Quản trị rủi ro khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng

Quản trị rủi ro khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng

Quản trị rủi ro khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

 1. Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với xMỞ ĐẦUu thế chung của thế giới cũng như cả nước, ngành ngân hàng cũng từng bước tiến sâu hơn vào quá trình hội nhập đặc biệt là khi các hiệp định thương mại tự do được ký kết. Thị trường chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng đã và đang trở thành thị trường tiềm năng cho quá trình hội nhập quốc tế. Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sẽ được hình thành trong năm 2015 theo như cam kết của lãnh đạo các nước ASEAN. Như vậy, cuối năm 2015 và đầu năm 2016 các nước ASEAN sẽ mở cửa cho ngành Ngân hàng và theo lộ trình cam kết đến năm 2020 thì Việt Nam sẽ mở cửa toàn bộ ngành Ngân hàng cho các nước ASEAN. Sự hội nhập sâu rộng như vậy đã đặt ra thách thức rất lớn đối với ngành ngân hàng trong quá trình điều chỉnh và cải cách để tiến đến một hệ thống ngân hàng phát triển bền vững và ổn định. Thách thức đó ngày càng hiện hữu khi hàng loạt các ngân hàng nước ngoài đã có những bước chuẩn bị sẵn sàng cho việc tận dụng các cơ hội tiếp cận thị trường và có kế hoạch tăng cường sự hiện diện và mở rộng quy mô tại Việt Nam. Thực tế cho thấy, ngân hàng ở các nước ASEAN đã xuất hiện ngày càng nhiều và mở thêm nhiều chi nhánh tại Việt Nam như Singapore, Malaysia, Thái Lan… Đến nay, thị trường Việt Nam đã có hơn 50 văn phòng đại diện, 50 chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài, 6 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 4 ngân hàng liên doanh. Trước áp lực như vậy, các ngân hàng trong nước phải có những chiến lược, bước đi vững vàng. Các ngân hàng phải được cải tổ về cách quản trị, điều hành, quản lý rủi ro cho phù hợp với các công ước quốc tế đặc biệt là công ước Basel trong thời gian sớm nhất.

Việc hội nhập một mặt sẽ hứa hẹn mang lại cho các ngân hàng trong nước nhiều cơ hội kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, mặt khác cũng tạo ra một thị trường tài chính rủi ro hơn. Trong bối cảnh đó, không một ngân hàng hay định chế tài chính nào có thể tồn tại lâu dài mà không có hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu. Đối với hoạt động ngân hàng, việc xây dựng một hệ thống quản trị nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng có vai trò sống còn. Tín dụng là hoạt động đóng vai trò quan trọng nhất của NHTM Việt Nam hiện nay, hoạt động tín dụng mang lại thu nhập chính (60-80%) cho các NHTM. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất, ảnh hưởng đến tình hình tài chính, uy tín và vị thế của ngân hàng thậm chí tác động trực tiếp đến sự sống còn của ngân hàng. Vì vậy, hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng là góp phần giảm thiểu rủi ro tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM.

Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) là một trong ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Trong những năm qua VietinBank luôn đi tiên phong trong cải cách để đón đầu thách thức cũng như tận dụng cơ hội trong quá trình hội nhập quốc tế. Thương hiệu VietinBank không chỉ được khẳng định trong nước mà dần xây dựng được uy tín trên thị trường nước ngoài. Việc chiếm lĩnh thị trường, xác định các phân khúc thị trường cốt lõi, xây dựng hình ảnh ngân hàng gắn liền với phân khúc đó là một trong những chiến lược của Vietinbank trong thời kỳ hội nhập. Hiện nay, khách hàng doanh nghiệp được xem là phân khúc thị trường cốt lõi quan trọng của VietinBank. Đây là đối tượng khách hàng mang lại thu nhập chính cho ngân hàng. Tuy nhiên, nhóm khách hàng này lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro hơn các đối tượng khách hàng khác và rủi ro chủ yếu từ các hoạt động cho vay doanh nghiệp.

Tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng, hoạt động cho vay doanh nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn trên tổng dư nợ, nợ xấu có biến động không ngừng chứa nhiều bất ổn. Vì vậy việc quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp có hiệu quả sẽ giúp ngân hàng nâng cao được vị thế và uy tín đối với các khách hàng của mình. Đây là điều vô cùng quan trọng giúp ngân hàng đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển một cách bền vững. Do đó tôi đã chọn đề tài “Quản trị rủi ro khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Hệ thống hoá lý luận cơ bản về Quản trị rủi ro khách hàng doanh nghiệp tại các NHTM và Quản trị rủi ro khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Đà Nẵng

– Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Đà Nẵng. Bên cạnh đó phân tích nguyên nhân dẫn đến hạn chế rủi ro trong Quản trị khách hàng doanh nghiệp và công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Đà Nẵng.

– Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng đề xuất giải pháp quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Đà Nẵng.

– Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Đà Nẵng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

– Các vấn đề lý luận về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp và và thực tiễn công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng.

* Phạm vi nghiên cứu:

– Đề tài nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro khách hàng doanh nghiệp, cụ thể tập trung vào công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng giai đoạn từ năm 2012 đến 2014.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp thu thập, tổng hợp các nguồn thông tin từ các giáo trình tài liệu, internet để tổng hợp nên lý luận về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp.

– Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, thu thập các thông tin thứ cấp, tổng hợp, phân tích dữ liệu thống kê để làm rõ thực trạng quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng.

– Phương pháp quan sát, dự báo, tham khảo ý kiến chuyên gia định hướng cho các giải pháp cho luận văn.

5. Bố cục của đề tài

Trong phạm vi luận văn, ngoài phần mở đầu và kết luận thì cấu trúc gồm 3 chương:

– Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại

– Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng.

– Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, NHTM luôn phải đối diện với rất nhiều loại rủi ro. Trong các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM, rủi ro tín dụng có tác động lớn nhất đến mục tiêu kinh doanh của NHTM. Có rất nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng có thể dẫn ra sau đây:

Theo khái niệm cơ bản, rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cấp tín dụng và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ.

Theo khoản 1 Điều 3 thông tư số 02/2013/TT-NHNN “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” [19, tr.3].

Rủi ro tín dụng phát sinh khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng. Tất cả các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cho thuê tài chính, chiết khấu chứng từ có giá, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, bao thanh toán và bão lãnh đều chứng đựng rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, khi bàn đến quản trị rủi ro tín dụng người ta thường xem rủi ro tín dụng phát sinh khi cho vay là ví dụ điển hình. [3, tr.1170]

Các định nghĩa về rủi ro tín dụng khá đa dạng, song các quan niệm về rủi ro tín dụng đều giống nhau về bản chất đó là:

– Rủi ro tín dụng là khả năng và (hoặc) thực tế xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay không thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính đã cam kết với ngân hàng.

– Rủi ro tín dụng có thể gây tổn thất về tài chính cho NHTM đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng sẽ dẫn tới thua lỗ, nếu ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.

Như vậy, rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp được hiểu là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ vay của doanh nghiệp tại NHTM do doanh nghiệp vay vốn không thực hiện đúng hạn hoặc không có khả năng thực hiện đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của mình theo cam kết.

1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp

Có nhiều cách để phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau. Cách phân loại rủi ro tín dụng phổ biến hiện nay như sau:

– Căn cứ theo phạm vi gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro tín dụng đặc thù và rủi ro tín dụng hệ thống.

+ Rủi ro tín dụng đặc thù là rủi ro của một khoản tín dụng cụ thể phát sinh do những kiểu đặc thù của rủi ro dự án mà người vay thực hiện.

+ Rủi ro tín dụng hệ thống là rủi ro tín dụng phát sinh do bối cảnh chung của nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ những người vay.

– Căn cứ theo nguồn gốc phát sinh rủi ro th́ rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.

+ Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng), rủi ro đảm bảo (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo…), và rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay giải ngân, theo dõi, giám sát khoản vay).

+ Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại (rủi ro xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao).

1.1.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp

– Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Vì ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay. Vì vậy, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn. Nói cách khác, những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng vay đã gián tiếp gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng.

– Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân tức là rủi ro tín dụng xảy ra ở rất nhiều dạng và phụ thuộc vào nguyên nhân đã gây ra rủi ro tín dụng, hình thức và hậu quả của rủi ro tín dụng gây ra không thể lường trước được, tùy thuộc vào mức độ rủi ro tín dụng của khoản vay.

– Rủi ro tín dụng có tính tất yếu, nó luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động của ngân hàng thương mại: Tính tất yếu có nghĩa là ngân hàng có thể phòng ngừa tốt để hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng chứ không thể loại bỏ nó được. Tình trạng thông tin bất đối xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ nhất. Kinh doanh ngân hàng buộc phải chấp nhận rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương xứng.

1.1.4. Hậu quả của rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp

* Tác động đến ngân hàng

Khi gặp rủi ro tín dụng, NHTM phải đối mặt với nguy cơ chất lượng tín dụng giảm, không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, làm hạn chế khả năng mở rộng tín dụng và mức độ tăng trưởng tín dụng. Từ đó, NHTM sẽ gặp nhiều rủi ro liên quan, cụ thể:

– Rủi ro tín dụng làm cho NHTM gặp tổn thất về mặt tài chính,làm giảm thu nhập, giảm lợi nhuận của ngân hàng và làm tăng chí phí vay vốn của ngân hàng. Do ngân hàng không thu hồi được nợ, chi phí tổn thất tín dụng cùng các chi phí hoạt động khác tăng thêm do ngân hàng phải tăng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ quá hạn, dẫn đến làm thu nhập của ngân hàng giảm. Do khách hàng không trả được nợ làm cho ngân hàng thiếu hụt vốn để đầu tư hoặc luân chuyển vốn phục vụ cho khách hàng khác, khi đó ngân hàng phải đi vay trên thị trường tiền tệ với lãi suất cao để đảm bảo đủ nguồn thanh toán. Biện pháp này chỉ giải quyết được nhu cầu vốn tạm thời của ngân hàng song ngân hàng lại phải chịu chi phí cao trong khi lợi nhuận không thay đổi.

– Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của NHTM, làm giảm sút giá trị thương hiệu và hình ảnh của ngân hàng, gây ra rất nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng đặc biệt là hoạt động huy động vốn và dịch vụ.

– Rủi ro tín dụng làm gia tăng các loại rủi ro khác cho ngân hàng. Khi NHTM không huy động được nguồn vốn để bù đắp khoản cho vay không thu hồi được dễ dẫn đến rủi ro thanh khoản, ngược lại NHTM có thể gặp rủi ro tái tài trợ, rủi ro lãi suất do lãi suất huy động tăng, rủi ro vỡ nợ.

* Tác động đến nền kinh tế

Hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hóa cao, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó được coi là mạch máu của nền kinh tế. Vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì sẽ bị ảnh hưởng lan truyền trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, người gửi tiền vì tâm lý lo sợ nên để bảo toàn tài sản của mình sẽ ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác, sẽ dễ dẫn đến việc hệ thống ngân hàng mất thanh khoản và có thể phá sản gây ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế làm cho nền kinh tế bị suy thoái, khủng hoảng tài chính, lạm phát, thất nghiệp, xã hội mất ổn định…

1.2. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NHTM

1.2.1. Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp

Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp là quá trình ngân hàng vận dụng các phương pháp, công cụ phù hợp nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro tín dụng nhằm đạt được mục tiêu hạn chế tổn thất do rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp gây ra trong giới hạn tự định.

Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp là tối thiểu hóa chi phí quản trị rủi ro, giảm thiểu tổn thất ở mức thấp nhất do rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp gây ra.

1.2.2. Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

Quá trình quản trị rủi ro tín dụng bao gồm 4 nội dung: nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro tín dụng.

1.2.2.1. Nhận dạng rủi ro

Đây là bước đầu tiên và rất quan trọng trong công tác quản trị rủi ro tín dụng nói chung và quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp nói riêng. Nhận dạng rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp bao gồm việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của tổ chức nhằm nhận ra các rủi ro hiện tại và rủi ro tiềm ẩn mà ngân hàng đối diện. Hiệu quả của việc quản trị rủi ro tín dụng khách hàng doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc nhận dạng rủi ro. Dựa vào các dấu hiệu cảnh báo giúp cho ngân hàng nhận biết và có các giải pháp xử lý sớm các vấn đề một cách hiện quả. Sau đây là một số phương pháp mà các ngân hàng thường sử dụng trong nhận dạng rủi ro cho vay:

a. Phương pháp nhận biết bằng các dấu hiệu cảnh báo của khoản vay có vấn đề: Việc phát hiện khoản vay có vấn đề thông qua việc kiểm tra các báo cáo và thông tin thu thập được, tiếp xúc với khách hàng thường xuyên hoặc qua các nguồn thông tin khác dựa vào dấu hiệu từ các nguồn sau:

* Dấu hiệu từ báo cáo tài chính:

– Thứ nhất, đối với bảng cân đối kế toán: Ngân hàng cấp tín dụng nhận được báo cáo chậm hoặc không nhận được báo cáo tài chính của khách hàng mà không có lý do thuyết phục, tiền mặt giảm liên tục là dấu hiệu chứng tỏ khách hàng đang gặp khó khăn trong vấn đề thanh toán ngắn hạn. Các khoản phải thu tăng một cách đột biến, thời gian thu hồi nợ phải thu trung bình tăng lên. Hệ số tài sản ngắn hạn tính trên tổng tài sản giảm sút, các hệ số về khả năng thanh khoản giảm, số liệu báo cáo không đầy đủ, rõ ràng và thiếu trung thực. Hay các dấu hiệu về kết cấu nguồn vốn như: Nguồn vốn chủ sở hữu giảm, những thay đổi rõ rệt về cơ cấu tài sản kinh doanh, thay đổi tăng nhanh chóng của tài sản cố định, tập trung đầu tư nhiều vào tài sản vô hình. Xuất hiện thêm các khoản gia hạn nợ vay ngân hàng hoặc khách hàng. Hàng tồn kho, chi phí chờ kết chuyển, chi phí tạm ứng, chi phí sản xuất dở dang tăng đột biến hay các khoản dự phòng tăng mạnh. Trên đây là các dấu hiệu cho thấy tình hình tài sản và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đang có vấn đề.

– Thứ hai, đối với báo cáo kết quả SXKD: Các dấu hiệu về doanh thu như: Doanh thu bán hàng giảm nhanh hoặc doanh thu bán hàng tăng lớn nhưng lợi nhuận giảm đi, tổng doanh thu và doanh thu thuần chênh lệch lớn, tỷ lệ phần trăm của chi phí trên tổng doanh thu tăng lớn, trong khi đó mức lãi giảm đi. Hay các dấu hiệu về chi phí như: Chi phí quản lý, chi phí tài chính tăng cao không cân xứng so với mức tăng của doanh thu bán hàng. Hoặc các khoản lỗ dự phòng nợ phải thu quá hạn tăng lớn, xuất hiện lỗ từ hoạt động kinh doanh, lưu chuyển tiền ròng từ hoạt động kinh doanh âm và/hoặc có kết quả âm từ 2 đến 3 chu kỳ kinh doanh.

* Dấu hiệu từ hoạt động kinh doanh, quan hệ với bạn hàng: Thay đổi về phạm vi kinh doanh (ngành hàng kinh doanh thế mạnh, truyền thống bị thu hẹp trong khi mở rộng các hoạt động khác ở các lĩnh vực mà doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm). Quan hệ với khách hàng: Khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ người bán, khách hàng mua chịu tăng lên. Thị phần sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp dần thu nhỏ trên thị trường, năng lực cạnh tranh thấp. Các vấn đề hàng tồn kho: Xuất hiện những vụ mua hàng tồn kho mang tính đầu cơ nằm ngoài nguyên tắc mua hàng thông thường của doanh nghiệp, hàng tồn kho có dấu hiệu kém chất lượng, lưu hàng tồn kho với số lượng lớn hoặc cơ cấu hàng tồn kho không phù hợp.

* Dấu hiệu từ giao dịch với ngân hàng: Các giao dịch tiền gửi với ngân hàng ngày càng ít dần, số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng giảm nhanh. Xây dựng kế hoạch SXKD, kế hoạch nhu cầu vay vốn lưu động ngày càng tăng lên không sát thực tế, thiếu cơ sở. Thời hạn xin vay vốn ngày càng kéo dài. Đề nghị vay vốn của khách hàng thể hiện nhiều nguồn trả nợ khác nhau, nhưng trên thực tế lại khó có thể nhận thấy được, thiếu tính hợp tác trong cung cấp thông tin, tình hình sản xuất kinh doanh, TSBĐ của khách hàng. Khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn, chậm trả nợ gốc, nợ lãi, thường xuyên phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Thiếu tinh thần hợp tác trong việc thanh toán các khoản nợ với ngân hàng.

* Dấu hiệu liên quan đến công tác quản trị doanh nghiệp: Có dấu hiệu mất đoàn kết nội bộ, xuất hiện các vụ kiện cáo từ nội bộ doanh nghiệp. Mạo hiểm khi mua bán, giá cả sản phẩm không phù hợp với giá thị trường. Chậm trễ trong việc phản ứng lại với sự đi xuống của thị trường hoặc các điều kiện kinh tế hay có dấu hiệu nợ lương nhân viên, công nhân, nợ thuế.

Ngoài việc phân tích các thông tin tài chính, thì thông tin phi tài chính của khách hàng cũng cần được xem xét, phân tích chặt chẽ, để đảm bảo khoản cho vay của ngân hàng là an toàn. Như vậy, để nhận biết được khoản cho vay có vấn đề hay không, đòi hỏi ngân hàng phải thu thập, phân tích, thống kê, lưu trữ số lượng thông tin lớn trong một thời gian dài, một cách có hệ thống, khoa học để nhận biết cơ chế và nguồn gốc gây ra rủi ro.

b. Phương pháp thẩm định thực tế khách hàng: Các cán bộ tín dụng (CBTD) sẽ trực tiếp đi thực tế khách hàng để xem xét về công việc, cuộc sống, môi trường xung quanh, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng.

c. Phương pháp phân tích lưu đồ: Phương pháp này được thực hiện xuyên suốt trong quy trình tín dụng, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, khâu trung gian như thẩm định, công chứng, ra quyết định, giải ngân, theo dõi đến thanh lý hợp đồng.

d. Ngoài ra, có thể tiếp cận rủi ro tín dụng theo Basel

Basel I: Tiêu chuẩn của Basel I:

– Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro – “Tỉ lệ Cook”:

Tỉ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc / Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA). Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt  là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp  khi CAR > 8%, thiếu vốn  khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt  khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%.

– Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: 

Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3. Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như là khoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: vốn chủ sở hữu vĩnh viễn, lợi nhuận giữ lại, lợi ích thiểu số tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính, lợi thế kinh doanh.

Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố, dự phòng đánh giá lại tài sản, dự phòng chung, công cụ vốn hỗn hợp.

Vốn Cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn

– Vốn tính theo rủi ro gia quyền:

RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)

Basel II: Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:

– Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường.

– Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách NH, Basel II cung cấp chính sách với những “công cụ” tốt hơn so với Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các RR mà NH đối mặt, như RR hệ thống, RR chiến lược, RR danh tiếng, RR thanh khoản và RR pháp lý.

– Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường.

Như vậy, sự phát triển của Basel và những hiệp ước của tổ chức này đưa ra, các NHTM ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại RR hơn và do vậy sẽ giảm thiểu được RR.

Tóm lại, mỗi phương pháp nhận dạng đều có những ưu nhược điểm riêng, việc áp dụng như thế nào cho khoa học, hiệu quả tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng ngân hàng. Bên cạnh đó, việc áp dụng cần có sự linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tế để chất lượng công tác nhận dạng rủi ro đạt được hiệu quả cao nhất.

1.2.2.2. Đo lường rủi ro

Đo lường rủi ro là việc xác định tần số, xác suất hay độ lớn của tổn thất, xác định mối liên hệ giữa chúng với các yếu tố rủi ro có liên quan. Nhờ đó, nhà quản trị xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro của khách hàng, xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro. Sau đây là các mô hình được áp dụng tương đối phổ biến:

a. Mô hình định tính : Việc đánh giá xác suất vỡ nợ của người vay trên cơ sở phân tích các yếu tố: Thứ nhất, các nhân tố đặc thù của người vay như danh tiếng, đòn bẩy nợ, độ dao động của thu nhập, tài sản bảo đảm…, thứ hai, số lượng thông tin thu thập: quy mô rủi ro tiềm năng, chi phí thu thập thông tin, thứ ba, các nhân tố thị trường: chu kỳ kinh doanh, mức độ lãi suất.. Mô hình 6C là mô hình truyền thống được các chuyên gia sử dụng phổ biến để phân tích và đo lường rủi ro tín dụng.

* Character (tư cách người vay): Là thước đo danh tiếng cho người đi vay và là cơ sở cho sự tín nhiệm lớn trong việc trả nợ của người vay. Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích xin vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không, đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ, còn khách mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như từ: trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàng bạn, từ các cơ quan thông tin đại chúng,…

* Capacity (năng lực): Tuỳ thuộc vào qui định luật pháp của quốc gia, đòi hỏi người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Đối với cá nhân dưới 18 tuổi không đủ tư cách ký hợp đồng tín dụng, đối với doanh nghiệp phải căn cứ vào giấy phép kinh doanh, quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệm người điều hành.

* Cash (dòng tiền): Thu nhập của người vay trước hết phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán…

* Collateral (tài sản bảo đảm): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn trả nợ thứ hai cho ngân hàng nếu khách hàng sử dụng vốn vay không đạt hiệu quả.

* Condition (điều kiện): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ .

* Control (kiểm soát): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không?

b. Mô hình định lượng: Một trong những mục tiêu quan trọng của quản lý tín dụng là làm giảm tối đa rủi ro tín dụng. Muốn vậy, ngân hàng cần phải lượng hóa và đánh giá được rủi ro tín dụng để từ đó có các biện pháp quản lý hiệu quả. Sau đây là một số mô hình được áp dụng tương đối phổ biến

* Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor

NguồnXếp hạngTình trạng
Standard & Poor
AaaChất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất
AaChất lượng cao
AChất lượng trên trung bình
BaaChất lượng trung bình
BaChất lượng trung bình mang yếu tố đầu cơ

Cơ

BChất lượng dưới trung bình
CaaChất lượng kém
CaMang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ
CChất lượng kém nhất, triển vọng xấu
Moody
AAAChất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất
AAChất lượng cao
AChất lượng trên trung bình
BBBChất lượng trung bình
BBChất lượng trung bình mang yếu tố đầu cơ

Cơ

BChất lượng dưới trung bình
CCCChất lượng kém
CCMang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ
CChất lượng kém nhất, triển vọng xấu

Các bước thực hiện đánh giá và xếp hạng doanh nghiệp

– Bước 1: Xác định qui mô doanh nghiệp

Bao gồm: tiêu thức về vốn, tiêu thức về doanh thu, tiêu thức về nghĩa vụ thuế, tiêu thức về lao động.

– Bước 2: Đánh giá các chỉ tiêu tài chính

Bao gồm các chỉ tiêu được xem xét như khả năng thanh khoản, hiệu quả hoạt động, khả năng trả nợ, thu nhập. Do các ngành nghề khác nhau nên khi đánh giá phải dựa vào ngành và qui mô doanh nghiệp.

– Bước 3: Tổng hợp kết quả điểm về xếp hạng doanh nghiệp

* Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model):

Đây là mô hình do E.I. Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn. Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người đi vay và phụ thuộc vào:

+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay.

+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ. Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó: X1: Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản

X2: Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản

X3: Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản

X4: Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu / giá trị hạch toán của nợ

X5: Hệ số doanh thu / tổng tài sản

Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp. Ngược lại, trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp KH vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.

Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao.

* Phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ IRB của Hiệp ước Basel II

Hiệp ước Basel II có lẽ đã không đạt được sự công nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới nếu nó không đánh dấu sự ra đời của phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ IRB, với linh hồn là việc giới thiệu 03 cấu phần rủi ro: xác suất không trả được nợ (PD), tổn thất dự kiến tại thời điểm không trả được nợ (LGD) và dư nợ dự kiến tại thời điểm không trả được nợ (EAD); và ứng dụng của các cấu phần này vào công tác quản trị rủi ro tín dụng. Do đó, một trong những điều kiện căn bản để một ngân hàng được công nhận tuân thủ Basel II theo IRB là ngân hàng phải chuẩn bị và tuân thủ các quy định hết sức khắt khe về việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, tính toán các giá trị ước lượng rủi ro tín dụng PD, LGD, EAD dựa trên chính thực trạng hoạt động của ngân hàng, từ đó tính toán chuẩn xác khối lượng vốn tối thiểu bù đắp rủi ro cần nắm giữ. Bên cạnh đó, việc ngân hàng ứng dụng kết quả các mô hình đo lường rủi ro tín dụng từ hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (được gọi là IRB Use Test) vào phê duyệt tín dụng, quản lý rủi ro, phân bổ vốn nội bộ và quản trị doanh nghiệp cũng là một trong những yếu tố mang tính chất quyết định trong quá trình đánh giá của cơ quan quản lý và giám sát để cấp chứng nhận tuân thủ phương pháp tiếp cận IRB cho một ngân.

Với quy định khắt khe về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và việc ứng dụng các cấu phần IRB (PD/LGD/EAD) vừa làm đầu vào tính toán yêu cầu vốn an toàn tối thiểu, vừa phục vụ các quyết định quản lý nội bộ khác, Ủy ban Basel II đã tạo động lực thúc đẩy các ngân hàng: (i) xây dựng các giá trị ước lượng rủi ro tín dụng phản ánh chính xác trạng thái rủi ro thực tế, qua đó tối ưu hóa lượng vốn đầu tư trên cơ sở vừa bảo đảm an toàn cho hoạt động ngân hàng vừa tránh lãng phí vốn, đồng thời (ii) duy trì hệ thống công nghệ thông tin/cơ sở dữ liệu chất lượng, chi tiết, bảo đảm các cấu phần IRB luôn chính xác và được cập nhật, nền tảng cho thực hành quản lý rủi ro tín dụng lành mạnh, chủ động và hiệu quả. Nói cách khác, Ủy ban Basel không chỉ yêu cầu các ngân hàng nắm giữ đầy đủ vốn bù đắp rủi ro, quan trọng hơn, Ủy ban khuyến nghị các ngân hàng nghiên cứu và triển khai các kỹ thuật quản lý rủi ro hiện đại và quy trình nội bộ phát hiện, đo lường, đánh giá, kiểm soát rủi ro tốt hơn trong suốt chu trình tín dụng, tạo môi trường kinh doanh ngân hàng phát triển an toàn, bền vững.

* Ngoài ra, dựa vào các quy định về đảm bảo an toàn trong rủi ro cho vay theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Thông tư số 02/2013/TT-NHNN “Quy định về phân loại tàI sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” Cụ thể:

Tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo năm (05) nhóm như sau:

+ Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.

Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết.

+ Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.

Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện cam kết.

+ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết.

+ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao.

Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao.

+ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.

Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết.

– “Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.

– “Nợ xấu” (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 theo quy định trên. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng.

– “Tỷ lệ nợ xấu” là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5.

– “Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ” là nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và/hoặc gia hạn nợ cho khách hàng khi khách hàng không có khả năng trả nợ gốc và/hoặc lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng nhưng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá có khả năng trả được đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ cơ cấu lại.

Sau khi thực hiện việc phân loại nợ, thiệt hại do rủi ro cho vay trong kỳ gây ra được phản ánh thông qua các chỉ tiêu sau:

Tỷ lệ nợ xấu=Số dư nợ xấu
Tổng dư nợ

Tỷ lệ này phản ánh trong tổng dư nợ, nợ xấu chiếm bao nhiêu % là thước đo quan trọng nhất trong hoạt động tín dụng. Nhìn vào tỷ lệ này có thể đánh giá ngay chất lượng tín dụng.

Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng=Dự phòng RRTD được trích lập
Tổng dư nợ trong kỳ báo cáo

Tỷ lệ này phản ánh số vốn đã trích dự phòng rủi ro do nợ xấu. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng càng cao cho thấy chất lượng tín dụng thấp.

Tỷ lệ mất vốn=Số vốn mất đã xoá cho kỳ báo cáo
Tổng dư nợ trong kỳ báo cáo

Tỷ lệ này phản ánh mức độ mất vốn trong tổng dư nợ.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\HO THI THUY HA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *