Nâng cao chất lượng đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp

Nâng cao chất lượng đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp tại trường đại học Duy Tân

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thế kỷ 21 đánh dấu quá trình hội nhập và toàn cầu hóa mạnh mẽ của các quốc gia trên thế giới, trong đó có sự phát triển nhanh của nền kinh tế tri thức. Mỗi quốc gia đều tìm cho mình con đường phát triển riêng dựa trên khai thác lợi thế như: nguồn nhân lực, khoa học công nghệ…Trong đó, sự phát triển của giáo dục, khoa học công nghệ là động lực then chốt cho sự phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia. Thực tế cho thấy lợi thế sẽ thuộc về quốc gia, tổ chức có chất lượng nguồn nhân lực tốt, sở hữu công nghệ tiên tiến, hiện đại và phù hợp với nhu cầu xã hội.

Trong những năm qua, giáo dục Việt Nam đã có nhiều thành tích nhưng cũng bộc lộ những hạn chế và bất cập, tình trạng thừa thầy, thiếu thợ khá phổ biến làm cho cơ cấu bị mất cân đối; chất lượng lao động không qua đào tạo không đáp ứng được nhu cầu; các trường chỉ tập trung vào việc hoàn thiện kỹ năng cứng cho người học trong đó kỹ năng mềm lại không được chú trọng.

Mặt khác đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay là phát triển nền kinh tế với nhiều thành phần kinh tế, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh Việt Nam chịu sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường trong và ngoài nước về lĩnh vực đào tạo; để thắng lợi trong cạnh tranh, chất lượng đào tạo là yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của các trường đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.

Thực trạng trên đặt ra nhiệm vụ cho các bộ ngành. Nếu chất lượng đào tạo tốt (có nghĩa là Sinh vên tốt nghiệp có trình độ chuyên môn vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, tỷ lệ làm việc và làm đúng nghề cao) khi đó sinh viên đến học ở Trường tăng lên, xét về mặt vi mô làm cho quy mô của Trường phát triển, thu nhập của cán bộ, nhân viên cao; về mặt vĩ mô đã đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực tốt giúp cho xã hội có đội ngũ quản lý, đội ngũ lao động tốt, tạo ra năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, làm cho nền kinh tế, xã hội phát triển, ngược lại chất lượng đào tạo không tốt (có nghĩa là sinh viên tốt nghiệp có trình độ chuyên môn không vững vàng, có phẩm chất đạo đức chưa tốt, tỷ lệ có việc và làm việc đúng nghề thấp) khi đó sinh viên đến học ở Trường giảm xuống, xét về mặt vi mô làm cho quy mô đào tạo của Trường giảm. thu nhập của cán bộ, nhân viên thấp; về mặt vĩ mô đã đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực kém, xã hội có đội ngũ quản lý, đội ngũ lao động kém, tạo ra năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp làm cho nền kinh tế, xã hội kém phát triển.

Chương trình đào tạo chưa hợp lý giữa lý thuyết và thực hành. Chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết chiếm khoảng 70% số tiết, thực hành thì ít chiếm khoảng 30% số tiết về một số môn học chuyên ngành. Đó là sự mất cân đối trong chương trình đào tạo của nhà trường, sinh viên sau khi ra trường sẽ thiếu kỹ năng làm việc thực hành ở các nhà máy. Trong khi đó lại không vận dụng được hết lý thuyết được học và thực tế sản xuất dẫn đến tình trạng thừa thầy và thiếu thợ.

Sinh viên ra trường vẫn chưa bắt kịp và làm quen với kỹ thuật mới của các doanh nghiệp, tỷ lệ sinh viên làm được việc về kiến thức chuyên môn kém đa số vừa làm vừa học kinh nghiệm của các đồng nghiệp; mặt khác sẽ không được làm theo ý nguyện làm việc làm việc đúng chuyên ngành, đa số làm trái ngành trái nghề. Các doanh nghiệp thường xuyên thay đổi mô hình sản xuất hoặc mua những máy móc có trang thiết bị hiện đại vào làm việc để theo kịp cơ chế của thị trường nên nhiều sinh viên rất lúng túng, thiếu hiểu biết về chuyên môn không thể làm được việc như các doanh nghiệp mong đợi ở họ.

Các doanh nghiệp nhận sinh viên về làm việc hầu như họ phải tiến hành đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung tay nghề, đào tạo bổ sung kỹ năng thực hành tại các doanh nghiệp từ 3 đến 6 tháng vì trình độ tay nghề của các sinh viên còn kém, còn chậm, còn chưa thích nghi được với môi trường mới, phong cách làm việc, áp lực công việc.

Xuất phát từ thực tế trên tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp tại trường đại học Duy Tân”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hóa các lý luận về chất lượng đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp

Phân tích và đánh giá thực trạng về chất lượng đào tạo đại học tại trường đại học Duy Tân

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học gắn với nhu cầu doanh nghiệp tại trường đại học Duy Tân.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu về chất lượng đào tạo bậc đại học của sinh viên theo học tại trường đại học Duy Tân. Thông qua các sinh viên đang học, sinh viên đã tốt nghiệp, nhóm cán bộ, giảng viên làm việc và giảng dạy, cùng những đơn vị sử dụng lao động được đào tạo tại Trường.

Phạm vi nghiên cứu:

– Không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về chất lượng đào tạo đại học gắn với nhu cầu của doanh nghiệp tại trường đại học Duy Tân.

– Thời gian: Số liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 2014 – 2017.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

– Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.

– Phương pháp thống kê mô tả: Điều tra khảo sát bằng phiếu câu hỏi theo mẫu lựa chọn đối với học viên đã tham gia khóa học tại Trường và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu.

5. Bố cục của luận văn

Bố cục 3 chương:

– Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo đại học gắn với nhu cầu của doanh nghiệp

– Chương 2: Thực trạng về chất lượng đào tạo đại học tại trường đại học Duy Tân

– Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học gắn với nhu cầu doanh nghiệp tại trường đại học Duy Tân

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

GẮN VỚI NHU CẦU CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀO TẠO VÀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

1.1.1. Đào tạo

Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm giữ những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.

Khái niệm về đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định.

Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo…

1.1.2. Chất lượng và chất lượng đào tạo

Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình. Việc phấn đấu nâng cao chất lượng được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở tham gia hoạt động nào.

Vậy chất lượng là gì? Thuật ngữ “chất lượng” có nhiều quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận và từ đó đưa ra nhiều địnhh nghĩa khác nhau:

Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Giáo dục 1998].

Hay: Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Khoa học xã hội, H.1987].

Hay: Chất lượng là “sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định” [Theo Philip B. Grosby người Mỹ].

Chất lượng phải dựa trên căn bản là đào tạo, huấn luyện và giáo dục thường xuyên. Chính vì vậy, trách nhiệm về giáo dục phụ thuộc 80% – 85% vào ban lãnh đạo.

Trên đây là một số định nghĩa tiêu biểu về chất lượng. Mỗi định nghĩa được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng. Mặc dù vậy tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO đưa ra trong ISO 9000/2000: “chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng được các yêu cầu”. Đây có thể được xem là định nghĩa có ưu điểm, nó được xem xét một cách toàn diện và rộng rãi hơn.

Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo [Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp – Đại học quốc gia hà nội].

Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương tình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể [Trần Khánh Đức – viện nghiên cứu phát triển giáo dục].

Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo được xem là nhiệm vụ quan trọng của các cơ sở đào tạo hiện nay.

1.1.3. Các quan niệm về chất lượng đào tạo

– Chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”

Một số nước có quan điểm cho rằng “Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng các yếu tố đầu vào của cơ sở đào tạo đó”. Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là:

“Nguồn lực” = “Chất lượng”

Theo quan điểm này nếu một trường tuyển được học sinh, sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có cơ sở vật chất tốt… thì được coi là trường có chất lượng đào tạo tốt. Quan điểm này đã bỏ qua quá trình tổ chức và quản lý và đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một khoảng thời gian. Sẽ khó giải thích trường hợp một trường đã có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chất lượng đầu ra hạn chế hoặc ngược lại. Theo cách đánh giá này, cho rằng dựa vào chất lượng nguồn lực đầu vào có thể đánh giá được chất lượng đầu ra.

– Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”

“Đầu ra” là kết quả, là sản phẩm của quá trình đào tạo được thể hiện bằng năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, sự thành thạo trong công việc hay khả năng cung cấp các dịch vụ của cơ sở đào tạo đó. Có quan điểm cho rằng “đầu ra” của quá trình đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào”.

Có thể hiểu là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện ở các phẩm chất, giá trị nhân cách, năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo. Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường mà còn phải tính đến mức độ thích ứng và phù hợp của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau khi ra trường, khả năng làm chủ và vị trí của người đó trong doanh nghiệp.

– Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”

Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực và tạo ra sự khác biệt của sinh viên về trí tuệ, nhân cách… của học sinh, sinh viên, điều đó đã cho thấy trường đã tạo ra giá trị gia tăng cho học sinh, sinh viên đó. “giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào” kết quả thu được được coi là chất lượng đào tạo của trường. Quan điểm này chỉ tồn tại về mặt lý thuyết vì trên thực tế rất khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất về mặt định lượng để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” từ đó tìm ra mức chênh lệch để đánh giá chất lượng đào tạo.

– Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”

Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường học phương tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ giảng viên trong từng trường trong quá trình thẩm định, công nhận chất lượng đào tạo của trường. Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng viên có học vị, học hàm cao, có uy tín khoa học lớn thì được xem là trường có chất lượng cao.

Hạn chế của quan điểm này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường để nhận tài trợ cho các chương trình nghiên cứu trong môi trường không thuần học thuật. Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khi có xu hướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng. Đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục hiện nay có quá nhiều các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, xu thế đa dạng hóa ngành nghề, lĩnh vực đào tạo; sự buông lỏng trong quản lý cũng như khả năng quản lý yếu kém trong giáo dục đã làm cho số lượng các học thuật mà các trường sở hữu tăng những chất lượng cũng đang báo động.

Kết quả đào tạo khớp với mục tiêu đào tạo => Đạt chất lượng trong

Kết quả đào tạo

Kết quả đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội => Đạt chất lượng ngoài

Nhu cầu xã hội

Mục tiêu đào tạo

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo

Nguồn. Trần Khánh Đức, 2004

1.1.4. Khái quát về chất lượng đào tạo đại học

Chất lượng đào tạo đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và của ngành.

Chất lượng đào tạo đại học là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương xứng với mục tiêu chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể.

Như vậy khi nói đến chất lượng đào tạo đại học ta vừa nói đến chất lượng của người học đồng thời cũng phải tính đến chất lượng của hệ thống các sản phẩm trung gian cấu thành nên sản phẩm cuối cùng đó. Ta vẫn khẳng định chất lượng của cơ sở vật chất, của trang thiết bị, của đội ngũ những người thầy, của phương pháp dạy học, chất lượng của mỗi bài học, mỗi hoạt động giáo dục đều tham gia cấu thành chất lượng đào tạo.

Trong lĩnh vực đào tạo chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là “con người lao động” có thể là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo, với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo đại học không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như: cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên… mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp đối với cơ quan, các tổ chức sản xuất – dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp của bản thân họ trong tương lai…

Theo quan niệm của tác giả, chất lượng đào tạo đại học được hội tụ qua quá trình đào tạo tại trường đại học với những phẩm chất cơ bản dưới đây:

– Kiến thức cơ bản: phải tích lũy được những kiến thức nền tảng về các nguyên lý cơ bản. Các quy luật tự nhiên và xã hội trong lĩnh vực đào tạo để phát triển kiến thức mới, có thể tiếp tục học tập ở trình độ cao hơn.

– Kiến thức chuyên ngành: có kiến thức lý thuyết chuyên sâu trong lĩnh vực đào tạo. Nắm vững kỹ thuật và có kiến thức thực tế để có thể giải quyết những công việc phức tạp, kiến thức quản lý, điều hành, kiến thức pháp luật và bảo vệ môi trường liên quan đến lĩnh vực được đào tạo

– Phẩm chất đạo đức: Có năng lực dẫn dắt về chuyên môn, nghiệp vụ đã được đào tạo, có sáng kiến trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, có khả năng tự định hướng, thích nghi với các môi trường làm việc khác nhau, tự học tập, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng đưa ra được kết luận về các vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ thông thường và một số vấn đề phức tạp về mặt kỹ thuật, có năng lực lập kế hoạch, điều phối, phát huy trí tuệ tập thể; có năng lực đánh giá và cải tiến các hoạt động chuyên môn ở quy mô trung bình.

– Kỹ năng nghề nghiệp, các kỹ năng mềm: Có kỹ năng hoàn thành công việc phức tạp đòi hỏi vận dụng kiến thức lý thuyết và thực tiễn của ngành được đào tạo trong những bối cảnh khác nhau, có kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá dữ liệu và thông tin, tổng hợp ý kiến tập thể và sử dụng những thành tựu mới về khoa học công nghệ để giải quyết những vấn đề thực tế hay trừu tượng trong lĩnh vực được đào tạo, có năng lực dẫn dắt chuyên môn để xử lý những vấn đề quy mô địa phương và vùng miền. Có kỹ năng ngoại ngữ ở mức có thể hiểu được các ý chính của một báo cáo hay bài phát biểu về các chủ đề quen thuộc trong công việc liên quan đến ngành được đào tạo, có thể sử dụng ngoại ngữ để diễn đạt, xử lý một số tình huống chuyên môn thông thường, có thể viết được báo cáo có nội dung đơn giản, trình bày ý kiến liên quan đến công việc chuyên môn.

1.1.5. Đặc điểm của công tác đào tạo ở bậc đại học

1.1.5.1. Mục tiêu đào tạo đại học

Mục tiêu chung

– Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.

– Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân.

Mục tiêu cụ thể đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ

– Đào tạo trình độ cao đẳng để sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các nguyên lý, quy luật tự nhiên – xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc ngành được đào tạo.

– Đào tạo trình độ đại học để sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên – xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo.

– Đào tạo trình độ thạc sĩ để học viên có kiến thức khoa học nền tảng, có kỹ năng chuyên sâu cho nghiên cứu về một lĩnh vực khoa học hoặc hoạt động nghề nghiệp hiệu quả, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo.

– Đào tạo trình độ tiến sĩ để nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và ứng dụng, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát triển tri thức mới, phát hiện nguyên lý, quy luật tự nhiên – xã hội và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn.

1.1.5.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường đại học

– Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển cơ sở giáo dục đại học.

– Triển khai hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.

– Phát triển các chương trình đào tạo theo mục tiêu xác định; bảo đảm sự liên thông giữa các chương trình và trình độ đào tạo.

– Tổ chức bộ máy; tuyển dụng, quản lý, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức, người lao động.

– Quản lý người học; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của giảng viên, viên chức, nhân viên, cán bộ quản lý và người học; dành kinh phí để thực hiện chính sách xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách xã hội, đối tượng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; bảo đảm môi trường sư phạm cho hoạt động giáo dục.

– Tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục.

– Được nhà nước giao hoặc cho thuê đất, cơ sở vật chất; được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật.

– Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực; xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị.

– Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài.

– Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự kiểm tra, thanh tra của bộ giáo dục và đào tạo, các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đại học đặt trụ sở hoặc có tổ chức hoạt động đào tạo theo quy định.

– Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

1.1.5.3. Nhiệm vụ và quyền của người học

– Học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện theo quy định.

– Tôn trọng giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức và nhân viên của cơ sở giáo dục đại học; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và rèn luyện.

– Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh, trật tự, phòng, chống tiêu cực, gian lận trong học tập và thi cử, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội.

– Được tôn trọng và đối xử bình đẳng, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện.

– Được tạo điều kiện trong học tập, tham gia hoạt động khoa học và công nghệ, các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao.

– Đóng góp ý kiến, tham gia quản lý và giám sát hoạt động giáo dục và các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục.

– Được hưởng chính sách đối với người học thuộc đối tượng hưởng ưu tiên và chính sách xã hội.

– Các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật.

1.2. ĐÀO TẠO VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO GẮN VỚI NHU CẦU CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1. Tầm quan trọng và lợi ích của việc đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp

Trong hợp tác, yếu tố quyết định thành công là các bên phải cùng có lợi ích (Win-Win). Nếu mỗi bên theo đuổi mục tiêu lợi ích riêng của mình mà không tính đến lợi ích thoả đáng của bên kia thì rất khó hợp tác được với nhau. Các bên phải nhìn nhận rất rõ là “khách hàng” của nhau thì mới có được các “ứng xử” theo nguyên tắc cùng có lợi.

Hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực đào tạo nói riêng còn khá mới mẻ ở nước ta. Do đó, sự hiểu biết lẫn nhau để thực hiện nguyên tắc cùng có lợi còn rất hạn chế. Các doanh nghiệp là tổ chức lợi nhuận nên họ rất quan tâm đến chi phí và lợi ích. Họ không thể bỏ thời gian, tiền bạc để hợp tác với đại học nếu thấy không đem lại lợi ích thiết thực gì. Lợi ích lớn nhất mang lại từ hợp tác với đại học là có được nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp. Thay vì phải tìm kiếm lao động trên thị trường tự do, mất thời gian và chi phí để đào tạo lại, các doanh nghiệp “đặt hàng” với đại học để đào tạo ra những cán bộ, chuyên gia đáp ứng được nhu cầu phát triển của mình. Như vậy, đại học sẽ đem lại lợi ích rất lớn, tạo nguồn “tài sản” quí giá trong tương lai cho các doanh nghiệp.

Ngoài ra, các doanh nghiệp còn nhận được lợi ích từ các đại học trong việc tiếp cận trực tiếp với các giải pháp phát triển doanh nghiệp, phát minh, sáng chế và các dịch vụ tư vấn. Gắn kết đào tạo theo nhu cầu phát triển của doanh nghiệp cũng mang lại nhiều lợi ích cho đại học. Trước hết, sản phẩm đầu ra đã có nơi đặt hàng, nhờ đó nắm bắt được cụ thể yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, phẩm chất nghề nghiệp, số lượng/qui mô cần phải đào tạo. Các thông tin này có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thiết kế nội dung các chương trình đào tạo và tuyển chọn, phát triển đội ngũ giảng viên. Mặt khác, nhờ có đơn đặt hàng, đại học có được nguồn kinh phí dồi dào, tăng cường cơ sở vật chất. Những lợi ích này sẽ giúp đại học có được thương hiệu mạnh, thu hút đầu vào giỏi, nhiều đơn đặt hàng, nhận được nhiều tài trợ (đặc biệt là tài trợ của các cựu sinh viên thành đạt). Đại học gắn kết đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp sẽ mang lại lợi ích to lớn cho tất cả các bên. Sự gắn kết này đã và đang được các đại học và doanh nghiệp ở nhiều nước khai thác triệt để. Ở nước ta, các đại học và doanh nghiệp cũng bắt đầu thấy được lợi ích to lớn nếu gắn kết được với nhau. Tuy nhiên, làm thế nào để gắn kết được với nhau vẫn là câu hỏi lớn, chưa có lời giải đáp

1.2.2. Các mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp

Mô hình: kết hợp 3 yếu tố trong đào tạo đại học

Phân tích nhu cầu doanh nghiệp và xu hướng phát triển

Xác định các chuẩn đầu ra đáp ứng nhu cầu thực tiễn

Xây dựng chương trình đào tạo, học liệu

Lựa chọn đội ngũ giảng viên, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá và quản lý đào tạo

Chuẩn bị cơ sở vật chất, phát triển các dịch vụ, tài chính phục vụ quá trình đào tạo

Tuyển sinh để đào tạo theo yêu cầu chuẩn đầu ra

Quá trình

đào tạo

(2)

Sơ đồ 1.2. Mô hình kết hợp 3 yếu tố trong đào tạo đại học

Nguồn: Lê Công Cơ, Nguyễn Lợi/ Tạp chí KHCN-ĐH Duy Tân 4(23)(5/2017)

Từ mô hình, có thể thấy công tác phân tích, dự báo yêu cầu của nguồn nhân lực và xu hướng phát triển của các ngành nghề của thực tiễn là rất quan trọng. Trường đại học không chỉ quan tâm đến nhu cầu lao động của các ngành nghề để xác định quy mô đào tạo, mà còn phải đón đầu được các ngành nghề mới sẽ phát triển trong tương lai, sự phát triển đó như thế nào, những công nghệ nào có thể ứng dụng trong thực tiễn, qua đó xác định các đòi hỏi về nguồn nhân lực trong tương lai để xây dựng các chuẩn đầu ra, tổ chức lựa chọn công nghệ đào tạo, tuyển sinh đầu vào đáp ứng các nhu cầu dự báo đó. Với cách tiếp cận vấn đề như trên, có thể thấy chất lượng đào tạo đại học sẽ có những thay đổi căn bản, nguần nhận lực được đào tạo ra sẽ gắn với nhu cầu thực tiễn, đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước, cũng như theo kịp xu hướng phát triển chung của thế giới.

Mô hình: Đại học có các doanh nghiệp

DOANH NGHIỆP

Trung tâm đào tạo

Quá trình đào tạo

(2)

Các doanh nghiệp

sản xuất khác

Đầu vào (1)

Đầu ra (3)

Cung cấp

cho

DN

Sơ đồ 1.3. Mô hình đại học có các doanh nghiệp

Nguồn: Lê Công Cơ, Nguyễn Lợi/ Tạp chí KHCN-ĐH Duy Tân 4(23)(5/2017)

Mô hình trường đại học có các doanh nghiệp cũng là một mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp được áp dụng phổ biến trong giáo dục nghề nghiệp. Theo đó, trường đại học ngoài nhiệm vụ đào tạo đại học, còn tổ chức thêm các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trực thuộc trường đại học, vừa làm nhiệm vụ kinh doanh trực thuộc trường đại học, vừa làm nhiệm vụ kinh doanh, vừa hỗ trợ cho trường đại học trong đào tạo thực hành, phối hợp nghiên cứu khoa học và thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu. Mục đích của mô hình này là đưa thực tế hoạt động của các nghề trong thực tiễn vào trường đại học, để hỗ trợ thúc đẩy đào tạo đại học, nhất là đào tạo để hỗ trợ thúc đẩy đào tạo đại học, nhất là đào đào tạo chuyên sâu về kỹ năng thực hành và phát triển sản xuất kinh doanh, tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội, thông qua việc nghiên cứu khoa học của nhà trường, tận dụng đội ngũ giảng viên và sinh viên làm việc bán thời gian.

Mô hình: Đại học liên kết với các doanh nghiệp

TRƯỜNG

ĐẠI HỌC

Quá trình đào tạo

Đào tạo kiến thức cơ bản

Đào tạo kỹ năng thực hành

Liên kết với các doanh nghiệp

Đầu vào

Đầu ra

– Thực tập

– Nghiên cứu

– Trao đổi chuyên gia

– XD CT đào tạo

-…..

Sơ đồ 1.4. Mô hình đại học liên kết với các doanh nghiệp

Nguồn: Lê Công Cơ, Nguyễn Lợi/ Tạp chí KHCN-ĐH Duy Tân 4(23)(5/2017)

Mô hình trường đại học có các doanh nghiệp cũng là một mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, được áp dụng phổ biến trong giáo dục nghề nghiệp. Theo đó, trường đại học ngoài nhiệm vụ đào tạo đại học, còn tổ chức thêm các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trực thuộc trường đại học, vừa làm nhiệm vụ kinh doanh, vừa hỗ trợ cho trường đại học trong đào tạo thực hành, phối hợp nghiên cứu khoa học và thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu. Mục đích của mô hình này là đưa thực tế hoạt động của các ngành nghề trong thực tiễn vào trường đại học, để hỗ trợ thúc đẩy đào tạo đại học, nhất là đào tạo chuyên sâu về kỹ năng thực hành và phát triển sản xuất kinh doanh, tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội, thông qua việc tận dụng, thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu khoa học của nhà trường, tận dụng đội ngũ giảng viên và sinh viên làm việc bán thời gian…

Mô hình: Các khoa/ bộ môn của đại học liên kết với các doanh nghiệp

KHOA/ BỘ MÔN

Quá trình đào tạo

Đào tạo kiến thức cơ bản

Đào tạo kỹ năng thực hành

Liên kết với các doanh nghiệp

Đầu vào

Đầu ra

– Thực tập

– Nghiên cứu

– Trao đổi chuyên gia

– XD CT đào tạo

-…..

Sơ đồ 1.5. Mô hình các khoa/ bộ môn của đại học liên kết với các doanh nghiệp

Nguồn: Lê Công Cơ, Nguyễn Lợi/ Tạp chí KHCN-ĐH Duy Tân 4(23)(5/2017)

Mô hình các khoa/ bộ môn của trường đại học liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo đại học thực chất là mô hình trường đạo học liên kết với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, do đặc điểm kinh tế xã hội ở Việt Nam nói chung và miền Trung Việt Nam nói riêng đa phần là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, nhu cầu sử dụng lao động chủ yếu là lao động thủ công, quy mô rất nhỏ. Do đó, việc liên kết với một trường đại học quy mô 15000 – 20000 sinh viên là không tương thích. Mặt khác trường đạo học cũng không đủ nguồn lực để cùng một lúc triển khai có hiệu quả việc liên kết với hàng chục ngàn doanh nghiệp. Vì lẽ đó, trường đại học giao nhiệm vụ cho các khoa/ bộ môn thông qua trung tâm xúc tiến và hợp tác doanh nghiệp để liên kết với doanh nghiệp chủ yếu là trong việc luân chuyển sinh viên thực tập, tổ chức các buổi tọa đàm trao đổi những lý thuyết mới và những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Mô hình này tuy chưa phát triển rộng rãi và chưa thể hiện được tầm vóc và nhu cầu của sự hợp tác nhưng hiệu quả mang lại rất tốt. Thông qua sự phát triển quan hệ hợp tác với hàng chục ngành doanh nghiệp vừa , nhỏ, siêu nhỏ, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đào tạo kỹ năng thực hành cho sinh viên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học.

1.2.3. Nội dung nâng cao chất lượng đào tạo đại học gắn với nhu cầu của doanh nghiệp

1.2.3.1. Xây dựng chương trình đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp

Đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn đòi hỏi chương trình đào tạo được cấu trúc thành nhiều học phần. Trong đó, học phần kiến thức cơ bản phải đảm bảo các chuẩn mực về trình độ đại học của quốc gia (gồm các môn tự nhiên, xã hội và nhân văn…), bắt buộc tất cả sinh viên tốt nghiệp trình độ đại học phải có những hiểu biết nhất định về kiến thức cơ bản theo các chuẩn mực chung. Học phần kiến thức chuyên ngành bao gồm những môn học theo chuyên ngành đào tạo được khảo sát gắn với nhu cầu và dự báo phát triển từ thực tiễn (trường đại học có thể cùng doanh nghiệp khảo sát xây dựng, biên soạn chương trình đào tạo, hoặc nhập khẩu các chương trình đào tạo tiên tiến theo từng chuyên ngành của các đại học nổi tiếng trên thế giới). Đây là một phần quan trọng quyết định năng lực chuyên môn của nguồn nhân lực được đào tạo tại các trường đại học, và năng lực này ở mỗi trường khác nhau chất lượng cũng có thể khác nhau (theo chuẩn đầu ra khác nhau, mỗi trường xây dựng các chuẩn đầu ra theo một lĩnh vực chuyên sâu nào đó đáp ứng nhu cầu chung hoặc riêng biệt trong thực tiễn). Học phần thực hành (bao gồm thực hành ở doanh nghiệp, học ở phòng thí nghiệm tự học và luân chuyển sinh viên thực tập trong và ngoài nước) sẽ giúp hình thành nên những kỹ năng, sự lành nghề, phát triển năng khiếu, các kỹ năng mềm cho sinh viên.

Chương trình đào tạo ngoài việc thiết kế đáp ứng trình độ chuẩn quốc gia về kiến thức cơ bản ở cấp bậc đại học, năng lực chuyên môn và các kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm gắn với nhu cầu của thực tiễn, còn lưu ý đến việc khơi dậy sự đam mê, phát huy năng khiếu của người học. Tức là, chương trình đào tạo cần có nhiều môn học tự họn, để mỗi sinh viên được lưa chọn và theo học những môn học của ngành gần, ngành xa yêu thích, qua đó không chỉ mở ra khả năng phát huy tối đa năng lực học tập, khả năng nghiên cứu để phát huy hết sở trường của sinh viên, mà còn góp phần mở rộng khối kiến thức tích lũy được trong quá trình học đại học, có thể giúp sinh viên có nhiều cơ hội hơn trong tìm kiếm, lựa chọn ngành nghề làm việc và có khả năng làm được nhiều việc trong xu thế xã hội luôn luôn biến động, thay đổi một cách nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, cho đến sự đa dạng trong phát triển hiện nay.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\VO QUOC TOAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *