Quản lý Nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn huyện Hiệp Đức

Quản lý Nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn huyện Hiệp Đức

Quản lý Nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thu ngân sách nhà nước (NSNN) là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

Một thực trạng đối với Ngân sách Việt Nam là luôn ở trong tình trạng bội chi với mức thâm hụt lớn. Cân bằng cán cân Thu – Chi ngân sách là một trong những mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước ta. Để cân bằng Thu – Chi, có hai hướng là tăng thu và giảm chi. Nhiều năm qua, Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp như giảm thiểu chi hành chính, sự nghiệp, tăng cường chi cho đầu tư phát triển và xây dựng cơ bản, chi đúng chỗ, chi hiệu quả, tiết kiệm. Đầu tư của Nhà nước vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH), đặc biệt Việt Nam là nước đang phát triển, nên thâm hụt ngân sách là không thể tránh khỏi, nhưng ở mức độ nào là hợp lý cần nhiều nỗ lực. Đảm bảo cho nhu cầu chi rất lớn thì việc tăng thu NSNN rất cần thiết.

Huyện Hiệp Đức, là một trong 18 đơn vị hành chính huyện, thành phố của tỉnh Quảng Nam và là một trong 09 huyện Miền núi của tỉnh, huyện Hiệp Đức có 11 xã và 01 thị trấn với diện tích hơn 496,88 km2, dân số năm 2018 là 39.582 người. Trong những năm qua, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện luôn đạt và vượt kế hoạch do Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện giao. Tuy nhiên, huyện Hiệp Đức vẫn là một trong những địa phương đang hưởng trợ cấp cân đối từ Ngân sách cấp trên. Công tác quản lý thu ngân sách còn thiếu tập trung, thống nhất; nhiều nguồn lực tài chính chưa được động viên vào NSNN, tình trạng thất thu vẫn còn xảy ra; nguồn thu NSNN trên địa bàn hàng năm chưa đảm bảo tự cân đối chi, chủ yếu là từ nguồn cấp quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, công tác quản lý thu ngân sách trên địa bàn còn có những khiếm khuyết và hạn chế nhất định, chính quyền cấp xã và một số đơn vị có liên quan còn xem nhẹ công tác thu ngân sách và coi đó là nhiệm vụ của riêng ngành thuế. Do vậy, việc phát hiện và nuôi dưỡng các nguồn thu, triển khai các giải pháp tăng thu ngân sách, đặc biệt là nguồn thu trong cân đối ngân sách để ổn định và phát triển KT- XH trên địa bàn vẫn còn nhiều bất cập cần được giải quyết.

Trước những yêu cầu đặt ra về phát triển KT- XH địa phương trong thời gian đến, đòi hỏi nguồn thu ngân sách phải có sự ổn định và được cải thiện theo thời gian nhằm đảm bảo nhiệm vụ nộp ngân sách cấp trên, cung cấp nguồn lực thực hiện các hoạt động chi tiêu phục vụ tốt cho quá trình phát triển của địa phương. Điều này đòi hỏi công tác quản lý hoạt động thu ngân sách hàng năm ở huyện Hiệp Đức cần có được sự chính xác và đầy đủ, đồng thời phải tạo sự thông thoáng, minh bạch và khách quan nhằm khuyến khích và tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia đóng góp cho ngân sách.

Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Quản lý Nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ với mong muốn đóng góp một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn huyện, từ đó góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho huyện nhà.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Vận dụng lý luận để đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về thu ngân sách tại huyện Hiệp Đức. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn huyện Hiệp Đức trong thời gian tới.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý thu ngân sách nhà nước.

+ Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về thu ngân sách của huyện Hiệp Đức giai đoạn 2016 – 2018.

+ Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về thu ngân sách của huyện Hiệp Đức đến năm 2020.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý Nhà nước về thu ngân sách huyện Hiệp Đức.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Hiệp Đức.

+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiến hành đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về thu ngân sách huyện giai đoạn 2016-2018.

5. Phương pháp lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp lý luận

5.2. Phương pháp nghiên cứu

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1. Ý nghĩa lý luận

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về NSNN, thu NSNN, quản lý thu NSNN.

– Hệ thống hóa nội dung chủ yếu của NSNN, thu NSNN, quản lý thu NSNN.

– Chỉ ra mục đích, yêu cầu và nguyên tắc cũng như phương thức và công cụ quản lý thu NSNN.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tham chiếu giữa lý luận và thực tiễn, so sánh với kinh nghiệm của các huyện lân cận và trong cả nước, từ đó nêu ra được hệ thống các giải pháp và những kiến nghị có tính khả thi nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về thu NS tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

7. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 4

Chương.

Chương 1: Tổng hợp những nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động thu ngân sách.

Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu.

Chương 3: Thực trạng quản lý thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn Huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

Chương 4: Hoàn thiện quản lý thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

CHƯƠNG 1

TỔNG HỢP CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THU NGÂN SÁCH

1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý thu ngân sách Nhà nước

1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước và thu ngân sách Nhà nước 

1.1.1.1. Ngân sách Nhà nước

Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Nó là một thành phần trong hệ thống tài chính, phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của mình trên cơ sở luật định. Thuật ngữ “ngân sách Nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống KT-XH ở mọi quốc gia. Nhưng quan niệm về NSNN lại chưa thống nhất. Có nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN tùy theo các trường phái, các lĩnh vực nghiên cứu.

Theo Luật NSNN số 83/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/06/2015: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.

Thu NSNN được lấy từ mọi lĩnh vực KT-XH khác nhau. Bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Trong đó, thuế là hình thức thu phổ biến dựa trên tính cưỡng chế là chủ yếu. Chi tiêu của NSNN nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước. Bao gồm các khoản chi phát triển KT – XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định pháp luật.

NSNN là một hệ thống bao gồm các cấp ngân sách phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp, được phân thành ngân sách Trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP). NSTW là ngân sách của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương. NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân (HĐND) và UBND. Tương ứng với các cấp ngân sách của hệ thống NSNN, quỹ NSNN được chia thành: quỹ ngân sách của Trung ương, quỹ ngân sách của chính quyền cấp tỉnh, quỹ ngân sách của chính quyền cấp huyện, quỹ ngân sách của chính quyền cấp xã. Quỹ ngân sách các cấp gồm nhiều phần nhỏ để sử dụng cho các lĩnh vực khác nhau: dùng cho phát triển kinh tế; dùng cho phát triển văn hoá, giáo dục, y tế; dùng cho các biện pháp xã hội, an ninh, quốc phòng…

1.1.1.2. Thu ngân sách nhà nước

Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị đế thực hiện phân phối các nguồn tài chính dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Như vậy, thu NSNN bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỹ NSNN đáp ứng cho các yêu cầu chi tiêu xác định của nhà nước.

Nét nổi bật của việc thu NSNN là: trong bất cứ xã hội nào, cơ cấu các khoản thu NSNN đều gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền lực chính trị của Nhà nước. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước là điều kiện xuất hiện các khoản thu NSNN. Ngược lại, các khoản thu NSNN là tiền đề vật chất không thể thiếu để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

Một đặc trưng khác của thu NSNN là luôn luôn gắn chặt với các quá trình kinh tế và các phạm trù giá trị. Kết quả của quá trình hoạt động kinh tế và hình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị là tiền đề quan trọng xuất hiện hệ thống thu NSNN. Nhưng chính hệ thống thu NSNN lại là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng to lớn đến kết quả của quá trình kinh tế cũng như sự vận động của các phạm trù giá trị.

Thu ngân sách nhà nước trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội. Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề đồng thời là yếu tố khách quan hình thành các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN.

Thu ngân sách nhà nước ảnh hưởng lớn đến tốc độ, chất lượng và tính bền vững trong phát triển của một quốc gia. Trong cơ cấu thu, nguồn thu nội địa phải luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Không thể nói đến sự phát triển bền vững nếu thu từ ngoài nước (vay nợ, nhận viện trợ từ nước ngoài) và các khoản thu có liên quan đến yếu tố bên ngoài (thuế nhập khẩu, tiền bán tài nguyên thiên nhiên ra bên ngoài …) chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu.

1.1.1.3. Quản lý thu ngân sách nhà nước

Trong cơ cấu thu ngân sách của hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế luôn là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi nó được trích xuất chủ yếu từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực nhà nước. Nền kinh tế quốc dân càng phát triển với tốc độ cao thì nguồn thu của nhà nước từ thuế chiếm tỷ trọng càng lớn trong tổng thu NSNN. Thu NSNN bao gồm thuế, các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước, thu đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

Vậy, quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng khuyến khích sản xuất kinh doanh (SXKD) phát triển. Đây là khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp ngân sách. Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ thực hiện.

Trong việc quản lý các nguồn thu ngân sách, thuế là nguồn thu quan trọng nhất. Thuế không chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số thu NSNN hàng năm mà còn là công cụ của nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Để phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mô của các chính sách thuế, ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới, nội dung của chính sách thuế thường xuyên thay đổi cho phù hợp với thực tế của đời sống KT-XH và phù hợp với yêu cầu của quản lý kinh tế, tài chính. Các sắc thuế chủ yếu hiện đang được áp dụng ở nước ta hiện nay gồm có: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà, đất…

Theo tinh thần của Luật NSNN mới này, NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Điều này có thể được khái quát hóa bằng sơ đồ sau:

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

CHXHCNVN

NGÂN SÁCH

ĐỊA PHƯƠNG

NGÂN SÁCH

TRUNG ƯƠNG

NGÂN SÁCH

C.HUYỆN VÀ TĐ

NGÂN SÁCH

CẤP TỈNH

NGÂN SÁCH

CẤP XÃ VÀ TĐ

Sơ đồ 1.1: Hệ thống NSNN ở Việt Nam

Nguồn: Kho bạc nhà nước

Như vậy, NSNN bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (ngân sách địa phương). Ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm:

+ Ngân sách cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp Tỉnh).

+ Ngân sách cấp Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp Huyện).

+ Ngân sách cấp Xã, Phường, Thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp Xã). Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

+ Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;

+ Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới;

+ Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;

+ Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi vừa nêu

trên, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác.

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý thu ngân sách Nhà nước.

Để thực hiện chức năng của mình, Nhà nước cần có một khoản thu nhất định để trang trải các khoản chi phí đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển bộ máy, các hoạt động quản lý xã hội và đảm nhận các khoản chi phí phục vụ cho mục đích công cộng khác. Do đó, Nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình, tạo tiền đề về vật chất cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thực chất, thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Đồng thời thu NSNN cũng là một kênh phân phối thu nhập quốc dân trong hệ thống tài chính quốc gia. Về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Về bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước.

Như vậy: Thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực công để tập trung một bộ phận của cải xã hội hình thành nên quản lý NSNN phục vụ chi tiêu dùng của Nhà nước. (Giáo trình bồi dưỡng công chức Kho bạc, 2016).

Nhà nước tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình bằng cách phân chia các nguồn lực của xã hội giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong nền kinh tế dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước. Sự phân chia đó là tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước, cũng như việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.

* Đặc điểm thu ngân sách Nhà nước:

Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp.

Các khoản thu cho ngân sách gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền lực chính trị của Nhà nước. Ngược lại đây cũng là tiền đề vật chất quan trọng không thể thiếu để Nhà nước duy trì hoạt động, phát triển bộ máy, thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình.

Mọi khoản thu đều được thể chế hóa bởi các chính sách, pháp luật và được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu.

Trong các nguồn thu ngân sách, nguồn thu nội địa phải luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Vì đây là nguồn thu có sự bền vững hơn các nguồn thu từ nước ngoài (vay nợ, nhận viện trợ…), các nguồn thu có liên quan đến các yếu tố bên ngoài (thuế nhập khẩu, tiền bán tài nguyên thiên nhiên…). Thuế là nguồn thu ngân sách chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất vì nó được trích từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra và mang tính bắt buộc cao.

Chính sách thu NSNN phải dựa trên các căn cứ cụ thể và khoa học. Đó là căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế, mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP, các định hướng phát triển kinh tế… Đây là các yếu tố khách quan hình thành nên các khoản thu và cũng là cơ sở để nhà nước quyết định mức độ động viên vào NSNN.

* Vai trò của quản lý thu ngân sách Nhà nước

NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động KT-XH, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước và bao gồm hai hoạt động thu và chi ngân sách. Vai trò của NSNN luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước theo chiến lược, định hướng phát triển của KT-XH trong từng thời kỳ nhất định. Trong đó, vai trò của thu NSNN có thể được xem xét trên hai khía cạnh là công cụ tập trung nguồn lực tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và góp phần tổ chức quản lý nền kinh tế.

– Thu NSNN là công cụ tập trung nguồn lực tài chính đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Thu NSNN có vai trò bảo đảm nguồn vốn huy động để thực hiện các nhu cầu chi tiêu, các kế hoạch phát triển KT-XH của Nhà nước. Vai trò này xuất phát từ sự cần thiết khách quan của việc ra đời Nhà nước và chức năng quản lý KT-XH của Nhà nước và được xem là một nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động tài chính vĩ mô.

Các nguồn tài chính này có thể được động viên cả ở trong nước và từ nước ngoài, từ mọi lĩnh vực hoạt động và mọi thành phần kinh tế, dưới nhiều hình thức khác nhau. Các khoản thu NSNN chủ yếu bắt nguồn từ khu vực sản xuất kinh doanh dịch vụ dưới hình thức thuế. Do vậy, về lâu dài để tăng thu NSNN phải tăng sản phẩm quốc dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòi hỏi phải hợp lí, mức động viên phải hợp lý không quá cao hoặc quá thấp. Vì vậy cần phải xác định mức huy động vào NSNN một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế.

Ngoài thu NSNN, Nhà nước cũng phải thực hiện các khoản vay bù đắp cho sự thiếu hụt nếu các khoản thu không đủ để trang trải các khoản chi tiêu.

– Thu NSNN góp phần tổ chức quản lý nền kinh tế

Thu ngân sách ngoài vai trò huy động nguồn lực tài chính cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước còn góp phần trong tổ chức quản lý nền kinh tế. Thông qua thu ngân sách, Nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền KT-XH nhằm hạn chế những khuyết điểm, phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nền kinh tế hoạt động ngày càng hiệu quả hơn

Nhà nước dùng quyền lực của mình đặt ra các chính sách về thuế để can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm định hướng cơ cấu kinh tế, định hướng tiêu dùng. Việc điều chỉnh các mức thuế suất, xét về mặt sản xuất có thể làm thay đổi quyết định đầu tư của nhà đầu tư, xét về mặt tiêu dùng có thể thay đổi nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế. Các mức thuế suất khác nhau, các ưu đãi về thuế sẽ định hướng đầu tư; điều chỉnh các cơ cấu của nền kinh tế. Hoặc để định hướng tiêu dùng cho toàn xã hội theo hướng kích cầu hay hạn chế cầu tiêu dùng thì Nhà nước sẽ giảm thuế hoặc đánh thuế cao với loại hàng hóa đó.

Ngoài ra, thu ngân sách cùng với hoạt động chi ngân sách đảm nhận vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội góp phần thực hiện công bằng xã hội. Thông qua thuế thu nhập, Chính phủ sẽ khấu trừ thu nhập của các cá nhân theo những tỷ lệ khác nhau. Sau đó, doanh thu thuế lại được sử dụng một phần cho các chương trình thanh toán chuyển nhượng nhằm trợ giúp cho người nghèo. Bằng cách này, Chính phủ có thể giảm bớt phần nào những bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội. Ngoài ra, thuế đánh vào hàng hóa còn tạo ra những gánh nặng khác nhau cho các nhóm người khác nhau trong xã hội, tạo ra tương quan phân phối thu nhập và lợi ích giữa các nhóm khác người khác nhau.

1.2. Yêu cầu, nội dung và quy trình của quản lý thu ngân sách Nhà nước

1.2.1. Yêu cầu đối với quản lý thu ngân sách Nhà nước

Như chúng ta đã biết, thuế là nguồn thu chính chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng ngày càng tăng trong tổng thu NSNN. Đồng thời thuế cũng là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều chỉnh kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Do vậy quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế ở địa phương có ý nghĩa đặt biệt quan trọng trong quản lý NSNN. Quản lý thu thuế là hệ thống các biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách thực hiện. Quản lý thu NSNN phải đảm bảo các yêu cầu sau:

– Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật. Quy trình xây dựng các biện pháp quản lý thuế phải xuất phát từ các luật thuế, nằm trong khuôn khổ luật quy định. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi các biện pháp quản lý thuế của Nhà nước cũng phải phù hợp với quy định chung về thuế của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là sau khi chúng ta gia nhập WTO.

– Thứ hai, nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ. Quy trình tổ chức và quản lý thuế được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước cho các cơ quan thu và cho các đối tượng nộp thuế là các pháp nhân hay thể nhân. Không cho phép cơ quan thu được đặt ra bất cứ biệt lệ nào và cũng như có sự phân biệt đối xử giữa những người nộp thuế trong quá trình thu thuế.

– Thứ ba, nguyên tắc công bằng trong quản lý thuế. Đây là nguyên tắc cơ bản của thuế, nghĩa là mọi công dân phải có nghĩa vụ vật chất với Nhà nước phù hợp với khả năng tài chính của mình. Khi xây dựng biện pháp quản lý thuế phải quán triệt nguyên tắc này nhằm động viên sức lực của toàn xã hội cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; qua đó gắn kết nghĩa vụ, quyền lợi của các tổ chức và công dân với nghĩa vụ và quyền lợi của quốc gia. Chỉ có như thế sự phát triển mới mang tính chất cộng đồng và bền vững.

– Thứ tư, nguyên tắc minh bạch. Các khâu trong quy trình quản lý thuế đối với các đối tượng nộp thuế phải được công khai hóa. Công tác tuyên truyền, tư vấn, giải thích quy trình quản lý thuế đến việc tổ chức thực hiện từng khâu trong quy trình này đều phải rõ ràng, dễ hiểu, công khai. Hạn chế trường hợp đối tượng nộp thuế thiếu thông tin về các quy định về thuế.

– Thứ năm, nguyên tắc thuận tiện, tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý thuế. Quản lý thuế là những biện pháp mang tính nghiệp vụ và hành chính pháp định. Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan hành thu phải xây dựng quy trình quản lý thuế theo luật định một cách hợp lý, phù hợp với tình hình, đặc điểm, điều kiện SXKD, thu nhập phát sinh của người nộp thuế. Việc thực hiện nguyên tắc này phải tạo ra những thuận lợi và tiết kiệm tối đa chi phí về thời gian, vật chất và tiền cho cơ quan thu và cho người nộp thuế. Có như vậy mới phát huy được hiệu quả và hiệu lực của cơ chế hành thu thuế.

1.2.2. Nội dung quản lý thu ngân sách nhà nước

1.2.2.1. Lập dự toán thu ngân sách

Sau khi nhận được thông tin hướng dẫn từ cấp trên xuống, quá trình lập dự toán được tiến hành từ cơ sở và tổng hợp từ dưới lên. Thời gian lập dự toán được quy định từ 10/6 hàng năm. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu, chi ngân sách phải tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao và báo cáo cơ quan tài chính cùng cấp. Cơ quan tài chính cấp địa phương xem xét dự toán của các cơ quan, đơn vị cùng cấp và dự toán ngân sách của chính quyền cấp dưới tổng hợp, lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương để trình UBND cùng cấp. UBND cùng cấp có trách nhiệm lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương trình HĐND cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên. Sở Tài chính xem xét dự toán ngân sách các cơ quan tỉnh, dự toán ngân sách địa phương, tổng hợp và lập dự toán ngân sách Nhà nước trình Ủy ban nhân dân. Được chia thành 3 giai đoạn:

– Giai đoạn 1: Hướng dẫn lập dự toán ngân sách và thông báo số kiểm tra.

– Giai đoạn 2: Lập và thảo luận dự toán ngân sách.

– Giai đoạn 3: Quyết định phân bổ, giao dự toán ngân sách Nhà nước.

Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của Uỷ ban nhân dân cấp trên, Uỷ ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, đảm bảo dự toán ngân sách cấp xã được quyết định trước ngày 31 tháng 12 năm trước.

1.2.2.2. Chấp hành dự toán thu ngân sách

Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu ngân sách quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu gửi cơ quan tài chính vào cuối quý trước. Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo Luật (các luật thuế, pháp lệnh phí và lệ phí,…). Tất cả các nguồn thu đều được thực hiện thông qua hệ thống kho bạc nhà nước.

Cơ quan thu bao gồm: cơ quan Thuế, Tài chính và các cơ quan khác được Nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách. Các khoản thu có tính chất nội địa như thuế, phí, lệ phí thường do cơ quan Thuế thực hiện. Cơ quan Tài chính và các cơ quan khác được ủy quyền thu các khoản thu còn lại của NSNN.

1.2.2.3. Công tác quyết toán ngân sách

Hiện nay việc quyết toán thu – chi ngân sách được thể hiện rõ ràng hơn qua các văn bản như Luật Ngân sách nhà nước ngày 16/12/2002; Luật Kế toán ngày 17/06/2003; Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ; Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03/12/2007 của Chính phủ; Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01/07/2003 của Chính phủ; Thông tư số 101/2005/TT-BTC ngà y 17/11/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn công tác khóa sổ cuối năm và lập báo cáo quyết toán ngân sách Nhà nước, Căn cứ thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính. Trong đó các bước thực hiện quyết toán thu ngân sách.

Bước 1: Các đơn vị thực hiện thu ngân sách gửi báo cáo thu – chi cho đơn vị quản lý (phòng Tài chính đối với đơn vị thuộc ngân sách cấp huyện; đơn vị dự toán cấp 1 gửi cho sở tài chính). Nhận báo cáo quyết toán thu chi ngân sách hàng năm của các xã có xác nhận của cơ quan KBNN (Kèm theo file dữ liệu thu, chi theo mục lục ngân sách) tại bộ phận quản lý ngân sách Phòng Tài chính.

Bước 2: Thẩm định và đối chiếu số liệu quyết toán của các đơn vị ngân sách.

Bước 3: Tổng hợp báo cáo quyết toán bằng phần mềm Quản lý ngân sách của các xã và các đơn vị khối huyện, thuyết minh quyết toán và đối chiếu với KBNN huyện số liệu thu – chi ngân sách

Bước 4: In quyết toán trình lãnh đạo phòng ký và chuyển KBNN huyện ký xác nhận và gửi báo cáo về Sở Tài chính và Kiểm toán nhà nước.

1.2.2. Quy trình quản lý thu ngân sách Nhà nước

Theo thông tư 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của Bộ Tài chính về việc Hướng dẫn quy trình tổ chức phối hợp thu ngân sách nhà nước giữa Kho bạc nhà nước – Tổng cục thuế – Hải quan – Tài chính, các địa phương trên cả nước phải thực hiện thu NSNN theo quy trình trên phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ cấu tổ chức, trình độ công nghệ thông tin… của từng địa phương.

Quản lý thu NSNN được thực hiện theo quy trình sau:

– Thu qua Kho bạc nhà nước (KBNN)

Dưới đây là phương pháp nộp phổ biến đang áp dụng, đang khuyến khích đối

với một số đối tượng kinh doanh nhỏ, không có tài khoản ở ngân hàng tại địa phương sở tại.

+ Thu bằng chuyển khoản qua KBNN

Trên địa bàn địa phương sở tại. KBNN đã tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế.

Người nộp thuế lập bảng kê nộp thuế (mẫu 01/BKNT) chuyển cho KBNN nơi mở tài khoản. Căn cứ bảng kê nộp thuế, KBNN thực hiện trích tài khoản tiền gửi của người nộp thuế để thu NSNN; đồng thời, in 2 liên giấy nộp tiền vào NSNN và xử lý các liên giấy nộp tiền:

Liên 1: làm chứng từ ghi Nợ tài khoản tiền gửi của người nộp thuế; đồng thời, hạch toán thu NSNN và lưu tại KBNN cùng với bảng kê nộp thuế;

Liên 2: gửi cho người nộp thuế;

Cuối ngày hoặc theo định kỳ, KBNN truyền dữ liệu về số thuế đã thu vào hệ thống cơ sở dữ liệu thu, nộp thuế; đồng thời, in 2 liên Bảng kê chứng từ nộp ngân sách (mẫu 04/BK-CTNNS) và chuyển cho cơ quan thu trực tiếp quản lý người nộp thuế 1 liên bảng kê, 1 liên lưu tại KBNN để làm căn cứ theo dõi, đối chiếu.

Kho

bạc

nhà

nước

Nộp thuế

Chứng từ thuế

Đối

tượng

nộp

thuế

Tờ khai phiếu

điều tra

Thông báo

Báo cáo

Cơ

Quan

thuế

Đối chiếu số thu

Sơ đồ 1.2: Quy trình nộp thuế trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước

Nguồn: Kho bạc nhà nước

+ Thu bằng tiền mặt qua KBNN:

Thu bằng giấy nộp tiền vào NSNN: Người nộp thuế lập bảng kê nộp thuế gửi KBNN; căn cứ bảng kê của người nộp thuế, KBNN nhập thông tin vào chương trình máy tính, in 2 liên giấy nộp tiền vào NSNN và làm thủ tục thu tiền, hạch toán thu NSNN và xử lý các liên giấy nộp tiền:

Liên 1: làm chứng từ hạch toán thu NSNN;

Liên 2: gửi người nộp thuế;

Thu bằng biên lai thu: KBNN được sử dụng các loại biên lai không in mệnh giá, biên lai lập và in từ chương trình máy tính để thu một số khoản phí, lệ phí, tiền phạt. Khi người nộp thuế đến nộp tiền mặt, KBNN lập biên lai thu để thu tiền từ người nộp;

Mẫu biên lai, số liên biên lai và quy trình luân chuyển các liên biên lai thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính, cụ thể:

+ Đối với các loại biên lai thu phạt do cơ quan thuế phát hành có 4 liên thì các liên được xử lý: 1 liên lưu tại KBNN, 1 liên gửi người nộp, 1 liên gửi cơ quan ra quyết định xử phạt, 1 liên lưu cuống để quyết toán biên lai;

+ Đối với các loại biên lai thu phí, lệ phí do cơ quan thuế phát hành có 3 liên, thì các liên được xử lý: 1 liên lưu tại KBNN, 1 liên gửi người nộp, 1 liên lưu cuống để quyết toán biên lai;

Cuối ngày hoặc theo định kỳ (không quá 2 ngày), KBNN lập 2 liên bảng kê biên lai thu (mẫu 02/BK-BLT) và xử lý:

KBNN căn cứ bảng kê biên lai thu để nhập thông tin vào chương trình máy tính và in 1 liên giấy nộp tiền vào NSNN để làm chứng từ hạch toán thu NSNN và lưu cùng với 1 liên bảng kê biên lai và các liên biên lai; KBNN truyền dữ liệu vào cơ sở dữ liệu thu nộp thuế và gửi 1 liên bảng kê biên lai thu cho cơ quan thu trực tiếp quản lý người nộp thuế.

+ Thu qua hệ thống ngân hàng:

Trên địa bàn địa phương sở tại, hệ thống ngân hàng đã tham gia vào quá trình thu NSNN tuy quy mô chưa tương xứng nhưng đã phần nào đáp ứng nhu cầu nộp NSNN, góp phần giải quyết chia sẻ nhiệm vụ của kho bạc nhà nước.

Sau đây là quy trình nộp tiền qua hệ thống ngân hàng được sử dụng phổ biến:

Đối tượng nộp thuế nộp tờ kê khai

Cơ quan thuế ra thông báo thuế

Đối tượng nộp thuế cắt tiền trả ngân hàng (séc, ủy nhiệm chi, điện chuyển tiền)

Ngân hàng thông báo số tiền đã chuyển đi (Giấy báo nợ)

Tiền đang thực hiện chuyển về kho bạc (thông qua hệ thống ngân hàng)

Kho bạc nhận tiền (thông báo cho ngân hàng)

Gửi chứng từ cho cơ quan thuế (cùng cấp)

Nghiệp vụ đối chiếu định kỳ.

Đây là phương pháp phổ biến, tiên tiến, nhanh gọn, đảm bảo tính chính xác, tránh được một số tình trạng tiêu cực. Tuy nhiên, nộp thuế theo phương pháp này chỉ áp dụng với các cơ sở có tài khoản mở tại ngân hàng.

Kiểm tra đối chiếu

Đối tượng

nộp thuế

Tờ Khai, Bảng kê

Thông báo

Cơ quan thuế

Séc UNC

ĐCT

Giấy

Báo nợ

Giấy

báo có

Đối

chiếu

Ngân hàng ủy quyền

Chuyển tiền (Giấy báo có)

Kho bạc nhà nước

Sơ đồ 1.3: Quy trình nộp thuế qua ngân hàng

Nguồn: Kho bạc nhà nước

Thu bằng chuyển khoản qua ngân hàng:

Thu tại ngân hàng:

Cơ quan thu truyền dữ liệu về người nộp thuế cho ngân hàng;

Người nộp thuế lập bảng kê nộp thuế gửi ngân hàng nơi mở tài khoản (trường hợp nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu thì lập riêng bảng kê nộp thuế cho mỗi tờ khai hải quan); ngân hàng nhập dữ liệu vào chương trình máy tính, làm thủ tục trích tài khoản của người nộp thuế; đồng thời, in 2 liên giấy nộp tiền vào NSNN và xử lý:

+ 1 liên làm căn cứ hạch toán và lưu cùng với bảng kê nộp thuế;

+ 1 liên trả cho người nộp thuế. Ngân hàng phải ký và đóng dấu lên chứng từ trả cho người nộp thuế để chứng minh việc nộp tiền đã hoàn thành;

– Ngân hàng làm thủ tục chuyển tiền vào tài khoản của KBNN mở tại ngân hàng ngay trong ngày làm việc hoặc chậm nhất là vào đầu của ngày làm việc hôm sau; đồng thời, truyền đầy đủ dữ liệu thu nộp thuế theo đúng định dạng quy định vào cơ sở dữ liệu thu ngân sách;

Trên cơ sở dữ liệu thu NSNN do ngân hàng chuyển đến, cuối ngày, KBNN truyền dữ liệu thu NSNN vào cơ sở dữ liệu thu NSNN; đồng thời, in 01 liên bảng kê chứng từ nộp ngân sách lưu tại KBNN.

* Hình thức thu qua máy rút tiền tự động (ATM).

Một số quy định về tính pháp lý của giấy nộp tiền:

– Trường hợp nộp thuế trực tiếp tại KBNN: kế toán thu ngân sách của KBNN ký tên trên chứng từ nộp tiền và đóng dấu “Kế toán KBNN” hoặc dấu của điểm giao dịch KBNN. Kế toán trưởng KBNN chịu trách nhiệm kiểm soát, đối chiếu các liên giấy nộp tiền và ký trên Bảng kê giấy nộp tiền vào NSNN (mẫu C1-06/NS) do các điểm giao dịch ngoài trụ sở KBNN lập; đồng thời, kiểm soát và ký trên Bảng kê chứng từ nộp ngân sách (mẫu 04/BK-CTNNS);

Trường hợp người nộp thuế trích tiền trên tài khoản mở tại KBNN để nộp thuế thì trên giấy nộp tiền vào NSNN phải có chữ ký của kế toán trưởng KBNN và dấu “Kế toán KBNN”;

– Đối với giấy nộp tiền vào NSNN chuyển đổi từ chứng từ điện tử: trường hợp cơ quan thu đã tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế cần có một liên giấy nộp tiền để lưu hồ sơ nộp thuế, hồ sơ hoàn trả thuế, hoặc cấp lại cho người nộp thuế trong trường hợp thất lạc, thì căn cứ vào dữ liệu thu nộp thuế và bảng kê chứng từ nộp ngân sách do KBNN chuyển đến, lập Giấy nộp tiền vào NSNN chuyển đổi từ chứng từ điện tử (mẫu C1-09/NS);

– Trường hợp người nộp thuế nộp tiền qua ngân hàng và cần chứng từ để chứng minh đã thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN thì trên chứng từ nộp tiền phải có chữ ký và dấu của ngân hàng. Cụ thể:

+ Người nộp thuế nộp tiền mặt hoặc trích tài khoản để nộp tiền tại các điểm giao dịch của ngân hàng nơi không có con dấu, thì người nộp tiền phải đến trụ sở ngân hàng cùng hệ thống nơi có con dấu để đề nghị ngân hàng xác nhận và đóng dấu trên giấy nộp tiền vào NSNN;

Thu bằng tiền mặt qua cơ quan thu

Các cơ quan thu khi thu tiền mặt trực tiếp từ người nộp phải sử dụng biên lai,

sau đó nộp toàn bộ số tiền đã thu vào KBNN.

Quy trình thu tại cơ quan thu:

Đối với biên lai thu không in mệnh giá:

Cơ quan thu, cơ quan được ủy nhiệm thu (sau đây gọi chung là cơ quan thu) dùng biên lai không in mệnh giá để trực tiếp thu tiền từ người nộp thuế. Khi người nộp thuế đến nộp tiền, cơ quan thu thực hiện thu tiền, viết biên lai và xử lý:

* Đối với các loại biên lai thu phạt có 4 liên thì các liên được xử lý: 1 liên lưu tại cơ quan thu, 1 liên trả lại người nộp, 1 liên gửi cơ quan ra quyết định xử phạt, 1 liên lưu cuống để quyết toán biên lai;

+ Đối với các loại biên lai thu phí, lệ phí có 3 liên, thì các liên được xử lý: 1 liên lưu tại cơ quan thu, 1 liên trả lại người nộp, 1 liên lưu cuống để quyết toán biên lai.

Đối với biên lai thu in sẵn mệnh giá:

– Biên lai in sẵn mệnh giá được sử dụng trong trường hợp thu phạt vi phạm hành chính và một số khoản thu phí, lệ phí khác, do cơ quan trực tiếp xử lý vi phạm hành chính, cơ quan thu sử dụng để thu tiền mặt trực tiếp từ người nộp;

– Khi người nộp thuế đến nộp tiền, cơ quan thu ghi đầy đủ, chính xác các nội dung theo quy định lên 2 liên biên lai; sau đó, giao cho người nộp 1 liên, 1 liên lưu tại cơ quan thu.

Đối với biên lai thu in từ chương trình máy tính:

– Biên lai thu in từ chương trình máy tính được sử dụng cho các cơ quan thu được cấp có thẩm quyền cho phép dùng chương trình phần mềm để quản lý việc thu, nộp tiền bằng biên lai, in biên lai, in bảng kê biên lai thay cho việc quản lý trên sổ và viết tay trên các liên biên lai;

– Biên lai thu in từ chương trình máy tính gồm 2 loại:

+ Biên lai in sẵn số tiền phải thu, được áp dụng đối với các khoản phải thu (thuế, phí, lệ phí) có tính chất thường xuyên, tương đổi ổn định và được cơ quan thu xác định trước khi thu tiền. Cơ quan thu in và giao 2 liên biên lai cho cán bộ để thu tiền trực tiếp từ người nộp và xử lý: 1 liên trả cho người nộp, 1 liên lưu tại cơ quan thu;

+ Biên lai thu không in sẵn số tiền phải thu, được áp dụng cho các khoản nộp thuế, phí, lệ phí, thu phạt không thường xuyên và cơ quan thu không xác định trước được. Khi người nộp thuế đến nộp tiền, cơ quan thu thực hiện thu tiền và nhập dữ liệu vào chương trình máy tính để in 2 liên biên lai: 1 liên lưu và 1 liên trả cho người nộp thuế. Trường hợp thu phạt thì cơ quan thu in 3 liên biên lai: 1 liên lưu, 1 liên trả cho người nộp, 1 liên gửi cơ quan ra quyết định xử phạt;

Cơ quan nhận ủy nhiệm thu có trách nhiệm chuyển dữ liệu thu theo biên lai, đúng định dạng, mẫu biểu quy định cho cơ quan ủy nhiệm thu để tổng hợp, theo dõi, quản lý.

Quy trình nộp tiền vào KBNN

– Cuối ngày hoặc định kỳ, cơ quan thu lập bảng kê biên lai thu (mẫu 02/BK- BLT hoặc mẫu 03/BK-BLMG đối với biên lai thu in sẵn mệnh giá); căn cứ bảng kê biên lai, cơ quan thu lập bảng kê nộp thuế, hoặc lập giấy nộp tiền vào NSNN (tại các KBNN chưa tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế) và nộp toàn bộ số tiền đã thu vào KBNN.

Đối với các cơ quan nhận uỷ nhiệm thu thì phải lập 2 liên bảng kê biên lai thu: 1 liên lưu tại cơ quan nhận uỷ nhiệm thu, 1 liên gửi cơ quan uỷ nhiệm thu để theo dõi, kiểm tra, đối chiếu;

– Cơ quan thu và KBNN đồng cấp thống nhất quy định kỳ hạn nộp tiền vào KBNN (hàng ngày hoặc chậm nhất sau 5 ngày kể từ ngày thu, tuỳ theo doanh số thu và điều kiện địa bàn cụ thể);

– Cơ quan thu phải nộp tiền tại trụ sở KBNN hoặc ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản. Trường hợp điểm giao dịch ngoài trụ sở KBNN đặt tại cơ quan thu và cơ quan thu đề nghị nộp tiền trực tiếp tại điểm giao dịch, thì Giám đốc KBNN tỉnh, thành phố căn cứ vào điều kiện cụ thể, xem xét cho phép điểm giao dịch của KBNN được nhận tiền từ cơ quan thu, đảm bảo an toàn, kịp thời;

– KBNN làm thủ tục thu tiền, hạch toán thu NSNN và xử lý các liên giấy nộp tiền như trường hợp thu tiền mặt trực tiếp vào KBNN.

– Đối với các khoản thu phạt vi phạm hành chính mà số tiền thu phạt phải nộp vào tài khoản tạm thu, tạm giữ trước khi nộp vào NSNN, thì cơ quan thu lập bảng kê biên lai và giấy nộp tiền vào NSNN, trong đó ghi rõ nộp vào tài khoản tạm thu, tạm giữ; KBNN làm thủ tục thu tiền và hạch toán vào tài khoản tạm thu, tạm giữ theo quy định hiện hành;

– Định kỳ, cơ quan sử dụng biên lai quyết toán biên lai thu với cơ quan cấp biên lai, đảm bảo khớp đúng giữa số biên lai đã sử dụng, số biên lai huỷ, số còn lại chưa sử dụng, số tiền đã thu và nộp vào NSNN, đối chiếu giữa bảng kê biên lai và các liên giấy nộp tiền vào NSNN.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAM LAM DOT 10\QUAN LY KINH TE\PHAM VAN LUAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *