Giám sát phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Giám sát phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

1. Tính cấp thiết của đề tài

Giám sát và phản biện xã hội là nhiệm vụ quan trọng trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đã tích cực thực hiện hoạt động giám sát, phản biện đối với các cơ quan Đảng, Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức và Đảng viên, đạt được những kết quả nhất định. Qua đó, đã phát hiện những biểu hiện, hành vi vi phạm pháp luật, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật; những bất hợp lý, khó khăn, vướng mắc trong việc thi hành pháp luật, chế độ, chính sách để từ đó, kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khắc phục và hoàn thiện. Thông qua giám sát, phản biện, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đã thực hiện tốt hơn chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân; phát huy quyền làm chủ, tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Đối với tỉnh Quảng Ngãi, trong những năm qua, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đã triển khai thực hiện tốt hoạt động giám sát, phản biện xã hội, nhất là từ khi Hiến Pháp năm 2013 đã ghi nhận vị trí, vai trò của MTTQ Việt Nam tại Điều 9 và Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12 tháng 12 năm 2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội, Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12 tháng 12 năm 2013 của Bộ Chính trị về ban hành Quy định về MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, góp phần nâng cao hiệu lực pháp luật đó được ban hành, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, tầng lớp nhân dân. Đồng thời góp phần đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng – an ninh vào cuộc sống. Xây dựng cơ chế pháp lý để MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện hoạt động giám sát và phản biện xã hội có hiệu quả thiết thực. Nhìn chung, hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ cấp huyện bước đầu đã đem lại hiệu quả.

Tuy nhiên so với yêu cầu trong tình hình mới, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói chung, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi nói riêng vẫn còn những hạn chế nhất định, nhiều lĩnh vực giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, tỉnh Quảng Ngãi do chưa được cụ thể hoá thành cơ chế, thể chế hoá thành văn bản quy phạm pháp luật nên chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội còn những khó khăn, hạn chế.

Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh trong thực tế còn hình thức; hiệu quả, hiệu lực pháp lý chưa cao; giám sát chưa đồng đều ở các cấp. Nội dung, phạm vi, đối tượng được giám sát trong thực tế còn hẹp, nhiều lĩnh vực, nội dung quan trọng trong nhiệm vụ giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa được quy định, chưa có cơ chế cụ thể, đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cách thức phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước liên quan với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong các khâu của quá trình giám sát.

Về hoạt động phản biện xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ phản biện khi có sự đề nghị của các cơ quan liên quan. Vì vậy, phản biện xã hội chưa mang tính bắt buộc đối với cơ quan ban hành dự thảo văn bản; tâm lý, tư tưởng lo ngại việc phản biện sẽ bị những kẻ xấu lợi dụng để xúi giục những phần tử bất mãn chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ảnh hưởng đến sự đồng thuận trong xã hội, dẫn đến việc chậm ban hành văn bản về thực hiện nhiệm vụ phản biện xã hội.

Xuất phát từ những yêu cầu bức xúc về lý luận và thực tiễn nêu trên nên, học viên chọn chủ đề “Giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài luận văn Thạc sỹ Luật học, với mong muốn sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam nói chung và MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi nói riêng.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 

3.1. Mục đích nghiên cứu 

Trên cơ sở những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng về quá trình giám sát và phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp huyện. Qua đó, đề xuất những giải pháp, kiến nghị khoa học nhằm xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã trình bày ở trên, cần thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

– Nghiên cứu để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

– Trên cơ sở đánh giá thực trạng giám sát, phản biện xã hội để chỉ rõ kết quả thành công và hạn chế trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

– Đề xuất một số giải pháp mang tính khoa học góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện từ thực tiễn, tỉnh Quảng Ngãi.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 

4.1. Đối tượng nghiên cứu 

Đề tài nghiên cứu các quan niệm về lý luận khoa học, hệ thống chủ trương, chính sách pháp luật về giám sát, phản biện xã hội của MTTQVN; vị trí, vai trò, chức năng của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi; thực tiễn hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi.

4.2. Phạm vi nghiên cứu 

– Về không gian: Không gian nghiên cứu của luận văn là tại cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi. 

– Về thời gian: Thời gian nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện giấm sát, phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2014 – 2018.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 

5.1. Phương pháp luận, nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của MTTQ, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng đảng, xây dựng chính quyền.

5.2. Các phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn, bao gồm: Phương pháp so sánh, hệ thống; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp xã hội học pháp luật, kết hợp lý luận với thực tiễn,…

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

– Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và chức năng giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam.

– Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn được xem là một công trình nghiên cứu khoa học có thể dùng làm tài liệu tham khảo, giảng dạy cho những người làm công tác MTTQ trong việc thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội.

7. Cấu trúc của luận văn 

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia phù hợp với 03 chương trong luận văn, cụ thể như sau:

– Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

– Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi.

– Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

1.1. Vị trí, vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị

1.1.1. Vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận hệ thống chính trị của nước ta hiện nay. Sự qui định này là một tất yếu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát từ thể chế chính trị của nước ta là một nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống.

Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. [7, tr.7]

1.1.2. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Với tư cách là vị trí chiến lược trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò to lớn trong hệ thống chính trị.

Trải qua quá trình hình thành và phát triển vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị đã được Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xác định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài”[14, tr.1].

Vai trò và tầm quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đã được khẳng định trong thực tế. Thông qua nhiều hình thức tổ chức và vận động quần chúng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã góp phần cùng với Đảng, Nhà nước giải quyết những khó khăn, bức xúc, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để các tầng lớp nhân dân tham gia phát triển kinh tế – xã hội, khơi dậy và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc như sự tương thân, tương ái, tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII (26/9/2014), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh “Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và rất vui mừng trước sự phát triển, lớn mạnh không ngừng của Mặt trận – hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. [10, tr.1]

Trong công cuộc đổi mới với nền dân chủ ngày càng phát triển, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng quan trọng đã làm tốt vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, cầu nối vững chắc giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, tăng cường đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp ngày càng rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân.

1.1.3 Chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Trong thực tế lãnh đạo, do nhiều nguyên nhân khác nhau “Đảng chưa đáp ứng được nhu cầu trong việc giải quyết nhiều vấn đề kinh tế-xã hội, trong phong cách lãnh đạo và cả trong rèn luyện phẩm chất cán bộ đảng viên” [19, tr.10]. Để tăng cường sức mạnh của Đảng cần khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết trong tổ chức và hoạt động của Đảng là yêu cầu cấp bách, khách quan trong tình hình hiện nay. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng” và “giữ chặt mối liên hệ với quần chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng mà nhờ đó Đảng thắng lợi” [6, tr.4]. Cho nên, Mặt trận Tổ quốc với tính cách là sự thể hiện của khối đại đoàn kết toàn dân có vai trò to lớn đối với việc phát huy sức mạnh của Đảng.

Với tư cách là cơ sở quần chúng của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua hoạt động của mình đã góp phần phát huy sức mạnh bộ máy tổ chức Đảng, thể hiện ở các mặt sau:

– Phối hợp thống nhất hành động của các tổ chức thành viên tuyên truyền các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao uy tín của Đảng trong đời sống chính trị xã hội. Vận động các tầng lớp nhân dân tích cực xây dựng và bảo vệ Đảng; giám sát mọi hoạt động của cấp uỷ Đảng tại địa phương để kịp thời phát hiện những sai sót, khiếm khuyết trong công tác lãnh đạo của địa phương.

– Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bằng thực tiễn hoạt động của mình, đã tăng cường mối liên hệ chặt chẽ giữa Nhân dân với Đảng. Vận động, tổ chức nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng chính sách, pháp luật.

– Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội phát hiện những việc làm sai trái của các cơ quan Nhà nước như vi phạm các quyết định về quản lý, vi phạm về tự do, dân chủ của công dân để báo cáo với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

– Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội vận động, tổ chức Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng chính sách, pháp luật.

– Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội vận động các tầng lớp Nhân dân tham gia các phong trào quần chúng cùng Nhà nước thực hiện các chương trình phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững.

1.2. Những vấn đề lý luận về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.2.1. Khái niệm giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Để có những nhận thức lý luận về giám sát của MTTQVN, trước hết cần hiểu “giám sát” là gì.

Giám sát là thuật ngữ được dùng nhiều văn bản trong cơ quan Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự nhất quán trong cách quan niệm.

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều qui định không?”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “giám sát là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy định chung nào đó”. Từ điển Luật học định nghĩa: “giám sát được hiểu là sự theo dõi, quan sát hoạt động thường xuyên, liên tục và sẳn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” [32, tr. 389]

Mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, nhưng từ các định nghĩa này, có thể thấy được những đặc trưng chung nhất của giám sát:

– Là hoạt động phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng trong một hệ thống – cấu trúc xã hội xác định.

– Mục đích là nhằm phòng ngừa và uốn nắn những sai phạm có thể xảy ra trong quá trình triển khai thực hiện và bảo đảm cho hệ thống vận hành đạt hiệu quả cao.

Trong hệ thống xã hội, hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, giám sát được thực hiện bởi nhiều cấp độ chủ thể khác nhau: Giám sát của Đảng, giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân, của xã hội.

Theo Quy định số 30-QĐi/TW:“Giám sát là sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người này đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế – xã hội; trong việc thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước, các quyền, nghĩa vụ công dân, của các tổ chức chính trị – xã hội và những kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với các cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” [23, tr.1].

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau: “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Mặt trận các cấp theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, công chức, viên chức trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý những sai sót, khuyết điểm nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân góp phần kiểm soát quyền lực của Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước”.

1.2.2. Đặc điểm giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Theo khoản 2, điều 25, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định:

“- Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.[14, tr.9]

Hoạt động giám sát được thực hiện bằng hai loại chủ thể. Đó là hoạt động giám sát của cơ quan Nhà nước và hoạt động giám sát của các chủ thể xã hội (ngoài nhà nước). Hoạt động giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước gọi là giám sát xã hội. Giám sát xã hội khác với giám sát Nhà nước như sau: chủ thể giám sát xã hội gồm các đảng chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí,  công dân. Đảng cầm quyền không được coi là chủ thể giám sát xã hội và đảng  cầm quyền là chủ thể xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy và trực tiếp lãnh đạo nhà nước. Đối tượng giám sát xã hội là cơ quan quyền lực, giám sát xã hội không mang tính quyền lực Nhà nước (không thực hiện quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm trực tiếp đối với các đối tượng vi phạm nhưng lại có thể gây áp lực lên chủ thể quyền lực để điểu chỉnh quyết định chính sách).Bản chất giám sát xã hội là hình thức giám sát có sự tham gia rộng rãi của toàn bộ xã hội mà nòng cốt là một số tổ chức của nhân dân, do nhân dân lập nên và ủy nhiệm. Phương thức giám sát xã hội được thực hiện trước tiên, thông qua các tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của nhân dân ( Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hôi nghề nghiệp…) bằng hình thức giám sát gián tiếp hoặc trực tiếp của mỗi công dân. Trái lại, giám sát xã hội là sự bổ sung quan trọng, khách quan cho những hình thức giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và hệ thống. Hoạt động giám sát được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm phát huy dân chủ có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân và thành viên của MTTQVN. 

1.2.3. Nội dung giám sát của MTTQ Việt Nam

Theo quy định tại khoản 2, điều 26 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sửa đổi năm 2015 quy định: “Nội dung giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.” [14, tr.5]

Theo 02 nội dung văn bản trên, thì Quyết định 217 của Bộ Chính trị quy định nội dung giám sát rộng hơn so với Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sửa đổi năm 2015.

Giám sát xã hội và phản biện xã hội có nội dung rất rộng, liên quan đến tất cả những lĩnh vực, những vấn đề của đời sống cộng đồng (giai cấp, dân tộc, quốc gia): Từ khâu hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật đến khâu tổ chức thực hiện; từ lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến an ninh, quốc phòng; từ đối nội đến đối ngoại; từ tổ chức bộ máy, con người đến công việc của con người và bộ máy; từ tầm vĩ mô đến trung, vi mô.

Ở nước ta hiện nay, nội dung này đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI và XII. Có thể xem đó cũng là nội dung của những phương thức thực hành dân chủ trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Từ thực tiễn hoạt động và điều kiện của tỉnh Quảng Ngãi, nội dung giám sát chủ yếu tập trung giám sát một số nội dung theo các chương trình giám sát của Trung ương và một số nội dung giám sát theo yêu cầu thực tế của địa phương, như về công tác dân cử, về thực hiện công tác xét tuyển công dân thi hành nghĩa vụ quân sự; về việc thực hiện các chính sách chăm lo hộ nghèo và công tác xét công nhận hộ nghèo, giảm nghèo bền vững; việc hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội theo quy định; về an toàn thực phẩm; cấp phát thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng thuộc ngân sách nhà nước đóng và hỗ trợ; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc quản lý sử dụng đất công ích; các chính sách hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số; bồi thường giải phóng mặt bằng, bồi thường thiệt hại; việc thu, quản lý và sử dụng các khoản thu từ nguồn do cha mẹ học sinh đóng góp và nguồn xã hội hóa giáo dục trong trường học… Sau 05 năm thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị ở tất cả 14 huyện, thành phố đã triển khai hoạt động giám sát theo nhu cầu của địa phương, có sự phối hợp chặt chẽ với cấp ủy và chính quyền các cấp.

1.2.4. Hình thức và phương pháp giám sát của MTTQ Việt Nam

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định các hình thức giám sát như:

“+ Thứ nhất, xem xét, nghiên cứu các văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

+ Thứ hai, tổ chức đoàn giám sát.

+ Thứ ba, Ban thanh tra nhân dân và Ban giám sát đầu tư của cộng đồng được thành lập ở cấp xã để thực hiện hoạt động.

+ Thứ tư, tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

+ Thứ năm, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ phối hợp với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nghị quyết số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/6/2017 quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” [14, tr.3].

1.3. Những vấn đề lý luận về phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

1.3.1. Khái niệm lý luận về phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

Phản biện là cụm từ Việt gốc Hán. Đây là cụm từ ghép được cấu tạo bởi hai từ độc lập: Phản và Biện, có nghĩa khác nhau. Khi trở thành từ ghép, nó mang một ý nghĩa khác.

Phản biện được đề cập đến từ lâu trong các cuộc hội thảo, trong các tài liệu, văn bản, trong hoạt động chính trị – xã hội, trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt từ khi Đảng có chủ trương tạo cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia giám sát và hoạt động phản biện xã hội.

Phản biện hiện đang được áp dụng trên hai lĩnh vực: Phản biện khoa học, phản biện xã hội và dưới hai hình thức: Tự phản biện và phản biện (người khác).

Qua thực tiễn hoạt động, phản biện được hiểu là biện luận và phản biện luận của các bên (hai bên hay nhiều bên) bằng những lý lẽ, lập luận có căn cứ khoa học và thực tiễn để chứng minh sự khẳng định hoặc phủ định đã được nêu ra.

Như vậy, nội dung phản biện không phải chỉ nêu lên các khẳng định hay phủ định mà còn đòi hỏi phải có luận cứ chứng minh kèm theo. Kiến thức và trách nhiệm của bên phản biện đòi hỏi phải có sự đáp ứng cao hơn so với việc góp ý kiến, kiến nghị. Khi tiến hành phản biện, nhất thiết phải có sự đối thoại trực tiếp hoặc thông qua văn bản của cả hai bên biện luận và phản biện luận. Khi phản biện, bên biện luận và bên phản biện luận đều phải nêu rõ quan điểm, lập luận, căn cứ khoa học, căn cứ thực tiễn để phủ định hoặc khẳng định. Việc chấp nhận hay không chấp nhận các lập luận, biện luận và phản biện luận phải nêu rõ căn cứ, lý do và thông báo công khai, rộng rãi cho mọi người biết. Quyết định cuối cùng là do tập thể, cá nhân có thẩm quyền quyết định và chịu trách nhiệm đối với quyết định đã ban hành.

Phản biện là một trong những hình thức mở rộng dân chủ. Hơn nữa, đó là dân chủ trực tiếp và có tính dân chủ cao hơn kiến nghị và góp ý kiến. Trong phản biện, bên phản biện không phải lúc nào cũng nêu ý kiến phản bác. Bên phản biện có cả những ý kiến tán đồng, những ý kiến sửa đổi, bổ sung nhằm làm cho dự án, kế hoạch đưa ra được đầy đủ, hoàn thiện hơn.

Theo quy định tại Điều 32, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015: “Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án (sau đây gọi chung là dự thảo văn bản) của cơ quan nhà nước.” [14, tr.12]

1.3.2. Đặc điểm phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

Phản biện xã hội là có sự tham gia rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân, và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương của đảng, chính sách của Nhà nước và giải pháp phát triển kinh tế – xã hội. Phản biện xã hội là ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước… Nhân dân có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Phản biện xã hội là nhu cầu cần thiết nhằm khắc phục tệ quan liêu.

Theo Điều 32, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định:

“Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của tổ chức đảng các cấp; đối với dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, dự án, đề án của Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; đối với dự thảo, chương trình, dự án, đề án của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân”. [14, tr.12]

Như vậy, phản biện xã hội là sự phản ánh những dư luận xã hội, ý kiến, kiến nghị và kháng nghị của cộng đồng xã hội, về một hay nhiều sự việc, vấn đề có liên quan đến lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Trên cơ sở, phân tích nhằm phân định rõ giữa cái tốt với cái xấu, cái đúng với cái sai, cái được với cái chưa được để tiếp tục hoàn thiện… nhằm đáp ứng những yêu cầu do cuộc sống đặt ra, đảm bảo lợi ích chung của cho toàn xã hội.

1.3.3. Nội dung, phạm vi và hình thức phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

1.3.3.1. Nội dung phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

Căn cứ khoản 02, điều 9 của Quy chế giám sát, phản biện xã hội theo Quyết định số 217-QĐ/TW quy định nội dung phản biện: “ Sự cần thiết, tính cấp thiết của văn bản dự thảo; sự phù hợp của văn bản dự thảo với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thực tiễn của đơn vị, địa phương; tính đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính khả thi của văn bản dự thảo; dự báo tác động, hiệu quả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của văn bảo dự thảo.” [24, tr.5]

Về cơ chế phản biện, bước đầu, Mặt trận Tổ quốc đã phát huy được vai trò của các tổ chức thành viên, các Hội đồng tư vấn của Mặt trận và nhân dân trong hoạt động phản biện xã hội; đã xác lập được mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc các cấp với các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền (giữa chủ thể phản biện và chủ thể nhận sự phản biện). Một số cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoạch định chủ trương, chính sách đã chủ động gửi dự thảo đề án tới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để tranh thủ ý kiến, cung cấp thông tin liên quan tới đề án. Trên cơ sở đó, Mặt trận Tổ quốc tiến hành thẩm định, phản hồi ý kiến tới các cơ quan, tổ chức có dự thảo đề án được phản biện nhằm bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ.

Thông qua hoạt động thẩm định của mình, những ý kiến đóng góp, đánh giá, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có tác dụng bổ sung, điều chỉnh dự thảo chủ trương, đường lối, đề án của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên một số mặt; nêu được quan điểm của Mặt trận và phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân đối với quá trình ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

1.3.3.2. Phạm vi phản biện xã hội

Theo khoản 3, điều 33, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc quy định của pháp luật, các tổ chức chính trị – xã hội chủ trì phản biện xã hội các vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, quyền và trách nhiệm của tổ chức mình.

Theo điều 10 của Quy chế giám sát, phản biện xã hội tại Quyết định số 217-QĐ/TW quy định phạm vi phản biện xã hội:

“- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Chủ trì phản biện xã hội đối với các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.” [24, tr.3]

1.4. Mối quan hệ giữa giám sát, phản biện của MTTQ Việt Nam

Giám sát, phản biện xã hội là hai quá trình khác nhau nhưng đều có chung mục tiêu hướng đến là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đang của Nhân dân và kiểm soát quyền lực của nhà nước nên chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong quá trình triển khai thực hiện, phản biện xã hội là tiền đề của giám sát vì nó là giai đoạn đầu của cơ chế, chính sách, nếu thực hiện tốt công tác phản biện sẽ góp phần đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào trong thực tiễn cuộc sống. Và trong quá trình thực hiện, song hành cùng phản biện, giám sát sẽ giúp các cơ quan chức năng kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn gúp đạt được kết quả đã đề ra.

Có thể thấy rằng giám sát và phản biện xã hội đều có chung mục đích đề xuất những kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền về những quyết định của mình. Tuy nhiên, giữa giám sát và phải biện xã hội có những khác nhau:

– Giám sát là việc nghiên cứu, quan sát và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động của bộ máy nhà nước trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật.

– Mục đích của giám sát của Ủy ban MTTQ Việt Nam là cùng với giám sát, kiểm tra, thanh tra Nhà nước góp phần xây dựng Đảng, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, làm cho bộ máy Đàng, cơ quan Nhà nước, ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quà để thực thi quyền lực của Nhân dân.

– Còn phản biện xã hội là hoạt động nhận xét, thẩm định, kiến nghị của Mặt trận đối với các dự thảo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các dự án, đề án của cơ quan có thẩm quyền trước khi ban hành.

– Phản biện xã hội tham gia vào quá trình hoạch định các chủ trương, chính sách và bao hàm cả quá trình tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, nếu phản biện được tốt ngay từ quá trình khởi thảo các chủ trương, chính sách, dự án, … thì nó sẽ đảm bảo tính khóa học và dễ đi vào cuộc sống hơn, tránh được sự trả giá từ thực tiễn về sự lãnh phí về thời gian, nhân lực, vật lực và nguy cơ bỏ qua sự phát triển của đất nước.

Như vậy, giám sát và phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt Nam là sự giám sát và phản biện của Nhân dân nhằm thực hiện quyền lực của mình.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

1.5.1. Yếu tố chính trị – nhận thức

Giám sát và phản biện xã hội là hoạt động quan trọng nhằm phát huy vai trò của Mặt trận, các tổ chức chính trị – xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Đồng thời, kịp thời phát hiện và kiến nghị khắc phục những sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị cấp thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội.

Việc tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động giám sát, phản biện xã hội phải bảo đảm các nguyên tắc, các quy định và pháp luật; không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát, phản biện xã hội; có sự phối hợp chặt chẽ trong hệ thống Mặt trận và giữa các tổ chức thành viên của Mặt trận với các tổ chức, cá nhân có liên quan; bảo đảm khách quan, công khai, hiệu quả thiết thực và mang tính xây dựng, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, các hoạt động giám sát được triển khai có hiệu quả và tạo dấu ấn sâu sắc trong nhân dân. Đối với công tác phản biện, MTTQ các cấp chủ trì, phối hợp các tổ chức thành viên, các hội đồng tư vấn thực hiện việc phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản của cấp ủy và chính quyền theo nội dung, trình tự thủ tục quy định. Nhiều ý kiến phản biện xã hội đã phát huy hiệu quả, giúp cấp ủy, chính quyền quyết định các vấn đề quan trọng trong lãnh đạo, điều hành.

Bên cạnh đó, Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo trong những năm qua đã từng bước đổi mới và phát triển đưa đất nước ta sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, vẫn còn một số tồn tại như: nguy cơ chủ quan, duy ý chí, quan liêu, lợi ích nhóm đã phần nào làm mất lòng tin của Nhân dân đối với Đảng. Để lấy lại niềm tin của Nhân dân, vấn đề giám sát và phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội là điều kiện tiên quyết đảm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, phát huy dân chủ trong Nhân dân. Đồng thời, qua giám sát và phản biện xã hội, Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội cơ cơ hội đề xuất những ý kiến, kiến nghị, góp ý, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Mặt khác, công tác giám sát và phản biện xã hội còn nhiều mặt hạn chế, như: nhiều nơi lúng túng trong lựa chọn nội dung giám sát và phản biện xã hội; còn biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va chạm; kỹ năng, năng lực trình độ cán bộ còn hạn chế; việc theo dõi thực hiện sau giám sát và phản biện nhiều nơi làm chưa tốt… Những hạn chế đã làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Những hạn chế này đã làm giản vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong giám sát và phản biện xã hội.

1.5.2. Yếu tố pháp luật

Căn cứ các quy định hiện hành như: Hiến pháp năm 2013, Luật Mặt trận tổ chức Việt Nam 2015, Điều lệ Mặt trận, Quyết định số 217, 218 của Bộ Chính trị,… đã tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội. Ngoài ra, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có hai Thông tri số 04 và số 28 hướng dẫn; các tổ chức chính trị – xã hội đều có văn bản chỉ đạo triển khai; các tỉnh thành đều có văn bản chỉ đạo nội dung này. Công tác tuyên truyền, tập huấn cán bộ về giám sát, phản biện xã hội, tập hợp ý kiến nhân dân bước đầu được quan tâm đã có tác dụng nhất định trong việc tạo chuyển biến nhận thức của các cấp, các ngành.

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được ban hành, trong đó có 2 chương quy định về giám sát, phản biện xã hội. Hình thức giám sát thông qua Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đã được bổ sung trong Luật Thanh tra, Luật Đầu tư công, Nghị định số 84/2015/NĐ-CP ngày 30/9/2015, trong đó mức chi cho Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng ở xã từ 2 triệu lên 5 triệu đồng. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội.

1.5.3. Yếu tố văn hóa – xã hội

Nước Việt Nam vốn giàu bản sắc văn hóa, mỗi vùng miền đều có những nét văn hóa riêng và đặc trưng nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giám sát và phản biện xã hội. Đối với tỉnh Quảng Ngãi, từng bước đổi mới, tốc độ đô thị hóa nhanh, do đó nhiều vấn đề dễ phát sinh điểm nóng trong quá trình thực hiện. Do đó, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh luôn nắm bắt tình hình để thực hiện giám sát, phản biện xã hội đối với những vấn để nong, bức thiết ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp, chính đảng của Nhân dân. Qua giám sát, phản biện xã hội, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh đề xuất những ý kiến, kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền để xem xét thực hiện tốt các chính sách mình đề ra. Ngoài việc giám sát, phản biện xã hội, Mặt trận tổ quốc các cấp trong tỉnh luôn tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân lồng ghép thông quá các cuộc họp thôn, tổ dân phố, khu dân cư để Nhân dân kịp thời nắm bắt của chủ trương của Đảng, chính sách, pharp luật của Nhà nước để thực hiện.

1.5.4. Yếu tố nguồn lực

Để giám sát, phản biện xã hội được hiệu quả, ngoài yếu tố các văn bản quy định của pháp luật, yếu tố con người trong vai trò qua trọng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận Tổ quốc. Trong những năm gần đây, chất lượng của đội ngũ làm công tác Mặt trận Tổ quốc được Đảng và Nhà nước quan tâm, đã trẻ hóa đội ngũ làm công tác Mặt trận, thường xuyên đào tạo bồi dưỡng để cao chuyên môn đối với cán bộ làm công tác Mặt trận các cấp, giúp họ có đủ bản lĩnh về chính trị, phẩn chất, đạo đức đáp ứng với nhu cầu thực tế hiện nay. Trong giám sát, phản biện xã hội có những cán bộ giám sát, dám phản biện những vấn đề nóng, những vấn đề dư luận đang quan tâm đồng thời dám kiến nghị các cơ chế, chính sách để hoàn thiện pháp luật.

Trong quá trình giám sát, phản biện, Mặt trận Tổ quốc đã phối hợp tốt với các tổ chức thành viên, các nhân sĩ trí thức, các cá nhân tiêu biểu, các Hội đồng tu vấn để thực hiện công tác giảm sát, phản biện xã hội đạt hiệu quả.

Căn cứ Nghị quyết số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/6/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quy định: Hảng năm, Mặt trận Tổ quốc các cấp phối hợp với các tổ chức thành viên xây dựng chương trình phối hợp thông nhất hành động cho năm đến đề ra các nội dung giám sát và phối hợp thực hiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả, không chồng chéo. Từ đó từng tổ chức thành viên thấy được trách nhiệm của mình và phối hợp thực hiện đạt hiêu quả cao góp phần nâng cao chất lượng công tác giảm sát, phản biện xã hội. Đồng thời, thông qua các hoạt động, Mặt trận Tổ quốc thực hiện công tác định hướng dư luận xã hội để thực hiện tốt công tác giám sát, phản biện xã hội của mình.

Trong công tác giám sát, phản biện một yếu tố cũng không kém phần quan trọng là kinh phí để triển khai thực hiện. Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 337/2016/TT-BTC Ngày 28/12/2016 quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Đây được xem là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện tốt công tác giám sát, phản biện xã hội.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAM LAM DOT 10\HANH CHINH\NGUYEN VAN THANH\SAU BAO VE NGUYEN VAN THANH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *