Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác lựa chọn nhà thầu

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác lựa chọn nhà thầu

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác lựa chọn nhà thầu đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong thực hiện dự án việc lựa chọn nhà thầu quyết định đến hiệu quả đầu tư, thành công của một dự án mang lại.

Hệ thống văn bản pháp lý, các quy trình thực hiện trong đấu thầu ngày càng được hoàn thiện, tuy nhiên với nhu cầu hội nhập quốc tế khi tham gia các tổ chức thương mại quốc tế (WTO, TPP, AFTA…) cần được cũng cố hơn nữa để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.

Vai trò của công tác đấu thầu trong các bước của vòng đời dự án chưa được các chủ đầu tư chú trọng đúng mức hay việc định mức dự toán xây dựng công trình còn nhiều nội dung chưa kết nối công tác đấu thầu …Điều này có thể xem là những bất cập làm cho lợi ích thu được từ hoạt động đấu thầu của một dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước thu lại chưa tương xứng với giá trị đồng tiền.

Vậy làm cách nào để làm tăng lợi ích của công tác đấu thầu? Đề tài “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác lựa chọn nhà thầu đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách thành phố Đà Nẵng” với mong muốn góp một tiếng nói nhỏ từ việc nhìn nhận lợi ích, vai trò của đấu thầu như thế nào đến việc xây dựng các giải pháp, làm cơ sở cho cơ quan quản lý đấu thầu, chủ đầu tư, bên mời thầu, tổ chuyên gia, …có một cách nhìn tổng quát hơn về công tác đấu thầu sử dụng vốn nhà nước.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích đánh giá chất lượng lựa chọn nhà thầu xây dựng hiện nay, đề tài đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác lựa chọn nhà thầu xây dựng ở Đà Nẵng và cũng có thể áp dụng chố một số địa phương Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Nghiên cứu công tác lựa chọn nhà thầu đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

– Nghiên cứu về hình thức lựa chọn nhà thầu xây dựng trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng

4. Phương pháp nghiên cứu

Tổng hợp phân tích và đánh giá từ các văn bản pháp quy, tài liệu lý thuyết, tổng kết phân tích kết quả từ các dự án thực tế và kết hợp kinh nghiệm của chuyên gia trong lĩnh vực QLDA để tìm ra những đề xuất sát thực

5. Bố cục đề tài

Mở đầu

Chương 1 : Thực trạng công tác đấu thầu, lựa chọn nhà thầu đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách.

Chương 2 : Cơ sở khoa học và pháp lý về công tác đấu thầu trong xây dựng

Chương 3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác lựa chọn nhà thầu xây dựng đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách tại Đà Nẵng

Kết luận và kiến nghị

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LỰA CHỌN NHÀ THẦU,

ĐẤU THẦU ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG

SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH

1.1. Thực trạng về việc tổ chức công tác đấu thầu lựa chọn nhà thầu đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách tại Việt Nam

1.1.1. Về khung pháp lý trong đấu thầu:

Trước khi luật đấu thầu số 43/2013/QH13 [1] ra đời và có hiệu lực:

Tồn tại những hạn chế như sau:

+ Các quy định về đấu thầu thiếu tính đồng bộ và thống nhất, được quy định rải rác trong nhiều văn bản khác nhau gây nên tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các văn bản.

+ Phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu năm 2005 còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhiều hoạt động mua sắm sử dụng nguồn vốn nhà nước.

+ Việc phân cấp, thủ tục trình duyệt chưa được tinh giản làm mất nhiều thời gian

+ Việc đánh giá hồ sơ dự thầu không tạo tính chủ động, linh hoạt cho chủ đầu tư trong việc lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu có quy mô, tính chất khác nhau.

+ Cơ chế giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động đấu thầu chưa được quy định cụ thể, chặt chẽ.

+ Hệ thống dữ liệu về đấu thầu còn nghèo nàn, khó khăn cho quá trình theo dõi, quản lý, đồng thời không tạo điều kiện để minh bạch hóa thông tin phục vụ cho hoạt động giám sát cộng đồng,

+ Chưa đáp ứng yêu cầu của các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.

Sau khi luật đấu thầu số 43/2013/QH13 [1] ra đời và có hiệu lực:

+Giải quyết được cơ bản các tồn tại nêu trên.

+ Tuy nhiên vẫn còn nhiều nội dung chưa hoàn thiện. Đặc biệt là đấu thầu điện tử.

1.1.2. Về kết quả thực hiện

– Theo số liệu thống kê tổng hợp kết quả thực hiện đấu thầu từ năm 2012,2013,2014, có một đặt điểm chung trong kết quả thực hiện công tác đấu thầu ở nước ta hiện nay là:

+ Vốn nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển (bao gồm cả gói thầu sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ): có tỷ lệ tiết kiệm là cao nhất trong các nguồn vốn khác, tỷ lệ này sẽ hiệu quả hơn khi sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ. Gói thầu sử dụng vốn liên doanh, cổ phần, hợp tác kinh doanh có tỷ lệ tiết kiệm rất “kiêm tốn”

+ Chỉ định thầu: Có số gói thầu áp dụng nhiều nhất (chiếm trên 70%), tỷ lệ tiết kiệm rất thấp.

+ Đấu thầu rộng rãi: số gói thầu chỉ bằng 1/6 số gói thầu chỉ định thầu, tỷ lệ tiết kiệm cao gấp 4 lần hình thức chỉ định thầu (năm 2014 là 9,89% so với 2,8% của chỉ định thầu).

+ Đấu thầu quốc tế tiết kiệm vốn ngân sách gấp 3-6 lần đấu thầu trong nước.

+ Tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu tăng đáng kể khi hệ thống văn bản pháp quy về đấu thầu được hoàn thiện (năm 2012 là 4,7%, năm 2014 là 7,04%)

1.2. Thực trạng về việc tổ chức công tác đấu thầu lựa chọn nhà thầu đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách tại Đà Nẵng:

1.2.1.Về hệ thống pháp lý trong đấu thầu

+ Thực hiện theo quy định chung của Việt Nam

+ Bổ sung:

– Trước tháng 12/2010: QĐ:190/2003/QĐ-UB, và 58/2005/QĐ-UB…. : giao nhiệm vụ chủ đầu tư, điều hành dự án cho các Ban QLDA thực hiện. Tuy nhiên, HSMT, KQĐT do UBND thành phố phê duyệt và cơ quan thẩm định là Sở KHĐT.

+ Từ tháng 12/2010 đến 01/2015: QĐ: 04/2010/QĐ-UB: Giao Sở Xây dựng, Sở GTVT … chủ đầu tư và phân cấp duyệt KQĐT: UBND TP duyệt gói thầu có giá trị >1 tỷ đồng.

+ Từ tháng 01/2015 đến nay: QĐ 03/2015/QĐ-UBND  và Quyết định số 1980/QĐ-UBND ngày 09/4/2015, UBND thành phố trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chủ đầu tư đối với các dự án có tổng mức đầu tư trên 5 tỷ, và ủy quyền lại cho các Ban QLDA thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đầu tư theo quy định trừ nội dung phê duyệt HSMT và KQĐT

1.2.2. Về kết quả thực hiện

– Theo báo cáo tình hình thực hiện công tác đấu thầu năm 2013,2014,2015 [10][11][12] của UBND thành phố Đà Nẵng:

Năm 2013, Thành phố Đà Nẵng có 807 gói thầu với tổng giá gói thầu là 2.975 tỷ đồng, tổng giá trị trúng thầu 2.952 tỷ đồng, tiết kiệm 23 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 0,7%.

Năm 2014, Thành phố Đà Nẵng có 691 gói thầu với tổng giá gói thầu là 2.048 tỷ đồng, tổng giá trị trúng thầu 2.013 tỷ đồng, tiết kiệm 35 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 1,7%.

Năm 2015, Thành phố Đà Nẵng có 1.063 gói thầu với tổng giá gói thầu là 2.493 tỷ đồng, tổng giá trị trúng thầu 2.425 tỷ đồng, tiết kiệm 68 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 2,7%.

Tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu phụ thuộc rất nhiều vào hình thức đấu thầu cụ thể:

So sánh với kết quả thực hiện đấu thầu của cả nước ta thấy tỷ lệ trúng thầu ở Đà Nẵng đạt được là rất thấp và cũng có sự phân hóa theo từng lĩnh vực đấu thầu và tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu rộng rãi thường đạt tỷ lệ cao nhất.

– Những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện công tác đấu thầu:

+ Công tác lập đấu thầu tổng chưa được thực hiện đồng bộ cho toàn bộ các dự án .

+ Nội dung kế hoạch đấu thầu còn mang tính cảm tính, thiếu tính khoa học.

+ Gói thầu xây lắp quy mô nhỏ (dưới 20 tỷ) phải áp dụng hình thức hợp đồng trọn gói không phù hợp với tại Đà Nẵng do có thời gian thi công dài > 12 tháng (do yêu cầu về vốn và giải phóng mặt bằng) nên việc áp dụng hình thức này là không phù hợp.

+ Việc xác định giá gói thầu chưa chính xác (do chưa có cơ sở đưa dự phòng phí vào giá gói thầu)

+ Tính chuyên nghiệp không cao do có quá nhiều Ban QLDA quy mô nhỏ

+ Việc xác định cấp doanh nghiệp theo quy định 56/2009/NĐ-CP dựa trên quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm chưa quy định rõ ràng và cụ thể .

+ Công tác đấu thầu qua mạng chưa được triển khai

+ Chưa có Quy trình đánh giá hồ sơ dự thầu, và mẫu HSMT thầu phù hợp với đấu thầu điện tử

+ Hình thức đấu thầu hạn chế vẫn được triển khai thực hiện đặt biệt là trong khoảng thời gian trước 2012.

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác lựa chọn nhà thầu đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách thành phố Đà Nẵng
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác lựa chọn nhà thầu đối với các dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách thành phố Đà Nẵng

1.3. Kết luận chương 1

Có một thực tế ở nước ta thời gian qua, công tác quản lý đấu thầu chúng ta đã thực hiện không tốt, nội dung này đã được cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu cao nhất là Bộ kế hoạch Đầu tư mà cụ thể là cục quản lý đấu thầu đã thẳng thắn thừa nhận dẫn đến bản chất đấu thầu không được phát huy, không đảm bảo “Cạnh tranh, minh bạch, công bằng và hiệu quả kinh tế”. Do đó, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về đấu thầu để nâng cao tính cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả luôn là trọng tâm của công tác quản lý nhà nước về đấu thầu.

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ

VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TRONG XÂY DỰNG

2.1. Cơ sở khoa học về đấu thầu trong xây dựng

2.1.1. Khái niệm về những từ ngữ liên quan đến đấu thầu

Đấu thầu Theo Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13: là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

Vốn nhà nước [1] là vốn bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất.

2.1.2.Các hình thức, phương thức lựa chọn nhà thầu

a. Hình thức đấu thầu

– Đấu thầu rộng rãi : là hình thức không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia. Bên mời thầu phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và ghi rõ các điều kiện, thời gian dự thầu. Đối với những gói thầu lớn, phức tạp về công nghệ bên mời thầu phải tiến hành sơ tuyển để lựa chọn nhà thầu có đủ tư các và năng lực tham gia dự đấu thầu.

– Đấu thầu hạn chế : là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham gia. Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp nhận

– Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hoàn thiện hợp đồng.

– Chào hàng cạnh tranh :được áp dụng đối với gói thầu thông dụng, đơn giãn phù hợp với các lĩnh vực dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và tương đương nhau về chất lượng; Gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt.

– Mua sắm trực tiếp: được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa tương tự thuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắm khác với mục tiêu rút ngắn thời gian trong đấu thầu khi chủ đầu tư muốn mua sắm một mặt hàng đã được lựa chọn thông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu trước đó có nội dung, tính chất tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% so với gói thầu đã ký hợp đồng trước đó trong thời gian không quá 12 tháng.

– Tự thực hiện: được áp dụng đối với gói thầu thuộc dự án, dự toán mua sắm trong trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có năng lực kỹ thuật, tài chính và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu.

– Lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt: Trường hợp gói thầu, dự án xuất hiện các điều kiện đặc thù, riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư quy định tại các điều 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật đấu thầu thì người có thẩm quyền trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.

– Tham gia thực hiện của cộng đồng: Cộng đồng dân cư, tổ chức, tổ, nhóm thợ tại địa phương nơi có gói thầu được giao thực hiện toàn bộ hoặc một phần gói thầu đó trong các trường hợp sau đây:

+ Gói thầu thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo cho các huyện, xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn;

+ Gói thầu quy mô nhỏ mà cộng đồng dân cư, tổ chức, tổ, nhóm thợ tại địa phương có thể đảm nhiệm.

b. Phương thức lựa chọn nhà thầu trong xây dựng

– Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ: được áp dụng trong các trường hợp gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ.

– Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ: được áp dụng cho các gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp, lựa chọn nhà đầu tư phương thức này phù hợp với các gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật.

– Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ: được áp dụng cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp.

– Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ: được áp dụng cho các gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù.

Hai phương thức này áp dụng khi Chủ đầu tư, Bên mời thầu chưa xác định rõ được đề bài, thông qua giai đoạn 1 tận dụng các đề xuất của các nhà thầu làm cơ sở hoàn thiện đề bài để thực hiện giai đoạn 2 của gói thầu.

2.1.3.Các loại hợp đồng trong xây dựng

Theo hình thức giá hợp đồng, hợp đồng xây dựng có các loại sau:

Hợp đồng trọn gói;

Hợp đồng theo đơn giá cố định;

Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh;

Hợp đồng theo thời gian;

2.1.4. Vai trò, mục tiêu và nguyên tắc của đấu thầu

a. Vai trò đấu thầu 

Đấu thầu mang lại lợi ích to lớn đối với chủ đầu tư, nhà thầu và nền kinh tế quốc dân nói chung. Cụ thể

* Đối với nền kinh tế quốc dân:

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế và loại trừ được thất thoát, lãng phí vốn đầu tư.

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa. Đây là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng nước ta và tạo điều kiện ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ xây dựng, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới.

* Đối với chủ đầu tư:

Lựa chọn được nhà thầu có khả năng đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu về kinh tế kĩ thuật, tiến độ đặt ra của công trình, giúp cho CĐT tiết kiệm vốn đầu tư; đồng thời vẫn đảm bảo được chất lượng cũng như tiến độ công trình.

CĐT cũng sẽ nắm bắt được quyền chủ động quản lý có hiệu quả và giảm thiểu được các rủi ro phát sinh trong qua trình thực hiện.

Nâng cao trình độ và năng lực.

* Vai trò đối với nhà thầu

Tự hoàn thiện bản thân trên tất cả phương diện. Tạo công ăn việc làm cho người lao động, phát triển sản xuất. Nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong tham gia đấu thầu.

b. Mục tiêu của đấu thầu

– Đảm bảo tính cạnh tranh.

– Đảm bảo sự công bằng

– Đảm bảo tính minh bạch

– Đảm bảo hiệu quả kinh tế:

c. Nguyên tắc đấu thầu xây dựng

– Nguyên tắc công bằng: Mọi nhà thầu đều có quyền bình đẳng như nhau tạo điều kiện đảm bảo cạnh tranh bình đẳng. Việc thực hiện nguyên tắc này sẽ thu hút được nhiều hơn nhà thầu tham gia, qua đó nâng cao được chất lượng của công tác đấu thầu.

– Nguyên tắc công khai: Đây là nguyên tắc bắt buộc, chỉ trừ những công trình đặc biệt thuộc bí mật quốc gia. Nguyên tắc công khai phải được quán triệt trong cả giai đoạn gọi thầu và giai đoạn mở thầu.

– Nguyên tắc bí mật: Mức giá dự kiến của chủ đầu tư, các ý kiến trao đổi của các nhà thầu với chủ đầu tư trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu … phải được đảm bảo bí mật tuyệt đối. Nhằm đảm bảo tính khách quan và công bằng, tránh thiệt hại cho chủ đầu tư trong trường hợp giá thầu thấp hơn giá dự kiến hoặc gây thiệt hại cho bên dự thầu nào đó do thông tin bị lộ ra ngoài.

– Nguyên tắc đảm bảo cơ sở pháp lý: Các bên phải tuân theo những quy định của nhà nước về đấu thầu. Cơ quan quản lý chủ đầu tư có quyền yêu cầu hủy kết quả đấu thầu khi nội dung thực hiện không tuân thủ nguyên tắc này.

– Nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh độc lập: tất cả các tổ chức, cá nhân liên quan đến dự án khi triển khai thực hiện phải độc lập về tổ chức, không phù thuộc vào một cơ quan quản lý độc lập về tài chính, không bị sự chi phối của các tổ chức có liên quan.

– Nguyên tắc có đủ năng lực, trình độ: chủ đầu tư và các nhà thầu phải có năng lực kinh tế kĩ thuật thực hiện những điều đã cam kết. Tránh trường hợp gây thiệt hại do những tổ chức, cá nhân tham gia trực tiếp gây ra.

2.2. Cơ sở pháp lý về đấu thầu xây dựng trong quản lý dự án.

– Quốc hội: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.

– Chính phủ:Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014

– Cấp Bộ, Ban ngành:

+ Các Thông tư về Mẫu hồ sơ: 01/2015/TT-BKHĐT; 05/2015/TT-BKHĐT; Thông tư số 11/2015/TT-BKHĐT, Thông tư số 19/2015/TT-BKHĐT

+ Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 08/09/2015 Quy định chi tiết việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và lựa chọn nhà thầu qua mạng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính.

+ Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT ngày 26 tháng 10 năm 2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc quy định chi tiết về kế hoạch lựa chọn nhà thầu.

+ Thông tư số 23/2015/TT-BKHĐT ngày 21/12/2015 Quy định chi tiết lập báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

+ Thông tư số 10/2010/TT-BKH ngày 13/05/2010 về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

– Văn bản cấp địa phương

+ Quyết định số 03/2015/QĐ-UBND ngày 24/01/2015;

+ Quyết định số 1980/QĐ-UBND ngày 09/4/2015

2.3. Kinh nghiệm đấu thầu trên thế giới

Quy định về đấu thầu ở mỗi nước, mỗi tổ chức quốc tế khá đa dạng cả về số lượng điều khoản cũng như nội dung chi tiết của từng điều khoản, tạo ra tính riêng đặc thù cho hoạt động đấu thầu của từng quốc gia và tổ chức riêng biệt. Có những luật đấu thầu mẫu của WTO và Liên hợp quốc trong đó bỏ trống một số nội dung để từng nước tùy theo điều kiện của mình mà bổ sung cho phù hợp. Trong điều kiện đó, các bài học kinh nghiệm từ các tổ chức quốc tế và quốc gia hết sức phong phú.

– Quy định đấu thầu của Ngân hàng Thế giới (WB)

– Quy định đấu thầu của Ngân hàng phát triển Châu Á

– Quy định đấu thầu của Trung Quốc

– Quy định đấu thầu của Hàn Quốc

2.4. Một số nội dung về hội nhập và hợp tác quốc tế về đầu thầu

Một trong những nội dung quan trọng mang tính đặc trưng trong hội nhập và hợp tác quốc tế về đấu thầu là Việt Nam đã hoàn thành việc đầm phán, gia nhập TPP.

Một trong những điểm khác biệt là chúng ta đã tham gia Chương Mua sắm chính phủ

Một số nội dung chính của mua sắm chính phủ trong TPP:

– Về khái niệm mua sắm chính phủ được biết đến ở nước ta với thuật ngữ mua sắm công hay đầu tư công và trên thế giới là “public procurement”, hoặc “government procurement”. Khái niệm này được hiểu là hoạt động đấu thầu, sử dụng vốn ngân sách nhà nước thực hiện việc mua sắm sản phẩm công.

Chương MSCP của Hiệp định TPP đưa ra các quy tắc, quy trình trong quá trình lựa chọn nhà thầu, tuy nhiên, ở mức độ yêu cầu cao hơn về tính công bằng, công khai, minh bạch. Việt Nam sẽ phải tổ chức lựa chọn nhà thầu trong khối nước tham gia TPP (đấu thầu nội khối) hoặc đấu thầu quốc tế cho phép các nước TPP tham dự thầu với các nguyên tắc cơ bản sau:

– Đối xử quốc gia và không phân biệt đối xử. Chủ đầu tư có nghĩa vụ đối xử với nhà thầu, hàng hóa Việt Nam và nhà thầu, hàng hóa của các nước thành viên TPP cũng như đối xử giữa nhà thầu, hàng hóa của các nước TPP một cách công bằng.

– Không được sử dụng các biện pháp ưu đãi hàng hóa, nhà thầu trong nước cũng như bất kỳ biện pháp nào để gia tăng hàm lượng nội địa hoặc đưa ra các yêu cầu về chuyển giao công nghệ…

– Khuyến khích đấu thầu qua mạng, chống tham nhũng trong đấu thầu…

– Ngoài các quy định chung về thủ tục, trình tự, nguyên tắc trong đấu thầu, mỗi nước sẽ có một biểu cam kết (bản chào) của riêng nước mình. Bản chào này sẽ quyết định phạm vi mở cửa của từng nước.

2.5. Kết luận chương 2

Từ thực tiễn kinh nghiệm tổ chức đấu thầu của các tổ chức kinh tế và các nước trên thế giới và dựa trên cơ sở khoa học của đấu thầu tác giải luận văn kết luận được rằng ‘Để nâng cao hiệu quả trong công tác đấu thầu thì các chủ đầu tư cần phải đảm bảo được rằng hoạt động đấu thầu đó đảm bảo cạnh tranh, công khai và minh bạch”

CHƯƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC LỰA CHỌN NHÀ THẦU XÂY DỰNG VỚI CÁC DỰ ÁN SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1. Một số giải pháp về chính sách

– Nghiêm túc thực hiện báo cáo, thống kê dữ liệu về đấu thầu, công khai thông tin để minh bạch trong đấu thầu;

– Tuân thủ nghiêm túc, triệt để Chỉ thị 494/CT-TTg ngày 20/4/2010;

– Tăng cường hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra công tác đấu thầu;

– Thắt chặt công tác quản lý sau đấu thầu.

3.2. Một số giải pháp về tổ chức

– Kiện toàn bộ máy các cơ quan QL nhà nước về đấu thầu;

– Nâng cao công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác đấu thầu;

– Nâng cao trình độ, chuyên môn hóa các chủ đầu tư.

3.3. Một số giải pháp về chuyên môn

– Công tác chuẩn bị cho đấu thầu;

– Hoàn thiện hệ khung pháp lý và các chức năng của hệ thống đấu thầu điện tử (e GP): Để nhanh chóng đưa đấu thầu điện tử rộng rãi, toàn diện, giải pháp được đề cập đến ở đây là:

* Về pháp lý: Xây dựng hoàn thiện hệ thống Khung pháp lý cho đấu thầu qua mạng:

* Về mặt thể chế: Cần có quyết tâm chính trị trong toàn hệ thống bộ máy nhà nước đặt biệt đề cao vai trò của người đứng đầu.

* Về mặt kỹ thuật: Hoàn thiện toàn bộ chức năng của hệ thống mạng đấu thầu quốc gia đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước và nhu cầu hội nhập thế giới.

3.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lựa chọn nhà thầu sử dụng vốn ngân sách tại thành phố Đà Nẵng

Đối với các công tác lựa chọn nhà thầu sử dụng vốn ngân sách tại thành phố Đà Nẵng bên cạnh việc tuân thủ nghiêm túc và đầy đủ các quy định của pháp luật về đấu thầu, các giải pháp đã nêu ở trên, cần tổ chức thực hiện tốt một số nội dung sau:

– Sớm hoàn thành công tác thành lập các Ban quản lý dự án chuyên ngành: Bằng cách rà soát và sắp xếp các ban QL hiện tại thành bộ khung các Ban QLDA theo NĐ 59/2015/NĐ-CP.

– Song song với việc sát nhập, cần phải tổ chức kiện toàn bộ máy các đơn vị Ban Quản lý dự án, tập trung đào tạo nguồn nhân lực hiện có để đáp ứng quy định tại Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

– Đẩy mạnh việc phân cấp nguồn vốn và giao nhiệm vụ chủ đầu tư về các địa phương thuộc thành phố Đà Nẵng. Theo đó:

– Các đơn vị địa phương được chủ động sử dụng nguồn vốn ngân sách tại địa phương để triển khai các dự án có tổng mức đầu tư dưới 5 tỷ đồng.

– Giao các quận huyện, Sở ngành nhiệm vụ là chủ đầu tư các dự án đầu tư xây dựng có tổng mức đầu tư dưới 20 tỷ đồng.

Việc phân cấp và giao nhiệm vụ, quyền hạn cho các địa phương đơn vị như trên bước đầu sẽ gặp không ít khó khăn do trình độ chuyên môn, kinh nghiệm triển khai dự án, đặc biệt là công tác lựa chọn nhà thầu ở mỗi tổ chức là không đồng đều, nếu không muốn nói chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Vì vậy, trong giai đoạn đầu triển khai phân cấp cần:

+ Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ chuyên môn tại các đơn vị, đặc biệt là công tác LCNT, từ khâu chuẩn bị hồ sơ đến công tác tổ chức đấu thầu.

+ Cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu của thành phố tích cực tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ cho các đơn vị, địa phương trong thời gian đầu để đưa công tác tổ chức lựa chọn nhà thầu đi vào nề nếp.

Tăng cường phân cấp, phân quyền cho các đơn vị, các Sở ban ngành bước đầu sẽ gặp một số khó khăn nhất định, tuy nhiên về lâu dài sẽ làm nguồn vốn đầu tư phù hợp với tình hình tại cơ sở, nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí đầu tư qua đó làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

– Tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính về đấu thầu:

+ Đối với chủ đầu tư: rút ngắn thời gian lập và trình thẩm định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu, hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu và phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. Trong trường hợp không đủ điều kiện năng lực, chủ đầu tư phải lựa chọn các đơn vị tư vấn để rút ngắn thời gian các bước nêu trên.

+ Đối với cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu: rút ngắn thời gian thẩm định, trình phê duyệt kế hoạch LCNT, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, việc rút ngắn cần có lộ trình theo từng bước đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế về số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, cụ thể có thể hướng đến các mốc thời gian như sau:

– Lập sổ tay hướng dẫn các thủ tục của công tác lựa chọn nhà thầu.

3.5. Kết luận chương 3

Với thách thức của việc đấu thầu quốc tế khi tham gia các hiệp định thương mại tự do. Để nâng cao hiệu quả trong công tác đấu thầu sử dụng vốn nhà nước, trên cơ sở Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 của Quốc hội và thực trạng của Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng tác giả luận văn đã đề xuất các giải pháp vừa mang tính tổng quát, vừa mang tính cụ thể và được tổng hợp qua 03 nhóm giải pháp cụ thể:

– Nhóm giải pháp về chính sách

– Nhóm giải pháp về Tổ chức

– Nhóm giải pháp về chuyên môn

Trong các nhóm giải pháp này, giải pháp đấu thầu điện tử được xem là giải pháp toàn diện và tổng quát nhất bởi hiệu quả to lớn và đã được kiểm chứng trên các nước trên thế giới, nó phù hợp với quy định đấu thầu quốc tế. Tuy nhiên, để thực hiện được giải pháp này, thì các giải pháp về hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng các biểu mẫu, phương pháp đánh giá phù hợp cũng như đào tạo, nâng cao trình độ, khoa học kỹ thuật cần phải triển khai đồng loạt và khẩn trương.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

– Hiệu quả trong công tác đấu thầu sử dụng vốn nhà nước hiện nay ở Việt Nam và Đà Nẵng chưa tương ứng với lợi ích thực có trong công tác đấu thầu. Lý do là vì: Tính cạnh tranh, minh bạch chưa cao trong các gói thầu sử dụng vốn nhà nước; Cơ cấu lập dự toán còn nhiều bất cập, chưa phù hợp, đầy đủ để có cơ sở xác định giá gói thầu phù hợp…

– Hệ thống pháp lý trong thời gian qua đã được thường xuyên sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế với điểm nổi bậc là sự ra đời của Luật đấu thầu 43/2013/QH13, Luật đã thống nhất được hệ thống các quy định trong công tác đấu thầu trước đây vào một luật duy nhất và sửa đổi bổ sung cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tế ở nước ta đảm bảo đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên để Luật thật sự đi vào cuộc sống, Chính phủ, Bộ kế hoạch và đầu tư cần sớm ban hành hệ thống nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết đầy đủ trên tất cả nội dung để tạo khung pháp lý vững chắc trong quá trình quản lý và thực hiện công tác đấu thầu.

– Với xu hướng của thời đại là hội nhập và phát triển, Việt Nam đã là thành viên chính thức của các tổ chức thương mại tự do. Bên cạnh những thuận lợi cũng là những thách thức to lớn trong quá trình tự do cạnh tranh trong đó có tự do cạnh tranh trong đấu thầu mua sắm công. Do đó, việc nâng cao trìn độ chuyên môn, nghiệp vụ, áp dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình đấu thầu là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu.

– Với những đặc điểm của đấu thầu ở Việt Nam và Đà Nẵng, trên cơ sở kinh nghiệm của đấu thầu quốc tế tác giả luận văn đã đưa ra 03 nhóm giải pháp để tăng hiệu quả quản lý trong công tác đấu thầu sử dụng vốn nhà nước ở Việt Nam và Đà Nẵng. Cụ thể:

– Nhóm giải pháp về chính sách

– Nhóm giải pháp về Tổ chức

– Nhóm giải pháp về chuyên môn

2. Kiến nghị

– Bản chất của đấu thầu là “Cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” do đó để đạt hiệu quả trong đấu thầu nghĩa là mang lại hiệu quả sử dụng đồng tiền nhà nước cần có sự cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong quá trình đấu thầu. Để đạt được các tiêu chí trên của đấu thầu bên cạnh hệ thống khung pháp lý hoàn thiện, cần có sự quyết tâm chính trị trong toàn bộ máy nhà nước đặt biết là vai trò của người đứng đầu trong các cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý, thực hiện công tác quản lý đấu thầu sử dụng vốn nhà nước.

– Đấu thầu điện tử (e GP) là một trong những công cụ hiệu quả của nhà nước trong việc công khai, minh bạch thông tin trong đấu thầu, nâng cao hiệu quả tiết kiệm trong công tác đấu thầu mua sắm chính phủ và phù hợp với đấu thầu quốc tế. Do đó, nhằm sớm tạo ra một môi trường đấu thầu tiên tiến thay thế cho đấu thầu giấy hiện nay, đấu thầu điện tử cần được quan tâm nhiều hơn với nhiều nội dung cấp bách cần triển khai như tổ chức đào tạo, tổ chức triển khai và hoàn thiện chức năng của mạng đấu thầu điện tử.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGUYEN QUANG THUAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *