Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang Cải cách tư pháp trong bối cảnh xây xựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân – một Nhà nước mà ở đó quyền con người trong đó có quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự được tôn trọng và bảo vệ. Một trong những yêu cầu của nhà nước pháp quyền là phải xây dựng cho được hệ thống pháp luật thống nhất, chặt chẽ và đồng bộ. Pháp luật tố tụng hình sự với tư cách là cơ sở pháp lý cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tội phạm nhằm phát hiện xử lý tội phạm, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người cũng cần đáp ứng yêu cầu đó.
Pháp luật tố tụng hình sự đáp ứng các đòi hỏi của nhà nước pháp quyền, trước hết thể hiện ở chỗ hệ thống nguyên tắc của nó với tư cách là những quan điểm chỉ đạo làm nền tảng và xuyên suốt các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, hoạt động tố tụng hình sự cần được thể hiện đầy đủ, toàn diện và đồng bộ. Là các nguyên tắc cơ bản, cốt lõi và quan trọng của tố tụng hình sự. Trong hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội đóng vai trò hết sức quan trọng và có thể nói đây là một trong những nguyên tắc cơ bản và là trụ cột chính kiến tạo nên hệ thống pháp luật tố tụng hình sự nước ta. Việc nghiên cứu nguyên tắc này trên cả ba phương diện: lý luận, lập pháp và thực tiễn có vai trò rất lớn trong việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự cũng như hoạt động áp dụng nó nhằm đạt được mục đích của tố tụng hình sự. Pháp luật tố tụng hình sự của các nước trên thế giới đã mặc nhiên thừa nhận nguyên tắc SĐVT và coi nó là một trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự của quốc gia mình. Không loại trừ nước ta, Nguyên tắc suy đoán vô tội được pháp luật Việt Nam ghi nhận một cách đầy đủ trong Bộ luật TTHS Việt nam 2015 với tư cách là một nguyên tắc cơ bản.
Với tầm quan trong như vậy, nguyên tắc suy đoán vô tội đã được quan tâm nghiên cứu trong khoa học pháp luật trong và ngoài nước từ lâu. Tuy nhiên, để nguyên tắc này được thể hiện đầy đủ, toàn diện và đồng bộ trong pháp luật TTHS và đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế cần tiếp tục có những nghiên cứu về mặt lý luận nhằm nhận thức đúng đắn, đầy đủ nội dung của nguyên tắc này trong hệ thống thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam, đánh giá sự thể hiện nguyên tắc này trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng nó, đặc biệt là thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội kể từ khi nó được chính thức ghi nhận đày đủ là một nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam trong Bộ luật TTHS 2015. Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy vẫn còn tình trạng không nhận thức đúng đắn, đày đủ nguyên tắc suy đoán vô tội dẫn đến vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội của các cơ quan tiến hành tố tụng dẫn đến tình trạng chẳng những bỏ lọt tội phạm mà còn làm oan người vô tội. Thực tiễn đó đòi hỏi có những giải pháp về pháp luật cũng như tổ chức thực hiện đúng đắn để đảm bảo cho nguyên tắc suy đoán vô tội được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế, góp phần bảo vệ quyền con người trong TTHS cũng như đảm bảo được mục đích của TTHS Việt nam là: Bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Do đó, việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nguyên tắc SĐVT; những điểm mới tích cực, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định liên quan đến SĐVT trong BLTTHS 2015. Từ đó làm cơ sở đánh giá sự hoàn thiện của nguyên tắc SĐVT thể hiện trong BLTTHS 2015. Bên cạnh đó, đề xuất, đưa ra một số giải pháp bảo đảm thực hiện các quy định về SĐVT trong thực tiễn là rất cần thiết hiện nay.
Nhận thức như vậy, tác giả đã chọn đề tài “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về lý luận và thực tiễn, luận văn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nguyên tắc SĐVT là nguyên tắc cơ bản trong TTHS Việt Nam. Từ đó, đưa ra kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật TTHS cũng như các giải pháp đảm bảo thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong thực tiễn tố tụng hình sự Việt nam .
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về SĐVT; các biện pháp bảo đảm quyền SĐVT của người bị buộc tội
Phân tích, đánh giá sự thể hiện của nguyên tắc SĐVT trong TTHS Việt Nam
Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện nguyên tắc SĐVT trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự
Đề xuất giải pháp đảm bảo thực hiện nguyên tắc SĐVT trong thực tiễn
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quan điểm lý luận về SĐVT. Pháp luật thực định về nguyên tắc SĐVT trong giải quyết vụ án hình sự (điều tra, truy tố, xét xử). Các phương thức, giải pháp bảo đảm quyền nguyên tắc SĐVT trong quá trình tố tụng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật thực định về SĐVT; Những tài liệu, bài viết, công trình đã được nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực SĐVT.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là Những quan điểm của Mác-Lênin, tư tưởng của Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền và Cải cách tư pháp
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp,…;Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các Hiến pháp, BLTTHS, các văn bản pháp luật có liên quan, tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan. Trong đó, hai phương pháp nghiên cứu và phân tích là hai phương pháp chủ đạo của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về nguyên tắc SĐVT, những yêu cầu đặt ra đối với cơ quan THTT, chủ thể THTT trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đưa ra các giải pháp cụ thể trong từng giai đoạn, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng trong giai đoạn cải cách tư pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và pháp luật về nguyên tắc suy đoán vô tội.
Chương 2: Sự thể hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Một số yêu cầu và giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong thực tiễn.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ
NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI
1.1. Khái niệm, nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội
- Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội
Trong tiếng Anh, thuật ngữ suy đoán vô tội được dịch từ “presumption of innocence” trong các tài liệu khoa học hay cụm từ “the right to be presumed innocent” trong các văn kiện quốc tế về quyền con người. Chẳng hạn, Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người 1948 nêu “Everyone charged with a penal offence has the right to be presumed innocent until proved guilty” (khoản 1, Điều 11), và tương tự, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị 1966 nêu “Everyone charged with a criminal offence shall have the right to be presumed innocent until proved guilty” (khoản 2 Điều 14).[10]
Nguồn gốc của thuật ngữ “suy đoán” bắt nguồn từ tiếng La tinh “praesumptino” hay trong tiếng anh “presump” được hiểu là coi vấn đề, hiện tượng nào đó là đúng đắn cho đến khi chưa có lý do bác bỏ vấn đề, hiện tượng đó. Luật học không sử dụng “presump” theo nghĩa suy đoán, theo từ điển Longman nêu rõ trong lĩnh vực luật, “presump” được hiểu là ‘chấp nhận một điều gì đó là đúng cho đến khi nó được chứng minh là không đúng’. Đây chính là khái niệm giả định, giả thiết trong tiếng Việt [10]. Như vậy với cách sử dụng thuật ngữ “presump” đã xuất hiện đến hai ý kiến với ý nghĩa khác nhau, “suy đoán” hoặc “giả định”. Dưới góc ngữ nghĩa tiếng Việt thì đây là hai thuật ngữ hoàn toàn khác nhau. Việc “Suy đoán” đòi hỏi phải có thông tin, dữ kiện, tài liệu, chứng cứ để khiến con người tin vào một điều gì đó. Còn Giả định được hiểu là “cho một cái gì đó là có thật để làm căn cứ để tiến hành làm cái gì đó”.
Theo ngôn ngữ đời thường, suy đoán là dựa vào cái này mà đoán ra cái khác. Trong pháp luật, suy đoán là một trong những kỹ thuật lập pháp, là suy đoán pháp lý nên phải chịu sự ràng buộc của pháp luật.
Cội nguồn của nguyên tắc suy đoán vô tội có từ thời La-mã cổ đại khi người ta cho rằng trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo và chỉ áp dụng trong tố tụng dân sự.[13] Tư tưởng này chỉ trở thành nguyên tắc pháp luật khi khi cách Cách mạng tư sản Pháp thắng lợi cùng với đó là đòi hỏi ngày càng gay gắt của xã hội: Cần phải có biện pháp hạn chế, chống lại sự chuyên quyền, độc đoán xâm phạm thô bạo quyền con người trong tố tụng hình hình sự từ phía nhà nước. Suy đoán vô tội được ví như là nguyên tắc “vàng” trong TTHS, một thành tựu vĩ đại của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người và chứng minh trong TTHS đã được thể hiện trong Tuyên ngôn Nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về Quyền chính trị, dân sự năm 1966 của Liên hợp quốc. Luật TTHS của nhiều nhà nước văn minh cũng đã ghi nhận suy đoán vô tội là nguyên tắc cơ bản trong luật TTHS. Nguyên tắc này có những nội dung sau đây:
– Người bị tình nghi, bị can, bị cáo luôn vô tội cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của toà án.
– Nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên buộc tội, người bị tình nghi, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh sự vô tội của mình.
– Mọi nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ đều phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo.
– Bản án không được dựa trên những chứng cứ giả định.
Hoạt động phát hiện, xử lý mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội trong tố tụng hình sự là một dạng của hoạt động nhận thức. Chính vì vậy những quan điểm triết học về nhận thức nói chung cũng ảnh hưởng rất nhiều đến nhận thức trong tố tụng hình sự. Lịch sử triết học đã cho thấy, xuất phát từ quan điểm cho rằng ý thức là nguồn gốc của mọi tồn tại, ý thức quyết định vật chất…, các nhà triết học duy tâm cho rằng: Không phải thế giới vật chất mà chính các ý niệm tinh thần mới là đối tượng của nhận thức. Nhận thức là hoạt động của linh hồn nhằm hồi tưởng lại những ý niệm tuyệt đối nằm ngoài thế giới vật chất. Con người không nhận thức được bản chất mà chỉ nhận thức được những đặc tính bề ngoài của của sự vật hiện tượng, sự vật. Chính những quan niệm duy tâm về nhận thức này ảnh hưởng đến hoạt động chứng minh, thu thập chứng cứ và xử lý tội phạm của luật TTHS trong các nhà nước chiếm hữu nô lệ hay nhà nước phong kiến. Luật TTHS trong nhà nước này cho phép quan toà xử theo quan niệm, ý chí chủ quan của mình. Từ đó, việc kết luận có tội hay không có tội tuỳ thuộc vào quan tòa với những thủ tục tố tụng phản khoa học, những cách đối xử với người bị tình nghi phi nhân tính. Ví dụ: Quan niệm hòa đồng giữa công lý và thượng đế cho rằng nếu người phạm tội chịu được những nhục hình tra tấn như căng nọc, nhúng nước sôi, phơi nắng, đóng dấu bằng lửa…mà vẫn sống thì quan toà cho đó là ý chí của Thượng đế chứng nhận người này không phạm tội nên tha bổng. Với kiểu tố tụng như vậy tất yếu sẽ dẫn đến công lý bị xuyên tạc bởi sự vu cáo và thiên vị.
Khác với quan điểm duy tâm về nhận thức, lý luận nhận thức Mác-xít khẳng định: Nhận thức là hoạt động của con người thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau giữa con người và thế giới xung quanh. Con người hoàn toàn có thể nhận thức được thế giới. Nhận thức của con người không chỉ dừng lại ở những hiện tượng bề ngoài của đối tượng nhận thức mà có thể nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng. Đồng thời, lý luận nhận thức Mác-xít cũng chỉ rõ: Con người không thể ngay tức khắc nhận thức được bản chất của sự vật hiện tượng. Nhận thức là một quá trình từ thấp lên cao, từ chưa biết đến biết, từ biết chưa đầy đủ đến biết đầy đủ, từ hiện tượng đến bản chất…. Lê-nin đã tổng kết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý. Trong quá trình nhận thức, con người luôn phải giải quyết các mâu thuẫn và mục đích cuối cùng là đạt đến chân lý. Chân lý là tri thức có nội dung phù hợp với thực tiễn khách quan mà nó phản ánh. Lê-Nin đã khái quát lý luận nhận thức Mác-xít như sau: Trong lý luận nhận thức cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh từ không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào”.
Cũng giống như hoạt động nhận thức khác, nhận thức trong tố tụng hình sự phải được bắt đầu bằng những giả thiết chứ không phải là những định kiến sẵn có. Khi có sự kiện pháp lý đem đến sự suy đoán về dấu hiệu tội phạm các cơ quan tiến hành tố tụng phải đặt giả thiết có thể có hoặc không có tội phạm và người phạm tội. “Có thể” chứ không phải là “chắc chắn” phạm tội hay vô tội. Ngay cả khi một nhân viên điều tra hay thẩm phán trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội đi chăng nữa thì vẫn không thể vì thế mà không bắt đầu quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự bằng sự suy đoán. Bởi vì, nhận thức của nhân viên điều tra hoặc thẩm phán trên là nhận thức của cá nhân anh ta về vụ án chứ không phải nhận thức của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Mặt khác, nếu cá nhân điều tra viên, thẩm phán trực tiếp chứng kiến vụ việc thì địa vị pháp lý của anh ta trong vụ án phải là người làm chứng chứ không được là người tiến hành tố tụng.
Từ phân tích trên, có thể khẳng định nhận thức trong TTHS trước hết phải bắt đầu bằng sự suy đoán: Suy đoán có tội và suy đoán vô tội chứ không phải là những định kiến có sẵn là có tội hay vô tội.
Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân – một nhà nước mà ở đó, quyền con người được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Điều đó đòi hỏi hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật TTHS nói riêng cần phải được hoàn thiện. Trong đó, những tư tưởng pháp lý tiến bộ được quốc tế thừa nhận như giá trị chung của văn minh nhân loại phải được nghiên cứu và ghi nhận về mặt lập pháp. Vì thế, việc ghi nhận cụ thể, đầy đủ nguyên tắc suy đoán vô tội như là nguyên tắc cơ bản là đòi hỏi cấp thiết của luật TTHS trong nhà nước pháp quyền.
Với tư cách là nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam, nguyên tắc SĐVT là các quan điểm làm nền tảng, định hướng và chi phối toàn bộ tố tụng hình sự trong đó khẳng định một người luôn vô tội cho đến khi họ được chứng minh là có tội bằng bản có hiệu lực pháp luật của tòa án bằng thủ tục tố tụng công bằng do luật định.
Suy đoán vô tội được coi là một trong những thành tựu lớn của khoa học pháp lý thế giới và được một số nước coi là nguyên tắc trong pháp luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau của các nhà luật học về Suy đoán vô tội, song tựu lại có thể thấy 02 nhóm qua điểm:
Một là, nhóm quan điểm không thừa nhận: Nhóm này cho rằng nếu không có lỗi cá nhận cụ thể trong những sự việc cụ thể thì không thể có điều tra và xét xử. Việc suy đoán lúc này mang tính chất có tội, vì nếu không có lỗi thì đã không có việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nói cách khác, người bị buộc tội bị suy đoán là có phạm tội và do vậy, luật cần quy định cho họ có nghĩa vụ chứng minh sự không phạm tội của mình giống như các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ cần xác định sự thật khách quan của vụ án đúng như những gì xảy ra trong thực tế là đủ mà không cần đến nguyên tắc suy đoán vô tội.
Hai là, nhóm quan điểm thừa nhận: Hoạt động tố tụng hính sự khác với các hoạt động khác của con người, nơi mà hoạt động nhận thức có thể kết thúc bằng một kết quả nhận thức mới hoặc có thể chưa đem lại kết quả gì. Hoạt động tố tụng hình sự không thể kết thúc mà không có kết quả pháp lý cụ thể. Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự không thể kết thúc hoạt động tụng mà vấn đề có phạm tội hay không phạm tội vẫn chưa thể kết luận được. Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là khi kết thúc hoạt động tố tụng hình sự phải xác định rõ ràng hoặc người bị buộc tội là có tội hay không phạm tội. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xuất phát từ chỗ hoặc là người bị buộc tội được áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội cho đến khi chứng minh được có phạm tội hoặc là người bị buộc tội bị áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội cho đến khi chứng minh được là không phạm tội. Lịch sử phát triển tố tụng hình sự trên thế giới đã không chấp nhận nguyên tắc suy đoán có phạm tội và đã phát triển theo hướng nhân đạo và ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội. [19]
Từ những quan điểm khoa học pháp lý đó, pháp luật TTHS Việt Nam đã tiếp thu tư tưởng tiến bộ và ghi nhận SĐVT là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS để bảo đảm quyền con người và hoạt động TTHS.
Trước khi BLTTHS 2015 ra đời thì thuật ngữ “suy đoán vô tội” chưa được quy định chính thức trong bất cứ điều luật điều luật nào. Tuy nhiên một phần của nội dung và tư tưởng của nguyên tắc cũng đã được xuất hiện ở một số văn bản quy phạm pháp luật cũ. Trước tiên tại thông tư số 2252/HCTP ngày 29/10/1953 cho rằng “Không nên có định kiến rằng, hễ người bị truy tố là nhất định có tội mà đối xử như người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội để toà án có thái độ hoàn toàn khách quan”. BLTTHS năm 1988 ra đời đã quy định rõ hơn nội dung này tại điều 10: “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Hiến pháp 1992 kế thừa và khẳng định lại tinh thần SĐVT một lần nữa tại Điều 72: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.[36]
Trong Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2001 nội dung của nguyên tắc SĐVT được quan tâm hơn và được quy định tại Điều 72 Chương V của Hiến pháp với tên gọi của chương là “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. BLTTHS năm 2003 ra đời và cũng tiếp tục kế thừa phát huy những thành tựu của các Bộ luật trước, quy định rõ ràng hơn tại Điều 9, theo đó “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Tại Điều 10 BLTTHS 2003 “Xác định sự thật của vụ án” cũng quy định rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Bản Hiến pháp 2013 mở ra một trang mới quyền con người khi đặt ra quy định tại Chương II – Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Theo đó “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Đây là một trong những nội dung chính là thể hiện đầy đủ của một nguyên tắc pháp lý quan trọng, Nguyên tắc SĐVT. Nếu như khoản 1 Điều 72 Hiến pháp cũ quy định chỉ cần một điều kiện là có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì một người bị coi là có tội và chịu hình phạt thì tại Hiến pháp 2013 đã nhấn mạnh và chỉ rõ, một người bị kết tội phải có 02 điều kiện: Một là, phải tuân theo một trình tự luật định và hai là có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Để cụ thể hóa Hiến pháp 2013, Bộ luật TTHS 2015 được ban hành và ghi nhận một nguyên tắc hoàn toàn mới có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động TTHS và góp phần bảo đảm quyền còn người, đó là “nguyên tắc suy đoán vô tội”.
Nguyên tắc mở ra một định hướng tích cực hơn và được coi là nguyên tắc “vàng” trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hiện nay. Bên cạnh đó, Bộ luật TTHS 2015 đã có sự tiến bộ khi thay đổi chủ từ nhân xưng “Không ai” thành “Người bị buộc tội”. Cách diễn đạt như vậy, không chỉ đơn thuần là thay đổi thuật ngữ mà sự thay đổi trên đã lột tả hết bản chất của SĐVT. Theo đó, các chủ thể SĐVT được xác định rõ gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Khắc phục được những hạn chế của BLTTHS 2003 khi không xác đinh rõ ai là người được SĐVT. Ngoài những chủ thể đầu tiên được SĐVT là bị can, bị cáo, Bộ luật hiện hành đã bổ sung người bị tạm giữ và người bị bắt cũng là hai chủ thể được SĐVT. (điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS). Người bị tạm giữ, người bị bắt là người tại thời điểm tạm giữ hay bị bắt họ chưa có bất cứ lời buộc tội nào từ phía cơ quan tố tụng, chỉ được biết như là tình nghi và có các căn cứ liên quan đến việc phạm tội. Việc ra các lệnh, quyết định bắt, tạm giữ như là một lời buộc tội gián tiếp đối với họ. Do đó, việc quy định thêm hai chủ thể này được SĐVT là phù hợp. Về cơ bản, Bộ luật hiện hành đã thể hiện đầy đủ phạm vi của các chủ thể cũng như thời gian được SĐVT
- Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội.
Suy đoán vô tội là nguyên tắc có tính nền tảng của tố tụng văn minh, vì thiếu nó chúng ta không thể đến được tư pháp công bằng và nhân đạo. BLTTHS 2015 quy định nguyên tắc SĐVT rất ngắn gọn (có 90 từ), nhưng hiểu như thế nào là đúng để thực hiện mới là vấn đề mà cơ quan THTT, người THTT và người tham gia tố tụng cần quan tâm. Vì đến nay, chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn thực hiện nguyên tắc này. Theo nhận thức của chúng tôi, nguyên tắc “Suy đoán vô tội” có các nội dung chính sau đây:
1.1.2.1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 và có bản án kết tội của Tòa án có hiệu luật pháp luật.
Một là, yêu cầu về lỗi phải được chứng minh theo trình tự thủ tục. Đây là yêu cầu đầu tiên của nguyên tắc suy đoán vô tội. Theo GS.TSKH Đào Trí Úc, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội thì việc điều tra, truy tố và xét xử một người phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định [41]. Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục TTHS và ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản của TTHS tại Điều 7, “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này…”.
Để đáp ứng được điều kiện về trình tự thủ tục, BLTTHS 2015 đã quy định và tổng hợp một chương riêng về một số biện pháp điều tra đặc biệt như: Ghi âm bí mật, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử (Điều 233). Pháp luật tố tụng hình sự đã xác định chặt chẽ những căn cứ để đảm bảo cho việc giữ bí mật nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp quy định (Điều 21 Hiến pháp năm 2013). Những yêu cầu pháp lý chặt chẽ liên quan đến các lý do hạn chế quyền con người, quyền công dân trong TTHS được cụ thể hóa trong BLTTHS năm 2015 liên quan đến 3 yếu tố; Một là về loại tội; Hai là về thẩm quyền, Bà là về thời hạn áp dụng các biện pháp điều tra đặc biệt; Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định nghiêm ngặt việc sử dụng các thông tin, tài liệu thu thập từ các biện pháp này. Mục đích nhằm bảo đảm vụ án được giải quyết một cách khách quan, toàn diện, làm rõ các căn cứ xác định có tội và những căn cứ xác định vô tội. Từ những phân tích trên có thể thấy yêu cầu về trình tự thủ tục đảm bảo việc khởi tố, điều tra, truy tố xét xử là đúng quy định pháp luật. [41]
Hai là, yêu cầu phải có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đây là hợp phần thứ hai của khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội.
Bộ luật thay cụm từ “người phạm tội” bằng các cụm từ “người thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm” (Điều 179, 180, 280…) nhằm nhấn mạnh, tạo sự nhận thức rõ ràng cho người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là chừng nào chưa có bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì người bị buộc tội vẫn chưa bị coi là có tội; những người có thẩm quyền THTT không được đối xử với người bị buộc tội như người có tội.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Tòa án thực hiện quyền tư pháp thông qua hoạt động xét xử để giải quyết các tranh chấp trong xã hội. Tòa án chính là cơ quan duy nhất trong bộ máy nhà nước có quyền ra bản án kết tội khi có các căn cứ theo quy định pháp luật. Tính duy nhất của Tòa án thể hiện ở chỗ ngoài Tòa án ra, không có bất cứ cơ quan nào khác có thể ra quyết định đó, kể cả Quốc hội, chính phủ..vv Như vậy chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền phán quyết, xác định một người có tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.
Bản án là một văn bản pháp lý ghi nhận phán quyết của Tòa án đánh dấu sự kết thúc toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử, và phản ánh những kết quả của phiên tòa, ý kiến phân tích, kết quả tranh tụng và đánh giá của hội đồng xét xử. Bản án quyết định bị cáo là người có tội hoặc không có tội.
1.1.2.2. Trách nhiệm chứng minh lỗi của người bị buộc tội thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình là vô tội
Trách nhiệm chứng minh tội phạm được quy định tại Điều 15 BLTTHS 2015 theo đó “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”..vv
Có thể thấy, quy định trên không chỉ thuộc nội dung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án mà thuộc về nội dung của nguyên tắc SĐVT. Bởi vì, cùng với việc khẳng định người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS năm 2015 quy định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì cũng có nghĩa thừa nhận người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình. Trách nhiệm chứng minh này thuộc về bên buộc tội. Như vậy, để có thể ra một trong các quyết định khởi tố, điều tra, truy tố…đòi hỏi các cơ quan THTT phải có trách nhiệm chứng minh và xác định rõ ràng các căn cứ là có tội được quy định trong BLHS. Trường hợp nếu xác minh không đủ các căn cứ để ra một trong các quyết định trên thì cơ quan tố tụng phải ra quyết định trả tự do hoặc tuyên bố người bị buộc tội không phạm tội.
Về vấn đề quyền chứng minh của người bị buộc tội. Người bị buộc tội có quyền được chứng minh sự vô tội của mình. Người bị buộc tội có thể trực tiếp bào chủa để bảo vệ mình hoặc gián tiếp thông qua người khác làm người bào chữa. Quyền chứng minh của người bị buộc tội thể hiện tính công bằng và khách quan của TTHS nhằm bảo đảm sự bình đẳng và bảo vệ công lý. BLTTHS năm 2015 cho phép người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có quyền đưa ra chứng cứ mà không chỉ là đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Họ có quyền trình bày ý kiến của mình về chứng cứ do các chủ thể tố tụng khác đưa ra, yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá chứng cứ đó.
Bên cạnh đó, người bào chữa còn có quyền thu thập chứng cứ, đưa ra chứng cứ, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản. Đây là một trong những điểm mới rất quan trọng và có ý nghĩa lớn trong việc giúp người bị buộc tội tự bảo vệ và thực hiện quyền suy đoán vô tội.
1.1.2.3. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo quy định của BLTTHS thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội
Nguyên tắc SĐVT đã đưa ra một phương án tốt nhất để đảm bảo quyền và lợi ích cho người bị buộc tội. Tức là nếu không đủ chứng cứ chứng minh bị cáo phạm tội thì tòa án phải tuyên bố người đó không phạm tội. Một thực trạng thường hay xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng hay cụ thể là chủ thể tiến hành tố tụng thường bắt gặp những trường hợp chứng cứ còn mập mờ, không rõ ràng. Dù đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng vẫn không thể xác định và thu thập chứng cứ để ra quyết định. Sau một thời gian các cơ quan THTT vẫn không thể làm rõ, dẫn đến sự hoài nghi, có mâu thuẫn giữa các chứng cứ, hướng giải quyết. Để chống khuynh hướng buộc tội theo kiểu tư duy: “thà làm oan còn hơn bỏ lọt”, BLTTHS năm 2015 mở ra một hướng mới cho những trường hợp còn tồn tại những hoài nghi.
Người đã thực hiện một hành vi phạm tội trên thực tế vẫn có thể được tuyên bố là người không phạm tội nếu các cơ quan THTT không thể chứng minh bằng các chứng cứ xác thực theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Người được tòa án tuyên bố không phạm tội có thể vẫn là người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng do không thể chứng minh người đó đã phạm tội nên tòa án buộc phải tuyên bố người đó không có tội
- Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội
1.1.3.1. Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội trong chứng minh.
Nguyên tắc suy đoán vô tội có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án nói chung và quá trình chứng minh nói riêng. Nguyên tắc SĐVT giúp hoạt động chứng minh được thực hiện đúng quy định pháp luật, theo trình tự thủ nhất đinh và loại trừ những yếu tố, vấn đề còn nghi ngờ về hành vi phạm tội. Bởi mọi sai lầm trong chứng minh nhiều đều ảnh hưởng đến quyền và lợi ích đến người bị buộc tội, một số trường hợp có thể phải trả giá bằng sinh mệnh của con người. Việc định kiến đối với người bị buộc tội là người có tội là hết sức nguy hiểm. Nó đồng nhất người bị buộc tội là người có tội kéo theo đó là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng tràn lan, thiếu căn cứ, chà đạp lên quyền con người mà nhiều trường hợp khi vụ án được xem xét lại thì họ hoàn toàn vô tội. Lúc đó, có bồi thường oan sai đi chăng nữa thì hậu quả đối với họ không thể nói là đã bù đắp được toàn bộ.
1.1.3.2. Ý nghĩa nguyên tắc suy đoán vô tội trong việc bảo vệ quyền con người
Dưới góc độ Quyền con người, nguyên tắc SĐVT có ý nghĩa quan trọng. Một là thể chế hóa được các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong công tác cải cách tư pháp, cụ thể hóa các Công ước quốc tế nhằm bảo vệ quyền con người. Hai là, Nguyên tắc SĐVT bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội. Trong nguyên tắc SĐVT, việc ghi nhận quyền chứng minh của người bị buộc tội sẽ đảm bảo sự cân bằng trong hoạt động TTHS giữa một bên là nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố xét xử hùng mạnh được thực hiện bằng quyền lực nhà nước với một bên yếu thế hơn là người bị buộc tội. Đảm bảo người bị buộc tội không bị phân biệt đối xử khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
1.1.3.3. Ý nghĩa nguyên tắc suy đoán vô tội trong xây dựng và thực hiện pháp luật.
Nguyên tắc SĐVT mang ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTHS. Nguyên tắc này thể chế hóa, đường lối chủ trương của Đảng Nhà nước trong việc cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện, đề cao quyền con người. Nguyên tắc SĐVT được Hiến pháp 2013 ghi nhận là một trong những nguyên tắc hiến định, Bộ luật TTHS 2015 thể chế tinh thần đó và quy định SĐVT cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS. Việc ghi nhận chính thức tên điều luật “Suy đoán vô tội” cho thấy được sự quan tâm và thừa nhận tầm quan trọng của nguyên tắc này trong pháp luật TTHS. Tạo ra một hành lang pháp lý trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể tố tụng, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho việc phát huy, bảo đảm các quyền cá nhân. Đảm bảo được sự công bằng, được tôn trọng, thực hiện đầy đủ, nghiêm minh.
Nguyên tắc SĐVT được quy định tại một điều luật nhất định nhưng tinh thần và nội dung liên quan đến nguyên tắc luôn được lồng ghép và thể hiện trong suốt quá trình tố tụng. Thể chế hóa điều luật trên phạm vi rộng về chủ thể và thời gian. Bên cạnh đó, việc quy định nguyên tắc cũng mang đến sự chờ đợi của nhiều chủ thể bị buộc tội, được dư luận quan tâm và coi như là một điều luật bảo vệ bên yếu thế. Bảo đảm mọi người được sự tôn trọng, công bằng, khách quan và tính nhân đạo của pháp luật TTHS và hình sự Việt Nam.
1.2. Mối quan hệ giữa nguyên tắc suy đoán vô tội và một số nguyên tắc khác trong tố tụng hình sự.
1.2.1. Nguyên tắc suy đoán vô tội với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa.
Nguyên tắc SĐVT có quan hệ mật thiết với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa. Quyền bào chữa là một trong những quyền quan trọng và thiết yếu đối với người bị buộc tội. Đây là quyền mà pháp luật tố tụng hình sự trao cho họ để có thể tự bảo vệ, tự biện hộ những lời cáo buộc tự phía các cơ quan điều tra, Viện kiện sát…Nguyên tắc SĐVT sẽ không có ý nghĩa khi không có nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa. Bên cạnh đó, sự tham gia của người bào chữa (đặc biệt là của Luật sư bào chữa) vào các giai đoạn của TTHS là điều kiện cần thiết để bảo đảm sự bình đẳng trên thực tế giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong các giai đoạn của quá trình TTHS nói chung và tại phiên tòa nói riêng. Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự ở nước ta những năm gần đây cho thấy nhìn chung việc đảm bảo quyền bảo chữa của người bị buộc tội đã được chú trọng hơn (như cho phép người bào chữa có mặt ngay từ khi tạm giữ người bị tình nghi). Tuy nhiên, trên thực tế người bào chữa gặp rất nhiều trở ngại từ phía CQĐT ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mớm cung, ép cung, dùng nhục hình dẫn đến làm oan người vô tội đã và đang gây nhiều bất bình và bức xúc trong dư luận xã hội. Mặt khác, theo quy định của BLTTHS thì người bào chữa không có quyền thu thập chứng cứ mà chỉ có quyền thu thập đồ vật, tài liệu… và các đồ vật, tài liệu này có được coi là chứng cứ hay không lại phụ thuộc vào sự đánh giá của các chủ thể tiến hành tố tụng. Do đó, sự ra đời của nguyên tắc SĐVT đã góp phần thống nhất và bổ sung cho ngyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, khẳng định người bị buộc tội có quyền được chứng minh mình vô tội.
1.2.2. Nguyên tắc suy đoán vô tội với nguyên tắc tranh tụng
Nguyên tắc SĐVT khẳng định người bị buộc tội được coi là vô tội khi mà tội phạm của họ chưa được chứng minh theo một trình tự do luật quy định và chưa được Tòa án xác định bằng một bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Nguyên tắc này một mặt khẳng định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội; người bị buộc tội có quyền mà không có nghĩa vụ chứng minh về sự vô tội của mình; Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình và các hình thức trái pháp luật khác trong quá trình thu thập chứng cứ và thực hiện các hoạt động tố tụng khác. Mặt khác, nguyên tắc SĐVT cũng xác định Tòa án là chủ thể duy nhất thực hiện quyền tư pháp (xét xử) và có thẩm quyền đưa ra phán quyết (bản án) nhân danh Nhà nước kết luận người bị buộc tội là có tội hay vô tội. Tuy nhiên, nguyên tắc này sẽ không thể khả thi trên thực tiễn nếu vắng thiếu nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử với các lý do sau:
Thứ nhất, tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của TTHS giữ vai trò cốt lõi và là tiền đề khách quan cần thiết để TTHS đạt được mục tiêu là xác định sự thật khách quan về vụ án.
Thứ hai, nguyên tắc tranh tụng phân định rõ ràng, tách bạch các chức năng cơ bản (buộc tội, bào chữa và xét xử) trong TTHS giữa bên buộc tội, bên bào chữa và Tòa án, theo đó mỗi nhóm chủ thể này chỉ được thực hiện một chức năng này mà không được phép vừa buộc tội vừa bào chữa hoặc ngược lại, vừa xét xử vừa buộc tội hay vừa xét xử vừa bào chữa.
Thứ ba, nguyên tắc tranh tụng phân định hai nhóm chủ thể buộc tội và gỡ tội. Đồng thời, các bên hoàn toàn bình đẳng với nhau về mặt pháp lý. Vì vậy, các chủ thể của bên buộc tội và bên gỡ tội phải được bảo đảm các khả năng pháp lý như nhau để bảo vệ các lợi ích của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Thứ tư, nguyên tắc tranh tụng xác định địa vị độc lập, khách quan và vô tư của Tòa án với tư cách là chủ thể duy nhất thực hiện quyền tư pháp (xét xử). Tòa án hay cụ thể là HĐXX chỉ có nhiệm điều hành phiên tòa và bảo đảm các bên buộc tội, gỡ tội được thực hiện đầy đủ các quyền của mình từ đó đưa ra quyết định, Bản án dựa trên các chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên Tòa.
Vì vậy, có thể nói nguyên tắc tranh tụng chính là cơ sở pháp lý không chỉ tạo sự bình đẳng về thế và lực giữa bên buộc và bên bị buộc tội mà còn đề cao vai trò trọng tài của Tòa án. Nếu không có nguyên tắc này thì sẽ không có sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trên thực tế, và khi đó nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ không thể phát huy được hiệu quả của mình.
1.2.3. Nguyên tắc suy đoán vô tội với nguyên tắc xác định sự thật vụ án
Nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tăc xác định sự thật có quan hệ bổ sung cho nhau. Xác đính sự thât của vụ án là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam được quy định tại Điều 15, theo đó: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng…”.Quy định nguyên tắc xác định sự thật nhằm mục đích không để lọt tội phạm, trừng phạt thích đáng những người có hành vi phạm tội đồng thời không làm oan người vô tội.
Tuy nhiên, hiện nay cũng có nhiều quan điểm trái chiều về mối quan hệ giữa hai nguyên tắc này, cụ thể: Nếu có nguyên tắc SĐVT thì không phải quy định nguyên tắc xác định sự thật vụ án. Bởi hai nguyên tắc này mang hai nội dung, ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, theo tác giả vẫn giữ nguyên quan điểm về mối quan hệ bổ sung cho nhau của hai nguyên tắc này bởi mô hình tố tụng hình sự của Nước ta là mô hình thẩm vấn và đề cao tranh tụng trong xét xử. Ngoài việc ghi nhận quyền được im lặng, quyền bào chữa, quyền được coi là không có tội khi các cơ quan THTT không thể kết tội,…, thì pháp luật nước ta còn quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án.
1.2.4. Nguyên tắc suy đoán vô tội với nguyên tắc bảo đảm pháp chế
Suy đoán vô tội là sự thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc tôn trọng các giá trị cao quý của con người (nhân phẩm, danh dự) trong xã hội và coi một người có đủ tư cách công dân với các quyền, nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định, khi người đó chưa bị Tòa án (cơ quan có thẩm quyền xét xử) kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, để loại trừ, ngăn ngừa sự tùy tiện, lộng quyền, áp đặt hay vi phạm pháp luật từ phía cơ quan THTT, người THTT mà Hiến pháp và Bộ luật TTHS Việt Nam đã quy định rõ các hoạt động TTHS phải tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa “Mọi hoạt động TTHS của cơ quan THTT, người THTT và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này”. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận xuyên suốt quá trình hoạt động cũng như giải quyết vụ án của cơ quan THTT. Nguyên tắc này không chỉ định hướng cho hoạt động TTHS mà còn định hướng cho việc xây dựng pháp luật trong thực tiễn.
Nguyên tắc SĐVT có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Ngay trong nội dung đầu tiên của nguyên tắc SĐVT đã đề cập đến yêu cầu về trình tự thủ tục. Có thể thấy rằng mọi quyết hoạt động của cơ quan THTT, người THTT phải tuân theo những trình tự thủ tục do BLTTHS 2015 quy định. Đây là bước đầu để hoàn thiện một hệ thống pháp luật TTHS không chỉ có ý nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý quan trọng, mà còn là “lá chắn thép” trong việc phòng chống oan sai, tôn trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người. SĐVT và pháp chế là hai nguyên tắc phải được bảo đảm xuyên suốt quá trình THTT, thống nhất các trình tự thủ tục các hoạt đồng nhằm giải quyết vụ án. Tuân thủ nguyên tắc SĐVT và nguyên tắc pháp chế sẽ góp phần cho TTHS đạt được mục đích của mình là không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, bảo vệ trật tự xã hội đồng thời bảo vệ quyền con người trong TTHS.
1.3. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới
Luật La Mã cổ được biết đến với nguyên tắc suy đoán pháp lý “Praesumptio boni viri”. Đây là tư tưởng chỉ được thừa nhận và áp dụng trong tố tụng dân sự và được coi là cội nguồn của nguyên tắc SĐVT về sau được lan rộng và áp dụng vào trong TTHS với nội dung “Chứng minh là công việc thuộc về anh ta – người khẳng định chứ không phải là người phủ định”.[19]
Cũng như nhiều tư tưởng dân chủ, tiến bộ khác của nhân loại, tư tưởng về SĐVT không thể được chấp nhận trong Nhà nước chiếm hữu nô lệ, ở đó nô lệ không được thừa nhận là chủ thể của quan hệ pháp luật và vấn đề lỗi của họ không bao giờ được xem xét. Nhà nước phong kiến tiếp tục áp dụng nguyên tắc suy đoán có tội, theo đó người bị buộc tội (người bị tình nghi, bị khởi tố hình sự, bị đưa ra xét xử) luôn bị coi là có lỗi và việc áp dụng các biện pháp tra tấn, dùng nhục hình đối với họ để điều tra được coi là hợp pháp. Tư tưởng về SĐVT phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản. Giai cấp tư sản đã đưa ra nhiều tư tưởng tiến bộ về quyền con người và quyền công dân, trong đó có tư tưởng về SĐVT để lôi kéo quần chúng nhân dân đứng lên lật đổ chế độ phong kiến. Trong thời kỳ đầu, tư tưởng SĐVT chỉ được giai cấp tư sản sử dụng như một vũ khí để chống lại sự thống trị hà khắc của Nhà nước phong kiến. Tư tưởng SĐVT chỉ trở thành nguyên tắc của pháp luật sau khi Cách mạng tư sản Pháp giành thắng lợi.
Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp năm 1789 đã chính thức ghi nhận và tuyên bố SĐVT là một quyền cơ bản của con người: “Mọi người được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội. Nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho phép đều bị pháp luật xử lý nghiêm khắc”.[37] Tuyên ngôn này đã đặt nền móng cho sự hình thành nguyên tắc SĐVT, một nguyên tắc cơ bản, quan trọng của TTHS có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của pháp luật quốc tế và tư duy pháp lý của các quốc gia.
Tại Tuyên ngôn nhân quyền 1948 của Liên Hiệp Quốc, Suy đoán vô tội được khẳng định là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc. Điều 11 quy định rõ “1) Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.; 2) Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.” , như vậy một người được coi là vô tội khi pháp luật có đầy đủ các chứng cứ để kết tội người đó, trong một phiên Tòa công khai.
Công ước về Bảo vệ Nhân quyền và tự do cơ bản của Hội đồng Châu Âu cho biết (Điều 6.2.): “Bị cáo về một tội hình sự được coi là vô tội cho đến khi chứng minh có tội theo pháp luật”. Công ước này đã được thông qua bởi hiệp ước và có giá trị ràng buộc đối với tất cả các thành viên Hội đồng Châu Âu. Hiện tại (và trong bất kỳ sự mở rộng nào của EU), mọi thành viên của Liên minh Châu Âu cũng là thành viên của Hội đồng Châu Âu, vì vậy điều này là viết tắt của các thành viên EU là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, khẳng định này được lặp lại nguyên văn trong Điều 48 của Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên minh châu Âu .
Đối với pháp luật Quốc gia, nguyên tắc SĐVT đã được quy định trong pháp luật hầu hết các nước trên thế giới. Tuy nhiên, nội dung của nguyên tắc này được ghi nhận ở mức độ khác nhau tùy theo từng nước. Pháp luật TTHS hầu hết các nước trên thế giới chỉ ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội với hai nội dung là người bị buộc tội được coi là không có tội cho tới khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và trách nhiệm chứng minh phạm tội thuộc về bên buộc tội
Ở Iran, Điều 37 của Hiến pháp Cộng hòa Hồi giáo Iran tuyên bố: “Vô tội là phải được coi là không có ai, và không ai phải chịu tội danh trừ khi tội lỗi của anh ta hoặc cô ta đã được tòa án có thẩm quyền xác lập.”
Tại Ý , đoạn thứ hai của Điều 27 của Hiến pháp nêu rõ: “Một bị cáo sẽ bị coi là không có tội cho đến khi bản án cuối cùng được thông qua”
Tại Rumani, điều 23 của Hiến pháp quy định rằng: “Bất kỳ người nào sẽ được coi là vô tội cho đến khi bị kết tội bởi phán quyết cuối cùng của tòa án”.
Trong Hiến pháp Nam Phi , phần 35 của Dự luật Nhân quyền nêu rõ: “Mọi người bị buộc tội đều có quyền xét xử công bằng, bao gồm quyền được coi là vô tội, giữ im lặng và không làm chứng trong quá trình tố tụng. “
Trong hiến pháp Colombia , Tiêu đề II, Chương 1, Điều 29 quy định rằng “Mọi người được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội theo luật”.
Tại Trung Quốc, Điều 12 Luật Tố tụng Hình sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1979 (Sửa đổi bởi Phiên họp thứ sáu của Ủy ban Thường vụ Đại hội Nhân dân toàn quốc lần thứ 13), quy định: “Không ai bị coi là có tội, nếu không bị xét xử bởi một Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật”; Điều 43 Bộ luật này cũng quy định: “Thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên theo trình tự, thủ tục quy định trong luật, phải thu thập các loại chứng cứ khác nhau chứng minh sự có tội hay vô tội của nghi can, bị cáo và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Nghiêm cấm việc bức cung, dùng nhục hình và thu thập chứng cứ bằng các biện pháp như đe dọa, dụ dỗ, lừa gạt và các biện pháp bất hợp pháp khác.”, dù tên gọi của nguyên tắc SĐVT chưa được ghi nhận trong pháp luật TTHS của quốc gia này, nhưng hai nội dung quan trọng nhất của nguyên tắc này đã được thừa nhận.[1]
Ở châu Âu, tư tưởng về SĐVT đầu tiên được thể hiện trong tác phẩm “Tội phạm và hình phạt” năm 1764 của Bekaria (người Ý). Cách mạng tư sản Pháp trong Tuyên ngôn quyền con người và công dân 1789 đã ghi nhận tư tưởng này với tư cách là một nguyên tắc pháp lý. Cụ thể ở Pháp, khi xét xử, phiếu trắng của bồi thẩm Toà đại hình phải được coi là thiên về hướng tha bổng. Không có kháng cáo (và kháng nghị) nào chống lại bản án tha bổng của Toà đại hình được chấp nhận trừ trường hợp khi việc phúc thẩm đặc biệt cần thiết để đảm bảo “Giá trị của pháp luật” nhưng không được ảnh hưởng đến tình trạng của bị cáo.
Tại Liên Bang Nga, nguyên tắc SĐVT là một trong những nguyên tắc cở bản trong BLTTHS, mặc dù trước đây ở Liên Xô cũ luôn có nhiều quan điểm khác nhau về nguyên tắc này. Nguyên tắc SĐVT không được thừa nhận cả ở góc độ lý luận cũng như luật thực định trong một khoảng thời gian tương đối dài ở thời điểm này. Lý do chủ yếu phản đối sự thừa nhận nguyên tắc này là quan điểm cho rằng đây là nguyên tắc của TTHS tư sản không thích hợp với TTHS Xô Viết.[19]
Sau khi Hiến pháp 1936 của Liên Xô ghi nhận về quyền bào chữa của bị can thì lúc này đã có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền bào chữa của bị can và suy đoán vô tội. Năm 1968 Viện sỹ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô – giáo sư Stragôvích.M.C trong bộ giáo trình nỗi tiếng của mình về TTHS Xô Viết (về sau đã được giải thưởng Lê Nin) đã khẳng định “có đủ cơ sở để bổ sung vào BLTTHS nguyên tắc suy đoán vô tội”. Hiến pháp Liên Xô 1977 lần đầu tiên chính thức ghi nhận nền tảng cơ bản của nguyên tắc này với diễn đạt “Không ai có thể bị coi là có tội cũng như phải chịu hình phạt ngoài bản án và trình tự do luật định”. Hiến pháp năm 1993 và BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga đã tiếp tục ghi nhận nguyên tắc này với những bổ sung mới trên cơ sở phát triển của lý luận khoa học TTHS.
Điều 49 Hiến pháp Liên bang Nga quy định “Bị cáo về một tội phạm được coi là không có tội cho đến khi cảm giác tội lỗi của mình đã được chứng minh phù hợp với luật liên bang và đã được thành lập bởi các câu hợp lệ của một tòa án của pháp luật” . Nó cũng nói rằng “Bị đơn sẽ không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình” và “Mọi nghi ngờ hợp lý sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho bị đơn”. Điều 14 BLTTHS Liên bang Nga năm 2001 như sau:“1. Bị can được coi là không có tội, chừng nào lỗi của họ không được chứng minh theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và không bị Tòa án tuyên phạt bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. 2. Người bị tình nghi hoặc bị can không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình. Vấn đề chứng minh tội phạm và bác bỏ những chứng cứ nhằm bảo vệ cho người bị tình nghi hoặc bị can thuộc trách nhiệm của bên buộc tội. 3. Mọi nghi ngờ về tội phạm của bị can nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì phải được giải thích có lợi cho bị can. 4. Bản án kết tội không thể được dựa trên giả định.”
Pháp luật TTHS của những nước trên, ở những mức độ khác nhau đã có sự ghi nhận những nội dung của nguyên tắc SĐVT.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAM LAM DOT 10\HINH SU\PHAM NGUYEN VIET CUONG\sau bao ve


