bằng, chính xác
Các biện pháp trên có mối quan hệ biện chứng với nhau và thật sự có ý nghĩa khi được thực hiện một cách chặt chẽ, hệ thống và đồng bộ. Tuy nhiên, khi thực hiện cần phải vận dụng linh hoạt tùy thuộc vào tình hình thực tế của từng đơn vị để đạt được kết quả như mong muốn.
Qua trưng cầu ý kiến của CBQL, GV, lãnh đạo và chuyên viên Phòng GD&ĐT quận, tất cả đối tượng khảo sát đều đánh giá rất cao tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất. Như vậy, luận văn đã thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra và khẳng định được giả thuyết khoa học của đề tài.
2.1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
Cần tổ chức nghiên cứu và có các văn bản hướng dẫn cụ thể, tăng cường chỉ đạo HT tiến hành KTNB; có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác KTNB trường học.
Tham mưu với UBND thành phố Đà Nẵng có văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách đãi ngộ thỏa đáng.
2.2. Đối với các trường Đại học, Cao đẳng sư phạm
Trong chương trình đào tạo cần chú trọng nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ KTNB và tự KT.
2.3. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
Cần định kỳ tổng kết thực tiễn công tác KTNB trường học; có giải pháp phổ biến kinh nghiệm các điển hình làm tốt công tác KTNB trường học; biểu dương khen thưởng những đơn vị làm tốt, đồng thời có hình thức kỷ luật đối với các đơn vị buông lỏng hoạt động này.
2.4. Đối với các trường Tiểu học
Cần thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, có chất lượng công tác KTNB.
Phải căn cứ vào điều kiện thực tế của nhà trường để xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, lựa chọn các giải pháp phù hợp để thực hiện.
Phải kết hợp hoạt động KT của HT với hoạt động tự KT của các tổ chức, đoàn thể và mỗi cá nhân trong nhà trường.
Phải xem công tác KTNB là một trong những nhiệm vụ không thể thiếu trong các nhiệm vụ của nhà trường.
Phải thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác KTNB cho các thành viên trong Ban KT cũng như tổ chức sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm, động viên khuyến khích những bộ phận, tổ chức, cá nhân làm tốt; đồng thời có biện pháp xử lý thích đáng đối với các tổ chức, cá nhân buông lỏng hoạt động này./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\PHAM VIET HUNG\SAU BAO VE


