Nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Do vậy, cán bộ là nhân tố quyết định cho sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, đất nước và của cả dân tộc. Sự nghiệp Đổi Mới của đất nước muốn thành công phải tạo sự chuyển biến tích cực từ cơ sở, mà sự chuyển biến ở cấp này lại phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó yếu tố chất lượng đội ngũ giữ vai trò quyết định.
Chính quyền cơ sở ở nước ta hiện nay gồm xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính quyền bốn cấp. Đây là nơi trực tiếp đưa các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước đi vào cuộc sống của nhân dân. Chính quyền cơ sở đảm nhận trực tiếp việc quản lý, điều hành các hoạt động kinh tế – xã hội liên quan đến mọi mặt đời sống của nhân dân, nên tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động phải phù hợp với yêu cầu phục vụ dân, sát với dân. Gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một trong những nhân tố quyết định sức mạnh của chính quyền cơ sở. Để tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở hiệu quả thì yêu cầu quan trọng nhất là phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực và phẩm chất để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
Xuất phát từ vị trí vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở nên trong những năm gần đây chính quyền huyện Hòa Vang đã quan tâm chỉ đạo từng bước việc kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, đội ngũ công chức cấp xã nói riêng; đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ của đội ngũ công chức cấp xã; thực hiện một số chế độ chính sách đãi ngộ, tạo điều kiện cho công chức cấp xã thực hiện nhiệm vụ. Sự quan tâm này đã giúp cho năng lực thực hiện nhiệm vụ của công chức cấp xã từng bước được nâng cao. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển kinh tế – xã hội, đội ngũ công chức cấp xã nói riêng của huyện Hòa Vang vẫn còn bộc lộ một số điểm hạn chế. Tỷ lệ công chức cơ sở chưa đạt chuẩn về chuyên môn còn cao, việc thực thi nhiệm vụ của công chức mới chỉ dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu, chưa đảm bảo tính khoa học nên hiệu lực, hiệu quả của hoạt động không cao. Tỷ lệ công chức chưa qua bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều, còn thiếu kiến thức về quản lý nhà nước, hạn chế về kỹ năng thực thi công vụ, hạn chế trong giao tiếp; thái độ, tác phong làm việc còn thụ động; ý thức phục vụ nhân dân chưa cao. Với trình độ của đội ngũ công chức cấp xã ở huyện Hòa Vang hiện nay thì khó đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ ở đơn vị hành chính cơ sở, đặc biệt khi chúng ta đang mở rộng thực hiện mô hình chính quyền đô thị, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới với nhiều nội dung tiêu chí đòi hỏi phải có kiến thức khoa học công nghệ, kiến thức quản lý hành chính, xây dựng, quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường.
Những hạn chế trên đã và đang đặt ra những đòi hỏi cấp bách về việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nói chung, và đội ngũ công chức cấp xã của huyện Hòa Vang hiện nay nói riêng, để góp phần thiết thực vào việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước tại cơ sở. Xuất phát từ những lý do thiết thực đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn cao học của mình. Có thể nói đây là vấn đề rất cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về chất lượng công chức nói chung, cấp xã nói riêng và thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hòa Vang, luận văn tìm kiếm những giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng công chức cấp xã tại huyện Hòa Vang trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên luận văn hướng đến thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
– Nghiên cứu cở sở lý luận và pháp lý về chất lượng công chức cấp xã.
– Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng công chức cấp xã và thực trạng nâng cao chất lượng công chức cấp xã tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
– Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã và việc nâng cao chất lượng đội ngũ này trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Khách thể nghiên cứu: công chức của 11 xã trên địa bàn huyện Hòa Vang.
– Thời gian nghiên cứu: số liệu được sử dụng trong luận văn là số liệu của năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về cán bộ, công chức làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trong điều kiện hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề cụ thể mà luận văn hướng đến, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành đều được áp dụng, gồm:
– Phương pháp khảo sát tài liệu thứ cấp: Tác giả sử dụng phương pháp này để nghiên cứu hệ thống văn bản quản lý nhà nước về chất lượng công chức cấp xã, nghiên cứu các báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền và các công trình khoa học, đề tài, đề án, bài báo khoa học có liên quan đã công bố, từ đó tác giả thực hiện đối chiếu, tham khảo số liệu, phục vụ cho việc giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra.
– Phương pháp phân tích: Phương pháp này được tác giả sử dụng để xem xét, đánh giá một cách cụ thể về chất lượng công chức cấp xã của huyện Hòa Vang. Theo đó, phương pháp này được sử dụng để phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về chất lượng công chức cấp xã, đánh giá và phân tích làm rõ thực trạng chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hòa Vang, xác định rõ những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của các hạn chế.
– Phương pháp tổng hợp: Tác giả sử dụng phương pháp này để khái quát nội dung của từng vấn đề trong luận văn, rút ra được những nhận xét, kết luận mang tính tổng quan, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hòa Vang.
– Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế: khảo sát điều tra thực tế bằng các phiếu điều tra khảo sát 110 người dân và 110 công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hòa Vang, sau đó tổng hợp, đánh giá thực trạng nhằm làm sáng tỏ cả lý luận và thực tiễn, xác định được khoảng trống giữa thực trạng và yêu cầu chất lượng công chức cấp xã của huyện Hòa Vang, để từ đó đề ra giải pháp sát hợp nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ này.
Ngoài ra, luận văn còn sử sụng các phương pháp thống kê, so sánh… Các phương pháp nghiên cứu này được sử dụng kết hợp với nhau nhằm mục đích đảm bảo cho nội dung nghiên cứu của luận văn vừa mang ý nghĩa lý luận, vừa mang ý nghĩa thực tiễn và khoa học.
6.1. Đóng góp về mặt lý luận
Góp phần hệ thống hóa những nguyên lý lý thuyết và các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước về chất lượng cán bộ công chức và nâng cao chất lượng công chức cấp xã.
6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Kết quả phân tích, đánh giá thực trạng về chất lượng đội ngũ công chức cấp xã tại huyện Hòa Vang, trong đó chỉ ra các mặt mạnh cũng như mặt yếu, tồn tại, hạn chế và các giải pháp được đề xuất được coi là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương có kế hoạch, biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng quản lý công chức nói chung và nâng cao chất lượng công chức cấp xã ở huyện Hòa Vang;
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính được cấu trúc với 3 chương, gồm:
– Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng công chức cấp xã.
– Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Khái quát về nâng cao chất lượng công chức cấp xã
Trong lịch sử ra đời và phát triển của nền công vụ, có thể thấy bất cứ nhà nước nào đều cần xây dựng và quản lý một đội ngũ công chức, bao gồm những người có năng lực quản lý, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì bổn phận của mình trước nhân dân.
Khái niệm công chức đã, đang và sẽ luôn tồn tại cùng với sự ra đời và phát triển của nhà nước, nhưng quan điểm thế nào là công chức thì còn tồn tại rất nhiều ý kiến khác nhau. Dưới cách hiểu chung: “Công chức là những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương”, mỗi nước đều xây dựng cho mình những khái niệm riêng, phù hợp với những quan niệm về hoạt động công vụ, chế độ chính trị, văn hóa và lịch sử phát triển của họ.
Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị trực thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng ‘ộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được hưởng bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Công chức cấp xã là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực trong bộ máy chính quyền cấp xã, có vai trò quan trọng trong hoạt động QLNN của chính quyền cấp xã. Trong Pháp lệnh Cán bộ, Công chức năm 1998 thì khái niệm công chức cấp xã vẫn chưa được xác định rõ ràng về mặt pháp lý. Tuy nhiên, ngày 10 tháng 10 năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 114/2003/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, theo đó đã xác định công chức cấp xã là những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, gồm có các chức danh sau đây: Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng – Thống kê; Địa chính – Xây dựng; Tài chính – Kế toán; Tư pháp – Hộ tịch; Văn hoá – Xã hội. Như vậy, theo Nghị định 114/2003/NĐ-CP thì đối tượng được xác định công chức cấp xã đã hoàn toàn rõ ràng, đây là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xác định đâu là cán bộ, đâu là công chức cấp xã.
Để đảm bảo phù hợp với tình hình hình mới trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Pháp lệnh Cán bộ, Công chức được thay thế bởi Luật Cán bộ, Công chức. Theo đó, tại Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức 2008 đã khẳng định rõ: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Nhằm cụ thể hóa Luật Cán bộ, Công chức, ngày 22 tháng 10 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; theo đó, công chức cấp xã gồm các chức danh sau đây:
– Trưởng ban công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy).
– Chỉ huy trưởng Quân sự.
– Văn phòng – thống kê.
– Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với các phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã).
– Tài chính – kế toán.
– Tư pháp – hộ tịch.
– Văn hóa – xã hội.
Công chức cấp xã làm công tác chuyên môn, giúp UBND cấp xã QLNN trên các lĩnh vực như: văn phòng, thống kê; an ninh; quân sự; địa chính, xây dựng; tài chính, kế toán; văn hóa, xã hội; tư pháp, hộ tịch; ngoài ra những công chức này còn thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Thường trực UBND cấp xã giao. Để nâng cao hiệu lực hoạt động của công chức cấp xã không những cần phải có nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất tốt đạo đức tốt, mà còn cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ.
1.1.1.2. Nâng cao chất lượng công chức cấp xã
Theo từ điển tiếng Việt thì chất lượng hiểu ở nghĩa chung nhất là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người sự vật, sự việc” [14, tr44]. Đối với một con người sống trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chất lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ, khoa học, chuyên môn, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham gia một cách tích cực vào quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Chất lượng công chức cấp xã được thể hiện thông qua hoạt động, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền địa phương cấp xã. Đối với công chức cấp xã, muốn xác định chất lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải có hàng loạt chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của Nhân dân địa phương. Chẳng hạn, các lớp huấn luyện đã qua, bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học), về chuyên môn, kỹ thuật, QLNN, pháp luật… độ tuổi, thâm niên công tác. Chất lượng của công chức cấp xã còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử lý tình huống phát sinh của công chức đối với công vụ được giao.
Từ những góc độ, có thể đưa ra quan niệm chất lượng công chức xã như sau: chất lượng công chức cấp xã là một hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như một chỉnh thể toàn diện, được thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi công chức và cơ cấu, số lượng, độ tuổi, thành phần của cả đội ngũ công chức cấp xã.
Chất lượng công chức cấp xã là sự tổng hợp, hoà quyện chất lượng chung của mỗi công chức với nhau. Nó được cấu thành từ chất lượng từng công chức gắn liền với cơ chế hoạt động, môi trường, điều kiện hoạt động, mối quan hệ giao tiếp của công chức trong mỗi cơ quan, đơn vị. Do đó, đánh giá đúng thực trạng và xác định các giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã cần phải xác định rõ những tiêu chí đánh giá chất lượng công chức, cũng như hiểu rõ những yếu tố tác động đến chất lượng công chức cấp xã.
Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã được thể hiện qua kết quả hoạt động của chính quyền cấp xã. Do đó, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động QLNN của chính quyền cấp xã, cần thiết phải nâng cao chất lượng của đội ngũ này trên tất cả các mặt như: phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ, uy tín trước nhân dân, khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người công chức đối với công vụ được giao…
Nâng cao chất lượng công chức cấp xã là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng công chức đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho hoạt động QLNN tại địa phương. Nâng cao chất lượng công chức cấp xã còn là một yếu tố quan trọng trong việc hoàn thiện bản thân trong mỗi công chức.
Việc nâng cao chất lượng công chức cấp xã sẽ góp phần làm tăng ý thức, trách nhiệm lao động, góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội. Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Để phát triển nhanh, bền vững mỗi địa phương cần hết sức quan tâm đến chính sách phát huy tối đa năng lực của công chức thông qua nâng cao chất lượng đội ngũ công chức của mình như: đào tạo, đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe cả về vật chất, tinh thần, có chính sách đãi ngộ nhân tài hợp lý, rèn luyện tác phong công nghiệp,…..
Để nâng cao chất lượng của công chức cấp xã, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng với số lượng công chức cấp xã. Chỉ khi nào hai mặt này quan hệ hài hòa, tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ. Trong thực tế chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng, khuynh hướng thứ nhất là chạy theo số lượng ít chú trọng đến chất lượng, dẫn đến công chức nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệu quả. Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến số lượng. Khuynh hướng này là một nguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đời bình quân của công chức ngày càng cao, hụt hẫng về thế hệ. Trong giai đoạn hiện nay thì cần hơn hết là phải coi trọng chất lượng của công chức trên cơ sở đảm bảo số lượng hợp lý.
Qua các phân tích ở trên, ta có thể đi đến quan niệm về nâng cao chất lượng công chức cấp xã như sau: “Nâng cao chất lượng công chức cấp xã là việc sử dụng tổng thể các biện pháp để hoàn thiện những điểm còn hạn chế, chưa hợp lý trong số lượng, và chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã, tạo điều kiện xây dựng đội ngũ công chức cấp xã vững mạnh, khoa học, hợp lý, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước”.
1.1.2. Đặc điểm, vai trò, nhiệm vụ của công chức cấp xã
1.1.2.1. Đặc điểm của công chức cấp xã
– Công chức cấp xã là những người xuất phát từ cơ sở (người của địa phương), họ vừa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là người đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng QLNN, giải quyết các công việc của nhà nước. Do đó, xét ở khía cạnh nào đó, công chức cấp xã bị chi phối ảnh hưởng rất nhiều bởi những phong tục, tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phương của dòng họ.
– Công chức cấp xã có tính chuyên môn hóa thấp, kiêm nhiệm nhiều.
– Công chức cấp xã là người đại diện cho quần chúng nhân dân lao động ở cơ sở. Vì vậy, công chức luôn bám sát dân gần dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước vào dân, gắn bó với nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, nhà nước với nhân dân. Qua đó có những cách thức tiến hành công việc phù hợp và đảm bảo cho lợi ích chính đáng của nhân dân.
– Công chức cấp xã có tính ổn định thấp so với công chức nhà nước cấp trên.
– Công chức cấp xã cả nước hiện nay rất đông. Tuy nhiên, về chất lượng còn nhiều hạn chế độ tuổi trung bình của công chức cấp xã còn tương đối cao, chính vì vậy, đó là những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc không cao.
1.1.2.2. Vai trò của công chức cấp xã
Công chức cấp xã có một vị trí, vai trò rất quan trọng, là chủ thể thực thi pháp luật để quản lý mọi mặt trong đời sống xã hội nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đề ra; giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ lợi ích của tầng lớp nhân dân lao động; điều hành các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước.
Xuất phát từ đặc điểm của chính quyền địa phương cấp xã ở nông thôn, công chức cấp xã có vai trò sau:
– Một là, công chức cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp Nhân dân làm cho họ hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ trương, chính sách đó.
Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta tiến hành xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân; vì vậy, vai trò của công chức cấp xã càng có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho Nhân dân biết và nắm được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó sẽ tham gia đóng góp và thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách đó. Để làm được điều đó, công chức cấp xã phải tiến hành nhiều biện pháp, hình thức khác nhau như thông qua các buổi tuyên truyền, nói chuyện tại cuộc họp thôn, xóm, khu dân cư, tổ đoàn kết, trung tâm học tập cộng đồng hoặc thông qua các buổi đối thoại trực tiếp với Nhân dân để giải quyết những vấn đề mới phát sinh như liên quan đến việc bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, quy hoạch… Đồng thời, nó còn đòi hỏi công chức cấp xã phải có những hiểu biết nhất định về lý luận và am hiểu tình hình thực tế của địa phương, nắm bắt được đặc điểm, tâm lý của từng lớp dân cư thuộc phạm vi của mình.
– Hai là, công chức cấp xã là người đại diện cho nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động Nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước được Nhân dân nắm bắt và nhận thức mới chỉ là khởi đầu, điểm xuất phát để kiểm nghiệm được tính đúng đắn của chủ trương, đường lối đó; điều kiện đủ là phải tổ chức thực hiện trong thực tiễn, muốn làm được điều đó không ai khác là công chức cấp xã – người tiếp xúc nhiều nhất, hiểu rõ nhất, giải quyết nhiều việc nhất liên quan đến lợi ích của Nhân dân. Để thực hiện tốt vị trí, vai trò này, đòi hỏi công chức cấp xã phải có khả năng tổ chức, bố trí, sử dụng, tập hợp và lôi cuốn mọi người vào hoạt động; có khả năng xử lý các tình huống phát sinh, đó là các tình huống về tài chính, thiên tai, địch hoạ, do va chạm xóm giềng, dòng tộc, tình huống nảy sinh khi ra những quyết định sai trái với cấp trên; phải có khả năng kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình và khả năng tổng kết, sơ kết việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước được thực hiện một cách nghiêm túc thông qua việc xử lý, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật kịp thời, hiệu quả, góp phần ổn định tình hình an ninh – chính trị, trật tự an toàn xã hội.
– Ba là, công chức cấp xã là người nắm bắt kịp thời, phản ánh đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, thông qua Nhân dân để đánh giá được tính đúng đắn của đường lối, chính sách, kịp thời phát hiện những thiếu sót của chính sách để Đảng, Nhà nước có cơ sở khoa học sửa đổi, ban hành các chủ trương, chính sách có tính khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Để mọi chủ trương, chính sách khi ban hành đều vì lợi ích của Nhân dân, dựa trên ý kiến của Nhân dân, phát huy được tính tích cực, chủ động của mỗi con người, làm cho mọi tiềm năng sáng tạo được phát triển, mọi người dân đều tham gia vào quá trình chính trị, xã hội, các vấn đề nảy sinh được phát hiện kịp thời, khó khăn sớm được tháo gỡ, tạo sự phát triển mạnh mẽ của đất nước.
Thực tiễn cách mạng của đất nước khẳng định, chính từ vai trò của công chức cấp xã nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân nên Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, được Nhân dân đồng tình ủng hộ. Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng như nghị quyết về khoán sản phẩm trong nông nghiệp; công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… Nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh có hiệu quả các mặt đời sống xã hội như Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Hôn nhân và Gia đình….
Tóm lại công chức cấp xã là người có vị trí, vai trò quan trọng trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội ở cơ sở, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Đồng thời đội ngũ này đóng vai trò quyết định chính quyền cơ sở mạnh hay yếu, việc thực hiện nhiệm vụ tốt hay không tốt, thành công hay thất bại, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
1.1.2.3. Nhiệm vụ đối với công chức cấp xã
Nhiệm vụ của công chức cấp xã được quy định tại Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn, cụ thể:
(1) Đối với công chức Trưởng Công an xã
– Tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
– Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về công an xã và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền.
– Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao.
(2) Đối với công chức Chỉ huy trưởng quân sự
– Tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
– Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về dân quân tự vệ, quốc phòng toàn dân, nghĩa vụ quân sự và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền.
– Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao.
(3) Đối với công chức Văn phòng – Thống kê
– Tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong các lĩnh vực: văn phòng, thống kê, tổ chức, nhân sự, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc và thanh niên trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
– Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Xây dựng và theo dõi việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, lịch làm việc định kỳ và đột xuất của HĐND, Thường trực HĐND, UBND, Chủ tịch UBND cấp xã.
+ Giúp Thường trực HĐND và UBND cấp xã tổ chức các kỳ họp; chuẩn bị các điều kiện phục vụ các kỳ họp và các hoạt động của HĐND, UBND cấp xã.
+ Tổ chức lịch tiếp dân, tiếp khách của UBND cấp xã; thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại UBND cấp xã; nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo và chuyển đến Thường trực HĐND, UBND xem xét, giải quyết theo thẩm quyền; tổng hợp, theo dõi và báo cáo việc thực hiện quy chế làm việc của UBND cấp xã và thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
+ Chủ trì, phối hợp với công chức khác xây dựng và theo dõi việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; tổng hợp, thống kê, báo cáo tình hình phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các hoạt động kinh tế – xã hội trên địa bàn cấp xã; dự thảo các văn bản theo yêu cầu của HĐND, Thường trực HĐND, UBND, Chủ tịch UBND cấp xã.
– Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch UBND cấp xã giao.
(4) Đối với công chức Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc công chức Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đổi với xã)
– Tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong các lĩnh vực: đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, đô thị, giao thông, nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
– Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ:
+ Thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, lập sổ sách các tài liệu và xây dựng các báo cáo về đất đai, địa giới hành chính, tài nguyên, môi trường và đa dạng sinh học, công tác quy hoạch, xây dựng, đô thị, giao thông, nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
+ Tổ chức vận động nhân dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo vệ môi trường trên địa bàn cấp xã.
+ Giám sát về kỹ thuật các công trình xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp xã.
+ Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện các thủ tục hành chính trong việc tiếp nhận hồ sơ và thẩm tra để xác nhận nguồn gốc, hiện trạng đăng ký và sử dụng đất đai, tình trạng tranh chấp đất đai và biến động về đất đai trên địa bàn; xây dựng các hồ sơ, văn bản về đất đai và việc cấp phép cải tạo, xây dựng các công trình và nhà ở trên địa bàn để Chủ tịch UBND cấp xã quyết định hoặc báo cáo UBND cấp trên xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.
– Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch UBND cấp xã giao.
(5) Đối với công chức Tài chính – kế toán
– Tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong lĩnh vực tài chính, kế toán theo quy định pháp luật.
– Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Xây dựng dự toán thu, chi ngân sách cấp xã trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách và các biện pháp khai thác nguồn thu trên địa bàn cấp xã.
+ Kiểm tra và tổ chức thực hiện các hoạt động tài chính, ngân sách theo hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên; quyết toán ngân sách cấp xã và thực hiện báo cáo tài chính, ngân sách theo đúng quy định của pháp luật.
+ Thực hiện công tác kế toán ngân sách (kế toán thu, chi ngân sách cấp xã, kế toán các quỹ công chuyên dùng và các hoạt động tài chính khác, kế toán tiền mặt, tiền gửi, kế toán thanh toán, kế toán vật tư, tài sản,…) theo quy định pháp luật.
+ Chủ trì, phối hợp với công chức khác quản lý tài sản công; kiểm tra, quyết toán các dự án đầu tư xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp xã theo quy định của pháp luật.
– Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch UBND cấp xã giao.
(6) Đối với công chức Tư pháp – hộ tịch
– Tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong lĩnh vực tư pháp và hộ tịch trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
– Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật, tổ chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn cấp xã trong việc tham gia xây dựng pháp luật.
+ Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND cấp xã báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định; tham gia công tác thi hành án dân sự trên địa bàn cấp xã.
+ Thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, hộ tịch, chứng thực, chứng nhận và theo dõi về quốc tịch trên địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật; phối hợp với công chức Văn hóa – Xã hội hướng dẫn xây dựng hương ước quy ước ở thôn, tổ dân phố và công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã.
+ Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở.
– Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch UBND cấp xã giao.
(7) Đối với công chức Văn hóa – xã hội
– Tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong lĩnh vực: Văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục theo quy định của pháp luật.
– Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Tổ chức, theo dõi và báo cáo về các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, y tế và giáo dục trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư và xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn cấp xã.
+ Thực hiện các nhiệm vụ thông tin, truyền thông về tình hình kinh tế – xã hội ở địa phương.
+ Thống kê dân số, lao động, việc làm, ngành nghề trên địa bàn; theo dõi, tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượng chính sách lao động, thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản lý nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội và chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn cấp xã.
+ Chủ trì, phối hợp với công chức khác và trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã.
– Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch UBND cấp xã giao.
1.1.3. Sự cần thiết của nâng cao chất lượng công chức cấp xã
1.1.3.1. Xuất phát từ đặc điểm chính quyền cấp xã và vị trí vai trò của đội ngũ công chức cấp xã
Chính quyền cấp xã là đơn vị hành chính ở cơ sở trực tiếp tổ chức đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống. Đây cũng là nơi gần dân nhất, tiếp thu những ý kiến của nhân dân để phản ánh cho Đảng và Nhà nước hoàn thiện chính sách, pháp luật. Trên thực tế công chức cấp xã phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan đến mọi mặt của đời sống chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở cơ sở. Do đó nếu đội ngũ công chức xa sút về phẩm chất, không đủ năng lực công tác sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực và nghiêm trọng về nhiều mặt đối với mỗi địa phương nói riêng và cả nước nói chung.
Lý luận và thực tiễn để chứng minh, việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là nhân tố then chốt trong xây dựng hệ thống chính quyền vững mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra rằng “Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi”. Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo bồi dưỡng giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”. Do đó, vấn đề nâng cao chất lượng công chức cấp xã là nội dung trọng tâm, then chốt, góp phần xây dựng hệ thống chính trị, chính quyền vững mạnh từ cơ sở.
1.1.3.2. Yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa là bước đi tất yếu trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc vươn tới văn minh, hiện đại. Trong hoàn cảnh của nước ta, với những điều kiện thuận lợi do sự nghiệp đổi mới tạo ra và trên cơ sở kế thừa có chọn lọc tri thức của văn minh nhân loại về công nghiệp hóa, Đảng ta đã xác định công nghiệp hóa ở nước ta phải đi liền với hiện đại hóa.
Hiện nay, các nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là: Thay thế phần lớn lao động thủ công bằng lao động cơ khí hóa, điện khí hóa và một phần tự động hóa, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP và trong lao động xã hội, tiếp cận và vận dụng, ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học – công nghệ; nâng cao dân trí, chất lượng nguồn lực con người ngang bằng khu vực với bản lĩnh, bản sắc của văn hóa Việt Nam, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở địa phương.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; phát huy tốt tính tự quản ở cộng đồng dân cư. Yêu cầu đặt ra đối với công chức là phải: trung thành với mục tiêu, lý tưởng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới, am hiểu pháp luật, có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nâng cao năng lực QLNN của công chức nói chung và nâng cao chất lượng công chức cấp xã nói riêng.
1.1.3.3. Sự đòi hỏi của quá trình cải cách hành chính
Nâng cao chất lượng công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng là yêu cầu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính nhà nước, đảm bảo xây dựng một nền hành chính công – một nền hành chính phục vụ. Cải cách hành chính hiện nay đang được xem là một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát huy dân chủ và cải thiện nhiều mặt đời sống nhân dân. Một trong những nội dung trọng tâm của cải cách hành chính ở nước ta là cải cách đội ngũ công chức. Có thể xây dựng thể chế tốt, thiết kế được mô hình hệ thống hành chính tốt, nhưng nếu không có đội ngũ công chức thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ, tận tụy với công việc, trách nhiệm với dân thì mọi ý đồ cải cách cũng không trở thành hiện thực.
Vì vậy, nâng cao chất lượng công chức cấp xã là yêu cầu khách quan, đảm bảo xây dựng một nền hành chính công, một nền hành chính phục vụ. Qua thực hiện cải cách hành chính, tinh thần trách nhiệm của công chức phải được nâng cao, thái độ phục vụ nhân dân tốt hơn, kỹ năng hành chính, phong cách làm việc từng bước được cải tiến, kỷ cương, kỷ luật hành chính ngày càng được thiết lập.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LE KIM NGOC


