Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến nuôi trồng thuỷ sản tại thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó để phát triển

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến nuôi trồng thuỷ sản tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó để phát triển

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến nuôi trồng thuỷ sản tại thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó để phát triển

1. Lý do chọn đề tài

Quảng Nam là một trong hai mươi tám tỉnh thành của cả nước trực tiếp có biển với hai hệ thống sông lớn Vu Gia – Thu Bồn và Tam Kỳ. Các sông bắt nguồn từ sườn đông của dãy Trường Sơn, chảy chủ yếu theo hướng Tây-Đông và đổ ra biển Đông tại các cửa Hàn (Đà Nẵng), Đại (Hội An) và An Hòa (Núi Thành). Ngoài hai hệ thống sông trên, sông Trường Giang có chiều dài 47 km chảy dọc ven biển theo hướng Bắc Nam kết nối hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn và Tam Kỳ. Với hệ thống sông ngòi chằng chịt và dày đặc như vậy, hoạt động khai thác cũng như nuôi trồng thủy sản (NTTS) có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Sản lượng thủy sản tại Quảng Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 5 qua (2011-2015) với mức tăng bình quân là 8,05%/năm. Chính vì vậy trong những năm qua NTTS được xem là một thế mạnh của tỉnh Quảng Nam, là nghề sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở vùng nông thôn và ven biển, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho người lao động.

Tam Kỳ là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp huyện Núi Thành, phía Bắc giáp huyện Phú Ninh và Thăng Bình, phía Tây giáp huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông. Tam Kỳ là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học của tỉnh Quảng Nam. Thành phố Tam Kỳ có 4 con sông chính là sông Trường Giang, sông Tam Kỳ, sông Bàn Thạch và Sông Đầm trong đó sông Trường Giang là sông nước mặn và nước lợ chạy sát biển nối cửa An Hòa với cửa Đại – Hội An.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước các bất lợi của môi trường và tình hình thời tiết diễn biến rất phức tạp, ngành NTTS ở Quảng Nam nói chung và TP Tam Kỳ nói riêng đã và đang phải gánh chịu những tác động rất lớn. Tại Tam Kỳ, hiện vẫn còn 575 ha diện tích vùng triều chưa được người dân thả giống thủy sản để nuôi. Diện tích chưa nuôi này chủ yếu là những vùng có điều kiện nuôi chưa tốt như nguồn nước không chủ động, không đảm bảo chất lượng, hệ thống ao nuôi chưa đảm bảo…

Hơn nữa, các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường tới hệ thống tài nguyên – môi trường cũng như các đối tượng bị tổn thương, đặc biệt là ngành NTTS và khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên, xã hội ở TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam chưa toàn diện và chi tiết. Do đó, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến nuôi trồng thuỷ sản tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó để phát triển”.

2. Mục tiêu của luận văn

2.1. Mục tiêu tổng quát

Kết quả của đề tài góp phần phát triển bền vững ngành NTTS thành phố Tam Kỳ trước các tác động bất lợi của thiên nhiên và con người.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Xác định được các yếu tố môi trường ảnh hưởng mạnh đến NTTS như xâm nhập mặn, gia tăng nhiệt độ, lượng mưa, pH và NH3 tại một số xã, phường TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

– Đánh giá được tác động của một số yếu tố môi trường như xâm nhập mặn, gia tăng nhiệt độ, lượng mưa, pH và NH3 đến NTTS tại TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

– Đề xuất các giải pháp NTTS hợp lí, thích ứng với tác động bất lợi của tự nhiên và con người.

3. Bố cục của luận văn

Luận văn bao gồm 68 trang với các phần sau:

Mở đầu 4 trang

Chương 1. Tổng quan tài liệu 23 trang.

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 6 trang.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận 33 trang.

Kết luận và kiến nghị 2 trang.

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN THẾ GIỚI

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở VIỆT NAM

1.3. TÌNH HÌNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN THẾ GIỚI, VIỆT NAM VÀ THÀNH PHỐ TAM KỲ

1.3.1. Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới

1.3.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản ở nước ta

1.3.3. Tình hình nuôi trồng thủy sản tại Tam Kỳ

Thành phố Tam Kỳ có 5/13 xã, phường có nghề NTTS (chủ yếu là nước lợ) là Tam Phú, Tam Thăng, Tam Thanh, An Phú, Hòa Hương, trong đó xã Tam Phú có diện tích nuôi lớn nhất và phường Hòa Hương có diện tích nhỏ nhất. Khởi điểm vào những năm 90, nghề NTTS ở Tam Kỳ đã có những biến động lớn. Từ hình thức quảng canh, nghề NTTS Tam Kỳ đã chuyển sang hình thức bán thâm canh với đối tượng tôm sú và sau đó tôm thẻ chân trắng. Năm 2009 là năm đạt sản lượng tôm thẻ chân trắng cao nhất từ trước đến nay, lên đến 930,2 tấn, năng suất 4,65 tấn/ha. Một số đối tượng nuôi khác cũng được đầu tư như cá diêu hồng, rô phi đơn tính…

1.4. TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM

1.4.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ

Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng cho quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật nói chung và các loài NTTS nói riêng. Mỗi loài có khoảng nhiệt độ thích ứng riêng. Khả năng chống chịu của chúng nằm trong khoảng giới hạn nhất định. Sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm sản lượng thủy sản trong các ao hồ. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng khi nhiệt độ tăng lên làm cho hàm lượng oxi trong nước giảm mạnh vào ban đêm, do sự tiêu thụ quá mức của các loài thực vật thủy sinh, hoặc quá trình phân hủy hợp chất hữu cơ. Sự suy giảm hàm lượng oxi làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của loài nuôi, tôm có thể bị chết hoặc chậm lớn. Điều này dễ nhận thấy qua hiện tượng phú dưỡng của các ao nuôi; cá nổi đầu vào buổi sáng trong các ao nuôi; thủy triều đỏ và tảo chết hàng hoạt ở các vùng ven biển.

1.4.2. Ảnh hưởng của lượng mưa

Nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công cho phát triển NTTS. Hiện tượng nắng nóng kéo dài đã làm cạn kiệt nguồn nước ngọt, làm tăng mức độ bốc hơi nước trong các ao nuôi. Đối với các ao nuôi gần nguồn cung cấp nước hoặc nuôi lồng bè trong vực nước lớn (sông suối, biển) thì ảnh hưởng này không lớn, nhưng đối với ao nuôi cách xa nguồn nước thì NTTS bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Miền Trung là nơi có số ngày nắng, mức độ bốc hơi nước lớn nhất cả nước. Một số ao nuôi chưa đến thời gian thu hoạch đã bị cạn kiệt nguồn nước trong ao, nên người dân phải thu hoạch sớm hoặc bỏ nuôi. Tôm, cá chưa đến kích thước thương phẩm bán với giá quá rẻ hoặc làm thức ăn cho gia súc và gia cầm.Vào những tháng mùa mưa, nước trong hồ dâng cao, gây xáo trộn mùa vụ NTTS.

1.4.3. Ảnh hưởng của độ mặn

Khi độ mặn bị biến đổi đột ngột thì tôm, cá nuôi chịu một áp lực rất lớn, có thể không tự điều chỉnh được và có thể chết. Mưa nhiều chính là yếu tố gây giảm độ mặn, làm phân tầng nước trong ao nuôi, oxy hòa tan không thể khuếch tán xuống tầng đáy, tôm, cá nuôi không thể hô hấp tốt, dẫn đến bị suy yếu. Tình trạng này gặp hầu hết ở các vùng nuôi khi thời tiết chuyển mùa. Độ mặn quá thấp, tôm dễ bị các bệnh mềm vỏ, chất lượng thịt kém (không chắc) và khả năng đề kháng, phòng bệnh kém. Độ mặn quá cao, tôm dễ bị nhiễm các bệnh do vi khuẩn và chậm lớn do tôm khó lột xác.

1.4.4. Ảnh hưởng của pH

pH là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng nước ao nuôi, pH thay đổi sẽ ảnh hưởng đến các yếu tố lý, hóa, sinh của môi trường và sức khỏe của các đối tượng thủy sản. pH thích hợp cho ao nuôi tôm là 7,2 đến 8,8; tốt nhất là trong khoảng 7,5 đến 8,5. Biến động pH trong ngày không quá 0,5; nếu biến động lớn hơn 0,5 làm tôm cá bị sốc, yếu và bỏ ăn. pH quá cao hay quá thấp kéo dài sẽ làm tôm cá chậm tăng trưởng, còi cọc, dễ nhiễm bệnh, hao hụt.

1.4.5. Ảnh hưởng của NH3

Khi amoniac trong nước tăng, amoni bài tiết sẽ giảm dẫn đến nồng độ amoniac trong máu tăng lên và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh lý của tôm. Phản ứng đầu tiên của tôm thẻ chân trắng là tôm giảm hoặc ngừng ăn. Trong NTTS, amoniac là chất độc hại vì chúng có khả năng hòa tan chất béo cao và khuếch tán dễ dàng vào cơ thể tôm qua màng tế bào. Khi NH3 trong môi trường vượt tiêu chuẩn cho phép, tôm có thể chết.

1.5. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TỄ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.5.1. Đặc điểm tự nhiên

1.5.2. Các nguồn tài nguyên

CHƯƠNG 2

THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1.1. Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 1/ 2016 đến tháng 10 /2016.

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

– Các địa phương có NTTS chịu ảnh hưởng trực tiếp về chế độ thủy văn của các con sông lớn của TP Tam Kỳ.

2.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố môi trường chi phối hoạt động nuôi tôm thẻ Chân trắng của các xã, phường TP Tam Kỳ.

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

Công tác khảo sát thực địa, thu thập vật mẫu được tiến hành trong 8 đợt thu mẫu từ tháng 2 đến tháng 9 năm 2016 với 10 điểm thu mẫu.

2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tác động của các yếu tố môi trường ảnh hưởng mạnh đến NTTS như xâm nhập mặn, gia tăng nhiệt độ, lượng mưa, pH và NH3 tại một số xã, phường TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Các giải pháp NTTS hợp lí, thích ứng với tác động bất lợi của tự nhiên và con người.

2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1. Phương pháp hồi cứu, tổng hợp tài liệu

Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình khai thác và NTTS được cung cấp bởi UBND thành phố Tam Kỳ, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam…

2.4.2. Phương pháp khảo sát điều tra thực địa

– Dựa vào bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000, bản đồ tỷ lệ 1/100.000 và bản đồ hiện trạng sử dụng đất khu vực để xác định vị trí điều tra ngoài thực địa.

– Ghi nhận kỹ lưỡng những đặc trưng địa điểm nghiên cứu.

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến nuôi trồng thuỷ sản tại thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó để phát triển
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến nuôi trồng thuỷ sản tại thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp ứng phó để phát triển

2.4.3. Phương pháp đo đạc, tính toán độ mặn các sông

– Đánh giá mức độ, diễn biến xâm nhiễm mặn trên khu vực nghiên cứu dựa vào số liệu của các trạm quan trắc KTTV trong các năm gần đây, đồng thời đo đạc bổ sung các thông tin còn thiếu trong năm 2016 để xem xét biến động của độ mặn theo thời gian và không gian; toàn bộ số liệu thu thập đo đạc được lấy và tính toán là số liệu bình quân thủy trực cụ thể:

* Xác định thuỷ trực lấy mẫu, phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu nước sông theo phương pháp tích điểm. Tại thuỷ trực lấy mẫu bình lấy mẫu theo tầng kiểu đứng để lấy mẫu nước sông ở 3 điểm: Mặt, giữa, đáy.

* Đo độ mặn và tính toán: Dùng máy đo độ mặn AZ 8602 để xác định độ mặn g/L (0/00) của mẫu.

2.4.4. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm

Lấy mẫu tại các vùng nuôi tôm khác nhau và phân tích một số chỉ tiêu hóa, lí của môi trường nước.

* Nhiệt độ, pH, độ mặn môi trường nước đo trực tiếp tại các điểm thu mẫu bằng máy đo độ mặn AZ 8602.

* Phương pháp xác định NH3: Dùng phương pháp test nhanh với bộ dụng cụ và thuốc thử.

– Rửa ống nghiệm bằng mẫu nước cần kiểm tra. Châm mẫu nước cần kiểm tra vào đúng ống nghiệm theo đúng quy định (5ml).

– Nhỏ 2 giọt nước thuốc Amoniac – 2 và lắc đều.

– Nhỏ 2 giọt nước thuốc Amoniac – 3 và lắc đều.

– Nhỏ 4 giọt nước thuốc Amoniac – 4 và lắc đều.

– Để 20 phút và đem so sánh với bảng màu để biết kết quả.

2.4.5. Phương pháp chuyên gia và cộng đồng

Phương pháp này được sử dụng nhằm khai thác thông tin từ các chuyên gia địa phương, người có kinh nghiệm trong nghề lâu năm. Phỏng vấn sâu cá nhân cho phép thu được các thông tin có độ chính xác cao và chuyên sâu trong lĩnh vực nghiên cứu. Đồng thời bổ sung được các số liệu và đối chứng số liệu lý thuyết và thực tế tại địa phương.

2.4.6. Phương pháp xử lý thông tin

Dựa trên tài liệu, số liệu đã thu thập, tiến hành tổng hợp, lựa chọn và phân tích các số liệu, dữ liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Các thông tin dữ liệu định lượng được mã hóa, lưu trữ và xử lí phân tích định lượng bằng phần mềm Excel.

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1. Nhiệt độ

Nhiệt độ môi trường nước tại các ao nuôi tại điểm T9 (phường Hòa Hương) và T10 (phường An Phú) thấp hơn các ao nuôi điểm T6 (xã Tam Phú), điểm T7 (xã Tam Thăng) và T8 (xã Tam Thanh) và trong cùng thời điểm đo do có độ che phủ với mặt nước lớn hơn. Trong tháng 2 có sự xuất hiện của đợt không khí lạnh tăng cường nên nhiệt độ nước khá thấp, dao động 19,60C -21,90C. Các đợt đo mùa khô (tháng 5 và tháng 6) nhiệt độ nước khá cao, có thời điểm đạt giá trị 34,20C tại điểm đo T8 xã Tam Thanh.Sự gia tăng nhiệt độ môi trường làm gia tăng nhiệt độ môi trường nước nhất là tại các ao nuôi độ che phủ thấp tại các điểm T6, T7 và T8 (bảng 3.1).

Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu hóa lí môi trường nước

khu vực nghiên cứu

Đợt (tháng)Điểm thu mẫu nướcChỉ tiêu môi trường
Độ mặn

(0/00)

pHNH3 (mg/l)Nhiệt độ nước (oC)
1 (II)T17.27.6020.9
T26.16.3021.5
T37.98.2020.6
T43.26.5019.8
T53.16.4019.6
T68.17.40.321.2
T77.07.60.121.3
T85.17.50.221.9
T93.56.4021.5
T103.46.51021.5
2 (III)T18.57.2022.3
T27.78.0022.1
T38.97.30.222.6
T43.26.6020.4
T53.06.3020.1
T65.97.7022.2
T77.07.3022.5
T87.97.6022.7
T93.76.4022.1
T103.36.3022.0
3 (IV)T17.27.3028.3
T26.17.60.128.1
T37.97.5028.5
T43.16.2028.9
T53.06.4028.7
T66.38.80.129.2
T76.37.10.129.0
T88.07.60.129.4
T94.87.2029.6
T104.17.1029.4
4 (V)T18.08.20.233.3
T28.17.6033.1
T310.18.00.233.3
T43.26.7032.5
T53.26.5032.7
T66.28.30.233.9
T76.08.0034.0
T88.07.8034.2
T95.67.20.233.8
T105.37.00.133.6
5 (VI)T19.27.8033.4
T29.08.00.133.2
T311.27.6033.7
T66.28.80.134.2
T76.28.80.233.1
T88.18.7033.2
6 (VII)T18.57.6032.4
T28.07.6032.1
T39.88.30.332.7
T44.07.2031.1
T54.37.1031.5
T67.87.80.133.4
T76.97.30.133.1
T87.08.10.233.6
T94.96.8032.9
T103.27.3033.0
7 (VIII)T19.27.80.130.9
T28.37.6030.6
T311.77.5030.3
T44.26.6029.7
T54.06.7029.6
T66.07.8031.8
T77.07.2031.6
T87.08.00.131.8
T94.17.50.131.3
T104.87.3031.2
8 (IX)T19.08.0031.2
T28.07.8030.9
T39.07.6030.4
T43.86.9030.2
T53.66.9030.3
T67.67.40.131.2
T76.6730.131.2
T87.57.00.131.4
T95.07.30.031.3
T104.77.4031.0

Tại TP Tam Kỳ, hầu hết các ao nuôi có diện tích và độ sâu nhỏ nên biến thiên nhiệt độ nước theo nhiệt độ không khí xảy ra nhanh hơn. Nhiệt độ nước tăng dần từ tháng 2 đến tháng 8, đạt cực đỉnh ở tháng 5, 6 (hình 3.1) và đã vượt quá giới hạn nhiệt độ cho phép đối với đối tượng nuôi chính tại khu vực là tôm thẻ chân trắng (hình 3.1).

Qua đợt khảo sát tháng 5 tại khu vực xã Tam Phú, Tam Thanh và Tam Thăng có nhiệt độ nước đo được khá cao (33,90C – 34,20C), đã vượt quá giới hạn chịu đựng của các loài thủy sản.

3.1.2. Lượng mưa

Lượng mưa là một trong những yếu tố quan trọng của môi trường, chế độ mưa có liên quan mật thiết đến tài nguyên nước của vùng, ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động kinh tế – xã hội, an ninh môi trường của khu vực, đặc biệt là ngành NTTS. Kết quả điều tra khu vực nghiên cứu cho thấy 92.22% (n=90) người dân đều đồng ý rằng trong những năm gần đây, lượng mưa tại Tam Kỳ có xu hướng tăng lên nhưng thời gian mưa lại rút ngắn, tập trung vào mùa mưa và giảm rõ rệt vào các tháng cao điểm mùa khô.

Chính xu thế biến đổi lượng mưa không đều giữa các tháng đã ảnh hưởng đến chất lượng nước trong các ao hồ NTTS theo hướng mặn hoặc ngọt hóa. Ngoài ra, lượng mưa tăng trong mùa mưa gây ra những trận lũ lụt ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống bờ ao nuôi không được xây dựng kiến cố tại TP Tam Kỳ.

Trong mùa khô, lượng mưa phát sinh tại chỗ cũng như lưu lượng nước từ thượng nguồn đổ về các sông giảm, cộng với lượng bốc hơi cao kết hợp với đặc điểm giữ nước kém của đất cát ven biển nên xã Tam Thanh ven biển rất khó khăn về nước sinh hoạt do hạn hán kéo dài, tình trạng xâm nhập mặn tại các vùng cửa sông đi sâu vào nội đồng các xã Tam Thăng và Tam Phú.

3.1.3. Xâm nhập mặn

Kết quả trên cho thấy độ mặn biến động mạnh giữa các tầng nước, tầng đáy độ mặn thường cao hơn nhiều so với tầng mặt, giữa các điểm trên cùng một triền sông trong cùng một thời gian khảo sát cũng khác nhau. Sông Trường Giang đoạn đầu sông phía nam đổ ra biển tại cửa Lỡ An Hoà huyện Núi Thành, đầu sông phía bắc đổ ra biển tại cửa Đại, Thành phố Hội An nên tại các điểm T2 và T3 độ mặn cao hơn điểm T1 (xem bảng 3.4).

Bảng 3.4. Kết quả tổng hợp đo đạc độ mặn trên các sông

ThángT1T2T3Vụ mùa
26.17.27.9Vụ I:

6-9 (0/00)

37.78.58.9
58.18.010.1Vụ II:

8-11 (0/00)

69.09.211.2

Mặt khác, kết quả đo đạc cho thấy, độ mặn nước nuôi tôm cho vụ II tại Tam Kỳ có xu hướng cao hơn vụ I. Điều này cũng phù hợp với xu thế gia tăng nhiệt độ tại các tháng 5 và tháng 6 tại Tam Kỳ.

3.1.4. pH của nước

pH của nước chỉ độ axit hay kiềm của nước và thông qua đó người nuôi trồng có thể điều chỉnh giá trị pH phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của động vật thủy sinh. Các giá trị pH trung bình ở các điểm thu mẫu của hai mùa vụ của năm đều có đặc tính hơi kiềm và nằm trong giới hạn cho phép về chất lượng nước cấp vào ao nuôi.

Tại các điểm đo, sự chênh lệch pH giữa các mẫu nước dao động 6,3-8,8; pH có giá trị trung bình 7,35. Trị số pH tại các điểm đo ở các xã trọng điểm NTTS Tam Phú, Tam Thanh và Tam Thăng cao hơn so với phường An Phú và Hòa Hương; trong đó xã Tam Phú có trị số pH cao nhất, trung bình 7,73.

Giá trị pH buổi sáng thường thấp hơn buổi chiều và cao nhất vào buổi trưa, sự dao động pH trong ngày không quá 0,5 đơn vị. Tuy nhiên khi đo tại các điểm đo T6, T7 xã Tam Phú và Tam Thăng trong tháng 5 khi nhiệt độ cao sự chênh lệch pH đã vượt quá giới hạn cho phép. Tam Phú có biên độ dao động pH trong ngày 8,3 – 9,2 và Tam Thăng 8,0 – 8,8. Chính vì vậy nông hộ tại đây đã phải thay nước trong ao và tạt vôi sunfatcanxi (CaSO4) liên tục để giảm sự dao động pH nước ao nuôi.

3.1.5. NH3 trong nước

NH3 là một chất gây độc đối với các loài hải sản và thủy sinh vật trong nước. NH3 là một trong những chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu dinh dưỡng trong ao nuôi. Đồng thời chính NH3 cũng là nguyên nhân gây nên sự phú dưỡng nguồn nước khi chúng tích lũy trong nước với hàm lượng khá cao.

Sự gia tăng NH3 liên quan đến sự gia tăng pH. Khi pH tăng, NH3 tự do tăng so với NH4+. Nhiệt độ nước tăng cũng làm tăng tỉ lệ NH3 nhưng ảnh hưởng của nhiệt độ ít hơn của pH. Và trong hầu hết các thủy vực nhiệt độ dao động không quá lớn, nên trong NTTS việc đánh giá mức độ độc của khí amoni có liên quan trực tiếp đến pH của nước. Kết quả đo đạc mặc dù hàm lượng NH3 trong các ao nuôi chưa vượt tiêu chuẩn cho phép (< 0,3 mg/l) nhưng so với vùng nước sông thì cao hơn nhiều lần. Đó là dấu hiệu của sự tích lũy NH3 trong môi trường nước bởi hoạt động nuôi tôm gây ra. Sự tích lũy này tương quan tỉ lệ thuận với diện tích nuôi trồng.

3.2. BIỂU HIỆN TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN NTTS THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

3.2.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến NTTS

Nhiệt độ nước trong các ao hồ phụ thuộc vào thời tiết của từng địa phương, khi nhiệt độ không khí lên cao theo xu thế biến đổi khí hậu. Quá trình này diễn ra trong một thời gian dài làm nhiệt độ nước trong hệ thống ao hồ cũng tăng lên, tuy nhiên sự biến động nhiệt độ nước trong ao hồ chậm hơn so với không khí. Đỉnh điểm nắng nóng rơi vào tháng 5 và tháng 6, nắng nóng nhiều ngày làm nước sông, ao nuôi tăng lên khá rõ.

Năm 2016, với tổng diện tích đất nuôi tôm rộng 261,7 ha, TP Tam Kỳ có điều kiện thuận lợi cho phát triển NTTS. Diện tích NTTS tăng trở lại từ năm 2015 sau khi sụt giảm ở năm 2014. Tuy nhiên qua các đợt khảo sát tháng tháng 5 năm 2016, chúng tôi ghi nhận còn rất nhiều ao nuôi của bà con nông dân đang bị bỏ hoang. Hơn nữa, nắng nóng làm cho nhiệt độ nước tại thời điểm đang thả nuôi tăng lên, chính điều này đã và đang ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động sinh lý và sinh trưởng của các đối tượng NTTS. Sự thay đổi nhiệt độ đã làm thay đổi tốc độ trao đổi chất, rối loạn hô hấp, làm mất cân bằng pH máu và làm thay đổi chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu của tôm. Tại Tam Kỳ, mỗi năm có 2 vụ NTTS, trong đó vụ I thường bắt đầu vào đầu tháng 2 và vụ II bắt đầu vào tháng 6 nhưng diện tích thả nuôi vụ 2 hầu như giảm hơn vụ I, rất nhiều ao nuôi đã bị bỏ hoang. Thực trạng này đúng với diễn biến thời tiết tại khu vực nghiên cứu, cụ thể vào cuối tháng 5, đầu tháng 6 lượng mưa khan hiếm, nhiệt độ môi trường rất cao (390C) làm nhiệt độ môi trường nước ao nuôi nhỏ cũng tăng theo, có thời điểm ghi nhận nhiệt độ nước lên đến 34.20C. Trong khi đó giới hạn chịu nhiệt cao nhất cho sự sinh trưởng tôm thẻ chân trắng là 330C đã gây sốc cho tôm non mới thả (bảng 3.1). Thêm vào đó sự chênh lệch nhiệt độ quá lớn giữa ngày và đêm làm tôm bị sốc và chết rất nhiều ở các địa phương khi điều tra. Điều này chính là nguyên nhân làm diện tích NTTS vụ II sụt giảm hơn so với vụ I.

3.2.2. Ảnh hưởng của lượng mưa đến NTTS

Các hoạt động NTTS chịu ảnh hưởng trực tiếp xu thế thay đổi lượng mưa. Trong những ngày mưa nhiều, tôm thường ăn rất ít dẫn đến sự dư thừa thức ăn trong ao nuôi, môi trường ao bị ô nhiễm, dịch bệnh vì thế gia tăng. Tại khu vực nghiên cứu, bờ ao không được xây dụng kiên cố mà chỉ là bờ ruộng được đắp đất, khi mưa lớn đất bị rửa trôi từ bờ ao đã làm cho nước bị đục là một trong những nguyên nhân làm tảo lục chết và không phát triển được. Mưa nhiều làm môi trường nước trong ao không ổn định, lượng oxy hòa tan thấp, tảo chết hàng loạt gây nhiễm bẩn hữu cơ. Chính điều này đã tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, gây sốc bất lợi cho tôm nuôi, sản lượng tôm sụt giảm rõ rệt giai đoạn này.

Ở địa bàn nghiên cứu, NTTS tập trung chủ yếu ở Tam Phú (108 ha so với TP Tam Kỳ 261,7 ha chiếm 41%) các ao nuôi và ruộng trồng lúa nằm chung trên một khu vực. Khi có mưa dông, nước mưa tràn vào ao dẫn đến sự lan truyền các chất độc hại trong nông nghiệp (chủ yếu là hóa chất bảo vệ thực vật) diễn ra mạnh trong các ao nuôi và gây ngộ độc đối với tôm, gia tăng dịch bệnh.

3.2.3. Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến NTTS

Khu vực ven biển, bãi ngang thành phố Tam Kỳ gồm có các xã Tam Phú, Tam Thanh và Tam Thăng, trong đó xã Tam Thanh tiếp giáp với biển với đường bờ 8 km, 02 xã còn lại là vùng bãi ngang ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều. Ba xã ven biển, bãi ngang của TP Tam Kỳ có diện tích là 43,56 km2, chiếm 43,9% tổng diện tích toàn thành phố. Với đặc điểm vị trí tiếp giáp trực tiếp với biển và ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều, do đó khu vực này chịu nhiều tác động hiện tượng nước biển dâng và xâm nhập mặn. Trong giai đoạn 2009 – 2015, diện tích NTTS tại Tam Thanh giảm hơn một nửa, từ 120 ha năm 2009 giảm hơn 50% xuống còn 45 ha năm 2015.

NTTS là ngành rất dễ bị tác động bởi các loại hình thiên tai, đặc biệt là bão. Hiện tượng nước biển dâng, trong những điều kiện có xuất hiện những đợt sóng lớn trong bão có thể đánh vỡ các đê chắn cát, làm hỏng thiết bị và thay đổi độ mặn của của nước. Hầu hết các xã Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Phú là khu vực NTTS chính của thành phố đã bị ảnh hưởng nặng nề của hiện tượng nói trên. Trong tương lai, ảnh hưởng của hiện tượng nước biển dâng sẽ làm thay đổi căn bản độ mặn trên các sông nhánh của địa phương, diện tích nuôi thủy sản nước lợ và nước ngọt của địa phương sẽ phải bố trí để phù hợp với xu thế gia tăng độ mặn trên các sông nhánh.

3.2.4. Ảnh hưởng của pH đến nuôi trồng thủy sản

pH là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng.

Kết quả đo đạc cho thấy 3/76 mẫu nước (chiếm tỉ lệ 3.95%) có trị số pH cao hơn pH thích hợp cho tôm (7.5-8.5), tập trung tại hộ nuôi xã Tam Phú, Tam Thăng và Tam Thanh, là những địa phương lấy nước nuôi từ sông Trường Giang. Trong các cuộc khảo sát tháng 4 và tháng 5 tại vùng NTTS thành phố Tam Kỳ, chúng tôi nhận thấy tại các xã này có rất nhiều ao nuôi có tảo sinh trưởng và phát triển mạnh đặc biệt là tảo lam làm xanh cả mặt hồ, làm thay đổi trị số pH nước ao theo mối tương quan thuận. Khi pH > 8.3 thì CO2 không tồn tại nhưng tảo vẫn có thể lấy cacbon vô cơ từ bicarbonat cho quá trình quang hợp. Loại bỏ cacbon từ bicarbonat dẫn đến kết quả giải phóng ion carbonat vào môi trường nước và sự thủy phân carbonat là nguyên nhân làm gia tăng pH. pH tăng cao, đã bắt gặp hiện tượng tôm cá nổi đầu vào lúc sáng sớm do sự phát triển mạnh của tảo lam gây thiếu hụt oxy, làm tôm bị ngạt. Đồng thời chúng tiết ra độc tố gây bệnh cho tôm.

3.2.5. Ảnh hưởng của NH3 đến nuôi trồng thủy sản

NH3 là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống, sinh trưởng đối với thủy sinh vật. NH3 trong máu và các mô tăng làm pH máu tăng dẫn đến rối loạn những phản ứng xúc tác của enzyme và độ bền vững của màng tế bào, làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào đưa đến tôm chết vì không điều khiển được quá trình trao đổi muối giữa cơ thể và môi trường ngoài. NH3 cao cũng làm tăng tiêu hao oxy của mô, làm tổn thương mang và làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu.

Qua kết quả đo đạc mặc dù NH3 trong các ao nuôi chưa vượt tiêu chuẩn cho phép nhưng so với vùng nước sông thì cao hơn nhiều lần. Đó là dấu hiệu của sự tích lũy NH3 trong môi trường nước bởi hoạt động nuôi tôm gây ra. NH3 thích hợp nhất cho tôm là 0.1 mg/l nhưng qua kết quả đo đạc thực tế tại vùng này NH3 đã vượt quá khoảng thích hợp cho tôm và có giá trị trung bình khoảng 0.11 mg/l. Tam Phú luôn là địa phương dẫn đầu về diện tích NTTS. Kết quả này phù hợp với điều tra năm 2016, xã Tam Phú có diện tích nuôi tôm lớn nhất 108 ha so với TP Tam Kỳ 261,7 ha chiếm 41% nên sự tích lũy NH3 cao hơn so với các xã, phường khác.

Kết quả hồi quy số liệu qua các năm về diện tích và năng suất nuôi tôm tại Tam Kỳ cũng cho thấy bị sụt giảm rất mạnh trong những năm gần đây do diện tích tôm nuôi bị bệnh có chiều hướng gia tăng, chính điều này đã gây thất thoát rất lớn đối với năng suất và sản lượng tôm nuôi tại khu vực này.

3.2.6. Ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường khác đến nuôi trồng thủy sản tại Tam Kỳ

Tại Tam Kỳ, hầu hết các ao nuôi là tự phát, khi hạ tầng ao nuôi chưa đảm bảo. Vùng nuôi tôm chưa được quy hoạch, thiếu hệ thống kênh cấp, kênh tiêu, thiếu ao lắng để xử lý nước. Trong những năm qua, tại các xã Tam Thanh, Tam Thăng và Tam Phú, người dân thường lấy nước trực tiếp từ sông Trường Giang vào ao để nuôi tôm và thải nước nuôi không qua xử lí từ ao ra sông Trường Giang mà không hề có ao chứa lắng hay xử lí nước thải. Chính điều này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Kết quả hệ thống sông Trường Giang bị ô nhiễm nặng và đây lại là nguồn nước phục vụ cho NTTS tại khu vực.

Vào những ngày nắng nóng, lượng nước bốc hơi nhiều, nông dân ở đây mỗi tuần một lần phải châm thêm 20% lượng nước trong ao từ các dòng sông. Điều này đã gia tăng sự lây lan dịch bệnh theo dây chuyền ao nuôi- sông – ao nuôi, giảm năng suất tôm nuôi tại các địa phương này.

Hiện tượng này cũng xảy ra tại phường Hòa Hương khi nguồn nước nuôi tôm lấy từ sông Tam Kỳ, trong khi tại đây hoạt động nuôi cá lồng bè diễn ra trên sông đã góp phần gây ô nhiễm nguồn nước. Các chủ nuôi cá ngoài sử dụng bột thức ăn công nghiệp còn dùng cả nội tạng động vật, phân heo, bò làm thức ăn cho cá, khiến môi trường nước và không khí bị ô nhiễm, năng suất NTTS tại Hòa Hương cũng sụt giảm đáng kể.

Trong khi đó phường An Phú nguồn nước phục vụ cho NTTS chủ yếu là sông Bàn Thạch với độ mặn khá thấp (2-40/00) (bảng 3.1) người dân phải đóng thêm giếng ngầm độ sâu hơn 12 m để tăng độ mặn của nước phục vụ nuôi tôm, nguồn nước ít bị ô nhiễm nên hiệu quả kinh tế cao và tôm ít bị bệnh hơn những hộ nuôi tôm vùng triều, lấy nước từ sông Trường Giang.

Tại các xã NTTS Tam Kỳ, bên cạnh xuất hiện Hội chứng gan tụy cấp tính (AHPNS), tôm bị dịch bệnh đốm trắng do virus gây ra (White Spot Syndrome Virus) cũng rất phổ biến. Hiện tượng này xảy ra mạnh vào đầu vụ I khi có những đợt không khí lạnh kéo dài trong tháng 2. Khi nhiễm bệnh tôm bỏ ăn và chết sau 3-10 ngày xuất hiện đốm trắng. Điều tra về sự sụt giảm năng suất, sản lượng NTTS mà chủ yếu là nuôi tôm hơn 95% nông hộ (n=90) đều cho rằng sự xuất hiện dịch bệnh trong những năm gần đây làm tổn thất rất lớn đối với hoạt động nuôi tôm.

Thu thập số liệu điều tra đã cho thấy, tôm bị bệnh là một vấn đề đáng lo ngại tại Tam Kỳ xuất phát từ tác động của các yếu tố môi trường trong đó có ô nhiễm nguồn nước. Diện tích tôm bị bệnh trong năm 2016 chiếm 57,5% tổng diện tích thả nuôi trên địa bàn thành phố. Trong đó có 2 xã bị ảnh hưởng rất mạnh là Tam Thăng với 28 ha chiếm 50,91% và Tam Phú có 29 ha chiếm 53,70% .

Phạm vi tôm bị bệnh lan rộng trên địa bàn xã Tam Thăng và Tam Phú; trong đó Tam Thăng là 34/90 hộ chiếm 37,78%, nghiêm trọng hơn ở Tam Phú với 78/150 hộ chiếm 55,70%. Số hộ có tôm nuôi bị bệnh đã chiếm hơn 35% tổng số hộ nuôi tại TP Tam Kỳ. Xã Tam Phú là xã trọng điểm nuôi tôm của thành phố nhưng vụ I diện tích thả nuôi cũng chỉ khoảng 55 ha trên tổng số 94 ha diện tích mặt nước, chiếm 58.5%. Từ đầu năm 2016, nhiều gia đình không dám đầu tư nuôi tôm thẻ chân trắng trên các diện tích nuôi tôm quen thuộc do trước đó vào năm 2015 dịch bệnh phát triển mạnh, doanh thu không bù được chi phí, nhiều nông hộ rơi vào cảnh trắng tay.

3.3. GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ ĐỂ PHÁT TRIỂN

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các tác động hiện tại và tương lai của các yếu tố môi trường lên phạm vi khu vực, đối tượng NTTS mà chủ yếu là nuôi tôm tại TP Tam Kỳ. Tác động này có thể được giảm nhẹ thông qua các biện pháp thích ứng hiệu quả của người nuôi và các tổ chức cộng đồng. Sau đây là các giải pháp được đề xuất qua quá trình nghiên cứu.

3.3.1. Giải pháp chung

a. Quy hoạch tổng thể vùng nuôi

Năm 2016, trên địa bàn thành phố Tam Kỳ có 5 địa phương NTTS, nhưng chỉ có 3 xã là Tam Thanh, Tam Thăng và Tam Phú là thuộc vùng quy hoạch nuôi tôm của thành phố, còn 2 phường là An Phú và Hòa Hương là nuôi bộc phát, chủ yếu tận dụng diện tích ao vườn thả nuôi với diện tích rất nhỏ. Do vậy quy hoạch tổng thể vùng nuôi được xem là giải pháp quan trọng hàng đầu đối với việc phát triển NTTS ở địa phương này.Việc quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất hoang hóa, đất bị nhiễm mặn sang nuôi tôm giúp dân tận dụng triệt để nguồn lực đất đai hiện có, bên cạnh đó giúp tạo thêm thu nhập cho người dân. Trước mắt khi quy hoạch sẽ chú trọng và đảm bảo được các yếu tố: hạ tầng vùng nuôi tránh bão lũ; thủy lợi; xử lý nước thải; con giống, thức ăn, thuốc thủy sản; lịch mùa vụ; khoa học – kỹ thuật; cán bộ chuyên trách thủy sản; xây dựng tổ quản lý cộng đồng và quy chế hoạt động.

b. Hoàn thiện hệ thống sản xuất

c. Giải pháp tín dụng

d. Công tác khuyến nông

e. Nâng cao dân trí và tạo việc làm cho người dân

f. Giải pháp về kỹ thuật, khoa học công nghệ

3.3.2. Giải pháp riêng cho từng hộ

Về thời vụ thả: Chỉ nuôi tôm các tháng mùa khô theo lịch thời vụ hằng năm của Thành phố từ tháng 3 đến tháng 6 là vụ I; vụ II từ tháng 6 kết thúc cuối tháng 9.

Về con giống: Mật độ thả giống trên địa bàn là 13-15 con/m2.

Về thức ăn: Hạn chế sử dụng thức ăn tươi gây ảnh hưởng đến môi trường ao nuôi. Tăng cường sử dụng thức ăn công nghiệp.

Về xây dựng cơ bản ban đầu và xử lý ao: Việc đầu tư xây dựng ao nuôi ban đầu càng kiên cố thì càng tránh được hiện tượng rò rỉ nước trong ao.

Vấn đề chăm sóc: Yêu cầu phải là lao động có kỹ thuật, có kinh nghiệm để có thể đáp ứng được yêu cầu của tôm trong từng giai đoạn cụ thể và phát hiện, xử lý kịp thời dịch bệnh xảy ra trong quá trình nuôi.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. KẾT LUẬN

Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến NTTS tại TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, chúng tôi có một số kết luận sau:

1. Nhiệt độ nước tại TP Tam Kỳ vào mùa khô vượt quá giới hạn chịu nhiệt đối với tôm thẻ chân trắng là nguyên nhân làm diện tích NTTS vụ II giảm hơn vụ I (giảm 16,35%).

2. Sự gia tăng NH3 ở một số ao nuôi tại Tam Kỳ là dấu hiệu tăng tích lũy chất hữu cơ trong môi trường, tăng diện tích tôm bị bệnh (chiếm 40,64%) và số hộ nuôi trồng bị bệnh (chiếm 38,72%).

3. pH có giá trị trung bình 7,35 và nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép nhưng đã có dấu hiệu gia tăng tại các ao nuôi Tam Phú và Tam Thăng (8,8).

4. Xâm nhập mặn diễn ra mạnh ở vụ II, một phần diện tích xã Tam Thanh đã bị ngập hoàn toàn. Lượng mưa tăng vào mùa mưa và giảm rõ rệt các tháng cao điểm mùa khô gây thiếu nước nuôi tôm (tháng 5,6).

5. Quy hoạch vùng NTTS tại các xã Tam Phú, Tam Thăng và Tam Thanh là giải pháp quan trọng hàng đầu để phát triển, trong đó nuôi tôm lót bạc trên cát theo hình thức thâm canh có ao lắng và ao xử lí nước thải đem lại hiệu quả cao, chất lượng nguồn nước được đảm bảo.

2. KIẾN NGHỊ

1. Ủy ban nhân dân TP Tam Kỳ cần có kế hoạch thường xuyên kiểm tra, giám sát, quan trắc chất lượng nước sông để có biện pháp kịp thời và hiệu quả, tránh những tác động xấu ảnh hưởng đến môi trường nước phục vụ cho sản xuất đặc biệt là NTTS.

2. Sớm triển khai và thực hiện đề án nuôi tôm theo mô hình VietGap tại vùng quy hoạch của xã Tam Thanh, xã Tam Thăng và Tam Phú, từng bước nâng cao năng suất, sản lượng NTTS tại Tam Kỳ để giảm thiểu ít nhất ảnh hưởng từ các yếu tố môi trường đến NTTS, góp phần phát triển bền vững ngành này trong tương lai.

3. Quá trình nghiên cứu cho thấy có sự tương tác của giữa các yếu tố môi trường nhiệt độ nước, độ mặn, pH và NH3 với nhiều yếu tố khác như độ kiềm, oxy hòa tan và các khí độc khác. Vì vậy ngoài tác động một số yếu tố môi trường đã đề cập cần nghiên cứu đồng thời tác động của tất cả các yếu tố môi trường đến NTTS tại Tam Kỳ.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KY THUAT\SINH THAI HOC\NGUYEN THI NHUNG\New folder

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *