Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và quan trọng. Đường lối đổi mới của Đảng được thể chế hóa thành pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho việc hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN được đẩy mạnh. Ðời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị – xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững.

Tỉnh Quảng Ngãi là một tỉnh duyên hải miền trung Trung bộ. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đã đầu tư nhiều công trình trọng điểm nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong đó có khu kinh tế Dung Quất và nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất, cùng với các lợi thế khác của địa phương. Đây là đòn bẩy quan trọng để phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch của tỉnh nhà. Từ đó đã đem lại cho kinh tế Quảng Ngãi bước tăng trưởng vượt bậc, tỉnh Quảng Ngãi được xếp trong nhóm mười tỉnh thành của Việt Nam có đóng góp ngân sách lớn cho Trung ương và là nhân tố mang tính động lực để Quảng Ngãi ngày càng phát triển năng động hơn, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, diễn biến của các loại tội phạm nói chung, cũng như các tội xâm phạm sở hữu nói riêng hết sức phức tạp và ngày càng có chiều hướng gia tăng, gây thiệt hại lớn về tài sản cho nhà nước và nhân dân. Trong những năm qua, các cơ quan bảo vệ pháp luật của tỉnh Quảng Ngãi đã tích cực đấu tranh nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm sở hữu và cũng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên với sự diễn biến phức tạp của các loại tội phạm hiện nay, việc điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này vẫn còn những hạn chế nhất định như chưa kịp thời, chưa toàn diện và mới chỉ đáp ứng phần nào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó, các loại tội phạm xâm phạm sở hữu ở tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn diễn biến phức tạp, gây dư luận xấu trong nhân dân, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với pháp luật, ảnh hưởng tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Qua lần pháp điển hóa lần thứ hai, BLHS năm 1999 ra đời, các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XIV. Điều này khẳng định chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với các tội xâm phạm sở hữu là rất toàn diện và kiên quyết. Trong các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XIV BLHS thì tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139, đang là loại tội phạm có diễn biến phức tạp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Việc nghiên cứu thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là việc làm cần thiết, có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, do vậy tác giả chọn đề tài: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sĩ Luật học, chuyên ngành: Luật hình sự.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích

Mục đích cơ bản của đề tài là: nhằm góp phần làm phong phú thêm lý luận chuyên ngành luật hình sự, tìm ra những luận cứ khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy định của PLHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và nâng cao hiệu quả áp dụng PLHS trong việc giải quyết vụ án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

3.2. Nhiệm vụ

Một là: Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Luật hình sự Việt Nam.

Hai là: Đánh giá tổng quan quá trình xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ba là: Khảo sát, đánh giá thực trạng định tội danh đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi, chỉ ra mặt tích cực, cũng như hạn chế, thiếu sót và phương hướng khắc phục.

Bốn là: Khảo sát, đánh giá thực trạng quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Tòa án các cấp của tỉnh Quảng Ngãi, chỉ ra những mặt đạt được, cũng như những khó khăn, hạn chế và phương hướng hoàn thiện.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn gồm các vấn đề lý luận, quy định của PLHS và thực tiễn áp dụng quy định của PLHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề có liên quan tới hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và xâm phạm quyền sở hữu tài sản trong Luật hình sự Việt Nam, trong Bộ luật hình sự năm 1999 dưới góc độ luật hình sự, cả lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014.

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở quan điểm và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống các quan điểm của Đảng, Nhà nước về pháp luật.

Để hoàn thành việc nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu các phương pháp này được vận dụng một cách linh hoạt và đan xen lẫn nhau để tạo ra kết quả nghiên cứu.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống và tương đối toàn diện về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Những kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung và phát triển lý luận chuyên ngành luật hình sự và vận dụng trong thực tiễn áp dụng PLHS của các cơ quan tư pháp trong công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

Luận văn có thể sử dụng là tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy hoặc làm tài liệu tham khảo cho các bộ môn Luật hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Tội phạm học… Mặt khác, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ năng nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng trong việc áp dụng PLHS trước yêu cầu mới của tình hình hiện nay.

7. Kết cấu luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Chương 2: Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 3: Quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI LỪA ĐẢO

CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

1.1. Những vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.1.1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS cố ý thực hiện bằng các thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản được luật hình sự bảo vệ.

Với khái niệm như trên và trên cơ sở các quy định của PLHS, cho phép chúng ta nhận thức được các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, từ đó có thể đi sâu và làm sáng tỏ bản chất pháp lý của loại tội phạm này.

1.1.1.2. Các yếu tố cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xét về mặt cấu trúc pháp lý luôn được hợp thành bởi bốn yếu tố, đó là: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm. Ở mỗi yếu tố của tội lừa đảo đều có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng phản ánh bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này.

Nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phân biệt tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội phạm khác có dấu hiệu dùng thủ đoạn gian dối để phạm tội và các vi phạm dân sự, kinh tế, tránh tình trạng “hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự”. Từ đó, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

1.1.2. Phân biệt tội lừa đảo với một số tội phạm khác có liên quan

Từ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chúng ta có thể phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác có một số dấu hiệu giống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như: tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS); tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS); tội lừa dối khách hàng (Điều 162 BLHS)… Từ đó góp phần vào việc định tội danh chính xác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, hạn chế được tình trạng nhầm lẫn tội phạm này với tội phạm khác

1.2. Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.2. Quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.2.1. Quy định về tội phạm

Điều 139 BLHS năm 1999 quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ…”.

Theo quy định nêu trên, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.

Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 139 BLHS hiện hành cũng quy định giá trị khởi điểm tài sản bị chiếm đoạt làm ranh giới phân biệt giữa hành vi phạm tội với hành vi chỉ bị xử lý hành chính. Cụ thể là, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ bị coi là tội phạm nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ hai triệu đồng trở lên, dưới mức đó chỉ là vi phạm hành chính. Giá trị tài sản bị lừa đảo chiếm đoạt được xác định theo giá trị thị trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm xảy ra tội phạm; trong trường hợp không xác định được giá trị tài sản thì phải trưng cầu giám định (định giá) tài sản.

Tuy nhiên, trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng thì phải có một trong những dấu hiệu sau đây mới cấu thành tội tội phạm: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” hoặc “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.

1.2.2.2. Quy định về hình phạt

Xuất phát từ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 139 BLHS hiện hành quy định bốn khung hình phạt khác nhau:

* Khung cơ bản (Khoản 1 Điều 139 BLHS) gồm hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Khung này được áp dụng đối với trường hợp phạm tội lừa đảo không có các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng.

* Khung tăng nặng thứ nhất (Khoản 2 Điều 139 BLHS) có mức phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Khung hình phạt này được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết tăng nặng sau đây :

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

* Khung tăng nặng thứ hai quy định tại khoản 3 Điều 139 BLHS có mức phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Khung này được áp dụng đối với các trường hợp sau:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

* Khung tăng nặng thứ ba quy định tại khoản 4 Điều 139 BLHS có mức phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Khung này được áp dụng đối với các trường hợp sau:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Ngoài hình phạt chính nêu trên, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như: phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Kết luận chương 1

Trong Chương 1, Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và quy định của PLHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Kết quả nghiên cứu ở Chương này là cơ sở lý luận và pháp lý để định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 2

ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT

TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1. Những vấn đề lý luận về định tội danh

2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của định tội danh

Định tội danh là một quá trình nhận thức có tính tư duy, logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng PLHS, pháp luật tố tụng hình sự trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được phản ánh các tình tiết thực tế của vụ án đã xảy ra để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp của chúng với các dấu hiệu của CTTP cụ thể tương ứng do BLHS quy định.

2.1.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh

Các văn bản pháp luật – là cơ sở pháp lý – được sử dụng trong hoạt động định tội danh đó là: BLHS, BLTTHS, văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật giao thông đường bộ, luật phòng chống ma tuý… Nghị quyết của Quốc Hội, Nghị quyết của UBTVQH, Nghị định của Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Thông tư liên ngành của TANDTC, VKSNDTC, Bộ Công an, Bộ Tư pháp…

Trong số các văn bản pháp luật trên thì BLHS là cơ sở pháp lý trực tiếp cho toàn bộ quá trình định tội danh. Các văn bản pháp luật còn lại chỉ với tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) cho quá trình này.

2.2. Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

2.2.1. Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo cấu thành cơ bản

2.2.1.1. Đánh giá về mặt pháp lý hình sự những dấu hiệu thuộc khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Khi định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước hết phải đánh giá về mặt pháp lý hình sự các dấu hiệu thuộc khách thể của tội phạm này nhằm xác định xem hành vi phạm tội được thực hiện có trực tiếp xâm hại đến quan hệ sở hữu tài sản được luật hình sự bảo vệ hay không, tức là có gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho quan hệ sở hữu tài sản hay không. Để có thể xác định được hành vi phạm tội cụ thể xảy ra trên thực tế có xâm hại đến quan hệ sở hữu tài sản là khách thể trực tiếp của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không thường phải thông qua đối tượng tác động của tội phạm này. Theo quy định của luật hình sự Việt Nam, đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ là những tài sản thông thường, không thuộc những tài sản có ý nghĩa đặc biệt đã được quy định là đối tượng tác động của một số tội phạm khác trong BLHS (như ma túy, vũ khí, tàu bay, tàu thủy…). Mặt khác, khi định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng phải chú ý đến giá trị của tài sản với tính chất là đối tượng tác động của tội phạm này. Bởi, theo quy định của Điều 139 BLHS hiện hành thì giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên mới xử lý hình sự, dưới mức đó chỉ xử lý hành chính (nếu không có dấu hiệu khác như: gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích mà còn vi phạm). Do vậy, nếu tài sản bị chiếm đoạt chỉ dưới hai triệu đồng mà không kèm theo một trong ba tình tiết trên thì không thể định tội danh là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 BLHS (khoản 1).

2.2.1.2. Đánh giá về mặt pháp lý hình sự các dấu hiệu về mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động định tội danh. Bởi, mặt khách quan của tội phạm này là những tình tiết (dấu hiệu) được biểu hiện ra bên ngoài mà người định tội danh dễ nhận biết, đánh giá được; các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm này được mô tả tỉ mỉ trong phần quy định của quy phạm của PLHS (Điều 139); thông qua việc xác định các dấu hiệu thuộc mặt khách quan, người định tội danh có thể xác định được các dấu hiệu khác trong mặt chủ quan (như lỗi, động cơ, mục đích phạm tội).

2.2.1.3. Đánh giá về mặt pháp lý hình sự những dấu hiệu thuộc chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Để được coi là chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đồng thời phải thỏa mãn cả hai dấu hiệu: có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS. Nếu thiếu một trong hai dấu hiệu đó thì không bị coi là chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và do vậy việc định tội danh cũng không cần đặt ra.

Ngoài hai dấu hiệu về chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khi định tội danh cần lưu ý đánh giá nhân thân người phạm tội, bởi một số tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội được luật hình sự quy định là tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46) hoặc tình tiết tăng nặng TNHS (Điều 48) hoặc tình tiết định khung hình phạt tăng nặng (khoản 2 Điều 139 BLHS).

2.2.1.4. Đánh giá về mặt pháp lý hình sự những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Sự đánh giá về mặt pháp lý hình sự những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là nhằm xác định hình thức lỗi của tội phạm này và vai trò của dấu hiệu lỗi trong việc định tội danh. Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Ngoài dấu hiệu lỗi, khi định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần thiết phải xem xét, đánh giá dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội.

Tóm lại, việc xem xét, đối chiếu hành vi đã thực hiện trên thực tế với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội lừa đảo mà luật định có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó giúp cho việc định tội danh được đúng, chính xác và đầy đủ trên cơ sở các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, điển hình nhất được nhà làm luật ghi nhận tại Điều 139 BLHS. Đồng thời trong một chừng mực nhất định, việc đánh giá về mặt pháp lý hình sự hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn giúp cho việc quyết định hình phạt được công bằng, bởi có định tội danh đúng thì quyết định hình phạt mới đúng.

Qua khảo sát, đánh giá thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử 38 vụ với 49 bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 – 2014 thấy rằng, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã thực hiện tốt việc đánh giá về mặt pháp lý hình sự những dấu hiệu thuộc bốn yếu tố CTTP của tội phạm này. Vì thế, không để xảy ra việc xác định sai lầm về khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

2.2.2. Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo cấu thành tăng nặng

Qua thực tiễn xét xử 38 vụ/49 bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong 5 năm từ 2010 đến 2015, thì trong đó có 24 bị cáo bị đề nghị truy tố từ khoản 2 đến khoản 4 Điều 139 BLHS. Qua nghiên cứu các bản án thì có thể nhận thấy hầu hết các bị cáo bị truy tố từ khoản 2 đến khoản 4 Điều 139 BLHS đều có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với giá trị lớn từ năm mươi triệu đồng trở lên, đặc biệt có một số vụ giá trị chiếm đoạt lên tới hàng tỷ đồng. Qua đó ta có thể thấy tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng như là hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là rất lớn. Dù số lượng án về loại tội này không lớn nhưng mức độ nghiêm trọng lại cao. Ngoài ra có một số bị cáo bị truy tố theo điểm c khoản 2 Điều 139 BLHS về tái phạm nguy hiểm, tức là đối tượng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước đó đã bị tòa án tuyên là tái phạm trong bản án, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

2.2.3. Những khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong định tội danh, nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Mặc dù việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự tỉnh Quảng Ngãi trong những năm qua, về cơ bản đảm bảo đúng, chính xác và đầy đủ. Tuy nhiên, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này gặp không ít khó khăn, vướng mắc đó là:

Thứ nhất, vướng mắc trong việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị thiệt hại do hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây ra.

Thứ hai, vướng mắc về việc xác định người có hành vi vi phạm pháp luật có thuộc trường hợp “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản” hoặc “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” hay không?

Thứ ba, sự trùng lặp về dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS), tội lừa dối khách hàng (Điều 162 BLHS) và một số tội phạm khác có liên quan. Trong khi đó, văn bản hướng dẫn áp dụng những quy định của BLHS về những tội phạm này cũng chưa được ban hành kịp thời, đầy đủ, dễ dẫn đến tình trạng định sai tội danh trong việc giải quyết vụ án hình sự.

Những khó khăn, vướng mắc và thiếu sót trên đây có những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau như quy định của BLHS về các dấu hiệu định tội chưa thật cụ thể, rõ ràng, còn sử dụng nhiều quy phạm đánh giá, nhưng không chỉ ra tiêu chí đánh giá; các văn bản hướng dẫn thi hành thì chưa ban hành kịp thời, đầy đủ; người định tội danh (các cơ quan và người tiến hành tố tụng hình sự) còn hạn chế về trình độ chuyên môn, năng lực công tác…

Để tháo gỡ những vướng mắc trong việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo chúng tôi cần làm tốt một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các tội phạm khác có dấu hiệu “dùng thủ đoạn gian dối” theo hướng quy định cụ thể, rõ ràng những dấu hiệu là yếu tố định tội trong cấu thành cơ bản của những tội phạm đó để giúp cho việc định tội danh được chính xác.

Thứ hai, ban hành kịp thời, đầy đủ văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của BLHS, trong đó giải thích cụ thể, rõ ràng những quy phạm có tính chất đánh giá, những quy phạm quy định dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sự trùng lặp với dấu hiệu pháp lý của một số tội phạm khác nhau khi định tội danh.

Thứ ba, cần nâng cao nhận thức chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ có thẩm quyền để đảm bảo tính khách quan và đúng đắn trong định tội danh.

Thứ tư, cần thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là công tác kiểm sát hoạt động điều tra, truy tố, xét xử để đảm bảo việc truy cứu TNHS được đúng đắn, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Kết luận chương 2

Chương 2 của Luận văn tập trung phân tích quá trình định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 – 2014. Từ thực tiễn trên thấy rằng, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự của tỉnh đã đánh giá đầy đủ các dấu hiệu thuộc bốn yếu tố CTTP. Sự đối chiếu với những tình tiết thực tế của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trên thực tế. Do vậy, việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử 38 vụ với 49 bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đều đúng đắn, chính xác và đầy đủ.

Tuy nhiên, trong quá trình định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng gặp phải không ít khó khăn, vướng mắc. Điều đó đã ảnh hưởng đến chất lượng hiệu quả của việc định tội danh. Để khắc phục tình trạng này, Luận văn đã đề xuất những việc cần phải tiến hành nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả định tội danh trong thời gian đến.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN TỈNH

QUẢNG NGÃI

3.1. Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt

3.1.1. Khái niệm, ý nghĩa

Quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật) theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội [36, tr.386].

3.1.2. Căn cứ quyết định hình phạt

Điều 45 BLHS quy định về căn cứ quyết định hình phạt như sau: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS”.

3.2. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

3.2.1. Thực trạng quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Qua nghiên cứu số liệu thống kê và đọc trên 30 bản án hình sự xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, thấy rằng tuy số lượng vụ án đã xét xử không nhiều, nhưng tính chất mức độ nguy hiểm của loại tội phạm là rất lớn, thể hiện ở số lượng bị cáo bị xét xử khung hình phạt ở khoản 3, khoản 4 Điều 139 BLHS chiếm 40, 8% (20/49 bị cáo).

Những thuận lợi trong quá trình quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Trong quá trình xét xử các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đều hiểu rõ nội dung các vụ án, định tội danh chính xác, các tình tiết của vụ án đều được nghiên cứu kỹ càng, quá trình quyết định hình phạt đều dựa vào các căn cứ quy định trong BLHS; xem xét những vấn đề về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của người phạm tội; xem xét mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà người phạm tội đã thực hiện. Chính vì vậy khi quyết định hình phạt đảm bảo tính nghiêm minh, kết hợp giữa trừng trị và giáo dục, đảm bảo tính khả thi của hình phạt.

3.2.2. Một số hạn chế trong việc quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Nguyên nhân và giải pháp khắc phục

* Những hạn chế, vướng mắc khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Bên cạnh những cán bộ, thẩm phán với trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có phẩm chất đạo đức, chính trị tốt thì vẫn còn tình trạng một số cán bộ, thẩm phán thiếu tinh thần trách nhiệm, sa sút về phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, thái hóa biến chất nên dẫn đến quyết định hình phạt bị sai lệch do mang tính chủ quan, thiếu công bằng và nghiêm minh, dẫn đến mất lòng tin của một bộ phận nhân dân với pháp luật.

Hiện nay, pháp luật nước ta chưa quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Do đó, nếu pháp nhân có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân… thì không bị coi là tội phạm, nên chỉ có thể xử lý cá nhân vi phạm và chỉ phạt tiền hoặc tịch thu tài sản của chính người bị coi là tội phạm, còn tài sản của pháp nhân không thể bị tịch thu, tài khoản của pháp nhân không thể bị phong tỏa, pháp nhân không bị giải thể và tất nhiên lại tiếp tục hoạt động và có thể những người đại diện pháp nhân lại lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

* Nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có nhiều nội dung dễ nhầm lẫn với các tội danh khác như lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, buôn bán hàng giả… Đánh giá đúng tội danh, quyết định hình phạt nghiêm minh và công bằng là góp phần đấu tranh chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hiệu quả.

Trong tương lai, luật hình sự Việt Nam cần quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm (mà trước hết là trong các tội phạm về kinh tế, các tội xâm phạm sở hữu…) nhằm tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong đấu tranh chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như một số tội phạm khác trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa như hiện nay.

Kết luận chương 3

Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của Tòa án (Hội đồng xét xử) được xác định sau khi đã xác định được tội danh để định ra biện pháp xử lý tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện. Quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa chính trị – xã hội, đạo đức, pháp luật rất lớn.

Thông qua Chương 3 này chúng ta nắm bắt được ý nghĩa của quyết định hình phạt, mục đích hình phạt, các căn cứ quyết định hình phạt, quyết định hình phạt theo Điều 139 BLHS. Cũng thông qua Chương này, chúng ta có thể biết được thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Việc quyết định hình phạt đúng đắn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo yêu cầu trừng trị, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo PLHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi, bước đầu Luận văn đã cố gắng làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn để làm rõ các dấu hiệu phạm tội và công tác xét xử đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả đạt được cho phép chúng tôi đi đến một số kết luận dưới đây:

Một là, quy định “thủ đoạn gian dối” “chiếm đoạt tài sản” trong Điều 139 BLHS vẫn còn mang tính khái quát, chưa được giải thích cụ thể, rõ ràng. Điều này dẫn tới một thực trạng là các cơ quan tiến hành tố tụng trong khá nhiều trường hợp không thống nhất, thậm chí có không ít những sai lầm trong việc định tội danh, cũng như giải quyết một số vấn đề khác có liên quan như: áp dụng nguyên tắc xử lý, xác định tình tiết “dùng thủ đoạn xảo quyệt”

Hai là, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã và đang diễn biến phức tạp, tăng giảm thất thường. Tuy chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn. Hậu quả gây ra cho xã hội ngày càng nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn đến tài sản của cả Nhà nước và nhân dân. Từ đó tác động tới trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị tại tỉnh Quảng Ngãi.

Ba là, người tiến hành định tội danh chỉ có thể phát huy được khả năng của mình trên cơ sở hệ thống pháp luật mà trước hết là hệ thống PLHS hoàn chỉnh. Khó có thể nói đến hiệu quả thật sự trong hoạt động định tội danh khi mà các văn bản pháp luật liên quan còn chồng chéo, mâu thuẫn nhau. Tất cả những điều này đã ảnh hưởng đến việc định tội danh nói chung cũng như định tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng.

Bốn là, quyết định hình phạt với tư cách là một hoạt động quan trọng trong áp dụng PLHS. Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của Tòa án do Hội đồng xét xử thực hiện căn cứ vào các quy định của PLHS, trên cơ sở kết quả của hoạt động định tội danh để xác định biện pháp xử lý tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS của người phạm tội. Quyết định hình phạt không chỉ tuân thủ các nguyên tắc của luật hình sự nói chung mà còn phải tuân thủ các nguyên tắc đặc thù cho việc quyết định hình phạt.

Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cho thấy sự sai sót của Tòa án trong quyết định hình phạt cũng là một vấn đề cần quan tâm, do các Tòa án vận dụng không đúng quy định của pháp luật về quyết định hình phạt, nguyên nhân cũng có thể do trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân còn hạn chế. Để nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì không những chỉ nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về các chế định này mà còn phải tiếp tục nâng cao năng lực của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ngành Tòa án. Muốn làm được như vậy cần quán triệt một số quan điểm và tổ chức thực hiện nhất quán, đồng bộ các giải pháp nêu trên và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành từ trung ương xuống địa phương. Nâng cao chất lượng nghiệp vụ của các cơ quan tư pháp, làm sáng tỏ đặc điểm, quy luật hành vi của loại tội phạm này trên cơ sở đó để điều chỉnh các quy định của pháp luật cho phù hợp với thực tiễn diễn ra của tội phạm.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\LUAT HINH SU DOT 2\CUA NGUYEN\LUAN VAN DINH THE ANH\Luận văn tốt nghiệp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *