Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế huyện Bố Trạch

1. Lý do chọn đề tài

Thuế đã, đang và sẽ còn là nguồn thu chủ yếu và lâu dài của Ngân sách Nhà nước, là công cụ quan trọng trong quản lý Nhà nước để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.Với vai trò và ý nghĩa đó nên vấn đề thuế và quản lý thuế luôn được Nhà nước quan tâm.Theo đó, hệ thống chính sách thuế ở nước ta đã từng bước được cải cách; Bộ máy ngành thuế ngày càng được hoàn thiện; Công nghệ thông tin ngày càng được áp dụng trong quản lý thuế.

Mặt khác, thuế là một lĩnh vực phức tạp, bởi lẽ thuế không chỉ thể hiện là những vấn đề kinh tế mà còn chứa đựng nhiều vấn đề xã hội sâu sắc.Thuế không những đòi hỏi tính khoa học về mặt lý luận, sự chính xác trong luật định mà còn cần đến nghệ thuật tinh tế trong hành thu.

Ngành thuế đã xây dựng và trình Nhà nước ban hành được một hệ thống chính sách thuế bao quát hầu hết các nguồn thu và từng bước được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trở thành công cụ của Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo hướng khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Luật quản lý thuế ra đời có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 đã làm thay đổi căn bản cơ chế quản lý thuế so với trước đây, đó là nhà nước trao quyền chủ động cho người nộp thuế trong thực hiện nghĩa vụ thuế, với cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cơ chế này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật về thuế, tuy nhiên công tác quản lý thuế lại thêm nhiều khó khăn phức tạp, hiện tượng khai man, trốn thuế, gian lận thuế xảy ra nhiều hơn. Vì vậy, quản lý thu thuế đối với khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) phải tiếp tục cải tiến và hoàn thiện nhằm thực hiện được mục tiêu, yêu cầu của hệ thống thuế đặt ra.

Cùng với sự đổi mới của đất nước, huyện Bố Trạch cũng đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Là một huyện thuộc tỉnh Quảng Bình, với điều kiện kinh tế chưa phát triển mạnh, số thu về thuế không nhiều, chưa đủ đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của địa phương và trong đó số thu về thuế của khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh (NQD) đã đóng góp một phần không nhỏ vào số thu trong cân đối hàng năm của ngân sách địa phương.

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Bố Trạch những năm qua đã phát triển nhanh về số lượng, quy mô, đa dạng về ngành nghề… góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo nguồn thu cho ngân sách ngày càng lớn. Cùng với sự gia tăng về số lượng người nộp thuế, về số thu NSNN; bên cạnh số doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, thì số doanh nghiệp có hành vi khai sai, khai thiếu, gian lận, trốn thuế, chây ỳ nộp thuế… cũng ngày một gia tăng tăng. Để tăng thu cho ngân sách Nhà nước, giảm thiểu tình trạng kê khai sai, khai thiếu thuế, trốn thuế, gian lận thuế của doanh nghiệp NQD, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của NNT đòi hỏi công tác quản lý thuế cần có các giải pháp mang tính thiết thực nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình kê khai, nộp thuế cũng như ý thức tự giác trong tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế.

Để phù hợp tiến trình đổi mới, hiện đại hóa theo chiến lược cải cách toàn diện của ngành, trong những năm qua Chi cục Thuế huyện Bố Trạch đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện công tác quản lý, cả về cơ cấu tổ chức và chức năng quản lý, như công tác kê khai, tuyên truyền hỗ trợ NNT, kiểm tra, quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế… và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, qua thực tiễn quản lý đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Bố Trạch còn bộc lộ nhiều hạn chế, thể hiện cả trong cơ chế, chính sách; cơ cấu tổ chức nhân sự; các quy trình nghiệp vụ; năng lực chuyên môn của công chức…, đến ý thức chấp hành của người nộp thuế.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế huyện Bố Trạch” được lựa chọn để nghiên cứu.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua lý luận và thực tiễn, Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Bố Trạch do Chi cục thuế huyện Bố Trạch quản lý từ năm 2016 – 2020 để đề ra những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tăng cường chống thất thu ngân sách nhà nước (NSNN) đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh (NQD) trên địa bàn huyện Bố Trạch.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề có liên quan đến quản lý thuế đối với doanh nghiệp Ngoài quốc doanh được thành lập theo Luật doanh nghiệp.

– Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp NQD theo phân cấp thuộc Chi cục Thuế huyện Bố Trạch quản lý. Bên cạnh đó, luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu quản lý nhà nước đối với một số sắc thuế cơ bản của khu vực doanh nghiệp NQD, như thuế Giá trị gia tăng, thuế Thu nhập doanh nghiệp…

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là tiếp cận, phân tích lý luận về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp NQD; đồng thời đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế để có được cơ sở thông tin cho mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp NQD tại Chi cục Thuế huyện Bố Trạch. Cụ thể, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

– Sử dụng phương pháp tiếp cận phân tích hệ thống để xác định các yếu tố tác động đến số thu ngân sách của doanh nghiệp NQD;

– Sử dụng phương pháp thống kê để đánh giá sự tăng trưởng về thuế của khu vực doanh nghiệp NQD; phương pháp đánh giá để rút ra những ưu nhược điểm và nguyên nhân những ưu nhược điểm trong công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Bố Trạch.

5. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được viết thành 3 chương.

Chương 1: Lý luận cơ bản về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh;

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế huyện Bố Trạch;

Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế huyện Bố Trạch trong thời gian đến.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ

ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

1.1.1. Khái quát về doanh nghiệp NQD

1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay chính là các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp đó là các đơn vị kinh tế tồn tại dưới các hình thức công ty trách nhiệm  hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần (CTCP), công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (DNTN), do một hay nhiều người đứng ra làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình (hữu hạn hay vô hạn) về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Tất nhiên cũng phải kể đến các hộ kinh doanh cá thể với mức vốn pháp định thấp hơn vốn pháp định của doanh nghiệp tư nhân. Đây là loại hình kinh tế hộ gia đình kinh doanh trong một số ngành nghề như nông nghiệp, thủ công, dịch vụ và buôn bán nhỏ. Nhìn chung, bộ phận chính, quan trọng nhất trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chính là các công ty bao gồm Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.

Đặc điểm cơ bản của DNNQD:

Thứ nhất, đối với khu vực kinh tế NQD (trừ khối hợp tác), toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc chủ sở hữu. Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quy định của cơ quan Nhà nước hoặc từ cơ quan quản lý, do vậy, để thu được lợi nhuận họ luôn tìm mọi cách có lợi nhất, kể cả các hành vi trốn thuế, gian lận về thuế…

Thứ hai, so với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thì phần lớn những người chủ các doanh nghiệp NQD có trình độ quản lý chưa cao, chủ DN thường chưa được đào tạo chính quy về chuyên môn, kỹ năng quản lý, mà chủ yếu là tự học hoặc đúc rút từ kinh nghiệm thực tiễn. Do đó, hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp NQD nhìn chung còn thấp, chưa có tính cạnh tranh. Các DN hoạt động lĩnh vực sản xuất thì trình độ công nghệ, máy móc cũ kỹ, lạc hậu ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động và chất lượng hàng hoá cung ứng ra thị trường.

Thứ ba, xuất phát từ trình độ còn hạn chế nêu trên, nên phần lớn các chủ doanh nghiệp có hiểu biết về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng là rất thấp, dẫn đến ý thức tuân thủ chưa cao.

Thứ tư, số lượng các DNNQD đến thời điểm hiện nay rất nhiều, hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất, gia công, chế biến, xây dựng, vận tải… đến thương nghiệp, dịch vụ và phân bố rộng trên cả nước. Các DN NQD dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên nguồn vốn nhỏ, hạn chế; mặt khác, đa phần các DNNQD có thời gian hình thành và phát triển chưa lâu nên chưa có điều kiện để tích lũy vốn phục vụ tái đầu tư hoặc đầu tư mở rộng.

1.1.1.2. Vai trò của DNNQD trong nền kinh tế quốc dân

Sự phát triển của DNNQD đã và đang tiếp tục có những đóng góp tích cực và vô cùng quan trọng cần thiết trong công cuộc phát triển đất nước, thể hiện:

– Góp phần quan trọng để tạo ra thành tựu tăng trưởng kinh tế chung, đổi mới bộ mặt kinh tế xã hội, tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ cho xã hội.

– Là lĩnh vực chính thu hút lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

– Giải phóng sức lao động và huy động tối đa các nguồn lực trong dân cư vào công cuộc phát triển kinh tế.

– Tạo môi trường cạnh tranh, nâng cao tính năng động hiệu quả cho nền kinh tế.

– Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mặc dù có những vai trò tích cực và quan trọng như đã kể trên, nhưng trong quá khứ và ngay cả hiện tại vẫn có những quan điểm không thống nhất về những đóng góp của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.

Vì vậy, DNNQD có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, là bộ phận quan trọng tạo ra GDP và nguồn thu ngày càng tăng cho NSNN. Do đó Nhà nước cần phải có những cơ chế, chính sách phù hợp tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát huy được vai trò của mình đối với nền kinh tế đất nước.

1.1.2. Khái quát về Quản lý thuế

1.1.2.1. Khái niệm về quản lý thuế

Quản lý thuế là những hoạt động, bao tổ chức trong bộ thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tuân thủ, ý thức tự giác của người nộp thuế trên cơ sở sự kiểm tra, giám sát, hỗ trợ của cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước có liên quan.

Công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để tổ chức quản lý, điều hành, giám sát; đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn và hỗ trợ việc thực thi pháp luật về thuế đối với các doanh nghiệp nhằm động viên nguồn thu vào ngân sách nhà nước và đảm bảo công bằng trong kinh doanh.

Quản lý thuế có vai trò bảo đảm cho chính sách thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội. Chính sách thuế được thiết lập nhằm bảo đảm thực hiện những chức năng của thuế, như điều tiết kinh tế vĩ mô phục vụ mục tiêu tăng trưởng đất nước; hay phân phối thu nhập nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Tuy nhiên, các mục tiêu này chỉ trở thành hiện thực nếu công tác quản lý thuế thực sự phát huy tốt vai trò điều hành, giám sát và hỗ trợ để doanh nghiệp tuân thủ và chấp hành, tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, thúc đây kinh tế phát triển.

1.1.2.2. Đặc điểm quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Quản lý thuế là phạm trù khoa học đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau. Nhưng các quan niệm về quản lý thuế đều có các điểm chung là:

– Đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế;

– Sự tác động của chủ thể quản lý đối với đối tượng bị quản lý bằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định. Chủ thể quản lý là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp). Đối tượng bị quản lý là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ về thuế. Mục đích quản lý là để người nộp thuế và các đối tượng có liên quan thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình. Phương tiện quản lý là sử dụng các qui định về đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, thanh tra thuế…với cơ cấu bộ máy, đội ngũ công chức, cơ sở vật chất cần thiết phục vụ cho công tác quản lý.

Đối với công chức thuế, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với doanh nghiệp nói riêng là hoạt động bao gồm ba phần riêng biệt, liên tiếp nhau, đó là: xác định người nộp thuế, xác định số thuế phải nộp và thu thuế vào NSNN. Chức năng chủ yếu của quản lý ở đây là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng các biện pháp chế tài theo luật định, như xử phạt, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, nhằm để răn đe những người nộp thuế có hành vi vi phạm. Đồng thời, công tác quản lý thuế cũng đảm bảo bên thứ ba có giao dịch mua, bán hay cung cấp dịch vụ với người nộp thuế phải báo cáo đầy đủ, trung thực các giao dịch kinh tế có phát sinh thuế để nộp ngân sách nhà nước theo qui định của luật.

Đối với một cơ quan thuế, quản lý thuế hay quản lý thuế đối với doanh nghiệp là một quá trình giống như quá trình cung ứng dịch vụ. Trong đó, yếu tố đầu vào, gồm: công chức thuế (nhân công); chính sách, pháp luật về thuế các thông tin, tài liệu của người nộp thuế (nguyên, nhiên vật liệu…); còn đầu ra (sản phẩm) là số thu cho Nhà nước và sự công bằng cho người nộp thuế .

Trên phạm vi quốc gia, quản lý thuế bao gồm các hoạt động: hoạch định mục tiêu, phân cấp quản lý, xây dựng và ban hành Quy trình thủ tục, đề ra giải pháp tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, sắp xếp tổ chức bộ máy và nhân sự để thực hiện các khâu công việc.

1.1.2.3. Yêu cầu hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp NQD

* Xuất phát từ cơ cấu nguồn thu từ doanh nghiệpNQD trong tổng thu từ doanh nghiệp.

Tỷ trọng thu từ khu vực doanh nghiệp NQD ngày càng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu từ doanh nghiệp ( trừ dầu thô) từ 15,8% giai đoạn 2010 -2015 lên 19,2% giai đoạn 2016 -2019, tốc độ tăng thu khu vực doanh nghiệp NQD bình quân 5 năm là 12,1% (trong khi tốc độ tăng tổng thu NSNN bình quân chỉ đạt chưa đến 10%/năm; số thu ngân sách các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài lần lượt đạt: 18,2%; DN Quốc doanh: 16,1%( 2016-2019)

Thu từ khu vực doanh nghiệp NQD là khoản thu quan trọng, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nội địa, và có tốc độ phát triển bền vững theo từng năm, vì vậy việc nghiên cứu để hoàn thiện quản lý thuế từ doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý thuế nói riêng và quản lý tài chính nói chung.

* Tác động của việc hoàn thiện chính sách thuế đối với doanh nghiệp

Chính sách thuế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Vấn đề đặt ra là chính sách thuế tác động như thế nào đến doanh nghiệp. Việc hoàn thiện chính sách thuế chính là làm thay đổi khối lượng công việc và trình tự các công việc trong quá trình quản lý thuế, và làm thay đổi mạnh mẽ đối tượng quản lý. Ví dụ khi ban hành Luật thuế GTGT, khối lượng công việc quản lý thuế thay đổi như phát sinh thêm các công việc về hoàn thuế, về đối chiếu hóa đơn; đối tượng quản lý thay đổi như một số đối tượng trước đây chịu thuế doanh thu nay không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT…

* Tác động của hội nhập kinh tế và hội nhập về thuế đối với doanh nghiệp

Hội nhập, liên kết kinh tế trong khu vực sẽ thúc đẩy xuất khẩu mạnh hơn, đem đến nhiều cơ hội mở rộng thị trường cho hàng hóa, đồng thời giúp đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào các thị trường nguyên liệu truyền thống. Các nước đang phát triển có cơ hội để có thể tiếp cậm ngay khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới đồng thời thu hút được nguồn vốn từ nước ngoài để tạo bước phát triển nhảy vọt về kinh tế, làm cho nền kinh tế có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, có cơ hội thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển.

Xét về tổng thể, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đem lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, với 96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, áp lực cạnh tranh đối với nền kinh tế Việt Nam là rất lớn. Trong đó:

– Đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu: Dù hàng rào thuế quan được dỡ bỏ, song việc có tận dụng được các ưu đãi về thuế quan để mở rộng thị trường hay không lại phụ thuộc vào việc đáp ứng các yêu cầu về quy tắc xuất xứ cũng như các yêu cầu khác (an toàn thực phẩm, vệ sinh dịch tễ…). Với năng lực tự sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu còn hạn chế, thì những yêu cầu về quy tắc xuất xứ hàng hóa lại đang đặt ra thách thức và mối lo ngại cho các doanh nghiệp Việt Nam.

– Đối với sản xuất trong nước: Việc tự do hóa thuế nhập khẩu sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nguồn hàng nhập khẩu từ các nước, đặc biệt là từ các nước TPP, EU vào Việt Nam do giá thành rẻ hơn, chất lượng và mẫu mã đa dạng, phong phú hơn sẽ tác động đến lĩnh vực sản xuất trong nước.

Ngoài ra, khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ nhưng các hàng rào kỹ thuật không hiệu quả, Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm chất lượng kém, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng trong khi lại không bảo vệ được sản xuất trong nước.

Đặc biệt, sản phẩm nông nghiệp và các doanh nghiệp, nông dân Việt Nam đứng trước sự cạnh tranh gay gắt, trong khi đó hàng hóa nông sản và nông dân là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong hội nhập

Quá trình hội nhập không chỉ đòi hỏi hệ thống thuế nhập khẩu phải được sửa đổi mà hệ thống thuế nội địa cũng phải được sửa đổi phù hợp với thông lệ quốc tế. Quản lý thuế nội địa nói chung và quản lý thuế đối với doanh nghiệp nói riêng cũng phải được cải cách theo các chuẩn mực quốc tế, tiến tới trao đổi thông tin về quản lý thuế đối với các công ty đa quốc gia.

1.1.3. Các sắc thuế áp dụng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

* Thuế môn bài, (nay là lệ phí môn bài):

Lệ phí môn bài là khoản tiền phải nộp định kỳ hàng năm hoặc khi mới ra sản xuất, kinh doanh dựa trên số vốn điều lệ ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/vốn đầu tư ghi trong giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (đối với tổ chức) hoặc doanh thu của năm (đối với hộ, cá nhân kinh doanh);

Lệ phí Môn bài của doanh nghiệp được thu mỗi năm một lần vào đầu năm. Đối với các doanh nghiệp mới ra kinh doanh trong năm, trường hợp ra trong 6 tháng đầu năm thì phải nộp lệ phí Môn bài cho cả năm; trường hợp ra trong 6 tháng cuối năm thì chỉ phải nộp ½ mức thuế Môn bài của cả năm.

Mức thuế môn bài hàng năm được quy định trong biểu thuế đối với các doanh nghiệp, là định ngạch đánh vào giấy phép kinh doanh doanh nghiệp, với mức thu được xác định trên cơ sở vốn đăng ký hay vốn điều lệ ghi trên giấy phép kinh doanh (Bậc 1; 3.000.000 đồng; Bậc 2; 2.000.000 đồng/một năm và bậc 3 ( áp dụng cho chi nhánh, của hàng, cữa hiệu) 1.000.000đồng; đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh).

* Thuế GTGT:

Thuế giá trị gia tăng là sắc thuế gián thu, được thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ.

Thuế suất GTGT có 3 mức: 0% (áp dụng cho hàng hoá, dịch vụ thực tế xuất khẩu); 5% (áp dụng đối với những hàng hoá dịch vụ cần thiết cho nhu cầu đời sống và sản xuất); 10% (áp dụng đối với đại bộ phận các mặt hàng và dịch vụ).

* Thuế TNDN:

Thuế TNDN là sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập có được của doanh nghiệp trong một kỳ sản xuất kinh doanh nhất định (gồm thu nhập kinh doanh và các thu nhập khác). Có nhiều nước trên thế giới gọi thuế này là thuế thu nhập công ty. Dù tên gọi có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản thì đều giống nhau, đều thu trên phần thu nhập sau khi đã được trừ các chi phí hợp lý, hợp lệ.

Đối tượng đánh thuế TNDN là thu nhập chịu thuế phát sinh trong năm kinh doanh của doanh nghiệp, từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài.

Người nộp thuế TNDN là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có thu nhập chịu thuế.

* Thuế Tài nguyên:

Là loại thuế gián thu, thu trực tiếp vào hoạt động khai thác tài nguyên khoán sản, mục đích tăng thu cho ngân sách nhà nước và bảo vệ nguồn tài nguyên của đất nước đồng thời là biện pháp nhằm khuyến khích khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên quốc gia một cách có hiệu quả.

Đối tượng chịu thuế là các loại tài nguyên theo quy định của Luật thuế Tài nguyên; người nộp thuế là tất các tổ chức cá nhân có khai thác tài nguyên. Thuế suất thuế tài nguyên làm căn cứ tính thuế tài nguyên đối với từng loại tài nguyên khai thác được quy định tại Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH12 ngày 19 tháng 4 năm 2010 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (phổ biến từ 3% đến 35%). Việc xác định thuế suất cao hay thấp tùy thuộc vào mức độ, tính chất và giá trị của từng loại tài nguyên. Ví dụ: gỗ nhóm 1: 35%.

Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên khai thác, giá tính thuế tài nguyên và thuế suất thuế tài nguyên.

* Thuế Tiêu thụ đặc biệt:

Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu đánh vào các hàng hóa và dịch vụ đặc biệt, nằm trong danh mục do Nhà nước quy định.

Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới với các tên gọi như: thuế tiêu dùng đặc biệt, thuế đặc biệt, thuế hàng hóa. Thực chất của loại thuế này là một loại thuế bổ sung cho thuế tiêu dùng thông thường nhằm điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao (là đối tượng thường tiêu dùng những hàng hoá đặc biệt này) và định hướng cho người tiêu dùng đối với một số hàng hóa mà Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng.

Ngoài những sắc thuế cơ bản trên, còn một số khoản thu khác đối với doanh nghiệp như thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền thuê đất. Những khoản thu này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thu từ doanh nghiệp NQD.

Mỗi sắc thuế nêu trên đều có quy định bằng Luật và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành; việc quản lý thuế đối với mỗi sắc thuế cũng có phương pháp cụ thể khác nhau. Trong phạm vi luận văn này, tác giả không đi sâu vào nghiên cứu biện pháp quản lý đối với từng sắc thuế mà chỉ đề cập những biện pháp quản lý mang tính chất chung nhất nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp NQD.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

1.2.1. Quản lý đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế

1.2.1.1. Đăng ký thuế

Để cụ thể hóa quản lý đăng ký thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế; đồng thời cải tiến thủ tục hành chính nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý thuế, ngày 29 tháng 4 năm 2009 Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đã ban hành Quyết định số 443/QĐ-TCT về việc ban hành Quy trình quản lý đăng ký thuế [27]. Đến ngày 17 tháng 3 năm 2014, Tổng cục thuế đã ban hành Quyết định số 329/QĐ-TCT về việc ban hành Quy trình quản lý đăng ký thuế, thay thế cho Quyết định số 443/QĐ-TCT ngày 29/4/2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc ban hành Quy trình quản lý đăng ký thuế, đáp ứng sự thay đổi của chính sách thuế và quy định của luật doanh nghiệp [20].

Quy trình này là khâu đầu tiên trong công tác quản lý thuế đối với DN NQD, với một số nội dung trọng yếu, như sau:

– Đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho doanh nghiệp: Bao gồm việc nhận và xử lý hồ sơ đăng ký thuế, cấp mã số thuế cho các doanh nghiệp mới thành lập.

– Quản lý mã số thay đổi của doanh nghiệp: Đây là hoạt động xử lý thông tin thay đổi của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động SXKD như thay đổi địa điểm kinh doanh, thay đổi loại hình doanh nghiệp, thay đổi tổ chức doanh nghiệp, thay đổi ngành nghề kinh doanh.v.v.

– Phát hiện những đối tượng tiềm năng không đăng ký thuế, không kê khai, không đăng ký thuế thay đổi và xác định xử lý vi phạm về đăng ký thuế.

– Doanh nghiệp chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động từ khi đăng ký thuế cho đến khi không còn tồn tại.

Thông qua việc cấp mã số thuế, ngành Thuế đã có điều kiện để quản lý chặt chẽ hơn số lượng doanh nghiệp. Các thông tin cơ bản về đăng ký thuế với NNT nói chung và doanh nghiệp nói riêng đư­ợc l­ưu giữ tập trung tại Tổng cục Thuế đã tạo thuận lợi cho công tác quản lý thu thuế, đặc biệt là hỗ trợ cho việc kiểm tra khấu trừ, hoàn thuế và trao đổi thông tin với các ngành liên quan như­ Hải quan, Kho bạc.

1.2.1.2. Khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế.

Quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế đối với doanh nghiệp được thực hiện trên cơ sở Luật quản lý thuế; các luật thuế và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành. Nội dung các bước công việc được tuân thủ theo quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế được ban hành kèm theo Quyết định số 1864/QĐ-TCT về việc ban hành ngày 21 thàng 12 năm 2011 của Tổng cục Trưởng Tổng cục Thuế [25]. Đến nay, để phù hợp với tiến trình cải cách hành chính thuế; đồng bộ với các thay đổi về chính sách thuế theo hướng hiện đại, Tổng cục thuế đã ban hành Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế theo Quyết định số 879/QĐ-TCT ngày 15 tháng 5 năm 2015 thay thế Quyết định số 1864/QĐ-TCT về việc ban hành quy trình quản lý khai thuế [21], nộp thuế và kế toán thuế nêu trên.

Việc ban hành quy trình đó nhằm mục đích là: chuẩn hóa, thống nhất việc theo dõi, quản lý người nộp thuế nói chung và doanh nghiệp NQD nói riêng trong thực hiện các thủ tục hành chính thuế về khai thuế, nộp thuế, kế toán thuế, hoàn thành nghĩa vụ thuế đầy đủ, đúng quy định và đảm bảo công chức thuế, cơ quan thuế thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Quản lý thuế, các Luật thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật trong phạm vi toàn ngành thuế.

– Khai thuế:

Các doanh nghiệp tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ tính thuế để thực hiện kê khai thuế theo qui định của từng sắc thuế. Doanh nghiệp sử dụng hồ sơ khai thuế của từng loại thuế theo qui định của Luật quản lý thuế để kê khai số thuế phải nộp với cơ quan thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu trong hồ sơ khai thuế.

Cơ quan thuế tôn trọng việc tự tính thuế và khai thuế của các doanh nghiệp, đồng thời có các biện pháp giám sát hiệu quả, vừa bảo đảm khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế, vừa bảo đảm phát hiện, ngăn ngừa những trường hợp vi phạm pháp luật thuế.

Nhận và kiểm tra hồ sơ khai thuế: Cơ quan thuế nhận tờ khai và chứng từ của doanh nghiệp và xử lý thông tin trên hồ sơ khai thuế và chứng từ nộp thuế; kiểm tra tính đầy đủ và chính xác các thông tin do doanh nghiệp kê khai; thực hiện lưu trữ thông tin phục vụ cho quản lý thu thuế. Theo dõi đôn đốc doanh nghiệp kê khai và nộp thuế tự nguyện, đầy đủ, kịp thời theo quy định của luật thuế. Đây chính là công cụ hỗ trợ và nhắc nhở bao gồm đôn đốc trước, trong và sau kê khai.

Các hoạt động điều chỉnh nhằm đảm bảo sự tuân thủ kê khai và kế toán thuế: cơ quan thuế điều chỉnh tờ khai của doanh nghiệp cho phù hợp với thực tế và đảm bảo thực hiện chính xác các nguyên tắc kế toán thuế nhằm tính đúng nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.

– Nộp thuế:

+ Các doanh nghiệp tự kê khai, tự tính thuế và nộp thuế qua Kho bạc Nhà nước và hiện nay là thông qua hệ thống các Ngân hàng thương mại dưới hình thức nộp thuế điện tử (phấn đấu đến cuối năm 2015, trên 90% doanh nghiệp đang hoạt động thực hiện nộp thuế điện tử). Phương thức tự khai, tự nộp này của doanh nghiệp nhằm cải cách, rút ngắn thời lượng chấp hành nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế. Tuy nhiên, phương thức này sẽ chỉ mang lại kết quả tốt khi DN đã nắm vững và tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế của mình; đồng thời luật quản lý thuế và các luật thuế phải có tính pháp lý, tính khả thi cao; công tác kiểm tra, thanh tra thuế được thực hiện thường xuyên, có hiệu quả.

+ Cơ quan thuế hướng dẫn và yêu cầu DN nộp tiền theo đúng thứ tự, lần lượt cho tiền thuế nợ; tiền thuế truy thu; tiền thuế phát sinh; tiền phạt; tiền chậm nộp. Trường hợp DN nộp không đúng trình tự trên thì cơ quan thuế lập lệnh điều chỉnh khoản thuế đã thu gửi Kho bạc Nhà nước để điều chỉnh, đồng thời thông báo cho DN biết về số tiền thuế, tiền phạt được điều chỉnh.

– Kế toán thuế: Hiện nay cơ quan thuế và cơ quan Kho bạc nhà nước đã thực hiện Dự án hiện đại hoá thu nộp NSNN nên việc chuyển chứng từ nộp tiền được thực hiện qua các phương tiện điện tử, cụ thể:

+ Cuối ngày, hoặc đầu giờ ngày làm việc tiếp theo, KBNN truyền dữ liệu về số thuế đã thu vào hệ thống cơ sở dữ liệu thu, nộp thuế; đồng thời, lập Bảng kê chứng từ nộp ngân sách chi tiết theo từng chứng từ đã thu trong ngày (theo mẫu số 04/BK-CTNNS ban hành kèm theo Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của BTC), chuyển cho cơ quan thuế quản lý NNT làm chứng từ hạch toán, kế toán quản lý thu. Bộ phận kế toán thuế thực hiện nhận tệp dữ liệu và chuyển vào cơ sở dữ liệu quản lý thuế.

+ Bộ phận kế toán thuế đối chiếu số liệu về số thuế đã thu giữa bảng kê chứng từ nộp ngân sách và dữ liệu về số thuế đã thu bằng đường truyền, hạch toán số tiền thuế đã nộp vào Sổ theo dõi thu nộp thuế và các Sổ thuế có liên quan.

1.2.2. Quản lý thông tin người nộp thuế

Quản lý thông tin người nộp thuế nhằm mục tiêu là để phục vụ công tác quản lý thuế của cơ quan thuế và cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý nhà nước phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời là cơ sở để thực hiện quản lý thuế, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của người nộp thuế, ngăn ngừa, phát hiện vi phạm pháp luật về thuế.

Quản lý thông tin người nộp thuế có nội dung là quản lý những thông tin, tài liệu liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Thực chất của công việc này là quản lý số lượng và căn cứ tính thuế của doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh trên địa bàn.

1.2.3. Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế

Công tác tuyên truyền là tác động vào những hành vi tâm lý xã hội của NNT, tăng cường tính tự nguyện tuân thủ của các doanh nghiệp. Thông qua việc tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền hỗ trợ thuế, nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế, sẽ giúp cắt giảm chi phí quản lý hành chính thuế như các chi phí thanh tra, kiểm tra, cưỡng chế thuế…, cũng như chi phí tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế.

Để thống nhất, chuẩn hóa về nguyên tắc, nội dung, trình tự thực hiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của cơ quan thuế và hướng dẫn, giúp đỡ người nộp thuế thực hiện quyền và nghĩa vụ về thuế, ngày 11/05/2012, Tổng cục Thuế đã ra Quyết định số 601/QĐ-TCT ban hành quy trình tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế.

Từ đó, cán bộ khi thực hiện công tác tuyên truyền và hỗ trợ doanh nghiệp phải đảm bảo 04 nguyên tắc sau: Công tác tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp phải được thực hiện theo đúng thẩm quyền, phạm vi, trách nhiệm của cơ quan thuế các cấp; đảm bảo tính công khai, minh bạch tại cơ quan thuế các cấp; đảm bảo sự phối hợp công tác, trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế các cấp, giữa các bộ phận trong cơ quan thuế theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định; nội dung tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế phải phù hợp với các quy định hiện hành.

Các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp

Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế được thực hiện qua nhiều kênh, với nhiều biện pháp khác nhau, nhằm truyền tải lượng thông tin liên quan đến các chính sách thuế đến người nộp thuế một cách nhanh chóng, đạt hiệu quả cao như:

– Tuyên truyền qua các tờ rơi, facebook, zalo

– Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng

– Tuyên truyền qua trang thông tin điện tử và các hình thức tuyên truyền khác: Bộ phận tuyên truyền hỗ trợ các cấp phối hợp với Ban biên tập và bộ phận quản lý website Cục Thuế để cung cấp thông tin tuyên truyền thông qua website Cục Thuế; công bố công khai các thủ tục hành chính thuế tại bộ phận 1 cửa và trên website của cơ quan thuế để NNT nắm bắt thông tin làm căn cứ thực hiện; ngoài ra, tuỳ thuộc điều kiện thực tế của Chi cục Thuế các tỉnh, thành phố, và tuỳ thuộc vào các kênh thông tin tại địa phương, Chi cục Thuế có thể chủ động triển khai các hình thức tuyên truyền khác như: Tuyên truyền qua băng rôn, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu chính sách pháp luật thuế, tuyên truyền lưu động các nơi công cộng…

– Tổ chức tập huấn, đối thoại với NNT: Khi có các chính sách mới về thuế; quy trình, quy chế mới ban hành, cơ quan thuế các cấp tổ chức tập huấn cho các doanh nghiệp. Đồng thời định kỳ hoặc đột xuất khi DN có nhiều vướng mắc về chính sách thuế, về thủ tục hành chính thuế cần có sự giải đáp của cơ quan thuế thì cơ quan thuế tổ chức đối thoại với DN trên địa bàn.

– Xây dựng và cấp phát tài liệu hỗ trợ DN.

– Giải đáp vướng mắc về thuế cho DN:

+ Tư vấn, giải đáp vướng mắc qua điện thoại hoặc trực tiếp tại cơ quan thuế: Bộ phận tuyên truyền hỗ trợ có nhiệm vụ tổ chức, bố trí cán bộ trực điện thoại và tiếp xúc trực tiếp để tiếp nhận và giải đáp vướng mắc cho các DN;

+ Giải đáp vướng mắc của DN bằng văn bản: Khi doanh nghiệp có văn bản hỏi về chính sách thuế hoặc những vướng mắc liên quan đến quá trình hoạt động kinh doanh và chấp hành pháp luật về thuế gửi đến cơ quan thuế, bộ phận tiếp nhận trình lãnh đạo chuyển đến bộ phận được phân công giải đáp vướng mắc để thực hiện trả lời theo quy định về phân cấp trả lời văn bản của Tổng cục Thuế. Khi làm văn bản giải đáp vướng mắc của DN, công chức được phân công soạn thảo văn bản cần xác định rõ yêu cầu của câu hỏi, căn cứ những quy định của chính sách, pháp luật hiện hành để giải đáp cho phù hợp. Trường hợp doanh nghiệp nêu vướng mắc chưa rõ ràng, cụ thể, thì công chức thuế soạn thảo công văn trình lãnh đạo ký đề nghị DN bổ sung thêm tài liệu liên quan nhằm làm rõ vấn đề vướng mắc.

– Tổ chức cuộc họp chuyên đề về công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT: Tùy điều kiện, tình hình và yêu cầu thực tế của từng địa phương, định kỳ tháng, quý hoặc đột xuất khi có nhiều vướng mắc phát sinh, cơ quan thuế tiến hành tổ chức cuộc họp để trao đổi, giải quyết các vấn đề vướng mắc giữa các phòng ban trong Cục Thuế và các Chi cục Thuế trên địa bàn trong quá trình thực thi các Luật thuế và thủ tục hành chính thuế.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LE THI LE THUY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *