Quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

1. Lí do chọn đề tài

Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, cùng với chủ trương mở cửa, giao lưu, hội nhập các nền văn hóa, văn minh tiên tiến trên thế giới đã tác động đến mọi tầng lớp trong xã hội, trong đó giới trẻ là tầng lớp nhạy bén chịu ảnh hưởng nhiều với những sự biến đổi này, có những biến động trong đời sống tâm lý.

Do vậy, CTTVTLHĐ không chỉ cần thiết cho HS mà còn giúp cho GV hiểu biết rõ hơn về những vấn đề liên quan đến sự hình thành, phát triển nhân cách của HS; từ đó có định hướng trong giáo dục, giúp đỡ các em phát triển nhân cách đúng đắn, lành mạnh, hiểu về bản thân và người khác tốt hơn.

Mặc dầu, các cơ quan quản lý nhà nước đã có các động thái trong công tác lãnh chỉ đạo, đề ra các chủ trương, chính sách, chương trình hành động tạo hành lang pháp lí, cơ sở lí luận cho CTTVTLHĐ. Nhiều địa phương đã có những cơ chế, hoạt động nhằm tăng cường giải quyết các vấn đề phát sinh có liên quan đến CTTVTLHĐ. Tuy nhiên, CTVTLHĐ tại các trường phổ thông vẫn còn mới mẻ cả về lí luận lẫn thực tiễn. Việc tổ chức, triển khai thực hiện chưa được quy củ, thường xuyên, chưa có các quy trình quản lý phù hợp, các nội dung hoạt động còn mang tính hình thức, lí thuyết; mang nặng tính đối phó; đội ngũ TVV mà chủ yếu là cán bộ quản lý, GV kiêm nhiệm vừa thiếu kiến thức chuyên môn, chưa có nhiều kinh nghiệm.

Từ lí luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề bài: “Quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các biện pháp quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT

3. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lý và quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT; Khảo sát thực trạng quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT; Đề xuất biện pháp quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT.

4. Khách thể nghiên cứu: Công tác TVTL tại các trường THPT.

5. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

6. Giả thuyết nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn quản lý CTTVTLHĐ, xuất phát từ đặc thù CTTVTLHĐ, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp, khả thi, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách HS.

7. Phạm vi nghiên cứu

– Địa bàn nghiên cứu: Tại 06 trường THPT trên địa bàn 03 quận Hải Châu (THPT Nguyễn Hiền, THPT Trần Phú), quận Cẩm Lệ (THPT Cẩm Lệ, THPT Hòa Vang), quận Liên Chiểu (THPT Liên Chiểu, THPT Nguyễn Thượng Hiền

– Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2016 đến năm 2019.

– Đề xuất biện pháp quản lý cho cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục cấp thành phố (Sở GDĐT), lãnh đạo các trường THPT trong CTTVTLHĐ.

– Đối tượng điều tra: CBQL, lãnh đạo, chuyên viên Sở GDĐT, BGH các trường, GVCN, TTCM, GV chuyên trách hoặc kiêm nhiệm CTTVTLHĐ và HS THPT.

– Kết quả điều tra, khảo sát được phân tích để tìm ra những thông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu của đề tài.

8. Các phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết; Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn; Các phương pháp hỗ trợ.

9. Dự thảo nội dung nghiên cứu

– Mở đầu: Đề cập những vấn đề chung của cấu trúc đề cương.

– Nội dung nghiên cứu: Gồm 3 chương

– Chương 1. Cơ sở lí luận của quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT

– Chương 2. Thực trạng về quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

– Chương 3. Biện pháp quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC TƯ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG THPT

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Các nghiên cứu về tư vấn tâm lý trên thế giới

a) Lịch sử tư vấn tâm lý trên thế giới

b) Lịch sử tư vấn tâm lý học đường

1.1.2. Các nghiên cứu về tư vấn tâm lý ở Việt Nam

1.2. Các khái niệm chính của đề tài

1.2.1. Quản lý

1.2.2. Quản lý giáo dục

1.2.3. Quản lý nhà trường

1.2.4. Tư vấn tâm lý học đường

1.2.5. Quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường

1.3. CTTVTLHĐ trong trường THPT

1.3.1. Mục tiêu của CTTVTLHĐ trong trường THPT

Phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp (khi cần thiết) đối với HS đang gặp phải khó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống để tìm hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra; góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường;

Hỗ trợ HS rèn luyện kỹ năng sống; tăng cường ý chí, niềm tin, bản lĩnh, thái độ ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ xã hội; rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách.

1.3.2. Nội dung của CTTVTLHĐ trong trường THPT: Tâm lý lứa tuổi, giới tính, hôn nhân, gia đình và sức khỏe sinh sản vị thành niên; Tư vấn hình hành các kỹ năng xã hội; Tư vấn kỹ năng học tập hiệu quả và định hướng nghề nghiệp.

1.3.3. Hình thức tổ chức CTTVTLHĐ trong trường THPT

– Xây dựng các chuyên đề TVTL cho HS và bố trí thành các bài giảng riêng hoặc lồng ghép trong các hoạt động sinh hoạt tập thể (tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ, ngoại khóa, trại…) với đông đảo GV, HS tham gia;

– Tổ chức dạy tích hợp các nội dung TVTL cho HS trong các môn học chính khóa phù; tổ chức thông qua các hoạt động trải nghiệm, hoạt động ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp;

– Tổ chức sinh hoạt CLB, các buổi nói chuyện chuyên đề giữa các chuyên gia tư vấn, các diễn giả với HS về các nội dung như: tư vấn tâm lý trong học tập, giới tính, sức khỏe sinh sản, định hướng nghề nghiệp kỹ năng mềm…

1.3.4. Quy trình tư vấn tâm lý học đường

Quy trình TTVTLHĐ được đúc kết thành 6 giai đoạn như sau: Xây dựng quan hệ và sự tin tưởng giữa nhà tư vấn và HS; Thu thập thông tin và xác định vấn đề; Triển khai thực hiện giải quyết vấn đề; Lượng giá và kết thúc; Theo dõi sau khi kết thúc.

1.3.5. Đội ngũ nhân sự và sự phối hợp trong tư vấn tâm lý học đường

a) Đội ngũ nhân sự trong tư vấn tâm lý học đường

Thực hiện theo qui định tại Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT ngày 12/7/2017; Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 28/8/2018; Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT ngày 18/12/2017 của Bộ GDĐT.

Tại Đà Nẵng, đối với các trường được thí điểm định biên bố trí giáo viên TVTL học đường tại Quyết định số 7909/QĐ-UBND ngày 09/11/2015 của UBND thành phố.

b) Phối hợp trong công tác tư vấn tâm lý học đường

– Phối hợp trong nhà trường;

– Phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng bên ngoài.

1.3.6. Điều kiện đảm bảo thực hiện công tác tư vấn tâm lý học đường

a) Cơ sở vật chất: Phòng TVTL; Trang thiết bị, tài liệu.

b) Nguồn lực tài chính: Nguồn chi thường xuyên; các khoản tài trợ, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; các nguồn viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ, từ các đơn vị, doanh nghiệp, các cơ quan nghiên cứu cam kết tiếp nhận tài trợ để triển khai trực tiếp các hoạt động hỗ trợ TVTL cho HS và nguồn từ tổ chức các hoạt động có thu phí các khoá học giáo dục có liên quan đến CTTVTLHĐ.

1.4. Quản lý CTTVTLHĐ trong trường THPT

1.4.1. Quản lý mục tiêu CTTVTLHĐ trong trường THPT

1.4.2. Quản lý nội dung CTTVTLHĐ trong trường THPT

1.4.3. Quản lý hình thức CTTVTLHĐ trong trường THPT

1.4.4. Quản lý quy trình tư vấn tâm lý học đường

1.4.5. Quản lý đội ngũ nhân sự và sự phối hợp trong tư vấn tâm lý học đường

1.4.6. Quản lý điều kiện hỗ trợ trong CTTVTLHĐ

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

CTTVTLHĐ là một bộ phận của quá trình giáo dục trong nhà trường, có vai trò quan trọng trong việc tạo nên những con người đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện.

Chương 1 luận văn đã đi làm rõ một số khái niệm liên quan đến đề tài, đồng thời, luận văn cũng làm rõ nội dung của công tác tư vấn tâm lý học đường cũng như nội dung quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường

Trên cơ sở lí luận về quản lý CTTVTLHĐ, chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng CTTVTLHĐ tại một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm đề xuất những biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý công tác này tại các đơn vị trường học.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC TƯ VẤN TÂM LÝ HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Khái quát quá trình khảo sát

2.1.1. Mục tiêu khảo sát:

Tìm hiểu thực trạng quản lý CTTVTLHĐ của HS THPT trên địa bàn thành phố để làm căn cứ thực tiễn đề ra các biện pháp quản lý hoạt động TVTL.

2.1.2. Đối tượng và địa bàn khảo sát

Cán bộ, chuyên viên Sở GDĐT, các trường THPT; Cán bộ, GV phụ trách công tác TVTL và HS các trường THPT: Nguyễn Hiền, Trần Phú, Cẩm Lệ, Hòa Vang, Nguyễn Thượng Hiền, Liên Chiểu.

Bảng 2.1. Thực trạng đối tượng khảo sát và địa bàn khảo sát

TTĐối tượng

khảo sát

Sở GDĐTTrường THPTTổng

mẫu

điều

tra

NHiTPCLHVNTHLCh
1CBQL0604040404040430
2GV15151515151590
3HS505050505050300
4CMHS10101010101060
5GV-TVV02020202020212
TC06818181818181492

2.1.3. Nội dung khảo sát

– Khảo sát thực trạng CTTVTLHĐ tại các trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng;

– Khảo sát thực trạng quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng.

2.1.4. Phương pháp khảo sát:

– Phương pháp điều tra theo phiếu hỏi

– Phương pháp phỏng vấn

2.1.5. Thời gian khảo sát: Từ 5/2019 – 6/2019

2.2. Khái quát tình hình phát triển kinh tế – xã hội và giáo dục – đào tạo của thành phố Đà Nẵng

2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng: Thành phố Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của Việt Nam được xác định là thành phố đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên, là một trong những trung tâm kinh tế với tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức cao và khá ổn định.

2.2.2. Tình hình giáo dục và đào tạo của thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục THCS tiếp tục củng cố vững chắc kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục đúng độ tuổi, công tác phối hợp giúp đỡ các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt nghèo, học sinh bỏ học và thiếu niên hư, vi phạm pháp luật trên địa bàn thành phố; với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị tỉ lệ học sinh bỏ học hẳn trên địa bàn thành phố thấp.

2.3. Thực trạng công tác tư vấn tâm lý học đường tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.3.1. Thực trạng về nhận thức thực hiện công tác tư vấn tâm lý học đường

Vai trò, tầm quan trọng của CTTVTLHĐ tại các trường THPT được phần lớn CBQL, GV, CB-GVTVTL, CMHS và HS hoàn toàn đồng ý và đồng ý (91,5%) có vai trò quan trọng. Định hướng giáo dục toàn diện cho HS (về kiến thức, kĩ năng, nhân cách); giải quyết những vướng mắc, khó khăn về tâm lý, tình cảm lứa tuổi được CBQL cho rằng có vai trò quan trọng nhất. Không có CBQL nào đánh giá CTTVTLHĐ không có vị trí, vai trò gì.

2.3.2. Thực trạng về thực hiện mục tiêu công tác tư vấn tâm lý học đường

Hiệu quả thực hiện mục tiêu Phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp (khi cần thiết) đối với học sinh đang gặp phải khó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống để tìm hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra được đánh giá thấp 8.3%; Mục tiêu Góp phần xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống bạo lực học đường và Rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách tỉ lệ đánh giá ít hiệu quả đến 16.7%.

2.3.3. Thực trạng về nội dung công tác tư vấn tâm lý học đường

Mức độ thực hiện trên TB, trong khoản từ 50.8% – 61.4% trong đó nhóm nội dung Tư vấn, giáo dục kỹ năng, biện pháp ứng xử văn hóa, phòng, chống bạo lực, xâm hại và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện có mức độ thực hiện thường xuyên cao nhất và được CBQL quan tâm triển khai thường 86.7%. Điều này thể hiện trong các báo cáo hội thảo trước đây các vấn đề như sức khỏe sinh sản, tâm lý lứa tuổi… đã được triển khai khá tốt và các vấn đề mới xuất hiện đã được lãnh đạo các trường học quan tâm nhiều hơn.

Tuy nhiên, tính hiệu quả của các nội dung CTTVTL được đánh giá rất hiệu quả ở mức rất thấp, trong đó Tư vấn tăng cường khả năng ứng phó, giải quyết vấn đề phát sinh trong mối quan hệ gia đình, thầy cô, bạn bè và các mối quan hệ xã hội khác chỉ đạt 11.4% các nội dung còn lại mức rất hiệu quả dưới 21%. Đa số nhận định các nội dung CTTVTL tại các trường THPT đạt hiệu quả trên 70% và vẫn còn một số ít GV (2.3%) cho rằng không hiệu quả.

2.3.4. Thực trạng về hình thức tư vấn tâm lý tại các trường THPT

Từ khảo sát và phỏng vấn CBQL này cho thấy các trường THPT hiện nay đang tập trung các hình thức TVTL theo số đông học sinh, chủ yếu là dưới cờ theo các chuyên đề đặt ra hoặc lồng ghép vào hoạt động NGLL hằng tháng; một số trường như có mời các diễn giả, chuyên gia về tâm lý báo cáo các chuyên đề về đạo đức, lối sống, kỹ năng sống.

2.3.5. Thực trạng về quy trình thực hiện tư vấn tâm lý học đường

Qua tổng hợp kết quả khảo sát cho thấy các trường THPT, công tác thực hiện qui trình TVTL chỉ mới dừng lại ở giai đoạn Xây dựng quan hệ và sự tin tưởng nhưng mức độ rất hiệu quả vẫn chưa cao (59.8%), Kết quả này cho thấy công tác triển khai thực hiện CTTVTLHĐ của các trường chưa được triển khai một cách khoa học, tổ TVTLHĐ chưa có các cuộc họp chuyên môn để đề ra các phương thức giải quyết theo đúng qui trình TVTL.

2.3.6. Thực trạng về đội ngũ nhân sự và sự phối hợp tư vấn tâm lý học đường

Lực lượng TVTL trong trường học lại vấp phải một hạn chế đó là thiếu kiến thức, kỹ năng đặc biệt là chuyên môn sâu về lĩnh vực tâm lý, tâm lý trị liệu… Một số vấn đề về tư vấn tâm lý nếu như thiếu chuyên môn theo như các chuyên gia có thể dẫn đến tác dụng ngược thay vì hỗ trợ một phần. Đối với các lực lượng ngoài nhà trường thì số liệu thấp, mức độ phối hợp triển khai các CTTVTLHĐ của các tổ chức có chuyên môn sâu như Hội Khoa học TLGD (37.1%), Trung tâm Công tác xã hội (32.6%), Khoa tâm lý – ĐHSP (39.4%) chưa thật sự được đội ngũ CBQL, GV tìm đến để nhận sự hỗ trợ, trong khi đó các đơn vị này có rất nhiều thế mạnh trong đạo tạo, tổ chức tập huấn bồi dưỡng về công tác TVTL chuyên sâu, có nhiều chuyên gia về tâm lý đang công tác, sinh hoạt.

2.3.7. Thực trạng về điều kiện hỗ trợ CTTVTLHĐ

Có 66.7% CBQL cho rằng đã đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất và 56.7% đảm bảo về điều kiện kinh phí trong thực hiện công tác TVTL cho HS. Với điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động TVTL của nhà trường có 20/30 CBQL cho rằng “thường xuyên” và 46/90 GV cũng chọn ở mức độ này. Tuy nhiên ở mức độ hiệu quả thì dường như ngược lại với mức độ thường xuyên tỉ lệ hiệu quả cho 02 tiêu chí thấp lần được được đánh giá thấp 12.9%. Mức độ ít hiệu quả đánh giá ở mức cao lần lượt 56.8% và 59.8%. Đội ngũ phụ trách chính về TVTL cho rằng nội dung hỗ trợ ít hiệu quả chiếm đếm 75.0%. Điều này minh chứng rằng trong công tác quả lí các điều kiện hỗ trợ mặc dầu tầng suất quan tâm đã được CBQL cũng như đội ngũ GV đánh giá cao, nhưng hiệu quả lại chưa đạt như mong muốn.

2.4. Thực trạng quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT

2.4.1. Thực trạng quản lý thực hiện mục tiêu CTTVTLHĐ

100% CBQL đồng ý rằng hiện nay CTTVTLHĐ của nhà trường vẫn chỉ mang tính hình thức, chưa có chương trình, nội dung hoạt động rõ ràng, các hoạt động tư vấn chỉ mang tính thời vụ; Trên 70% CBQL đã thực hiện việc quản lý mục tiêu CTTVTLHĐ tại các trường THPT, chỉ có 30% CBQL thỉnh thoảng tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, nội dung thực trạng quản lý mục tiêu CTTVTLHĐ đối với GV đánh giá thấp 10% đánh giá thường xuyên xác định các mục tiêu trọng tâm, chỉ có 13.3% đánh giá thường xuyên giám sát. Tương tự khảo sát nội dung quản lý các điều kiện đảm bảo phục vụ CTTVTLHĐ và phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường cũng được đánh giá thực hiện ở mức độ thực hiện “thường xuyên” được đánh giá ở mức trung bình chiếm tỉ lệ từ 12% đến 32.2%. Qua kết quả khảo sát các trường THPT, Hiệu trưởng chưa nắm bắt kết quả thực hiện mục tiêu ở cả 03 phương diện: Kiến thức, kĩ năng và thái độ. CTTVTLHĐ cho HS chưa được quản lý chặt chẽ.

Như vậy có thể thấy được CBQL và đội ngũ TVV đã xác định được quản lý mục tiêu CTTVTLHĐ từ lập kế hoạch chi tiết, tổ chức thực hiện, giám sát thực hiện. Tuy nhiên, việc triển khai chỉ dừng ở CBQL và đội ngũ CB,GV TVTLHĐ còn lại các nội dung này GV đánh giá ở mức độ rất thấp.

2.4.2. Thực trạng quản lý nội dung công tác tư vấn tâm lý học đường

Chỉ có 15% CBQL cho rằng Hiệu trưởng thường xuyên xây dựng kế hoạch, chương trình CTTVTLHĐ của lãnh đạo nhà trường và chỉ đạo việc xây dựng chương trình, kế hoạch HĐNGLL của Tổ TVTL. Đối với GV mức độ thực hiện “Thường xuyên” cũng khá thấp từ 10% đến 12%, hầu hết GV cho rằng chưa thường xuyên việc chỉ đạo và theo dõi hoạt động của Tổ TVTL, chưa thực hiện nghiêm túc các buổi trực theo chỉ đạo của nhà trường.

Công tác giám sát việc thực hiện TVTL học đường theo các nội dung đã bồi dưỡng cho GV của các trường thực hiện dưới mức TB 49.2%, có 6.8% cho rằng ít khi giám sát kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình, kế hoạch CTTVTLHĐ không hiệu quả.

2.4.3. Thực trạng quản lý hình thức tư vấn tâm lý học đường

Tư vấn trực tiếp là hình thức được các em lựa chọn nhiều nhất với 33.5%; tuy nhiên do còn e ngại về việc tiết lộ cá nhân nên có 15% HS chọn hình thức Tư vấn qua hòm thư , 14.5% HS chọn hình thức Tư vấn qua điện thoại. Hình thức Tư vấn gián tiếp có 25% HS chọn lựa. Ở hình thức này, các em nhờ CMHS hoặc GVCN đến với phòng tâm lý của nhà trường để nhờ sự hỗ trợ, can thiệp về khó khăn tâm lý của các em.

2.4.4. Thực trạng quản lý quy trình tư vấn tâm lý học đường

Các tiêu chí này được đánh giá mức thường xuyên trên trung bình từ 54.5% đến 67.4%, trong đó đội ngũ CB,GV TVTLHĐ đánh giá mức thường xuyên trên 90% mức độ thực hiện. Trong đó, việc tổ chức triển khai qui trình cho CBQL, TVV ở mức độ thấp nhất 54.5% và GVTHPT chỉ đạt dưới TB 44.4%.

2.4.5. Thực trạng quản lý đội ngũ nhân sự và sự phối hợp trong tư vấn tâm lý học đường

Hiện nay trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 05 trường THPT đã được bố trí thí điểm giáo viên được đào tạo đúng chuyên ngành Giáo dục Tâm lý (Đại học sư phạm Đà Nẵng đào tạo) về công tác (20,1%) ; các trường còn lại chỉ bố trí kiêm nhiệm (79,9 %). Điều này cho thấy, tại các trường dù có hay không có cán bộ chuyên trách CTTVTLHĐ, công tác này vẫn “đóng vai phụ” trong các hoạt động của nhà trường. Nguồn lực, đội ngũ cán bộ tham gia CTTVTL cho HS; được tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về CTTVTLHĐ rất thấp 12.1%; có đến 66.7% CBQL cho rằng đội ngũ ít khi được tập huấn nghiệp vụ.

2.4.6. Thực trạng quản lý điều kiện hỗ trợ công tác tư vấn tâm lý học đường

Tiêu chí Có kế hoạch bổ sung mua sắm cơ sở vật chất đảm bảo điều kiện cho hoạt động của Tổ TVTL nhà trường đối với nhóm đánh giá là CBQL chỉ có 16.7% đánh giá mức độ thực hiện thường xuyên và có đến 22.2% GV cho rằng không bao giờ thấy nhà trường có kế hoạch triển khai nội dung này và cũng có 2% CBQL được khảo sát cho rằng không bao giờ xây dựng kế hoạch. Mức độ thường xuyên được đánh giá thấp chỉ chiếm tỉ lệ 28.8% (03 người/132 phiếu). Đối với nhóm đánh giá là GV thì có 60/90 GV chiếm tỉ lệ 66.7% ở các trường được khảo sát đánh giá cho rằng thỉnh thoảng, ít khi hoặc không bao giờ thực hiện. Việc đầu tư nguồn chi tài chính cho CTTVTLHĐ cũng đã dần được quan tâm, tuy nhiên ở mức độ rất thấp 16.7% và có đến 18.9% được hỏi cho rằng nhà trường không bao giờ có kế hoạch đầu tư về tài chính cho CTTVTLHĐ.

Qua khảo sát cho thấy phối hợp với chính quyền địa phương thì có 36.6% GV và 15% CBQL chọn ở mức độ “Thỉnh thoảng”. Như vậy, mức độ thực hiện chỉ đạt được ở mức trung bình, chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong CTTVTLHĐ của nhà trường.

Chúng tôi có khảo sát nội dung “Phối hợp với Bênh viện tâm thần Đà Nẵng” trong CTTVTLHĐ của nhà trường thì mức độ “thường xuyên” không có CBQL và GV nào chọn, có đến 63.3% GV đánh giá ở mức độ “Ít khi”.

2.5. Đánh giá chung

2.5.1. Những mặt mạnh

2.5.2. Những mặt hạn chế

2.5.3. Nguyên nhân của những mặt hạn chế

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Qua khảo sát thực trạng CTTVTLHĐ và quản lý CTTVTLHĐ tại 06 trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận văn làm rõ tình hình CTTVTLHĐ chung của các trường THPT hiện nay. Thông qua vài nét khái quát về công tác TVTL của ngành giáo dục hiện nay, sự quan tâm của các cấp, các ngành về CTTVTLHĐ như chất lượng, hiệu quả về công tác TVTL; xây dựng đội ngũ; đầu tư, phát triển cơ sở vật chất và việc bồi dưỡng, nâng cao đội ngũ GV tham gia CTTVTLHĐ và quản lý CTTVTLHĐ trong toàn ngành. Luận văn cũng làm rõ thực trạng về công tác quản lý CTTVTLHĐ tại 6 trường THPT. Từ thực trạng nhận thức của HS về CTTVTLHĐ trong nhà trường, cho đến việc thực hiện nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức TVTL cho HS THPT của Bộ GDĐT và hướng dẫn, chỉ đạo của Sở GDĐT thành phố Đà Nẵng. Hơn thế nữa, những nội dung có liên quan đến thực trạng quản lý CTTVTLHĐ tại trường cũng được làm rõ, chẳng hạn như, thực trạng về xây dựng kế hoạch, chương trình CTTVTLHĐ; về phương pháp TVTL; về hình thức tổ chức, chỉ đạo thực hiện; về các lực lượng tham gia; về kiểm tra, đánh giá cũng như các điều kiện, phương tiện, trang thiết bị phục vụ CTTVTLHĐ ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Từ thực trạng quản lý CTTVTLHĐ như trên phát huy các mạch mạnh, phân tích các nguyên nhân của hạn chế tác giả mạnh dạn đề xuất các biện pháp quản lý CTTVTLHĐ cho HS tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.

CHƯƠNG 3

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CTTVTLHĐ TẠI CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu giáo dục

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

3.2. Các biện pháp quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT

3.2.1. Nâng cao nhận thức cán bọ quản lý, giáo viên, học sinh về CTTVTLHĐ

Mục tiêu: Đối với CTTVTLHĐ, CBQL, GV và HS là những người được hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động này. Chính vì vậy, việc nâng cao nhận thức về CTTVTLHĐ cho CBQL, GV, HS và CMHS sẽ giúp cho các tổ chức, đoàn thể, cá nhân hiểu được vai trò, vị trí, tầm quan trọng của CTTVTLHĐ trong việc hình thành và phát triển nhân cách của HS.

3.2.2. Kiện toàn công tác nhân sự chỉ đạo triển khai CTTVTLHĐ tại các trường THPT

Mục tiêu: Kiện toàn công tác nhân sự chỉ đạo và triển khai công tác TVTL trong trường học giúp CTTVTLHĐ được thực hiện thường xuyên, định hướng hoạt động cho đội ngũ tham gia CTTVTLHĐ, đảm bảo tính hiệu quả.

3.2.3. Tổ chức hiệu quả quản lý quy trình tư vấn tâm lý học đường tại trường THPT

Mục tiêu: Nhằm nâng cao chất lượng của CTTVTLHĐ tại các trường THPT, từng bước xây dựng tiến trình và cách thức thực hiện hiệu quả, phù hợp CTTVTLHĐ cho HS.

Cụ thể mô hình được biểu thị theo sơ đồ sau

Cụ thể mô hình được biểu thị theo sơ đồ sau-1

3.2.4. Chỉ đạo xây dựng kế hoạch, chương trình về CTTVTLHĐ

Mục tiêu:Kế hoạch là khâu đầu tiên của chu trình quản lý. Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động cần được thực hiện một cách khoa học cụ thể, đảm bảo tính hiệu quả nhằm tạo ra định hướng, vạch ra con đường, đua ra điều kiện thực hiện

3.2.5. Tăng cường tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng tư vấn tâm lý cho cán bộ, giáo viên chuyên trách, kiêm nhiệm tại các trường THPT

Mục tiêu: Nhằm nâng cao chất lượng CTTVTLHĐ, chuyên nghiệp hóa các hoạt động TVTL của tại các trường THPT.

3.2.6. Biện pháp 6: Phát huy các nguồn lực hỗ trợ công tác tư vấn tâm lý học đường

Mục đích: Phát huy thế mạnh của địa phương, của ngành giáo dục và nhằm tạo những điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần cho việc tổ chức CTTVTLHĐ.

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

3.4.1. Mục đích khảo nghiệm

3.4.2. Đối tượng khảo nghiệm

3.4.3. Phương pháp khảo nghiệm

3.4.4. Kết quả khảo nghiệm

a) Về mức độ cấp thiết

Các biện pháp đề xuất đều được đánh giá ở mức độ rất cần thiết cao. Có hơn 90% CBQL được hỏi cho ý kiến rằng các biện pháp quản lý CTTVTLHĐ là rất cấp thiết. Còn lại các CBQL được hỏi đều cho ý kiến là các biện pháp quản lý thực hiện chương trình TVTL là cấp thiết. Không có ý kiến nào cho rằng không cấp thiết. Điều này cho thấy, những người được hỏi ý kiến đều cho rằng 06 biện pháp mà chúng tôi đưa ra là rất cấp thiết để áp dụng vào việc quản lý thực hiện chương trình hoạt động CTTVTLHĐ trong giai đoạn hiện nay.

b) Về tính khả thi

Các biện pháp đề xuất đều được đánh giá có tính khả thi cao. Có hơn 70% CBQL được hỏi cho ý kiến rằng các biện pháp quản lý hoạt động CTTVTLHĐ là rất khả thi. Còn lại các CBQL được hỏi đều cho ý kiến là các biện pháp quản lý hoạt động CTTVTLHĐ là khả thi. Không có ý kiến nào cho rằng không khả thi. Điều này cho thấy, những người được hỏi ý kiến đều cho rằng 06 biện pháp mà chúng tôi đưa ra là rất khả thi có thể áp dụng vào việc quản lý CTTVTLHĐ trong giai đoạn hiện nay. Như vậy, kết quả khảo nghiệm đối với chuyên gia và CBQL các trường THPT đều phản ánh ý nghĩa rất thiết thực của các biện pháp quản lý CTTVTLHĐ. Kết quả này cũng đã nói lên sự nhận thức theo chiều hướng tốt. Việc quản lý hoạt động theo các biện pháp quản lý CTTVTLHĐ nêu trên là rất cấp thiết và khả thi.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

Từ thực tế CTTVTLHĐ tại các trường THPT hiện nay, nhiệm vụ quan trọng và bức thiết của các nhà quản lý là tìm kiếm những giải pháp ưu việt để CTTVTLHĐ tại các trường đạt hiệu quả như mong đợi. Với những đề xuất các giải pháp nêu trên, chúng tôi mong muốn các trường THPT có thể thực hiện được phương châm “Phòng tư vấn là chỗ dựa của HS”, ở đó các em được cảm thông, giúp đỡ và trưởng thành theo đúng tính cách của mình.

CTTVTLHĐ cần đa dạng từ hoạt động đào tạo đến nghiên cứu, ứng dụng và xâu chuỗi lại thành một hoạt động chung nhất về mục tiêu, chương trình. Các nhà quản lý cần làm tốt công tác tuyên truyền cho HS, CMHS và những người làm công tác giáo dục nhận thức được tính cấp thiết của CTTVTLHĐ đối với mỗi HS. Gieo nhu cầu và kích thích nhu cầu sử dụng TVTL để nâng cao chất lượng cuộc sống HS, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

  1. Kết luận

Công tác tư vấn tâm lý học đường là một nội dung trọng tâm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ năm học của nhà trường, góp phần quan trọng trong việc xây dựng nhà trường thân thiện, tạo một môi trường học tập an toàn, lành mạnh cho HS. Quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường tại các trường THPT đòi hỏi sự thống nhất về mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp nhằm phát huy những mặt mạnh và hạn chế những mặt yếu kém của từng lực lượng giáo dục để tạo ra sức mạnh tổng hợp. Đó là nguyên tắc cơ bản trong giáo dục nhân cách đạo đức học sinh.

Trên cơ sở nghiên cứu tổng quát các vấn đề, nghiên cứu đã xác định các khái niệm chính, các nội dung chính của lý thuyết, công tác tư vấn tâm lý học đường trong trường THPT và quản lý công tác tư vấn tâm lý học đường trong trường THPT. Qua kết quả khảo sát còn tồn tại các hạn chế sau:

– Công tác quán triệt chỉ đạo triển khai của các phòng chuyên môn thuộc Sở, các cơ sở giáo dục chưa sâu sát, thiếu theo dõi, kiểm tra, đôn đốc; nhân sự thực hiện CTTVTLHĐ chưa được bố trí kịp thời, đầy đủ; chưa xây dựng được hệ thống tài liệu, chương trình trong tổ chức triển khai CTTVTLHĐ; quản lý CTTVTLHĐ là một hình thức mới đối với các trường và HS THPT vì vậy công tác quản lý của nhà trường gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng.

– Đầu tư nguồn lực giữa công tác giảng dạy chính khóa và các hoạt động ngoài giờ lên lớp trong đó có CTTVTLHĐ chưa đượng tương xứng; chưa phân công, bổ sung giáo viên phụ trách trách về CTTVTLHĐ.

– Đội ngũ GV làm công tác TVTL thiếu kinh nghiệm, chưa qua đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về công tác TVTL một cách toàn diện, còn chậm đổi mới về phương pháp, nội dung, hình thức, phương pháp tiếp cận tư vấn, tham vấn còn nghèo nàn cũng như chương trình, giáo trình, tài liệu phục vụ cho CTTVTLHĐ còn thiếu, chưa phù hợp, chưa được cập nhật kịp thời với nhiều biến động về mặt tâm lý của HS trước sự phát triển của xã hội hiện nay.

– Công tác phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tạo điều kiện cho CTTVTLHĐ vận hành hiệu quả thì chưa thật sự nhịp nhàng, có lúc còn rời rạc, thiếu tập trung;

– Nhận thức chưa đồng đều của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường về CTTVTLHĐ còn nhiều, việc tham gia CTTVTLHĐ của các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường còn hạn chế. Cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ cho CTTVTLHĐ còn thiếu thốn, lạc hậu, một số trường chưa có phòng TVTL phải dùng ghép với các phòng khác, cơ chế chính sách đối với GV phụ trách CTTVTLHĐ chưa thật sự thỏa đáng, vì vậy chưa khuyến khích đông đảo đội ngũ GV tham gia vào hoạt động này.

Do vậy, muốn nâng cao chất lượng CTTVTLHĐ tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay thì phải có hệ thống biện pháp quản lý, phù hợp, mang tính đồng bộ. Dựa trên cơ sở những nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý: Đảm bảo tính kế thừa, đảm bảo tính hệ thống và đảm bảo tính thực tiễn, chúng tôi đề xuất 06 biện pháp nêu trên.

Kết quả khảo nghiệm tính chất cần thiết và tính khả thi của một số biện pháp quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT trên địa bàn thành phố, các chuyên gia được hỏi đều khẳng định: Các biện pháp đề xuất trên đây đều cần thiết và có tính khả thi. Các biện pháp được đề xuất trên đây nếu được thực hiện đồng bộ, sự kết hợp hợp lý, khoa học sẽ phát huy tác dụng một cách tối ưu trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện của nhà trường. Kết quả nghiên cứu về “Quản lý CTTVTLHĐ tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” đã thỏa mãn mục tiêu, nhiệm vụ và giả thuyết nghiên cứu đặt ra.

2. Khuyến nghị

2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo

2.2. Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng

2.3. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\TRAN QUOC PHONG\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *