Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một trong những hoạt động thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại khoản 1 Điều 107 và khoản 2 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 qui định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [10]; “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự…” [12]. Như vậy hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân là một hình thức thực hành quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Đây cũng là một trong những biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời thể hiện quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước ta nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong những năm qua hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, hạn chế được việc truy tố oan sai, kịp thời xử lý các hành vi phạm tội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể; các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế. Những kết quả đó đã được ghi nhận từ xã hội, sự lãnh đạo của Đảng trong các văn kiện của Đảng, trong tổng kết của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Một số vụ án truy tố oan, sai gây bức xúc trong nhân dân, nhiều trường hợp còn bỏ lọt tội phạm, kiểm sát viên làm chưa tốt công tác chuẩn bị cho hoạt động xét xử, chất lượng xét hỏi, tranh luận của kiểm sát viên tại phiên tòa còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp,…làm cho hiệu quả xét xử của Tòa án chưa cao, ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm… Để thực hiện mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại hóa mà trọng tâm là hoạt động xét xử, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp trong thời gian tới: “Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác” [3, tr.3]. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị tiếp tục xác định trong lĩnh vực tư pháp, “Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”; yêu cầu phải“nâng cao chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…” [4, tr.9]; “… việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục”. Đối với Viện kiểm sát nhân dân, Đảng yêu cầu phải “nâng cao chất lượng công tố tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác”. Do vậy, việc nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát là một đòi hỏi cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Mặt khác, trước chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay vẫn còn có nhiều quan điểm lý luận khác nhau về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nên dẫn đến có các lý giải khác nhau, đa số các quan điểm cho rằng thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là tố tụng hình sự nhưng cũng có quan điểm cho rằng thực hành quyền công tố được thực hiện trong cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, kinh tế, lao động… Thời điểm bắt đầu và kết thúc của thực hành quyền công tố cũng chưa được nhận thức thống nhất. Ngay trong tố tụng hình sự cũng có quan điểm cho rằng thực hành quyền công tố có trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; quan điểm khác lại cho rằng thực hành quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà thôi…Nhìn chung, mỗi quan điểm đều được lí giải trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn, vì vậy cần có văn bản chỉ rõ hoạt động này thuộc chức năng của Viện Kiểm sát ở góc độ quy định của nhà nước. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều bất cập từ quy định của pháp luật, khoa học cũng như thực tiễn là: Thực hành quyền công tố chỉ là hình thức thực hiện việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự dẫn đến xem nhẹ bản chất của thực hành quyền công tố như là hoạt động độc lập của Viện kiểm sát được nhà nước uỷ quyền; đánh đồng thực hành quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật dẫn đến mở rộng phạm vi thực hành quyền công tố sang cả các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế…; thu hẹp phạm vi thực hành quyền công tố chỉ có trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Từ đó hạn chế quyền hạn cũng như trách nhiệm của Viện kiểm sát như là cơ quan có trách nhiệm chính trong truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Xuất phát từ những lý do trên và từ nhận thức lý luận về việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát là một trong những vấn đề quan trọng, cần được quan tâm hơn nữa cả lý luận và thực tiễn, nhất là chất lượng thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân tỉnh Quảng Ngãi. Là một kiểm sát viên công tác trong ngành kiểm sát nhân dân, học viên đã chọn đề tài: “Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự là đảm bảo tính cấp thiết trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, để đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung thực hiện các vấn đề sau đây:
– Thu thập tài liệu, số liệu về tình hình hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân.
– Phân tích, đánh giá, nhận xét về thực trạng, kết quả và những hạn chế, tồn tại trong hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian từ năm 2014 đến nay.
– Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi theo tinh thần cải cách tư pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi về nội dung:
Luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.
– Phạm vi về không gian:
Nghiên cứu hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân tỉnh Quảng Ngãi.
– Phạm vi về thời gian:
Số liệu sử dụng để nghiên cứu được tổng hợp từ kết quả thống kê từ năm 2014 đến hết năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, nhất là các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được kết hợp sử dụng nhiều phương pháp như: Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp kết hợp với khảo sát thực tiễn, tổng kết để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu của luận văn.
6. Ý nghiã lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp luật về hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Những vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viểm sát nhân dân trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu, học tập liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố trong xét xử vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân. Ngoài ra, luận văn còn là cơ sở cho cán bộ, kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân sử dụng để xây dựng kỹ năng nghề nghiệp, thao tác nghiệp vụ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ liên quan đến vấn này trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có phần mở đầu, nội dung, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 2: Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố, thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân
1.1.1. Khái niệm về quyền công tố, thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát nhân dân
Quyền công tố, thực hành quyền công tố
Theo từ điển tiếng Việt thì quyền công tố là quyền của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dùng để điều tra, truy tố và buộc tội đối tượng phạm pháp trước Tòa án hay là quyền truy tố, buộc tội cá nhân, tổ chức trước pháp luật.
“Công tố” theo Đại từ điển tiếng Việt, “công” có nghĩa là “thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư ”, còn “tố” có nghĩa là “nói về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người”, “Công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án” [47, tr. 453, 459,1663].
Ở nước Việt Nam “quyền công tố”, “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên được qui định tại Điều 138 Hiến pháp năm 1980 và được phát triển hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn rất quan trọng. Giúp cho việc xác định vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định rõ chức năng của Viện kiểm sát, đặc biệt là trong tố tụng hình sự.
Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố đã được đề cập nhiều trong khoa học pháp lí nước ta với các mức độ khác nhau. Có tác giả đề cập khi giải quyết các vấn đề chung của tố tụng hình sự [25]; có những bài viết có tính chất tham khảo phân tích có hệ thống về quyền công tố và gần đây có một số luận văn thạc sĩ cũng đề cập quyền công tố trong từng phạm vi khác nhau (trong giai đoạn điều tra, trong xét xử sơ thẩm…). Mặc dù vậy có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố của Viện kiểm sát. Có thể tóm tắt các quan điểm khác nhau như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, “ tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đều là thực hành quyền công tố” [18, tr.17]. Quan điểm này đánh đồng quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát.
Quan điểm thứ hai cho rằng “quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hiện quyền công tố)” [27, tr.24]. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò duy nhất của Viện kiểm sát trong thực hành quyền công tố và chỉ thực hiện duy nhất trong tố tụng hình sự và cũng chỉ có ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án.
Quan điểm thứ ba cho rằng “quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật” [28, tr.84]. Theo quan điểm này, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật nên quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính….
Quan điểm thứ tư cho rằng “ quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật bao gồm vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, luật kinh tế, luật hình sự và là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó” [9, tr.24]. Theo quan điểm này, quyền công tố của Nhà nước không chỉ được thực hiện trong tố tụng hình mà còn được thực hiện cả trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động và hành chính.
Quan điểm thứ năm cho rằng, quyền công tố là quyền của Nhà nước được giao cho Viện kiểm sát để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, nhằm đưa người đó ra xét xử và thực hiện sự buộc tội người đó trước Tòa án [33, tr.140].
Các quan điểm trên đều có các cơ sở đề cập đến quyền công tố ở các góc độ khác nhau, tuy nhiên ở góc độ thực tiễn thực hiện công tác này, tác giả đồng tình với quan điểm thứ năm vì quan điểm này phù hợp với kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam. Trong điều kiện cụ thể, quan điểm này giúp ta xác định được: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát; quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự; nội dung của quyền công tố là truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội đối với người phạm tội; quyền công tố gắn liền với một tội phạm cụ thể; nó bắt đầu từ khi có hành vi phạm tội xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật. Trong thực tế quyền công tố bắt đầu từ khi tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kết thúc khi Tòa án tuyên bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Từ những phân tích trên, học viên đưa ra khái niệm về quyền công tố là: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, nhằm truy tố người phạm tội ra trước Tòa án nhân dân để xét xử và thực hiện việc buộc tội đối với người đó tại phiên tòa đảm bảo đúng qui định của pháp luật”.
Xuất phát từ khái niệm quyền công tố là quyền nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nên thực hành quyền công tố chính là thực hiện hành vi tố tụng cần thiết theo qui định của Luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó. Tại Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 thì: “ Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.
Ngoài ra, một trong những điểm mới nổi bật trong chính sách hình sự nước ta là Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đã bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Trong đó quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự và nguyên tắc xử lý về hình sự là không chỉ có cá nhân mà pháp nhân thương mại cũng phải chịu trách nhiệm hình sự; chỉ có pháp nhân thương mại đã thực hiện tội phạm theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự về 31 tội danh, thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và nhóm các tội phạm về môi trường. Về nguyên tắc xử lý mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, bảo đảm tính pháp chế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra. Như vậy, pháp nhân thương mại qui định trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 phải chịu sự điều chỉnh của hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân đó chính là là quyền nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, pháp nhân phạm tội nên thực hành quyền công tố cũng chính là thực hiện hành vi tố tụng cần thiết theo qui định của Luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, pháp nhân phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.
1.1.2. Cơ sở pháp lý trong thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát nhân dân
Cơ sở pháp lý của thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát được qui định tại khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013: “ Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…”; Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định“Viện kiểm sát thực hành quyền công tố…trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện …….nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh…”[5 tr.19]. Như vậy, hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự nhằm thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Theo đó, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm: Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội…
Trên cơ sở nhận thức về quyền công tố, thực hành quyền công tố được hiểu như thế nào? Tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 nêu khái niệm về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát như sau: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội,được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.
1.1.3. Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân
1.1.3.1. Nhận thức về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân
– Khái niệm xét xử và xét xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo Từ điển Tiếng Việt xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lí của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, hành chính,kinh doanh, thương mại, lao động…).[27]
Xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án. Tòa án là cơ quan duy nhất của một nước đảm nhiệm chức năng xét xử. Không một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của Tòa án và kết quả xét xử phải được công bố bằng bản án, quyết định. Chia theo nội dung xét xử có: Xét xử vụ án hình sự, xét xử dân sự, xét xử hành chính, xét xử lao động… Khi xét xử các Tòa án phải tuân theo các nguyên tắc: Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định; Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
Như vậy, xét xử là quá trình áp dụng các qui định của pháp luật để kiểm tra lại một cách chính xác, tính căn cứ và tính hợp pháp các quyết định, kết luận của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện trước khi chuyển vụ án qua Tòa án, nhằm loại bỏ những sai lầm, tiêu cực hoặc bỏ lọt tội phạm trong quá trình khởi tố, điều tra và truy tố, để đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
– Theo Từ điển luật học giải thích thì: “ Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền ” [27, tr.870]. Phạm vi xét xử sơ thẩm bao gồm các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, lao động,…, đặc trưng của xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên xét xử đối với vụ án, do Tòa án có thẩm quyền xét xử. Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, là một trong những hoạt động trung tâm của hoạt động tố tụng hình sự. Hoạt động truy tố của Viện kiểm sát là căn cứ pháp lý cho hoạt động xét xử, bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án khi ban hành đúng pháp luật và là cơ sở để tiến hành hoạt động thi hành án.
Như vậy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự mà Tòa án sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử công khai tại phiên tòa, nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội, người đã thực hiện tội phạm, từ đó đưa ra một phán quyết phù hợp với căn cứ, tính chất của vụ án mà Viện kiểm sát đã quyết định truy tố. Có thể thấy, hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có những đặc điểm cơ bản là: Nó là một giai đoạn của tố tụng hình sự có tính bắt buộc; xét xử lần đầu đối với vụ án; vụ án được đưa ra xét xử công khai; kết quả của việc xét xử là việc ban hành bằng một bản án, quyết định có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần vào việc giải quyết đúng đắn vụ án, bảo đảm công lý, sự công bằng trong xã hội. Như vậy, từ những phân tích trên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu là: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật”.
– Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Học viên đồng tình với một số tác giả về nội dung này tại các công trình [19, tr.22] và [7, tr.12]. Giai đoạn xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn quan trọng nhất trong hoạt động tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào quy định của pháp luật tố tụng hình sự: Áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử; đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai, dân chủ của các bên (buộc tội và bào chữa) để phán xét về vấn đề hành vi phạm tội ( có hay không), có (hay không) tội của bị cáo và cuối cùng, tuyên một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh, đúng pháp luật và đảm bảo sức thuyết phục.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm bắt đầu từ khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án hình sự ( quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án của Viện kiểm sát ) do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng việc Tòa án tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật. Giai đoạn xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng trung tâm, độc lập, thực hiện các nhiệm vụ luật định, áp dụng các biện pháp tố tụng cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử vụ án tại phiên tòa, còn phiên tòa sơ thẩm là nơi thể hiện rõ nhất nội dung của hoạt động tố tụng hình sự, thông qua đó nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong giai đoạn xét xử của Tòa án.
– Khái niệm về thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân
Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được thực hiện bởi cơ quan duy nhất là Viện kiểm sát, thực hiện việc truy tố bị can ra trước Tòa án, trên cơ sở kết quả điều tra, thu thập chứng cứ và chứng minh được người phạm tội ở các giai đoạn trước đó. Thực hiện việc buộc tội và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa là đặc điểm quan trọng nhất của thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vì nó thể hiện đầy đủ nhất quyền năng của Viện kiểm sát tại phiên tòa được thực hiện thông qua người đại diện của Viện kiểm sát là Kiểm sát viên. Từ những phân tích nêu trên học viên đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Là hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội nhằm đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa.
– Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Nghiên cứu khái niệm về thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cuả Viện kiểm sát thấy có một số đặc điểm cơ bản sau: Thực hành quyền công tố chỉ được thực hiện bởi cơ quan duy nhất là Viện kiểm sát; Việc truy tố bị can ra trước Tòa án trên cơ sở kết quả điều tra, thu thập chứng cứ và chứng minh ở các giai đoạn trước đó; Việc buộc tội bị cáo tại phiên tòa trên cơ sở pháp luật quy định và được thực hiện thông qua người đại diện của Viện kiểm sát là kiểm sát viên; Đối tượng của thực hành quyền công tố là hành vi phạm tội và người phạm tội.
Đối với hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát cấp tỉnh, về trình tự, thủ tục thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự giữa các cấp Viện kiểm sát là giống nhau, nhưng về phạm vi thẩm quyền thực hành quyền công tố lại có sự khác nhau. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án. Tại khoản 2 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thẩm quyền xét xử như sau:“ Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực; vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;…, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người”. Như vậy, thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chỉ giới hạn tại khoản khoản 2 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Ngoài ra, Viện kiểm sát cấp tỉnh còn thực hiện việc ủy quyền thực hành quyền công tố theo qui định của pháp luật. Tại đoạn 3 khoản 1 Điều 239 Bộ luật tố tụng hình sự qui định: “Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố…. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và …theo đúng quy định của Bộ luật này ” [6, tr.217].
1.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
– Chức năng của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chức năng có nhiều nghĩa khác nhau, có thể hiểu là nghĩa vụ, phạm vi hoạt động, chức năng, vai trò hoặc có thể hiểu là loại hoạt động đặc biệt của sinh vật và của các cơ quan, tế bào của sinh vật đó… Tùy theo ngữ cảnh cụ thể mà áp dụng cho phù hợp, nhưng nghĩa chủ đạo của chức năng là phương diện hoạt động để thực hiện nhiệm vụ của mình.Trong tiến trình phát triển, nhà nước giao cho mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước những nhiệm vụ, chức năng, thẩm quyền khác nhau để thực hiện nhằm đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của đất nước. Vì thế, trong hệ thống các cơ quan nhà nước cấu thành nên bộ máy nhà nước đều có nhiệm vụ, chức năng, thẩm quyền do pháp luật quy định. Như vậy, chức năng của các cơ quan nhà nước là những hoạt động cơ bản lâu dài có tính chất định hướng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong phạm vi thẩm quyền nhằm đạt được những mục đích nhất định.
Ở Việt Nam lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Viện kiểm sát nhân dân chính thức được qui định với tư cách là cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước. Theo Hiến pháp 1959, thì Viện kiểm sát không những có chức năng công tố mà còn có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội… Chức năng đó của Viện kiểm sát tiếp tục được khẳng định theo lịch sử, với sự phát triển của đất nước. Điều này thể hiện ở Hiến pháp năm 1980, năm 1992 và các bản Hiến pháp sau này. Tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [10]. Tại Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã thể hiện rõ Viện kiểm sát nhân dân có chức năng là: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội…. và trong suốt quá trình …truy tố, xét xử vụ án hình sự” [11, tr.8 ]. Như vậy Viện kiểm sát là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, tức là nhân danh quyền lực nhà nước để truy tố, buộc tội người phạm tội với tư cách là bị cáo trước Toà án. Điều này được thể hiện rõ nét ở giai đoạn điều tra và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Viện kiểm sát thực hiện việc truy tố người có hành vi vi phạm pháp luật ra trước Toà án để xét xử và buộc tội tại phiên toà theo quy định của pháp luật và theo trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Đây là chức năng đặc biệt, chỉ có có ở hệ thống cơ quan Viện kiểm sát chứ không phải cơ quan nào khác, như ý kiến của Cố Tổng bí thư Trường Chinh đã nói: “ Không có một cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố. Việc bắt, giam, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, đảm bảo cho tốt ”. Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 2013 về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự nói chung và trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng. Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “ Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, …., vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, …không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội” [5]. Chức năng thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm của Viện kiểm sát được tập trung chủ yếu và rõ nét nhất ở chức năng buộc tội, bảo vệ quyết định truy tố của mình. Đây là chức năng cơ bản của Viện kiểm sát tại phiên toà sơ thẩm. Tuy nhiên, chức năng buộc tội chỉ là một hình thức của chức năng thực hành quyền công tố. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không chỉ là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội mà còn thực hiện các hoạt động khác. Giữa chức năng công tố (chức năng nhà nước) và chức năng buộc tội (chức năng tố tụng) có mối quan hệ mật thiết nhau. Chức năng công tố trong xét xử không chỉ thực hiện thông qua chức năng buộc tội tại phiên tòa mà còn được thực hiện thông qua các hoạt động khác như kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án.
Tóm lại, Viện kiểm sát là chủ thể trung tâm thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự. Trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, chức năng thực hành quyền công tố là chức năng cơ bản xuyên suốt. Nếu trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thực hành quyền công tố chính xác, đúng pháp luật sẽ đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, công bằng, bảo vệ lợi ích chính đáng của công dân , nhà nước.
– Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đó là những hoạt động của Viện kiểm sát từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án ban hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Theo qui định tại Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, khoản 1Điều 266 Bộ luật tố tụng hình sự thì nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự bao gồm các hoạt động sau: Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa; Xét hỏi, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn… của Bộ luật tố tụng hình sự [12, tr.26].
1.2. Nội dung thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
1.2.1. Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa
Cáo trạng là văn bản pháp lý mang tính quyền lực Nhà nước – Quyền công tố, do Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước quyết định truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, đúng pháp luật, tránh oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; bản cáo trạng là một trong những căn cứ để Tòa án xem xét, quyết định đưa vụ án ra xét xử và thực hiện các thủ tục cần thiết trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Theo quy định tại Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trước khi tiến hành xét hỏi, kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có) để làm rõ thêm về nội dung bản cáo trạng, chứ không phải là ý kiến mới bổ sung làm thay đổi nội dung bản cáo trạng (trừ trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát đồng ý), vì bản cáo trạng truy tố bị can ra trước Toà án thuộc thẩm quyền của Viện trưởng, kiểm sát viên chỉ là người được Viện trưởng ủy quyền tham gia phiên toà để bảo vệ cáo trạng. Bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là kết luận của Viện kiểm sát đối với người phạm tội, dựa trên các chứng cứ tài liệu đã được thu thập khách quan, hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án và là cơ sở pháp lý làm phát sinh một giai đoạn mới của tố tụng hình sự, đó là giai đoạn xét xử do Tòa án đảm nhiệm. “Cáo trạng do Viện kiểm sát truy tố trước Toà án không chỉ là lý do hình thức tồn tại của giai đoạn xét xử sơ thẩm mà là đối tượng trung tâm chi phối diễn ra trong giai đoạn này” [21, tr.143]. Hiện nay Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định đầy đủ và chính xác hơn về nội dung, từ ngữ phù hợp với qui định tại Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đó là sử dụng thuật ngữ: “công bố cáo trạng” thay thế “đọc cáo trạng”. Tại Điều 306 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trước khi tiến hành xét hỏi kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến …..(nếu có). Ý kiến bổ sung không làm xấu …của bị cáo”[6].
Đối với vụ án áp dụng theo thủ tục rút gọn được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại 324 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tại Điều 463 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 qui định:” Sau phần thủ tục … phiên tòa, kiểm sát viên công bố … truy tố” [6, tr.379], khi áp dụng thủ tục rút gọn thì không tiến hành nghị án.
1.2.2. Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ
1.2.2.1. Xét hỏi
Xét hỏi là hoạt động của kiểm sát viên tại phiên tòa nhằm xác định lại sự thật khách quan của vụ án, là hoạt động điều tra công khai tại phiên tòa với sự có mặt của đầy đủ các đương sự liên quan đến vụ án hình sự, là hoạt động trung tâm của hoạt động xét xử để xác định sự thật khách quan của vụ án. Trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa các chứng cứ, tài liệu liên quan đến nội dung vụ án đều phải được xem xét, thẩm tra công khai; những mâu thuẫn giữa các lời khai, giữa lời khai với vật chứng…phải được làm sáng tỏ để khẳng định và chứng minh bản chất của vụ án. Việc tham gia xét hỏi là bắt buộc đối với kiểm sát viên, để tham gia xét hỏi tại phiên tòa đạt hiệu quả; trước khi tham gia phiên tòa, kiểm sát viên phải dự thảo đề cương xét hỏi và những nội dung cần làm sáng tỏ, nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án và các tình tiết khác có liên quan đến việc định tội và đề xuất hình phạt.
Tại phiên tòa, để chủ động tham gia xét hỏi, bên cạnh việc nắm chắc nội dung hồ sơ vụ án, kiểm sát viên phải theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung, diễn biến quá trình xét hỏi. Kiểm sát viên phải chú ý khai thác mâu thuẫn phát sinh để phân tích và đi đến bác bỏ những lời chối tội không có cơ sở; dự kiến nội dung và chuẩn bị các câu hỏi để làm sáng tỏ vấn đề mà người bào chữa quan tâm. Qua xét hỏi tại phiên toà có thể phát sinh những tình tiết, chứng cứ khác với những tình tiết, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra hoặc có những tình tiết, chứng cứ mới mà hồ sơ vụ án chưa có, khi có người tham gia tố tụng xuất trình tài liệu mới, kiểm sát viên cùng hội đồng xét xử phải kiểm tra về tính hợp pháp và tính có căn cứ của tài liệu sau đó mới phân tích nội dung tài liệu để hội đồng xét xử có căn cứ đánh giá, quyết định tuyên án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Ngoài xét hỏi bị cáo, kiểm sát viên có quyền hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, … theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Trình tự xét hỏi được qui định tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “Khi xét hỏi từng người chủ tọa phiên tòa hỏi trước… kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ …của đương sự thực hiện việc hỏi” [6, tr.266].
1.2.2.2. Xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ
Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự …, có thể xem xét vật chứng, xem xét hiện trường xảy ra vụ án và những nơi khác, công bố các tài liệu. Tại điều 312 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 qui định: “Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét tại phiên tòa. Khi cần thiết, hội đồng xét xử có thể cùng kiểm sát viên, người bào chữa,… kiểm sát viên, người bào chữa,…tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng. Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền… bị hại, đương sự có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn đề có liên quan đến vật chứng ”.
Đối với việc xem xét tại chỗ thì căn cứ Điều 314 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 [6, tr.270] qui định: “Khi xét thấy cần thiết, hội đồng xét xử có thể cũng với kiểm sát viên, người bào chữa,…. Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về nơi xảy ra tội phạm hoặc… Hội đồng xét xử có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn đề có liên quan đến nơi đó”.
1.2.3. Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn
1.2.3.1. Luận tội
Luận tội theo từ điển Tiếng Việt thì:“Luận tội là phân tích, cân nhắc để xét tội”, còn theo nghĩa pháp lý thì“luận tội là phân tích tội trạng, đề nghị kết tội bị cáo” [33, tr.189]. Tại Khoản 1 Điều 320 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 qui định:“ Sau khi kết thúc việc xét hỏi, kiểm sát viên trình bày luận tội; nếu thấy không có căn cứ … thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội”. Luận tội là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, do kiểm sát viên trực tiếp tiến hành được thực hiện ngay sau khi kết thúc phần xét hỏi. Luận tội được quy định tại Điều 321 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 25 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự ngày 18/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trước khi tham gia xét xử, kiểm sát viên phải dự thảo bản luận tội theo mẫu của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và lưu hồ sơ kiểm sát. Luận tội là quan điểm buộc tội chính thức của Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hình sự; là căn cứ để bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tự bào chữa hoặc để Hội đồng xét xử xác định giới hạn xét xử và ra bản án đúng pháp luật. Vì vậy, luận tội phải có căn cứ, chính xác, khách quan và cụ thể. Luận tội của kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp,… Luận tội đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật; kết luận về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố; kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
1.2.3.2. Tranh luận
Theo quy định của luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự… quy định về tranh luận tại phiên tòa cho thấy: Tranh luận của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm về hình sự là sự trả lời lại, sự bàn cãi giữa kiểm sát viên với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan về các tình tiết buộc tội, gỡ tội, tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, giúp hội đồng xét xử ban hành một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật [2, tr.258]. Chủ tọa phiên tòa sẽ điều hành việc tranh luận theo trình tự quy định tại Điều 320 và Điều 321 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Mặc dù nguyên tắc tranh tụng được thực hiện ở toàn bộ giai đoạn xét xử vụ án hình sự nhưng việc tranh tụng thể hiện tập trung nhất ở giai đoạn tranh luận. Theo qui định tại Điều 322 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự…, và những tình tiết khác có đối với việc giải quyết vụ án. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình. Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được kiểm sát viên tranh luận. Khi thực hành quyền công tố tại phiên tòa việc tranh luận của kiểm sát viên là bắt buộc. Sau khi luận tội, kiểm sát viên dự kiến những vấn đề cần tranh luận tại phiên tòa. Tại phiên tòa, kiểm sát viên phải ghi chép đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng để chuẩn bị tranh luận. Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và lập luận để đối đáp với từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác.
Trong suốt quá trình tranh luận, đối đáp, kiểm sát viên phải có trách nhiệm bảo vệ quan điểm buộc tội của mình, bảo vệ cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo tại phiên tòa. Khi tranh luận, kiểm sát viên lắng nghe các bên trình bày ý kiến của họ, ghi lại để nắm được nội dung vấn đề, ý kiến phản bác. Nếu vụ án có nhiều người cùng bào chữa cho một bị cáo thì kiểm sát viên có thể nghe từng người để tham gia đối đáp, hoặc tổng hợp ý kiến chung của tất cả những người bào chữa để phản biện. Trong quá trình nghe, kiểm sát viên cần xác định nội dung cần đối đáp, cần lưu ý những nội dung mà các bên đưa ra phải là những nội dung liên quan đến vụ án và phải có trong hồ sơ hoặc đã được kiểm tra tại phiên tòa. Trường hợp tài liệu mới phát sinh thì cũng phải là tài liệu có liên quan đến vụ án và phải kiểm tra tính hợp pháp của tài liệu đó để có lập luận đối đáp. Chú ý những mâu thuẫn trong tranh luận của người bào chữa với người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại, đương sự để đối đáp. Việc tranh luận cần đi thẳng vào trọng tâm. Kiểm sát viên không được né tránh những vấn đề khó mà cần bình tĩnh để tranh luận để khẳng định vấn đề. Trong quá trình tranh luận cần bình tĩnh, linh hoạt, ngắn gọn, những khẳng định, phản bác phải có căn cứ, tôn trọng sự thật khách quan của vụ án. Kiểm sát viên phải tôn trọng quyền bào chữa của bị cáo, quyền của những người tham gia tố tụng khác. Chỉ kết thúc tranh luận khi không còn ý kiến đề nghị tranh luận của các bên tham gia tố tụng hoặc những vấn đề yêu cầu tranh luận đã được kiểm sát viên tranh luận, kết luận. Kiểm sát viên dựa vào các chứng cứ vụ án, quy định trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, văn bản luật…, để tranh luận khẳng định quan điểm đúng đắn, kiên quyết bác bỏ ý kiến sai trái hoặc không đúng.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAM LAM DOT 10\HINH SU\NGUYEN THI YEN\SAU BAO VE


