Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua “Hoang tâm” và “Xác phàm”

Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua “Hoang tâm” và “Xác phàm”

Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua “Hoang tâm” và “Xác phàm”

1. Lý do chọn đề tài

1.1. Diễn ngôn (discourse) là một đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học như: ngôn ngữ học, xã hội học, nhân chủng học, triết học, tâm lí xã hội, nghiên cứu giao tiếp, phương pháp luận dân tộc, khoa học chính trị, văn hóa học,… Riêng ở lĩnh vực văn học, thời gian gần đây, khái niệm diễn ngôn đã bắt đầu xuất hiện trong các bài nghiên cứu, ở nhiều góc độ khác nhau. Nghiên cứu diễn ngôn là một cách tiếp cận văn chương mới, không chỉ dừng lại ở bề mặt văn bản mà là siêu văn bản nên đầy hứa hẹn.

1.2. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tính dục đã trở thành một chủ đề lớn của văn học nghệ thuật. Các nhà văn hiện đại đã chủ động vận dụng yếu tố tính dục để khám phá sự đa chiều, đa diện của hiện thực, bóc mở những ẩn ức khác nhau của đời sống nhân sinh. Trong tác phẩm văn học, tính dục không còn là điều phải né tránh mà đã được nhìn nhận một cách đầy đủ và khách quan dưới cái nhìn giàu tính nhân bản. Dưới mỗi nguồn sáng soi chiếu, tính dục lại phát ra những luồng tán sắc nhất định. Tính dục trong văn chương không chỉ dừng lại ở những yếu tố nhỏ lẻ mà đã trở thành các diễn ngôn tính dục, có tính đối thoại với các giá trị, lịch sử, văn hóa, đạo đức, tín ngưỡng… hiện tồn cố hữu trong đời sống. Thực tế đó đã đặt các nhà nghiên cứu văn học đứng trước một hướng tiếp cận mới: diễn ngôn tính dục.

1.3. Nguyễn Đình Tú là một nhà văn trẻ nhưng được đánh giá là “một nhà văn có nghề” khi sử dụng tính dục để mã hóa tư tưởng. Bởi vậy, giải mã tiểu thuyết của nhà văn này dưới góc độ diễn ngôn tính dục là một hướng nghiên cứu thú vị và có hiệu quả cho việc khai mở nhiều tầng giá trị ý nghĩa của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú.

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua “Hoang tâm” và “Xác phàm” để nghiên cứu. Chúng tôi mong sẽ góp một tiếng nói vào việc khẳng định diễn ngôn tính dục đã trở thành một loại diễn ngôn mới thực sự có giá trị. Đồng thời, qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi mong sẽ nêu bật được những nét khác biệt trong “kĩ thuật xử lí yếu tố tính dục” của Nguyễn Đình Tú so với các nhà văn đương thời. Đó là cơ sở để nhìn nhận, đánh giá, tôn vinh năng lực của nhà văn trẻ này.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Những biểu hiện của diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú trên hai phương diện nội dung và hình thức.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Hai tiểu thuyết Hoang tâm (NXB Hội nhà văn, 2013) và Xác phàm (NXB Trẻ, 2014) của Nguyễn Đình Tú.

4. Đóng góp của đề tài

Nếu thành công, luận văn sẽ góp phần tìm hiểu, khám phá, lí giải diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú trên hai phương diện nội dung và hình thức biểu hiện, đồng thời, thấy được những kí mã tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm qua các diễn ngôn tính dục trong hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm. Từ đó, luận văn góp phần khẳng định tài năng và sự đóng góp của nhà văn Nguyễn Đình Tú trong nỗ lực cách tân nền văn học Việt Nam đương đại.

5. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp hệ thống – cấu trúc

– Phương pháp phân tích – tổng hợp

– Phương pháp so sánh – đối chiếu

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú và diễn ngôn tính dục trong văn chương.

Chương 2: Tính dục – con đường giải mã bí ẩn của cõi người trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua “Hoang tâm” và “Xác phàm”.

Chương 3: Nghệ thuật kiến tạo diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua “Hoang tâm” và “Xác phàm”.

CHƯƠNG 1

TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ

VÀ DIỄN NGÔN TÍNH DỤC TRONG VĂN CHƯƠNG

1.1 Vài nét về diễn ngôn và diễn ngôn tính dục trong văn chương

1.1.1. Diễn ngôn

Diễn ngôn (Discourse) đã trở thành một đối tượng thu hút sự quan tâm của rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu như: ngôn ngữ học, xã hội học, triết học, văn hóa học, tâm lí xã hội,…

Khác với các ngành khoa học trên đây, diễn ngôn trong văn học tạo lập tri thức, biểu hiện năng lực cảm thụ cái đẹp, cách lí giải, cách cắt nghĩa thế giới và con người của chủ thể phát ngôn. Sự hình thành diễn ngôn chịu sự chi phối của các yếu tố như: thời đại, chính trị, văn hóa, đạo đức, ý thức hệ, thị hiếu thẩm mĩ, tâm lí,… Cho nên, khi nghiên cứu diễn ngôn văn học là chúng ta đi nghiên cứu hệ thống chủ thể diễn ngôn, trong đó chú trọng sự tác động qua lại giữa ba yếu tố: người viết, nhân vật và người đọc.

Diễn ngôn văn học là một hình thái nghệ thuật ngôn từ với sự thống nhất hữu cơ giữa tư tưởng, nội dung và hình thức nghệ thuật. Diễn ngôn văn học là diễn ngôn thứ sinh, được kiến tạo lại và thể hiện trong ngôn ngữ hình tượng (với hệ thống sự kiện, nhân vật, người kể chuyện, kết cấu, tình tiết, ngôn ngữ, các phương thức tu từ, giọng điệu, thế giới biểu tượng,…) chịu sự chi phối của hệ thống quan điểm, tư tưởng nhất định. Diễn ngôn văn chương có tính đối thoại với mọi tri thức, tôn giáo, đức tin, đạo đức, văn hóa, luật pháp, các ngưỡng giá trị… Như vậy, có thể hiểu: diễn ngôn trong nghiên cứu văn học là chiến lược phát ngôn nghệ thuật, thể hiện trong các nguyên tắc cấu tứ, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ để vượt thoát khỏi các hạn chế nhằm phát ra được tiếng nói mới, thể hiện tư tưởng mới trong chỉnh thể sáng tác.

Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua “Hoang tâm” và “Xác phàm”
Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua “Hoang tâm” và “Xác phàm”

1.1.2. Diễn ngôn tính dục

Tính dục ở loài người là năng lực giới tính, thể chất, tâm lý và sinh dục, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của nam giới và nữ giới. Tính dục là một khái niệm có nội hàm rộng, vừa phản ánh mối quan hệ giới tính, vừa chứa đựng những yếu tố hữu hình và ẩn giấu của cá nhân. Khác với tình dục (chỉ đề cập tới mối quan hệ giới tính, là cái biểu hiện ra bên ngoài của tính), tính dục (sexuality) không phải là hành vi cụ thể mà là một hiện tượng văn hóa, đó là một tạo tác mang tính lịch sử (theo Foucault).

Tính dục tồn tại trong tư cách là những diễn ngôn tính dục chỉ khi nó được tạo ra bởi những diễn ngôn nhằm hợp thức hóa những quan hệ quyền lực, những tương tác xã hội và văn hóa để thực hiện một dự đồ nào đó của chủ thể sáng tạo. Diễn ngôn tính dục được nhận diện dựa vào nội dung phát ngôn. Theo tiêu chí nội dung phát ngôn, diễn ngôn tính dục đồng đẳng với diễn ngôn kì ảo, diễn ngôn về bệnh điên, diễn ngôn hậu thực dân, diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn nữ quyền,…

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi đi đến một cách hiểu về diễn ngôn tính dục trong văn chương như sau: Diễn ngôn tính dục chỉ chiến lược phát ngôn nghệ thuật, thể hiện trong các nguyên tắc cấu tứ, xây dựng cốt truyện, nhân vật, thế giới biểu tượng, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu…lấy yếu tố tính dục làm phương tiện để nhằm thực hiện một dự đồ nào đó của chủ thể sáng tạo, phát ra được tiếng nói mới, thể hiện tư tưởng mới trong chỉnh thể sáng tác.

Tiếp cận diễn ngôn tính dục ở một tác phẩm nghệ thuật là con đường tiếp cận đời sống sâu kín của con người; bước vào tư tưởng thẩm mĩ, mô hình quan niệm con người, quan niệm về thế giới của chủ thể sáng tạo. Việc tìm hiểu về diễn ngôn tính dục cũng giúp ta nhận thấy những nguyên nhân chiều sâu trong việc kiến tạo và hình thành nên những quan niệm về con người trong một thời đại cụ thể.

1.2. Tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú trong dòng chảy tiểu thuyết mang khuynh hướng tính dục của văn học Việt Nam đương đại

1.2.1. Sự vận động của yếu tố tính dục trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Yếu tố tính dục trong văn chương có sự vận động qua từng giai đoạn văn học. Ban đầu chỉ là những yếu tố đơn lẻ, sau trở thành những diễn ngôn khoa học về tính dục. Sau Đổi mới, diễn ngôn khoa học về tính dục được mở rộng với nhiều biên độ. Đặc biệt, trong lĩnh vực tiểu thuyết đương đại Việt Nam đã hình thành một khuynh hướng sáng tác mới: khuynh hướng tính dục.

Khuynh hướng tiểu thuyết tính dục có sự phổ quát trên mọi phương diện/ đề tài của văn chương đương đại. Trong đó, sự xuất hiện của yếu tố tính dục trong tiểu thuyết ở đề tài lịch sử đã thực sự khuấy động, làm “dậy sóng” văn đàn. Việc bùng nổ các yếu tố tính dục trong các tiểu thuyết lịch sử sau đổi mới được gắn với tinh thần nhận thức lại lịch sử. Các tiểu thuyết thuộc đề tài lịch sử đã có bước chuyển mình mạnh mẽ từ diễn ngôn đạo lí sang diễn ngôn tính dục. Các tác giả đã chú ý nhiều đến biểu hiện của vô thức thông qua bản năng tính dục, đặc biệt là vô thức cá nhân, những ẩn ức, những nỗi ám ảnh trong chiến tranh. Đó là những điều mà trong văn học thời chiến, bên cạnh chủ nghĩa anh hùng tập thể chưa khai thác được.

Các nhà văn không chỉ tạo lập diễn ngôn tính dục trên mảnh đất lịch sử mà còn mở rộng biên độ với sự xuất hiện của tính dục ở đề tài đời tư – thế sự. Tính dục gắn với tâm linh, với sự tồn vong của văn hóa, với quá trình nhận thức bản thể… được các nhà văn chú trọng khám phá.

Như vậy, có thể khẳng định rằng trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam đã và đang hình thành một khuynh hướng sáng tác mới: Khuynh hướng tính dục. Cơ sở để tính dục trở thành một khuynh hướng trong sáng tác đã được nhiều nhà nghiên cứu lí giải theo những cách riêng, tựu trung có thể kể đến các cơ sở sau:

Thứ nhất, với phương châm đổi mới để tồn tại và phát triển, Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã mở ra bước ngoặt, là điều kiện để nhà văn mở rộng tầm nhìn, đổi mới từ tư duy nghệ thuật đến kĩ thuật tự sự. Đó cũng là một cơ hội để người cầm bút có điều kiện “vượt thoát”, “thể nghiệm” những điều mới lạ, trong đó có vấn đề tính dục.

Thứ hai, không thể phủ nhận sự tác động của văn học nước ngoài khi vào Việt Nam đã tạo nhiều động lực cho những tác phẩm thuộc khuynh hướng này ra đời. Những tác phẩm nước ngoài đã đưa đến cho bạn đọc Việt Nam những cách nhận thức mới hoàn toàn khác với lối tư duy truyền thống trước vấn đề tính dục.

Thứ ba, bản thân tính dục là một chủ đề hấp dẫn, “mời gọi” người đọc và người viết. Bởi vậy, chủ thể sáng tạo hăng say viết, chủ thể tiếp nhận cũng hăng say đón đợi đã trở thành một “dây chuyền” tất yếu cho các sáng tác thuộc khuynh hướng tính dục ra đời.

Thứ tư, sự vận động của xã hội cũng tạo ra những ẩn ức tính dục mới, thu hút sự quan tâm của người viết. Sex trong văn học ngày nay đã trở thành phương tiện để chuyển tải những ẩn ức mới của đời sống nhân sinh: như khát vọng truy tìm bản thể, sự tồn vong của văn hóa, sự va chạm của các mã hiện thực với tâm linh, ý thức với vô thức,…

Thứ năm, bản thân chủ thể sáng tạo luôn mang tâm thức/ ý thức “vượt thoát” cái cũ, truy tìm cái mới. Sự thức tỉnh của “cái tôi nhà văn” trên hành trình sáng tạo đã buộc họ phải đổi mới chính mình trong tư duy và lối viết. Sự bình đẳng/ dân chủ/ đa dạng trong tư duy về hiện thực đã hướng ngòi bút của nhà văn đến những cách lí giải riêng về nhiều vấn đề phức tạp của đời sống nhân sinh, trong đó có vấn đề tính dục.

Thứ sáu, sự thẩm định theo hướng tích cực của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học là một nguồn động lực cho sáng tác. Những nhà phê bình, nghiên cứu văn học dần dần chấp nhận một thứ diễn ngôn mới gọi là diễn ngôn tính dục. Không chỉ vậy, họ tìm cách lí giải nó dựa trên những học thuyết khoa học như: vô thức, tâm linh, bản năng, ẩn ức, nữ quyền luận,… Điều đó trở thành nguồn động lực lớn để hình thành một xu hướng sáng tác mới trong văn chương: xu hướng tính dục hóa (sexualization).

1.2.2. Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Đình Tú

Nguyễn Đình Tú quan niệm: đã là nhà văn thì nên làm việc một cách chuyên nghiệp, không ngơi nghỉ công việc sáng tạo. Song với mỗi nhà văn khi cầm bút cần ý thức tạo ra cái mới để không lấy mất thời gian của người đọc vào những điều nhàm chán và vô bổ.

Nhà văn cũng quan niệm để xem sáng tác văn chương là một nghề, nhà văn không chỉ có năng khiếu, bởi nếu chỉ có năng khiếu thôi sẽ “chạy vòng quanh” trong những tác phẩm văn chương chật hẹp. Để theo được cái nghề này và trở thành tài năng sáng tạo, người cầm bút cần có nhiều thứ nữa, đó là: Kiến thức, vốn sống, tâm huyết, sự rèn luyện, học hỏi và lòng yêu nghề.

Không chỉ như vậy, với anh, chẳng có gì là bất khả. Mọi đề tài anh đều có thể chạm đến. Cho nên, trong tiểu thuyết của anh dung chứa mọi vấn đề của cuộc sống từ sắc dục, đồng tính, bạo lực, đến tâm linh, văn hóa, lịch sử… Quan niệm nghệ thuật này đã trở thành kim chỉ nam khi anh chạm vào các vấn đề nhạy cảm như vấn đề tính dục. Tuy nhiên anh dùng nó hết sức cân nhắc và với một mức độ hết sức tiết chế. Với anh, sau các diễn ngôn tính dục là những kí mã tư tưởng được gói ghém cẩn trọng. Qua từng trang viết của Nguyễn Đình Tú từ những tiểu thuyết đầu tay đến Nháp, Phiên bản, Kín và gần đây là Hoang tâm và Xác phàm đã chứng minh được quan niệm trên của anh đã được hiện thực hóa. Nguyễn Đình Tú đã có ý thức nghiêm túc để viết về sex như một đề tài trọng tâm, một đề tài đáng viết và giàu tính nhân bản nhất.

1.2.3. “Hoang tâm” và “Xác phàm” – cách thể hiện mới về tính dục trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú

Trong hành trình sáng tạo của mình, Nguyễn Đình Tú thực sự thành công hơn cả ở lĩnh vực tiểu thuyết. Trong vòng 15 năm trở lại đây, Nguyễn Đình Tú đã cho ra mắt tám cuốn tiểu thuyết với những khuôn diện khác nhau của đời sống. Tuy trong tám tiểu thuyết mà nhà văn sáng tác, hầu hết đều có sự xuất hiện của yếu tố tính dục, nhưng phải tới hai tiểu thuyết Hoang tâm (2013) và Xác phàm (2014), Nguyễn Đình Tú mới thực sự khẳng định được sự “trưởng thành” vượt bậc về kĩ thuật viết, đặc biệt là sự “trưởng thành” trong cách thể hiện về tính dục.

Từ năm 2002 đến năm 2005, trong hai cuốn Hồ sơ một tử tù (2002) và Bên dòng Sầu Diện (2005), Nguyễn Đình Tú đã chạm tới yếu tố tính dục qua một lối viết nhẹ nhàng, có chút dè dặt nên yếu tố tính dục chỉ mang tính ước lệ, tượng trưng mà không cụ thể, trực diện. Đến Nháp, Phiên bản, Kín yếu tố tính dục được miêu tả li kì, biến hóa, táo bạo, nhiều kĩ thuật hơn. Song có thể nói, do vừa mới “thử nghiệm” nên đôi lúc còn quá “nóng” và “lộ”. Bởi vậy, người đọc dễ bị dẫn dụ vào những ý nghĩa ngoài ý đồ của nhà văn. Hơn nữa, do sự táo bạo trong lối viết nên đôi lúc, yếu tố sex chưa đạt đến độ thẩm mĩ, tinh luyện và cũng chưa thực sự là kí mã để gửi tới những tư tưởng mang tầm vĩ mô.

Đến hai tiểu thuyết Hoang tâm (2013) và Xác phàm (2014), Nguyễn Đình Tú đã khẳng định một sự trưởng thành vượt bậc về kĩ thuật viết, đặc biệt là “kĩ thuật xử lí yếu tố tính dục”. Trong hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm, thông qua yếu tố tính dục, nhà văn thể hiện cách lí giải riêng về những bí ẩn của cõi người. So với ba cuốn tiểu thuyết trước, yếu tố tính dục trong Hoang tâm và Xác phàm được sử dụng một cách tinh tế, uyển chuyển, kĩ xảo “tính dục” trở nên điêu luyện và “kín” hơn khi kí mã tư tưởng. Bởi vậy, có thể khẳng định: với hai tiểu thuyết này, Nguyễn Đình Tú đã nâng tầm yếu tố tính dục đơn lẻ trở thành những diễn ngôn tính dục có ý thức, có hệ thống để kí mã những tư tưởng thẩm mĩ, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn trước hiện thực đời sống.

CHƯƠNG 2

TÍNH DỤC – CON ĐƯỜNG GIẢI MÃ BÍ ẨN CỦA CÕI NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ

QUA “HOANG TÂM” VÀ “XÁC PHÀM”

2.1. Tính dục – biểu hiện “nhân tính nguyên sơ” của con người

Bản năng tính dục trước hết là bản năng tự nhiên nguyên thủy hết sức quan trọng của con người, sau đó mới gắn liền với những giá trị mang tính xã hội.

Thế nhưng, trong hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm, Nguyễn Đình Tú đã không để cho “nhân tính nguyên sơ” đó của con người được hình thành giản đơn, cố định, thống nhất, vĩnh viễn mà hình thành đầy bí ẩn, vừa có sự biến đổi bất thường theo thời gian, lại vừa có thể mất đi trước sự tác động của hiện thực đời sống.

Qua sự hình thành và biến đổi bản năng tính dục của nhân vật đa dạng và chứa nhiều điều bí ẩn, Nguyễn Đình Tú đã thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan về tư tưởng bình đẳng giới hết sức nhân văn.

Không chỉ bí ẩn, dị thường, biến đổi trong quá trình hình thành và phát triển mà trước hiện thực đời sống bản năng tính dục của con người cũng bị chi phối mạnh mẽ. Hiện thực cuộc sống có thể khiến “nhân tính nguyên sơ” của con người trở nên méo mó hay bị hủy hoại hoàn toàn mà biểu hiện cụ thể nhất là tình trạng con người đánh mất bản năng tính dục – đánh mất “nhân tính nguyên sơ” của loài người.

Truy tìm nguyên nhân của hiện tượng đánh mất bản năng, người đọc có thể dễ dàng nhận thấy nhân vật của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú chịu hai tác động từ hiện thực cuộc sống. Đó là những ám ảnh trong quá khứ và nền văn minh công nghiệp trong cuộc sống hiện tại.

Nguyễn Đình Tú đã đặt nhân vật của mình trong tương quan với nhiều mối quan hệ: với xã hội, với tự nhiên, với tha nhân… và ở từng thời điểm khác nhau của cuộc đời để có cái nhìn toàn cảnh hơn về con người đối với tha nhân và bản ngã. Không chỉ vậy, nhà văn còn để nhân vật trải nghiệm những lo âu mang tính hiện sinh về thân phận người để từ đó bản năng của nhân vật có những phản ứng trước tác động của hiện thực đời sống. Chính từ điều này, nhà văn thể hiện được thế giới quan, nhân sinh quan của mình: Rõ ràng giữa bản năng của con người (trong đó có bản năng tính dục) có mối quan hệ chặt chẽ với hiện thực đời sống. Bởi lẽ con người chính là một “tiểu vũ trụ” nằm trọn trong “đại vũ trụ” là xã hội loài người. Xã hội đó bao hàm cả những điều tốt đẹp lẫn xấu xa. Cái tốt sẽ phát triển nhân tính còn cái xấu tác động tiêu cực, nặng nhất là xóa nhòa cả những bản năng tự nhiên và cơ bản của con người. Văn minh kĩ thuật đã tàn phá bản năng sống của con người, từ đó nhân loại đánh mất tinh thần văn hóa theo nghĩa nguyên thủy, cuối cùng đánh mất cả bản năng tự nhiên – cái làm cho con người là người nhất.

2.2. Tính dục – con đường kiếm tìm bản thể của con người

Trong tiểu thuyết những năm đầu thế kỉ XXI, tính dục không chỉ là phương diện để tận hưởng hay trốn tránh thực tại mà còn là phương diện để nhận diện chính mình. Việc miêu tả con người tính dục trong văn chương dường như chỉ là cái cớ để để nhìn thấu những bản thể người. Diễn ngôn tính dục chính là đường đi mới để nhà văn lí giải nhân vị.

Nguyễn Đình Tú cũng để nhân vật của mình miệt mài đi kiếm tìm bản thể thông qua việc nhận diện bản năng tính dục của mình hoặc tìm lại bản năng tính dục đã mất.

Hành trình tìm kiếm bản thể xuất phát từ những con đường khá đa dạng. Nguyễn Đình Tú đã để cho nhân vật tìm kiếm bản thể từ cuộc hành trình tìm lại và lí giải bản năng tính dục. Cuộc hành trình đi tìm lại/ lí giải bản năng tính dục cũng chính là hành trình khẳng định sự tồn tại. Đó là một điểm sáng tạo độc đáo của riêng Nguyễn Đình Tú.

2.3. Tính dục – khát vọng hạnh phúc của con người

Trong hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm, bản năng tính dục gắn với khát vọng hạnh phúc của con người. Và anh cũng khẳng định: con người không thể hạnh phúc vẹn toàn nếu không có sự thỏa mãn/ hòa quyện của hai yếu tố: thể xác và tinh thần.

Đứng trước bất hạnh của những xác phàm phi tính dục, Nguyễn Đình Tú đã đưa ra những hướng giải quyết cho nhân vật của mình để tìm lại khát vọng muôn đời của con người. Đó là tìm lại mình, đi phẫu thuật chuyển giới hay nhập hồn vào xác phàm của người khác để thỏa mãn khao khát hạnh phúc, giải tỏa ẩn ức tính dục/ ẩn ức thế hệ.

Qua đó, Nguyễn Đình Tú muốn khẳng định giữa khao khát tính dục và khao khát hạnh phúc có mối liên hệ nhân – quả. Con người chỉ thực sự cảm thấy hạnh phúc trong hôn nhân khi bản năng tính dục duy trì được chức năng của nó. Khao khát bản năng cũng chính là khao khát hạnh phúc. Nhưng điều đó không có nghĩa con người chỉ cần duy trì bản năng tính dục là có thể đạt đến đỉnh cao của hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ thực sự đến khi con người thỏa mãn được hai khía cạnh thể xác và tâm hồn. Nếu trong mỗi con người, ai cũng có hai phần: CON và NGƯỜI. Phần CON được hình thành từ bản năng. Nó là những dục vọng, những khao khát, những ham muốn thiên về thỏa mãn các nhu cầu của xác thịt. Phần NGƯỜI được hình thành từ các mối quan hệ xã hội, là cả một quá trình tu dưỡng, rèn luyện và không ngừng hoàn thiện mình. Con người muốn hạnh phúc được cần thỏa mãn được yêu cầu của cả hai phần trên. Một trong hai mặt đó không được thỏa mãn thì hạnh phúc liền bị đe dọa. Đó chính là thông điệp đầy tính nhân bản mà Nguyễn Đình Tú muốn gửi tới người đọc.

CHƯƠNG 3

NGHỆ THUẬT KIẾN TẠO DIỄN NGÔN TÍNH DỤC

TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN ĐÌNH TÚ

QUA “HOANG TÂM” VÀ “XÁC PHÀM”

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

3.1.1. Xây dựng những “xác phàm phi tính dục”

Trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, nhà văn không chỉ đi sâu phân tích mối quan hệ giữa bản năng và hiện thực đời sống, mà còn giải mã bí ẩn về sự hiện diện của những xác phàm phi tính dục. Để nhân vật Nam sống trong tâm thế của một người phi giới tính, Nguyễn Đình Tú đã rất khéo léo khi tạo một tình huống truyện “phi lí”, từ đó đưa ra những kiến giải mang tính chiêm nghiệm về cõi người.

Xác phàm phi tính dục là một ám dụ trong vô vàn những điều bí ẩn của tạo hóa. Nguyễn Đình Tú đã mặc nhiên thả lỏng chính kiến cho trí tuệ của y học hiện đại, cho đức tin Phật giáo, cho hệ hình ý thức xã hội, cho đạo đức, văn hóa… đổ xô vào lí giải. Để rồi kết cục của quá trình “giải mã” là những kết luận nhờ nhờ, e rằng, không chắc, không rõ. Điều đó là biểu hiện mang tính quy luật của một thế giới phẳng, một thế giới đang bị xóa nhòa mọi đường biên chân lí, một thế giới thậm phồn, thế giới của những khả năng, hỗn độn. Trước hiện thực như vậy, Nguyễn Đình Tú không cố giải mã những điều “phi lí” của hiện thực mà nhà văn hướng đến chấp nhận sự tồn tại đa dạng của các hiện tượng. Hơn thế nữa, Nguyễn Đình Tú muốn hướng người đọc đến một thái độ nhận thức đúng đắn và nhân văn hơn: Trước những trường hợp như vậy, con người có thể tiếp tục khám phá, lí giải nó rốt ráo và chân xác nhưng trước khi tìm được câu trả lời, phải chăng con người cần có thái độ công bằng với những hình nhân dị dạng!

3.1.2. Lý giải thần thức, tâm linh trong con người

Thông qua những diễn ngôn tính dục, Nguyễn Đình Tú đã thể hiện được mối quan hệ giữa hiện thực với thần thức, tâm linh. Nhà văn khẳng định được rằng: thế giới người đang sống và thế giới người chết có một mối liên hệ đặc biệt thuận theo quy luật “vạn vật hữu linh”.

Nhân vật trong hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm của Nguyễn Đình Tú được xây dựng/ nhìn nhậc dưới góc độ tâm linh. Trong cuộc thăm dò ở bề sâu của bí ẩn tâm linh, những góc khuất nơi tâm hồn, những trạng huống tâm lí phức tạp giao tranh sáng – tối, ý thức – vô thức, thực – ảo, logic – phi logic cứ nhập nhòa ẩn hiện, nhưng ý nghĩa của sự cộng hưởng đó lại giúp lí giải được chiều sâu bản thể, thế giới tâm hồn con người. Qua những “ẩn ức thế hệ” của nhân vật người đọc hiểu sâu hơn về bi kịch chiến tranh và hiểu sâu hơn nỗi khao khát hạnh phúc của con người.

3.2. Không gian và thời gian nghệ thuật

3.2.1. Lồng ghép các không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật trong Hoang tâm và Xác phàm của Nguyễn Đình Tú là tập hợp của những không gian có thể tiên đoán được và không thể tiên đoán được. Nó gợi đến trạng thái hỗn loạn của thế giới với sự phá vỡ mọi ranh giới: thực – ảo, sống – chết đan xen. Nguyễn Đình Tú đã đưa người đọc vào một không gian thực – ảo lẫn lộn. Người đọc buộc phải tiếp nhận hiện thực được phản ánh trong tác phẩm không chỉ là hiện thực quen thuộc, khả tín mà còn là hiện thực kì ảo, bất khả tín. Ở đó thực – ảo là những ranh giới rất mong manh, thực là ảo mà ảo cũng là thực. Để thể hiện cảm quan mới về hiện thực, Nguyễn Đình Tú đã sử dụng những yếu tố kì ảo, quái đản, ma mị, bí ẩn, dị thường, hoang đường, phi lí mang đậm dấu ấn tâm linh như là một trong những cách thức tiếp cận, khám phá, luận giải hiện thực. Những cuộc hành trình thăm dò tâm hồn con người ở bề sâu của những bí ẩn tâm linh khiến những góc khuất nơi tâm hồn, những trạng huống tâm lí phức tạp, nơi có sự giao tranh của vùng sáng và vùng tối, ý thức và vô thức, thực tại và hư ảo đều được giải mã theo một cách rất độc đáo. Trong không gian ảo, phi hiện thực nhân vật được nhìn nhận dưới những chiều kích tâm linh huyền bí, tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống, truy tìm được bản thể và lí giải được những ẩn ức.

3.2.2. Đan xen các lớp thời gian nghệ thuật

Thời gian trong Hoang tâm và Xác phàm của Nguyễn Đình Tú chủ yếu là thời gian đêm. Đọc toàn bộ hai câu chuyện, ta thấy tất cả các sự kiện, biến cố của câu chuyện đều liên quan đến thời gian đêm. Phần lớn các hoạt động của nhân vật cũng diễn ra trong đêm. Nhân vật trong hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm của Nguyễn Đình Tú có thể tìm lại chính mình trong đêm tối, giải tỏa được những ẩn ức trong bóng tối và cũng chính trong bóng đêm những khát khao người nhất được bung tỏa.

Không chỉ có đêm tối, thời gian nghệ thuật trong hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm còn có sự đan xen giữa thời gian hiện tại và thời gian quá khứ. Có thể nói, nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú luôn sống trong sự hoài niệm, khắc khoải, dằn vặt, ám ảnh bởi quá khứ. Họ không có ước mơ, không xác định được nhân vị ở hiện tại và tương lai. Quá khứ là mục đích sống, nó sẽ hiện diện cùng con người kể cả khi con người cố tình chối bỏ nó. Bởi vậy, nhân vật luôn bị ám ảnh bởi quá khứ hoặc bị thần thức từ quá khứ đeo bám, mượn hình hài để giải tỏa ẩn ức.

Không gian, thời gian nghệ thuật trong Hoang tâm và Xác phàm của Nguyễn Đình Tú có sự lồng ghép, đan xen thực – ảo, sống – chết, quá khứ – hiện tại, … ; vận động theo chiều hướng bộc lộ nội tâm nhân vật và giải mã những bí ẩn về tính dục. Đây là một trong những thủ pháp nghệ thuật đặc hiệu giúp thể hiện thế giới bên trong của con người với những nét độc đáo và sáng tạo. Sự lồng ghép, đan xen nhiều kiểu không gian nghệ thuật đã làm nền cho nhân vật phơi mở hết chiều sâu nội tâm phong phú và bí ẩn tính dục phức tạp của mình. Đồng thời, đó cũng là bối cảnh để nhân vật tìm lại được nhân vị. Thời gian nghệ thuật chủ yếu là thời gian hiện tại đan xen với thời gian hoài niệm quá khứ, các nhân vật thường quay ngược thời gian để tìm lại bản thể, để ý thức rõ mình là ai trong đời sống hiện tại này. Không chỉ vậy, qua hiện tại, những ẩn ức thế hệ từ quá khứ dội về đòi được bung tỏa, giải bày. Không – thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú vì thế góp phần biểu hiện diễn ngôn tính dục trong hai tiểu thuyết của nhà văn.

3.3. Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật

3.3.1. Gia tăng màu sắc tính dục cho ngôn ngữ nghệ thuật

Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng, Nguyễn Đình Tú là nhà văn đã ý thức tạo lập cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng thông qua việc sử dụng kiểu ngôn ngữ đời thường đậm màu sắc tính dục.

Giải thoát cho thứ ngôn ngữ này khỏi những quy chuẩn thẩm mĩ trong văn chương truyền thống, Nguyễn Đình Tú dường như đã cố ý xóa nhòa ranh giới giữa cái nghệ thuật và cái thông tục thường ngày. Có thể nói, ngôn ngữ tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú thực sự trở thành một sân chơi các-na-van. Ở đó, mọi hỗn tạp của cuộc đời đều được bày ra trên một mặt sân giá trị bình đẳng và dân chủ.

Đặc biệt, trong hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm, Nguyễn Đình Tú đã sử dụng phổ biến lớp ngôn ngữ thân thể. Khi sử dụng ngôn ngữ thân thể, Nguyễn Đình Tú đã miêu tả được vẻ đẹp kết tinh của tạo hóa trong thân thể con người, đưa con người trở về với bản chất tự nhiên nguyên thủy. Nguyễn Đình Tú đã tận dụng những vùng bí ẩn trong thân xác con người để thể hiện tinh thần Chân – Thiện – Mĩ. Qua đó, tác phẩm của anh đã thể hiện được tinh thần nhân văn, nhân bản sâu sắc. Trong hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm, ngôn ngữ thân thể là lớp ngôn ngữ đặc sắc nhất giúp chuyển tải những dự đồ nghệ thuật của Nguyễn Đình Tú. Ngôn ngữ thân thể trong hai tiểu thuyết luôn gắn với quá trình thay đổi của mầm dục, của giới tính, của cảm xúc, của bản năng tiềm tại trong từng sinh thể. Do đó, ngôn ngữ thân thể trong hai tiểu thuyết không chỉ làm nổi bật con người tự nhiên mà ở mức cao hơn, ngôn ngữ thân thể còn ẩn tàng ý nghĩa tồn tại/ giá trị của con người. Tiềm tại ở từng nhân vật, ngôn ngữ thân thể mang những giá trị biểu trưng riêng.

3.3.2. Tăng cường giọng trăn trở, suy nghiệm

Khảo sát tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm của nhà văn Nguyễn Đình Tú, chúng tôi nhận thấy giọng điệu đa thanh được tạo nên bởi hai sắc giọng chủ yếu là giọng trăn trở và giọng suy nghiệm.

Không chỉ âu lo về bản năng tính dục đối với hạnh phúc của con người, nhà văn còn thể hiện nỗi âu lo về bản thể và sự trăn trở trên hành trình tìm lại chính mình.

Hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm của Nguyễn Đình Tú không chỉ lôi cuốn người đọc bởi cách kể về những điều thuộc bản năng thầm kín rất tinh tế, giàu chất văn mà còn có sức “vẫy gọi” ở những suy ngẫm, triết lí về nhiều vấn đề khác nhau của kiếp người, nhất là tư tưởng về nhân sinh và giới tính. Nhà văn còn nỗ lực lí giải mối quan hệ giữa xác phàm và thần thức để từ đó thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Những triết lí này có khi thể hiện qua lời người kể chuyện, có khi ở lời trực tiếp bằng các phát ngôn của nhân vật, có khi là lời nửa trực tiếp.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu diễn ngôn là một cách tiếp cận văn chương mới, không chỉ dừng lại ở bề mặt văn bản mà là siêu văn bản. So với diễn ngôn chính trị, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn khoa học… diễn ngôn tính dục là một kiểu diễn ngôn hình thành muộn hơn, tuy còn khá mới mẻ nhưng có sức mời gọi nghiên cứu. Nghiên cứu hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm của Nguyễn Đình Tú dưới góc độ diễn ngôn tính dục, chúng tôi rút ra một số điểm đáng chú ý sau:

Thông qua các yếu tố tính dục, Nguyễn Đình Tú đã thể hiện những kiến giải của mình trước những bí ẩn của cõi người. Tính dục trước hết là nhân tính nguyên sơ của con người vừa hình thành đầy bí ẩn, vừa chịu sự tác động lớn của hiện thực đời sống. Rõ ràng giữa bản năng của con người (trong đó có bản năng tính dục) có mối quan hệ chặt chẽ với hiện thực đời sống. Bởi lẽ con người chính là một “tiểu vũ trụ” nằm trọn trong “đại vũ trụ” là xã hội loài người. Xã hội đó bao hàm cả những điều tốt đẹp lẫn xấu xa. Cái tốt sẽ phát triển nhân tính còn cái xấu tác động tiêu cực, nặng nhất là xóa nhòa cả những bản năng tự nhiên và cơ bản của con người. Văn minh kĩ thuật đã tàn phá bản năng sống của con người, từ đó nhân loại đánh mất tinh thần văn hóa theo nghĩa nguyên thủy, cuối cùng đánh mất cả bản năng tự nhiên – cái làm cho con người là người nhất. Không chỉ vậy, ở tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, diễn ngôn tính dục chính là đường đi mới để nhà văn lí giải nhân vị. Nguyễn Đình Tú cũng để nhân vật của mình miệt mài đi kiếm tìm bản thể thông qua việc nhận diện bản năng tính dục của mình. Nguyễn Đình Tú chọn để cho nhân vật tìm kiếm bản thể từ cuộc hành trình tìm lại và lí giải bản năng tính dục. Đó là một điểm sáng tạo độc đáo của riêng Nguyễn Đình Tú. Hơn thế, ở xã hội hiện đại, con người được giải phóng về tư tưởng và bản năng. Bản năng tính dục trở thành một bản năng người nhất. Hạnh phúc chỉ thực sự đến khi con người thỏa mãn được hai khía cạnh thể xác và tâm hồn. Một trong hai mặt đó không được thỏa mãn thì hạnh phúc liền bị đe dọa. Đó chính là thông điệp đầy tính nhân bản mà Nguyễn Đình Tú muốn gửi tới người đọc.

Không chỉ chứa đựng nội dung tư tưởng sâu sắc, qua hai tiểu thuyết, Nguyễn Đình Tú còn thể hiện được nghệ thuật kiến tạo diễn ngôn tính dục trên các phương diện: Nghệ thuật xây dựng nhân vật, không gian, thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu. Khi xây dựng nhân vật, Nguyễn Đình Tú đã xây dựng “những xác phàm phi tính dục” và đi sâu vào lý giải thần thức, tâm linh trong con người để từ đó thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn trước hiện thực đời sống. Không gian và thời gian nghệ thuật cũng là bối cảnh có ý nghĩa quan trọng trong việc kiến tạo các diễn ngôn tính dục. Không gian, thời gian nghệ thuật trong Hoang tâm và Xác phàm của Nguyễn Đình Tú có sự lồng ghép, đan xen thực – ảo, sống – chết, quá khứ – hiện tại,…; vận động theo chiều hướng bộc lộ nội tâm nhân vật và giải mã những bí ẩn về tính dục. Ngôn ngữ và giọng điệu cũng là những phương tiện đắc dụng/ trực tiếp chuyển tải các diễn ngôn tính dục. Nguyễn Đình Tú đã gia tăng màu sắc tính dục cho ngôn ngữ nghệ thuật. Nhà văn đã ý thức tạo lập cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng thông qua việc sử dụng kiểu ngôn ngữ đời thường đậm màu sắc tính dục, đặc biệt là lớp ngôn ngữ thân thể để thể hiện tinh thần Chân – Thiện – Mĩ. Qua đó, tác phẩm của anh đã thể hiện được tinh thần nhân văn, nhân bản sâu sắc. Khảo sát hai tiểu thuyết, chúng tôi cũng nhận thấy hai kiểu giọng nổi trội là giọng trăn trở và giọng suy nghiệm. Từ đó, nhà văn thể hiện thái độ, thế giới quan của mình về nhiều vấn đề khác nhau của kiếp người, nhất là tư tưởng về nhân sinh và giới tính, xác phàm và thần thức.

Tóm lại, trong hai tiểu thuyết Hoang tâm và Xác phàm, thông qua yếu tố tính dục, nhà văn thể hiện cách lí giải riêng về những bí ẩn của cõi người. So với các cuốn tiểu thuyết ra mắt trước đó, yếu tố tính dục trong Hoang tâm và Xác phàm được sử dụng một cách tinh tế, uyển chuyển, kĩ xảo “tính dục” trở nên điêu luyện và “kín” hơn khi kí mã tư tưởng. Bởi vậy, có thể khẳng định: với hai tiểu thuyết này, Nguyễn Đình Tú đã nâng tầm yếu tố tính dục đơn lẻ trở thành những diễn ngôn tính dục có ý thức, có hệ thống để kí mã những tư tưởng thẩm mĩ, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn trước hiện thực đời sống.

Trong giới hạn của một luận văn, chúng tôi tự biết nhiều vấn đề được đặt ra nhưng việc giải quyết nó vẫn chưa được thấu đáo do kinh nghiệm và năng lực còn nhiều hạn chế. Nếu có điều kiện, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu các vấn đề kĩ hơn và liên hệ thêm một số tác giả khác để có cái nhìn tương đối đầy đủ về diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Tuy nhiên qua việc tìm hiểu Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú qua “Hoang tâm” và “Xác phàm”, chúng tôi đã có thêm tri nhận về một kiểu diễn ngôn mới/ hấp dẫn/ mời gọi nghiên cứu đang từng bước định hình trong văn học Việt Nam đương đại, đồng thời chúng tôi muốn góp thêm cứ liệu khẳng định tiến trình phát triển của văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đến nay, mà điểm nhấn là thể loại tiểu thuyết.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN KHOA HỌC XH&NV\LE THI KIM\TOM TAT

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *